Tải bản đầy đủ (.doc) (130 trang)

luận văn thạc sĩ kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại các doanh nghiệp thuộc tổng công ty cổ phần dệt may nam định

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (629.59 KB, 130 trang )

i

LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tác giả và được
sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Viết Tiến. Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề
tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây. Những
số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét được chính tác giả
thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo.
Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số
liệu của các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc.
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào, tác giả xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về
nội dung luận văn của mình trước Trường Đại học Thương mại và pháp luật.
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn


ii

LỜI CẢM ƠN
Trên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với những sự hỗ
trợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác. Trong suốt
thời gian từ khi bắt đầu học tập tại trường đến nay, tác giả đã nhận được nhiều sự
quan tâm, giúp đỡ của quý Thầy cô, gia đình và bạn bè. Với lòng biết ơn sâu sắc
nhất, tác giả xin gửi đến quý thầy cô ở khoa Kế toán- Kiểm toán trường Đại học
Thương Mại, đặc biệt là TS. Nguyễn Viết Tiến đã dùng kiến thức và tâm huyết của
mình hướng dẫn tận tình, chu đáo và khoa học; sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban lãnh
đạo, Phòng kế toán của Tổng công ty cổ phần Dệt May Nam Định cũng như bộ
phận kế toán của các công ty con mà tác giả khảo sát đã cung cấp số liệu thực tế
giúp tác giả hoàn thành đề tài nghiên cứu này
Trong quá trình khảo sát, cũng như trong quá trình nghiên cứu làm luận văn,
khó tránh khỏi sai sót, rất mong các Thầy cô bỏ qua. Đồng thời do trình độ lý luận


và kinh nghiệm thực tế còn hạn chế, tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp
của quý thầy cô để bài luận văn được hoàn thiện hơn cả về mặt lý luận và thực tiễn
tại các doanh nghiệp


iii

MỤC LỤC
Bảng 2.1 Định mức sử dụng nguyên liệu chính cho 1 sản phẩm mã Áo DEKYUNG: WD
3D 13042 Error: Reference source not found........................................................................v
Bảng 2.2 Định mức sử dụng nguyên liệu chính cho 1 sản phẩm Quần FMX 173304 Error:
Reference source not found....................................................................................................v
Bảng 3.2 Bảng phân tích chi phí sản chung Error: Reference source not found...................v
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ kế toán CPNVLTT 27.................................................................................v
Sơ đồ 1.2 Sơ đồ kế toán chi phí NCTT 29.............................................................................v
Sơ đồ 1.4 Sơ đồ kế toán tổng hợp chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm theo phương
pháp kê khai thường xuyên 33...............................................................................................v
Sơ đồ 1.5 Sơ đồ kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo phương
pháp kiểm kê định kỳ 34........................................................................................................v
Sơ đồ 1.6: Trình tự tính giá thành theo phương pháp kết chuyển tuần tự 47.........................v
ZTP = CPSX gđi có trong thành phẩm 47............................................................................v
Sơ đồ 1.7: Trình tự tính giá thành phân bước theo phương pháp kết chuyển song song
(Phương pháp phân bước có tính Z bán thành phẩm) 48.......................................................v
Bảng 2.1 Định mức sử dụng nguyên liệu chính cho 1 sản phẩm mã Áo DEKYUNG: WD
3D 13042 58...........................................................................................................................v
Bảng 2.2 Định mức sử dụng nguyên liệu chính cho 1 sản phẩm Quần FMX 173304 59......v
Bảng 3.2 Bảng phân tích chi phí sản chung 92......................................................................v
Khi nhận được hợp đồng gia công sản phẩm, phòng kế toán căn cứ vào hợp đồng tính ra
mức tiêu hao NVL cần thiết cho sản xuất. Khối lượng NVL xuất dùng được xác định trên
cơ sở của tính định mức NVL sử dụng được xây dựng trên cơ sở tiêu chuẩn kỹ thuật của

quy trình công nghệ sản xuất và nghiên cứu tình hình sử dụng thực tế tại các Công ty may
do Phòng chuẩn bị sản xuất lập ra........................................................................................58
3.4.1. Về phía Nhà nước.......................................................................................................93
3.4.2. Về phía doanh nghiệp.................................................................................................94


iv

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
BHXH
BHYT
BHTN
KPCĐ
GTSP
GTGT
NC
NVL
CCDC
CPSX
SPDD
SXKD
SXC
TSCĐ

TT
CP
TNHH NN MTV
VL
SX

TK

Tên đầy đủ Tiếng Việt
Bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm y tế
Bảo hiểm thất nghiệp
Kinh phí công đoàn
Giá thành sản phẩm
Giá trị gia tăng
Nhân công
Nguyên vật liệu
Công cụ dụng cụ
Chi phí sản xuất
Sản phẩm dở dang
Sản xuất kinh doanh
Sản xuất chung
Tài sản cố định
Quyết định
Thông tư
Cổ phần
Trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên
Vật liệu
Sản xuất
Tài khoản


v

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
BẢNG

Bảng 2.1 Định mức sử dụng nguyên liệu chính cho 1 sản phẩm mã Áo DEKYUNG:
WD 3D 13042.........................................................Error: Reference source not found
Bảng 2.2 Định mức sử dụng nguyên liệu chính cho 1 sản phẩm Quần FMX 173304
................................................................................. Error: Reference source not found
Bảng 3.2 Bảng phân tích chi phí sản chung...........Error: Reference source not found
SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ kế toán CPNVLTT....................................................................................27
Sơ đồ 1.2 Sơ đồ kế toán chi phí NCTT................................................................................29
Sơ đồ 1.4 Sơ đồ kế toán tổng hợp chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm theo phương
pháp kê khai thường xuyên..................................................................................................33
Sơ đồ 1.5 Sơ đồ kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo phương
pháp kiểm kê định kỳ...........................................................................................................34
Sơ đồ 1.6: Trình tự tính giá thành theo phương pháp kết chuyển tuần tự............................47
ZTP = CPSX gđi có trong thành phẩm...............................................................................47
Sơ đồ 1.7: Trình tự tính giá thành phân bước theo phương pháp kết chuyển song song
(Phương pháp phân bước có tính Z bán thành phẩm)..........................................................48
Bảng 2.1 Định mức sử dụng nguyên liệu chính cho 1 sản phẩm mã Áo DEKYUNG: WD
3D 13042..............................................................................................................................58
Bảng 2.2 Định mức sử dụng nguyên liệu chính cho 1 sản phẩm Quần FMX 173304.........59
Bảng 3.2 Bảng phân tích chi phí sản chung.........................................................................92


1

LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, đối với doanh nghiệp thì chi phí sản xuất
và giá thành sản phẩm là hai yếu tố vô cùng quan trọng. Nó giúp doanh nghiệp có
thể tái sản xuất và tìm kiếm lợi nhuận. Giá thành chính là thước đo mức chi phí tiêu
hao phải bù đắp sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh. Có nghĩa là khi sản xuất một

sản phẩm nào đó thì chi phí để sản xuất ra sản phẩm đó phải nằm trong giới hạn của
sự bù đắp. Nếu giá thành vượt qua giới hạn này, chứng tỏ mục đích kinh doanh để
tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp đã không đạt tới.
Mặt khác, giá thành còn là công cụ để xem xét hiệu quả của các biện pháp tổ
chức kỹ thuật trong sản xuất kinh doanh. Có thể nói giá thành là tấm gương phản
chiếu toàn bộ toàn bộ các biện pháp, cách thức tổ chức quản lý sử dụng các yếu tố
đầu vào của quá trình sản xuất trong doanh nghiệp. Và giá thành cũng là mục tiêu
kinh tế có ý nghĩa quan trọng trong quản lý hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp. Điều này đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phỉa vận dụn các phương
thức tổ chức, quản lý sản xuất sao cho có hiệu quả để hạ thấp giá thành sản phẩm,
giúp doanh nghiệp có thể đứng vững trong điều kiện hiện nay.
Đảm bảo hạch toán chi phí và tính giá thành chính xác, kịp thời, phù hợp với
đặc điểm của từng doanh nghiệp là yêu cầu vô cùng quan trọng và mang tính xuyên
suốt trong quá trình thực hiện công tác kế toán của doanh nghiệp. Nhận thức được
tầm quan trọng của công tác chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, tôi đã chọn đề
tài: “Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại các doanh nghiệp thuộc
Tổng Công ty Cổ phần Dệt may Nam Định” để làm luận văn tốt nghiệp
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là đề tài nghiên cứu của
rất nhiều công trình nghiên cứu trong nước và ngoài nước. Có thể nói đây là đề tài
được nhiều người lựa chọn nhất cho nghiên cứu của mình.Tuy nhiên, mỗi người lại
có cách nhìn nhận, suy nghĩ khác nhau làm đa dạng hơn những vấn đề cần làm sáng tỏ.


2

Có nhiều đề tài nghiên cứu về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành trong
doanh nghiệp sản xuất như:
- Luận văn thạc sỹ của học viên Phạm Thị Chang, bảo vệ tại trường Đại học
thương mại năm 2015 với đề tài: “Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm

tại công ty cổ phần Mirae Fiber” . Luận văn đã làm rõ cơ sở lý luận về kế toán chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong kế toán tài chính và kế toán quản trị ở
doanh nghiệp sản xuất công nghiệp. Bên cạnh đó, tác giả cũng đã phân tích, đánh
giá các ưu nhược điểm của công ty, từ đó chỉ ra những nguyên nhân, và tìm biện
pháp khắc phục phù hợp. Những đề xuất, kiến nghị của luận văn đã xuất phát từ yêu
cầu thực tế với cơ sở lý luận khoa học nên phù hợp và có tính khả thi cao. Tuy
nhiên, tác giả lại chưa đánh giá được thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm tại công ty Cổ phần Mirae Fiber dưới góc độ kế toán quản trị.
- Thứ hai, luận văn thạc sỹ của học viên Nguyễn Thị Thúy bảo vệ tại trường
đại học thương mại năm 2014 với đề tài: “Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và
tính giá thành than tại công ty TNHH MTV Than Thống Nhất- VINACOMIN”. Tác
giả đã đi sâu nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng kế toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm tại công ty Vinacomin. Từ đó, đưa ra những ưu điểm,
hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế đó. Tác giả luận văn cũng đã trình bày
một số các giải pháp để hoàn thiện kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm phù
hợp với yêu cầu quản lý của công ty và chế độ kế toán hiện hành. Tuy nhiên, giải
pháp công tác kế toán quản trị còn mang tính khái quát, chung chung, tính ứng dụng
chưa cao.
- Thứ ba, đề tài “Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm tại Công ty Cổ phần Giầy Hải Dương”, luận văn Thạc sĩ của tác giả Trần Thị
Thanh Loan năm 2014, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Luận văn đã trình bày
những cơ sở lý luận chung và thực trạng về kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất công nghiệp như khái niệm, nội dung,
phân loại chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm cũng như phương pháp tính
giá thành sản phẩm dưới góc độ kế toán tài chính, kế toán quản trị chi phí trong các


3

doanh nghiệp sản xuất. Từ đó đưa ra được những ưu điểm đã đạt được, những vấn

đề còn tồn tại và tìm ra nguyên nhân để giải quyết. Từ những nghiên cứu thực trạng
kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tác giả đã đưa ra một số giải
pháp nhằm hoàn thiện kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
trong Công ty Cổ phần Giầy Hải Dương như: giải pháp về chế độ tiền lương, tiền
thưởng và phúc lợi cho người lao động, hình thức kế toán, tiền lương nghỉ phép cho
công nhân sản xuất, công tác lập dự toán chi phí sản xuất….
- Thứ tư, đề tài: “Một số biện pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán chi phí
sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại công ty TNHH xây dựng Hoàng
Tiến” của tác giả Hồ Thị Hoa, năm 2014, trường Đại học Nha Trang. Tác giả đi vào
khảo sát ngành xây lắp, tìm hiểu công tác kế toán chi phí và giá thành sản phẩm tại
doanh nghiệp. Với những kết quả thu được, tác giả đưa ra những kiến nghị về hoàn
thiện tổ chức bộ máy kế toán, hệ thống chứng từ sổ sách, hoàn thiện việc hạch toán
chi phí nhân công trực tiếp, chi phí công cụ, dụng cụ, và tác giả đề xuất một số giải
pháp làm giảm giá thành công trình. Tuy nhiên, luận văn cũng có một số điểm hạn
chế đó là tác giả chưa nghiên cứu thực trạng kế toán chi phí sản xuất và giá thành
sản phẩm xây lắp tại công ty TNHH xây dựng Hoàng Tiến dưới góc nhìn của kế
toán quản trị, do đó cũng chưa đề xuất được được các giải pháp để nâng cao chất
lượng quản trị hệ thống.
- Thứ năm, đề tài: “Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại công ty cổ
phần xi măng Hải Vân” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Nga, năm 2015, trường Đại
học Nha Trang. Theo tác giả thì toàn thể ban lãnh đạo và bộ phận kế toán cũng đã
thấy được vai trò của kế toán chi phí và giá thành sản phẩm xi măng tại công ty
trong việc hạ chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận doanh nghiệp. Từ đó, tác giả đề xuất
một số giải pháp liên quan đến công tác hạch toán cần đúng bản chất, đổi tượng kế
toán sẽ phản ánh đúng tỷ trọng của từng yếu tố trong giá thành sản phẩm, từ đó tạo
điều kiện thuận lợi cho việc phân tích biến động về chi phí trong công tác kế toán
quản trị, đưa ra các chính sách hợp lý để giảm giá thành sản phẩm
Qua nghiên cứu các công trình trên cho thấy các đề tài đã đưa ra các nội dung
cơ bản về mặt lý luận dưới hai góc độ là kế toán tài chính và kế toán quản trị, từ đó
đề xuất các giải pháp hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm



4

cụ thể theo phạm vi nghiên cứu của từng đề tài. Tuy nhiên chưa có đề tài nào
nghiên cứu chuyên sâu về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm phân
tích, cung cấp thông tin phục vụ cho nhu cầu của nhà quản trị tại Tổng công ty cổ
phần Dệt may Nam Định. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài này có giá trị cả về mặt lý
luận, đặc biệt là có ý nghĩa thực tiễn cao vì đề tài không trùng lặp với bất cứ một đề
tài nghiên cứu nào
3. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ các vấn đề lý luận về kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
trong các doanh nghiệp sản xuất dưới góc độ kế toán tài chính và kế toán quản trị.
Khảo sát, đánh giá thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm, chỉ ra những kết quả đã đạt được, những hạn chế và nguyên nhân hạn chế
trong kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại các doanh nghiệp thuộc Tổng
công ty cổ phần Dệt may Nam Định trong những năm qua.
Đưa ra giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm dệt may trong các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty cổ phần
Dệt may Nam Định dưới hai góc độ kế toán tài chính và kế toán quản trị
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
 Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu lý luận và thực trạng kế toán chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm dệt may tại các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty cổ phần Dệt May
Nam Định dưới hai góc độ kế toán tài chính và kế toán quản trị
 Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài chỉ thực hiện khảo sát tại một số doanh nghiệp thuộc Tổng công ty cổ
phần Dệt May Nam Định
- Đề tài chỉ đặt ra vấn đề nghiên cứu trong phạm vi số liệu năm 2014-2016
- Nội dung nghiên cứu:

Việc nghiên cứu được thực hiện trên trên cả hai phương diện kế toán tài chính và
kế toán quản trị.
Về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tập trung vào các sản phẩm dệt,
may


5

5. Các câu hỏi đặt ra trong quá trình nghiên cứu
- Cơ sở lý luận của kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong các
doanh nghiệp sản xuất công nghiệp là gì?
- Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại các doanh
nghiệp thuộc Tổng công ty cổ phần Dệt may Nam Định như thế nào? Có những ưu
điểm và hạn chế gì?
- Cần phải có những giải pháp gì để hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm tại các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty cổ phần Dệt may Nam
Định dưới hai góc độ kế toán tài chính và kế toán quản trị
6. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tiếp cận thông tin
Luận văn vận dụng cơ sở lý thuyết về kế toán chi phí và tính giá thành sản
phầm để đi sâu nghiên cứu, phân tích thực trạng công tác kế toán chi phí và tính giá
thành sản phầm tại Tổng công ty cổ phần Dệt May Nam Định. Đồng thời, luận văn
sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng để thu thập và xử lý
thông tin.
+ Nghiên cứu định tính: Thực hiện thông qua việc quan sát, phỏng vấn các đối
tượng cung cấp thu thập thông tin như các nhân viên Phòng Kế toán - Tài vụ, Phòng
Kế hoạch, phân xưởng sản xuất, bộ phận thu mua, bộ phận kiểm tra chất lượng... giúp
cho tác giả có cái nhìn tổng quan về công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm.
+ Nghiên cứu định lượng: Tác giả lượng hóa các khái niệm, đo lường mối

quan hệ giữa các yếu tố thông qua việc áp dụng các công cụ phân tích, thống kê, sử
dụng các phương pháp trong kế toán như: PP chứng từ kế toán, PP đối ứng tài
khoản, PP tính giá và PP tổng hợp - cân đối kế toán.
- Phương pháp thu thập dữ liệu
Dữ liệu của đề tài nghiên cứu được thu thập thông qua các nguồn sau:
+ Nguồn dữ liệu sơ cấp: Có được qua điều tra thu thập thông tin từ các phòng
ban, phân xưởng sản xuất tại Công ty. Cụ thể: phiếu khảo sát, phỏng vấn sâu các
nhân viên, quan sát trực tiếp, quan sát gián tiếp...


6

+ Nguồn dữ liệu thứ cấp: Các văn bản quy phạm của Quốc hội, Chính phủ, các
Bộ, ngành về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm; Các tài liệu về kế
toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tham khảo từ các giáo trình, tạp
chí, mạng Internet; Các tài liệu sẵn có tại Tổng công ty CP Dệt May Nam Định: Tài
liệu giới thiệu về Tổng công ty, quy chế tài chính, mục tiêu, chiến lược hoạt động
của Công ty; Các báo cáo tài chính và báo cáo quản trị của Công ty trong vòng 3
năm: 2014 - 2016; Các chứng từ, sổ sách, báo cáo kế toán có liên quan đến công tác
kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm…
- Phương pháp phân tích, xử lý dữ liệu
Các dữ liệu thu thập được sẽ được phân loại, sàng lọc, sắp xếp phân tích, tổng
hợp qua công cụ hỗ trợ bằng phần mềm: Microsoft office Word, Microsoft office
Excel để đưa ra các đánh giá tổng hợp và các ý kiến đề xuất về công kế toán chi phí
sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Tổng công ty.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài lời cam đoan, lời cảm ơn, mục lục, danh mục chữ viết tắt, danh mục sơ
đồ và bảng biểu, lời mở đầu, tài liệu tham khảo, các phụ lục, nội dung chính của
luận văn được chia thành ba chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán chi phí sản xuất và tính giá

thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp
Chương 2: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại các
doanh nghiệp thuộc Tổng công ty cổ phần Dệt may Nam Định
Chương 3: Các kết luận và giải pháp hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm tại các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty cổ phần Dệt may Nam
Định


7

CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN
XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP
1.1 Những vấn đề chung về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong
doanh nghiệp sản xuất
1.1.1 Chi phí sản xuất và phân loại chi phí sản xuất
1.1.1.1 Khái niệm chi phí sản xuất
Trong các doanh nghiệp sản xuất, chi phí sản xuất thường chiếm một tỷ trọng
lớn trong tổng chi phí. Chi phí sản xuất phát sinh thường xuyên trong quá trình hoạt
động của doanh nghiệp để phục vụ cho quản lý và hạch toán kinh doanh, chi phí sản
xuất được tập hợp theo thời kỳ hàng tháng, hàng quý, hàng năm. Chi phí sản xuất là
sự chuyển dịch vốn của doanh nghiệp vào đối tượng tính giá nhất định, nó là vốn
của doanh nghiệp bỏ vào quá trình sản xuất kinh doanh. Vì vậy, để quản lý có hiệu
quả và kịp thời đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, các nhà quản trị
doanh nghiệp luôn cần biết số chi phí chi ra cho từng loại hoạt động, sản phẩm, dịch
vụ trong kỳ là bao nhiêu, số chi phí đã chi đó cấu thành trong số sản phẩm, lao vụ,
dịch vụ đã hoàn thành là bao nhiêu.
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 - Chuẩn mực chung, tại đoạn 31: “Chi
phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức

các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến
làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm các khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ
sở hữu”.[1, đoạn 31]
Theo giáo trình kế toán tài chính của Học viện tài chính xuất bản năm 2013
của GS.TS Ngô Thế Chi và PGS.TS Trương Thị Thủy có viết “Chi phí được nhìn nhận
như những khoản phí tổn phát sinh gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp để đạt
được một sản phẩm, lao vụ, dịch vụ nhất định. Chi phí được xác định bằng tiền của
nhữnng hao phí về lao động sống và hao phí về lao động vật hóa,...trên cơ sở chứng
từ, tài liệu bằng chứng chắc chắn” [3, tr278]


8

Theo giáo trình kế toán tài chính trong các doanh nghiệp của Trường Đại học
Kinh tế quốc dân năm 2011 của GS.TS Đặng Thị Loan thì “ Chi phí sản xuất là biểu
hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà
doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời
kỳ nhất định (tháng, quý, năm) ”. [10, tr85]
Từ các phân tích trên, có thể khái quát về chi phí sản xuất là các chi phí mà doanh
nghiệp phải bỏ ra để mua các yếu tố đầu vào cần thiết cho quá trình sản xuất hàng hóa,
chế tạo sản phẩm. Bất kỳ một doanh nghiệp nào hoạt động trong nền kinh tế thị trường
cũng đều mong muốn giảm chi phí sản xuất và tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.
Việc nghiên cứu và nhận thức về chi phí sản xuất còn phụ thuộc vào góc độ nhìn
nhận của từng loại kế toán khác nhau:
Dưới góc độ kế toán tài chính: Chi phí sản xuất được nhìn nhận là những khoản
phí tổn đã phát sinh mà doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện quá trình sản xuất nhằm
đạt được mục đích là tạo ra sản phẩm, lao vụ ,dịch vụ nhất định. Những khoản phí tổn
này được định lượng và thể hiện dưới dạng một lượng tiền chi ra, các khoản tương
đương tiền, hàng tồn kho, khấu hao máy móc thiết bị, một khoản nợ dịch vụ và để xác
định được chi phí thì phải có chứng từ, tài liệu, bằng chứng chứng minh chắc chắn việc

phát sinh của chúng. Đối với kế toán tài chính, chi phí sản xuất bao gồm các khoản chi
phí đã phát sinh hoặc sẽ phát sinh trong tương lai nhưng liên quan đến kết quả của kỳ
kinh doanh và được tính vào chi phí sản xuất của kỳ này
Dưới góc độ kế toán quản trị: Mục đích của kế toán quản trị chi phí là cung cấp
thông tin thích hợp về chi phí, kịp thời cho việc ra quyết định của các nhà quản trị
doanh nghiệp. Do đó, đối với kế toán quản trị không chỉ đơn thuần nhận thức về chi
phí như trong kế toán tài chính mà còn nhìn nhận chi phí theo góc độ nhận diện thông
tin để phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh. Vì vậy, chi phí có thể là phí tổn thực
tế phát sinh trong thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh được tổng hợp theo từng bộ
phận, từng trung tâm chi phí cũng như xác định giá trị hàng tồn kho trong từng khâu
của quá trình sản xuất, tiêu thụ. Chi phí cũng có thể là những phí tổn ước tính hoặc dự
kiến trước để thực hiện một hoạt động sản xuất kinh doanh,...


9

1.1.1.2 Phân loại chi phí sản xuất
Xuất phát từ yêu cầu và mục đích sử dụng thông tin khác nhau của nhà quản
lý, chi phí sản xuất phải được phân loại theo những tiêu thức khác nhau dưới hai
góc độ kế toán tài chính và kế toán quản trị
Dưới góc độ kế toán tài chính thì chi phí sản xuất được phân loại như sau:
 Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung và tính chất kinh tế của chi phí
- Chi phí nguyên liệu, vật liệu: Là toàn bộ giá mua và chi phí mua của nguyên
vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ
sử dụng vào sản xuất (không bao gồm giá trị nguyên liệu, vật liệu dùng không hết
nhập lại kho và phế liệu thu hồi);
- Chi phí nhiên liệu, động lực sử dụng vào quá trình sản xuất trong kỳ (không
bao gồm giá trị dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi);
- Chi phí nhân công: Là các khoản chi phí phải trả cho người lao động về tiền
lương, tiền công, phụ cấp mang tính chất lương và các khoản trích BHXH, BHYT,

BHTN, KPCĐ theo tiền lương của người lao động;
- Chi phí công cụ, dụng cụ: là tư liệu lao động không đủ tiêu chuẩn để ghi
nhận là tài sản cố định và công cụ, dụng cụ thường tham gia vào nhiều chu kỳ sản
xuất kinh doanh. Bao gồm: Các loại bao bì dùng để đựng vật liệu, hàng hóa trong
quá trình thu mua, bảo quản, tiêu thụ; Các loại bao bì kèm hàng hóa có tính giá
riêng nhưng bỏ qua quá trình bảo quản hàng hóa vận chuyển trên đường và dự trữ
trong kho có tính giá trị hao mòn để trừ dần vào giá trị của bao bì; Những dụng cụ,
đồ nghề bằng thủy tinh, sành, sứ…Quần áo và dụng cụ bảo hộ lao động;….
- Chi phí khấu hao TSCĐ: Bao gồm toàn bộ số khấu hao TSCĐ phải trích
trong kỳ dùng vào hoạt động sản xuất của doanh nghiệp;
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: Bao gồm toàn bộ các khoản chi phí về các loại
dịch vụ mua ngoài, thuê ngoài phục vụ cho hoạt động sản xuất trong kỳ của doanh
nghiệp như điện, nước, điện thoại, thuê nhà, quảng cáo, khuyến mại, vệ sinh công
nghiệp…;
- Chi phí bằng tiền khác: Bao gồm toàn bộ các chi phí bằng tiền phát sinh
ngoài các chi phí nói trên dùng vào quá trình sản xuất trong kỳ như công tác phí,
thuế giá trị gia tăng (GTGT) không được khấu trừ, thuế môn bài, chi tiếp khách, chi


10

hội họp…;
Phân loại chi phí sản xuất theo tính chất kinh tế có tác dụng: Quản lí sản xuât,
phân tích đánh giá tình hình thực hiện dự toán chi phí sản xuất, đồng thời là căn cứ
để lập báo cáo chi phí sản xuất theo yếu tố ở bảng thuyết minh báo cáo tài chính,
cung cấp tài liệu tham khảo để lập dự toán chi phí sản xuất, lập kế hoạch cung ứng
vật tư, tính toán nhu cầu vốn lưu động cho kỳ sau.
 Phân loại chi phí sản xuất theo khoản mục chi phí
Theo tiêu thức phân loại này thì chi phí sản xuất gồm 3 khoản mục:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Bao gồm toàn bộ chi phí về vật liệu

chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, bán thành phẩm mua ngoài sử dụng trực tiếp cho quá
trình sản xuất chế tạo sản phẩm, lao vụ, dịch vụ;
- Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm toàn bộ chi phí về tiền lương, các
khoản trích theo tiền lương của công nhân trực tiếp sản xuất như BHXH, BHYT,
BHTN, KPCĐ theo tỷ lệ quy định và các khoản phải trả cho công nhân trực tiếp
tham gia vào hoạt động sản xuất gồm: Lương trong thời gian làm việc theo quy
định, lương làm ngoài giờ…;
- Chi phí sản xuất chung: Là những khoản chi phí dùng cho hoạt động sản
xuất chung ở các phân xưởng, đội sản xuất. CPSX được theo dõi chi tiết cho từng
loại như:
+ Lương và các khoản trích theo lương của nhân viên quản lý phân xưởng, đội
trại sản xuất như: nhân viên kế toán, thông kê, thủ kho, công nhân vận chuyển, công
nhân sửa chữa ở phân xưởng;
+ Khấu hao TSCĐ khác dùng sản xuất sản phẩm và quản lý phân xưởng
sản xuất như: khấu hao máy mọc thiết bị sản xuất, phương tiện vận tải, truyền dẫn,
nhà xưởng…;
+ Chi phí vật liệu: Phản ánh chi phí vật liệu dùng chung cho phân xưởng như
vật liệu dùng để sửa chữa bảo dưỡng TSCĐ, vật liệu văn phòng phân xưởng và
những vật liệu dùng cho nhu cầu quản lý chung ở phân xưởng;
+ Chi phí dụng cụ sản xuất: Gồm chi phí dụng cụ dùng cho nhu cầu sản xuất
chung ở phân xưởng như: khuôn mẫu, dụng cụ giá lắp, dụng cụ cầm tay, dụng cụ
bảo hộ lao động, ván khuôn…;
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: Phản ánh những chi phí về lao vụ dịch vụ mua


11

bên ngoài, để phục vụ cho hoạt động sản xuất ở phân xưởng, đội sản xuất như: chi
phí điện, nước, khí nén, chi phí điện thoại, Fax…;
+ Chi phí bằng tiền khác: Phản ánh các chi phí bằng tiền ngoài những hi phí

nêu trên phục vụ cho sản xuất ở tổ, phân xưởng sản xuất;
Phân loại theo tiêu thức này có tác dụng phục vụ cho việc quản lý chi phí sản
xuất theo định mức, cung cấp số liệu cho công tác tính giá thành, phân tích tình hình
thực hiện kế hoạch giá thành, làm tài liệu tham khảo để lập định mức chi phí sản
xuất và lập kế hoạch giá thành sản phẩm cho kỳ sau.
 Phân loại chi phí sản xuất theo phương pháp tập hợp chi phí và mối
quan hệ với đối tượng chịu chi phí
Theo cách phân loại này chi phí sản xuất được chia làm 2 loại:
- Chi phí trực tiếp: là những khoản chi phí sản xuất có liên quan trực tiếp đến
sản xuất ra một loại sản phẩm hoặc trực tiếp thực hiện một lao vụ dịch vụ nhất định,
những chi phí này kế toán căn cứ vào số liệu từ chứng từ gốc để ghi trực tiếp cho
từng đối tượng chịu chi phí;
- Chi phí gián tiếp: là những khoản chi phí sản xuất có liên quan đến nhiều loại
sản phẩm sản xuất nhiều công việc lao vụ thực hiện, những chi phí này kế toán phải
tiến hành phân bổ cho các đối tượng có liên quan theo một tiêu chuẩn thích hợp;
Cách phân loại chi phí sản xuất này có ý nghĩa đối với việc xác định phương
pháp kế toán tập hợp và phân bổ chi phí cho các đối tượng một cách đúng đắn hợp lý.
Dưới góc độ kế toán quản trị, chi phí sản xuất được phân loại như sau:
 Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ với số lượng sản phẩm sản xuất
Theo tiêu thức này chi phí được phân thành 3 loại:
- Chi phí biến đổi (biến phí): là những chi phí thay đổi về tổng số, tỷ lệ với sự
thay đổi của mức độ hoạt động (số lượng sản phẩm sản xuất)
- Chi phí cố định (định phí): là những khoản chi phí không thay đổi về tổng số khi
mức độ hoạt động (số lượng sản phẩm sản xuất) thay đổi trong phạm vi phù hợp.
- Chi phí hỗn hợp: là những khoản chi phí bao gồm cả yếu tố biến phí và định
phí. Ở mức độ hoạt động nào đó, chi phí hỗn hợp thể hiện đặc điểm của định phí và ở


12


các mức độ khác nhau của hoạt động chúng lại thể hiện đặc điểm của biến phí.
Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ với số lượng sản phẩm sản xuất có
tác dụng lớn đối với công tác quản trị phục vụ cho việc ra quyết định quản lý cần
thiết, giúp nhà quản lý nhận biết được “ứng xử” của từng loại chi phí với thay đổi
mức độ hoạt động, phục vụ cho việc lập kế hoạch, kiểm soát và chủ động điều tiết
chi phí.
Ngoài việc phân chia chi phí sản xuất thành 3 khoản mục chi phí cơ bản như
trên, kế toán quản trị còn chia chi phí sản xuất thành 2 loại: Chi phí ban đầu và chi
phí chuyển đổi.
- Chi phí ban đầu: Là khoản chi phí đầu tiên, chủ yếu của sản phẩm. Đó là kết
hợp giữa chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp. Chi phí
ban đầu là những căn cứ để lập kế hoạch về lượng chi phí chủ yếu, cần thiết để sản
xuất ra một sản phẩm nhất định.
- Chi phí chuyển đổi: Là những khoản chi phí cần thiết để chuyển đổi nguyên
vật liệu đang ở dạng thô thành dạng sản phẩm của doanh nghiệp. Đó là sự kết hợp
giữa chi phí nhân công trực tiếp với chi phí sản xuất chung. Chi phí chuyển đổi
cũng là những căn cứ để lập kế hoạch về lượng chi phí cần thiết phục vụ chế biến
một lượng nguyên vật liệu nhất định thành sản phẩm.
Cách phân loại này có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý vĩ mô và
quản trị doanh nghiệp, là cơ sở để lập và kiểm tra việc thực hiện dự toán CPSXKD
theo chức năng hoạt động, xác định mức tiêu hao vật chất trong phạm vi toàn bộ
doanh nghiệp.
 Phân loại chi phí sản xuất theo chức năng hoạt động
Theo cách phân loại này chi phí trong doanh nghiệp được phân thành hai
loại: chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất. Chi phí sản xuất của doanh nghiệp
gồm 3 khoản mục chi phí cơ bản là chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân
công trực tiếp và chi phí sản xuất chung (tương tự phân loại chi phí sản xuất theo
nội :
- Chi phí NVLTT: Là khoản chi phí về vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên
liệu,...mà kế toán có thể tập hợp thẳng cho các đối tượng chịu chi phí. Thông



13

thường, chi phí NVLTT có thể định mức cho một đơn vị sản phẩm, vừa là cơ sở xây
dựng dự toán, vừa là cơ sở kiểm soát chi phí. Xét trong mối quan hệ với sản lượng
sản phẩm sản xuất, chi phí NVL trực tiếp thể hiện đầy đủ các đặc điểm của biến phí
- Chi phí NCTT: Gồm các khoản tiền lương, phụ cấp và các khoản trích theo
lương của NCTT tạo ra sản phẩm. Các khoản chi phí NCTT kế toán có thể tập hợp
thẳng cho các đối tượng chịu chi phí và được định mức theo từng loại sản phẩm,
dịch vụ
- Chi phí sản xuất chung: Là tất cả khoản chi phí cần thiết khác phát sinh
trong phạm vi các phân xưởng, tổ, đội sản xuất ngoài hai khoản mục CP NVLTT và
CP NCTT. Các chi phí này có đặc điểm:
+ Gồm nhiều yếu tố chi phí có nguồn gốc phát sinh và đặc điểm khác nhau
+ Liên quan đến nhiều hoạt động của quá trình sản xuất sản phẩm khác nhau
nên cần phân bổ theo các tiêu thức hợp lý
+ Thường bao gồm cả định phí và biến phí
- Chi phí ngoài sản xuất là các khoản chi phí doanh nghiệp phải chi để thực
hiện việc tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, cung cấp dịch vụ và chi cho bộ máy quản lý
doanh nghiệp. Căn cứ vào chức năng hoạt động chi phí ngoài sản xuất được chia
thành 2 loại là chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.
 Phân loại CPSX theo mối quan hệ của chi phí với các quyết định kinh
doanh
-Chi phí cơ hội: Chi phí cơ hội là một khoản lợi nhuận tiềm tàng bị mất đi hay
phải hy sinh để lựa chọn, thực hiện hành động này thay thế cho hành động khác.
Hành động khác ở đây là phương án tối ưu có sẵn so với phương án được chọn.
Trên thực tế có nhiều phương án kinh doanh để lựa chọn và mỗi phương án đều có
khả năng thu được lợi nhuận ở mức độ khác nhau
-Chi phí chênh lệch: Là các khoản chi phí có ở phương án này nhưng chỉ có một

phần hoặc không có ở phương án khác. Chi phí này được gọi là chi phí chênh lệch
giữa các phương án kinh doanh. Chi phí chênh lệch có thể là chi phí tăng thêm hoặc
giảm đi của một loại chi phí hoặc tổng chi phí. Chi phí chênh lệch có thể là chi phí
biến đổi hoặc chi phí cố định
-Chi phí chìm: Là các khoản chi phí xuất hiện trong tất cả các phương án
SXKD, doanh nghiệp phải chịu cho dù các nhà quản trị lựa chọn bất kỳ một phương
án kinh doanh nào. Đây là khoản chi phí mà các nhà quản trị phải chấp nhận không


14

có sự lựa chọn
1.1.2 Giá thành sản phẩm và phân loại giá thành sản phẩm
1.1.2.1 Khái niệm giá thành sản phẩm
Theo giáo trình kế toán tài chính trong các doanh nghiệp của Trường Đại học
Kinh tế quốc dân năm 2011 của GS.TS Đặng Thị Loan thì: “Giá thành sản phẩm là
biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về lao động sống và lao động vật
hóa có liên quan đến khối lượng công tác, sản phẩm, lao vụ đã hoàn thành” [5, tr279]
Theo các nhà khoa học của Học viện tài chính “Kế toán và phân tích chi phígiá thành trong doanh nghiệp” của Học viện Tài chính năm 2007 có viết: “Giá
thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền các chi phí sản xuất chế tạo sản phẩm cấu
thành trong những sản phẩm đã hoàn thành” [10,tr52]
Giá thành sản phẩm là chi phí sản xuất tính cho một khối lượng sản phẩm,
dịch vụ hoàn thành nhất định. Giá thành là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh
chất lượng toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh và quản lý kinh tế tài chính tại
doanh nghiệp, cụ thể là phản ánh kết quả sử dụng các loại tài sản, vật tư, lao động,
tiền vốn trong quá trình sản xuất cũng như các giải pháp kinh tế kỹ thuật mà doanh
nghiệp đã thực hiện nhằm mục đích sản xuất tiết kiệm và lợi nhuận cao.
1.1.2.1 Phân loại giá thành sản phẩm
a) Phân loại theo cơ sở số liệu và thời điểm tính giá thành
Theo cách phân loại này thì giá thành sản phẩm được chia thành 3 loại:

- Giá thành kế hoạch: được tính toán dựa trên giá thành thực tế phát sinh của kỳ
trước và định mức, dự toán về chi phí của kỳ kế hoạch. Giá thành kế hoạch bao giờ cũng
được tính toán trước khi bắt đầu quá trình sản xuất kinh doanh;
- Giá thành định mức: được tính toán dựa trên cơ sở các định mức chi phí hiện
hành và chỉ được tính cho đơn vị sản phẩm. Giá thành định mức cũng được tính
trước khi tiến hành sản xuất sản phẩm. Giá thành định mức khác với giá thành kế
hoạch ở chỗ giá thành kế hoạch được xây dựng dựa trên các định mức bình quân và
cố định mức giá trong suốt cả kỳ kế hoạch, còn giá thành định mức được xây dựng
trên cơ sở chi phí hiện hành trong từng thời kỳ (thường là những ngày đầu tháng)
nên giá thành định mức luôn thay đổi để phù hợp với thực tế các định mức chi phí


15

phải bỏ ra trong quá trình sản xuất sản phẩm. Vì vậy, giá thành định mức là thước
đo để xác định hiệu quả sử dụng tài sản, lao động, tiền vốn trong sản xuất, là căn cứ
để đánh giá đúng đắn kết quả thực hiện các giải pháp kinh tế kỹ thuật mà doanh
nghiệp đã đề ra trong quá trình sản xuất kinh doanh;
- Giá thành thực tế: Là giá thành tính trên CPSX thực tế phát sinh, tập hợp
trong kỳ và khối lượng sản phẩm, công việc hoàn thành tương ứng. Giá thành thực
tế chỉ có thể tính toán được sau khi kết thúc quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm.
Giá thành thực tế là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, là cơ sở để xác định kết quả hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp.
b) Phân loại giá thành theo phạm vi các chi phí phát sinh
Theo cách phân loại này giá thành sản phẩm được chia thành hai loại:
- Giá thành sản xuất (giá thành công xưởng): Là chỉ tiêu phản ánh tất cả những
chi phí liên quan đến quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân
xưởng, bộ phận sản xuất, bao gồm chi phí vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp và
chi phí sản xuất chung.
Giá thành sản xuất được sử dụng để hạch toán thành phẩm nhập kho hoặc giao

cho khách hàng và là căn cứ để tính giá vốn hàng bán và mức lãi gộp trong kỳ của
doanh nghiệp.
- Giá thành toàn bộ sản phẩm tiêu thụ: Bao gồm giá thành sản xuất tính cho số
sản phẩm tiêu thụ và chi phí ngoài sản xuất (chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh
nghiệp) phát sinh trong kỳ tính cho số sản phẩm này theo công thức sau:
Giá thành toàn
Giá thành
Chi phí
Chi phí tiêu
bộ của sản phẩm = sản xuất sản + quản lý doanh + thụ sản
tiêu thụ
phẩm
nghiệp
phẩm
Giá thành toàn bộ của sản phẩm là căn cứ để tính toán xác định kết quả hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (tính lãi trước thuế thu nhập doanh nghiệp)
1.1.3 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Đối với doanh nghiệp sản xuất chỉ tiêu chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là
những chỉ tiêu kinh tế quan trọng mà bất kì nhà quản lý nào cũng phải quan tâm bởi đó
là những chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh


16

và hơn nữa nó còn quyết định đến kết quả sản xuất và ảnh hưởng tới thu nhập của toàn
bộ cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp. Do đó cần phải hạch toán chính xác, đầy
đủ và kịp thời chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm để cung cấp thông tin cho các
nhà quản lý giúp họ nắm được tình hình sử dụng vật tư, tài sản, lao động...đánh giá
được thực trạng kinh doanh thực tế của doanh nghiệp từ đó có những quyết định quản
lý đúng đắn, tiết kiệm chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm.

Hạch toán chính xác chi phí sản xuất không chỉ là việc tổ chức, ghi chép, phản
ánh theo đúng giá trị thực tế của chi phí mà còn phải theo đúng địa điểm phát sinh
và đối tượng chịu phí. Tính đúng giá thành là tính toán chính xác và hạch toán đúng nội
dung kinh tế của chi phí đã hao phí để sản xuất ra sản phẩm. Vì vậy, phải xác định
đúng đối tượng tính giá thành, vận dụng đúng phương pháp tính giá thành và giá thành
phải được tính trên cơ sở số liệu chi phí sản xuất kế toán đã tập hợp một cách chính
xác. Tính đủ giá thành là tính toán đầy đủ mọi chi phí đã bỏ ra cho sản xuất sản phẩm
nhưng cũng phải loại bỏ những chi phí không liên quan, không cần thiết.
Việc tổ chức công tác quản lý và hạch toán chi phí sản xuất, tính giá thành sản
phẩm phù hợp với đặc điểm kinh doanh và tình hình thực tế của doanh nghiệp sẽ
cho ta những thông tin chính xác, kịp thời phục vụ cho công tác quản trị doanh
nghiệp cũng như định hướng cho hoạt động kinh doanh. Tính đúng, tính đủ giá thành
sản phẩm sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp tránh được lãi giả, lỗ thật và ngược lại.
Chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là hai mặt biểu hiện của quá trình
sản xuất có mối quan hệ với nhau và giống nhau về chất. Chúng đều là các hao phí
về lao động và các khoản chi tiêu khác của doanh nghiệp. Tuy vậy chúng vẫn có sự
khác nhau trên các phương diện sau:
Về mặt phạm vi: Chi phí sản xuất bao gồm cả chi phí sản xuất sản phẩm và chi
phí cho quản lý doanh nghiệp và tiêu thụ sản phẩm. Còn giá thành sản phẩm chỉ bao
gồm chi phí sản xuất ra sản phẩm. (chi phí sản xuất trực tiếp và chi phí sản xuất
chung).
Mặt khác chi phí sản xuất chỉ tính những chi phí phát sinh trong mỗi kỳ nhất
định (tháng, quý, năm) không tính đến chi phí liên quan đến số lượng sản phẩm đã


17

hoàn thành hay chưa. Còn giá thành sản phẩm là giới hạn số chi phí sản xuất liên
quan đến khối lượng sản phẩm, dịch vụ đã hoàn thành.
Về mặt lượng: Nói đến chi phí sản xuất là xét đến các hao phí trong một thời

kỳ còn giá thành sản phẩm liên quan đến chi phí của cả kỳ trước chuyển sang và số
chi phí kỳ này chuyển sang kỳ sau. Sự khác nhau về mặt lượng và mối quan hệ giữa
chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm thể hiện ở công thức tính giá thành sản phẩm
tổng quát sau:
Như vậy, chi phí sản xuất là cơ sở để xây dựng giá thành sản phẩm còn giá
thành là cơ sở để xây dựng giá bán. Trong điều kiện nếu giá bán không thay đổi thì
sự tiết kiệm hoặc lãng phí của doanh nghiệp về chi phí sản xuất có ảnh hưởng trực
tiếp đến giá thành thấp hoặc cao từ đó sẽ tác động tới lợi nhuận của doanh nghiệp.
Do đó tiết kiệm chi phí, hạ thấp giá thành là nhiệm vụ quan trọng và thường xuyên
của công tác quản lý kinh tế. Nó giúp cho doanh nghiệp cạnh tranh có hiệu quả trên
thị trường.
1.2 Đối tượng và phương pháp tập hợp chi phí sản xuất trong các doanh
nghiệp sản xuất công nghiệp
1.2.1 Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất
Là phạm vi, giới hạn mà các chi phí sản xuất cần phải tập hợp nhằm đáp ứng yêu
cầu kiểm tra, giám sát chi phí sản xuất và yêu cầu tính giá thành sản phẩm.
Việc xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí là khâu đầu tiên quan trọng
của công tác kế toán chi phí sản xuất. Có xác định đúng đối tượng kế toán tập hợp
chi phí sản xuất mới đáp ứng được yêu cầu quản lý chi phí sản xuất, mới tổ chức tốt
công việc kế toán tập hợp chi phí sản xuất từ khâu ghi chép ban đầu, tổng hợp số
liệu, tổ chức ghi sổ kế toán.
Việc xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất thực chất là xác định nơi phát
sinh chi phí và đối tượng chịu chi phí. Việc xác định đối tượng tập hợp chi phí sản
xuất phải căn cứ vào đặc điểm qui trình công nghệ sản xuất sản phẩm, loại hình sản
xuất, đặc điểm tổ chức sản xuất, yêu cầu và trình độ quản lý cũng như yêu cầu tính
giá thành sản xuất của doanh nghiệp.


18


-Đặc điểm qui trình công nghệ sản xuất sản phẩm của mỗi doanh nghiệp khác
nhau là khác nhau. Với những loại sản phẩm toàn bộ qui trình sản xuất mà từ khi đưa
nguyên liệu, vật liệu chính vào cho đến khi tạo ra sản phẩm là một quy trình khép kín
không thể chia nhỏ được, đó là qui trình công nghệ sản xuất giản đơn, trong trường hợp
này chi phí sản xuất sẽ được tập hợp cho toàn bộ quy trình sản xuất đó.
Bên cạnh đó, có những quy trình công nghệ sản xuất mà từ khi đưa nguyên
liệu, vật liệu chính vào cho đến khi tạo ra sản phẩm cuối cùng có thể được chia nhỏ
thành nhiều giai đoạn công nghệ khác nhau, kết thúc mỗi giai đoạn công nghệ tạo ra
nửa thành phẩm hoặc các bộ phận chi tiết sản phẩm, đó là quy trình công nghệ sản
xuất phức tạp kiểu chế biến liên tục hoặc chế biến song song. Trong trường hợp này
chi phí sản xuất có thể được tập hợp cho từng giai đoạn công nghệ trong toàn bộ
quy trình sản xuất sản phẩm đó.
-Đặc điểm tổ chức sản xuất: Trong trường hợp doanh nghiệp tổ chức sản xuất
theo các phân xưởng, tổ đội sản xuất, để quản lý chi phí sản xuất có thể tập hợp chi
phí sản xuất theo từng phân xưởng, tổ, đội sản xuất.
-Đặc điểm về loại hình sản xuất: có thể sản xuất hàng loạt với khối lượng lớn
(mặt hàng sản xuất ổn định), hoặc sản xuất theo đơn đặt hàng (mặt hàng sản xuất
không ổn định) hoặc sản xuất theo đơn chiếc. Từ đó mà chi phí sản xuất có thể tập
hợp cho toàn bộ quy trình sản xuất, hay theo từng đơn đặt hàng, hoặc theo từng sản
phẩm đơn chiếc.
-Yêu cầu quản lý và yêu cầu tính giá thành của doanh nghiệp : tuỳ thuộc vào
yêu cầu quản lý chi phí hạch toán kinh tế nội bộ để xác định đối tượng tập hợp chi
phí sản xuất hợp lý.
1.2.2 Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất
a) Phương pháp trực tiếp
Phương pháp này áp dụng đối với chi phí sản xuất có liên quan trực tiếp đến
từng đối tượng tập hợp chi phí riêng biệt
Đối với các loại chi phí phát sinh có liên quan đến đối tượng nào có thể xác định
được trực tiếp cho đối tượng đó, chi phí phát sinh liên quan đến từng đối tượng tập hợp
chi phí cụ thể đã xác định sẽ được tập hợp, quy nạp trực tiếp cho đối tượng đó.



19

Phương pháp này yêu cầu kế toán phải tổ chức công tác hạch toán một cách cụ
thể, tỷ mỷ từ khâu lập chứng từ ban đầu, tổ chức hệ thống tài khoản, hệ thống sổ kế
toán theo đúng đối tượng tập hợp chi phí đã xác định
b) Phương pháp tập hợp và phân bổ gián tiếp
Phương pháp này áp dụng đối với chi phí sản xuất có liên quan đến nhiều đối
tượng tập hợp chi phí sản xuất không thể tổ chức ghi chép ban đầu riêng theo từng
đối tượng tập hợp chi phí riêng biệt.
Để tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất cho các đối tượng có liên quan kế toán
phải tiến hành theo trình tự sau:
- Tổ chức ghi chép ban đầu ( ghi chứng từ gốc ) chi phí sản xuất có liên quan
đến nhiều đối tượng theo từng địa điểm phát sinh chi phí, từ đó tổng hợp số liệu trên
chứng từ kế toán theo địa điểm phát sinh chi phí.
- Chọn tiêu chuẩn phân bổ phù hợp với từng loại chi phí để tính toán, phân bổ
chi phí sản xuất đã tổng hợp cho các đối tượng liên quan.
- Xác định hệ số phân bổ (H):

H =

T
C
=
C
∑Tn

Trong đó : C : Tổng chi phí đã tổng hợp cần phân bổ
T : Tổng tiêu thức phân bổ

Tn : Tiêu chuẩn phân bổ của đối tượng n
- Tính chi phí sản xuất phân bổ cho từng đối tượng liên quan (Cn)
Cn = Tn x H
Trong đó

Cn: là chi phí sản xuất phân bổ cho đối tượng n

Đại lượng tiêu chuẩn dùng để phân bổ (còn được gọi là đơn vị công) được lựa
chọn tuỳ vào từng trường hợp cụ thể. Tính chính xác, độ tin cậy của thông tin về chi
phí phụ thuộc rất nhiều vào tính hợp lý của tiêu chuẩn phân bổ được lựa chọn.
Việc xác định tiêu chuẩn phân bổ chi phí có thể được xác định riêng rẽ theo
từng nội dung chi phí cần phân bổ, khi đó cũng phải xác định hệ số phân bổ theo
từng nội dung chi phí này hoặc cũng có thể xác định chung cho tất cả các chi phí


20

cần phân bổ. Việc xác định tiêu chuẩn phân bổ tuỳ thuộc vào từng đặc thù cụ thể
của từng doanh nghiệp.
1.3 Kế toán chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp
dưới góc độ kế toán tài chính
1.3.1 Kế toán chi phí sản xuất trong doanh nghiệp sản xuất công nghiệp
theo hướng dẫn của chuẩn mực kế toán Việt Nam
1.3.1.1 Chuẩn mực kế toán số 01 (VAS 01) – Chuẩn mực chung
Theo Chuẩn mực kế toán số 01 việc ghi nhận chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm phải tuân thủ các nguyên tắc kế toán sau:
a) Nguyên tắc cơ sở dồn tích:
Mọi chi phí phát sinh phải được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, không
căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc chi tiền. Vậy trong kế toán tập hợp chi phí
sản xuất và tính giá thành sản phẩm thì những chi phí phát sinh tại thời điểm nào kế

toán sẽ ghi nhận ngay tại thời điểm đó.
Nguyên tắc này chi phối kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
trong các trường hợp mua ngoài phát sinh ngay các chi phí công nợ, vật liệu mua
ngoài đưa thẳng vào sản xuất chưa trả tiền cũng phải ghi nhận
b) Nguyên tắc giá gốc
Mọi tài sản, vật tư… doanh nghiệp mua để phục vụ cho hoạt động sản xuất
kinh doanh thì khi ghi nhận chi phí kế toán phản ánh theo số tiền mà đơn vị thực tế
bỏ ra để có được tài sản, vật tư… đó ở trạng thái sẵn sàng sử dụng.
Theo nguyên tắc này giá trị của tài sản được phản ánh theo giá ở thời điểm
mua tài sản đó, không phải giá trị tại thời điểm xác định giá tài sản theo giá thị
trường dó đó nguyên tắc ngày chi phối bởi đến chi phí sản xuât và tính giá thành
sản phẩm ở hai khía cạnh:
- Vật liệu đưa vào sản xuất:
+ Trường hợp vật liệu mua ngoài đưa thẳng vào sản xuất: là vật liệu doanh nghiệp
mua từ các nhà cung cấp trong và ngoài hệ thống tổ chức kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Trường hợp vật liệu do danh nghiệp tự sản xuất ra (bán thành phẩm): là vật
liệu được doanh nghiệp tự sản xuất gia công
- Vật liệu xuất kho ra thì giá gốc lại được tính theo một trong 3 phương pháp:


×