Tải bản đầy đủ (.doc) (129 trang)

luận văn thạc sĩ kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh tại công ty cổ phần đầu tƣ f i t k

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (463.46 KB, 129 trang )

i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của cá nhân. Các
số liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
Kết quả nghiên cứu này chưa được công bố trong bất cứ công trình khoa học
nào. Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Tác giả

Nguyễn Thanh Bình


ii

MỤC LỤC
1.Bộ Tài chính (2014), Thông tư 200/2014/TT-BTC về chế độ kế toán doanh
nghiệp ................................................................................................................95
2.Bộ Tài chính (2006), Thông tư 53/2006/TT-BTC Hướng dẫn áp dụng kế
toán quản trị trong doanh nghiệp.......................................................................95
6.PGS.TS. Đỗ Minh Thành chủ biên, Đặng Thị Hòa, Trần Thị Hồng Mai
(2009), Giáo trình Nguyên lý kế toán, Trường Đại học Thương Mại, NXB
Thống kê............................................................................................................95
BÁO CÁO NHANH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH.................................................116
I. Tổng số lao động hiện có: 32 người.............................................................116
IV. Kết quả hoạt động kinh doanh..................................................................116


iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT


1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.

Từ viết tắt
BĐS
BHXH
BHYT
BHTN
CP
CCDC
DV
GTGT
KPCĐ
KQKD
SXKD
TNDN
TSCĐ
WTO


Tên đầy đủ
Bất động sản
Bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm y tế
Bảo hiểm thất nghiệp
Chi phí
Công cụ dụng cụ
Dịch vụ
Giá trị gia tăng
Kinh phí công đoàn
Kết quả kinh doanh
Sản xuất kinh doanh
Thu nhập doanh nghiệp
Tài sản cố định
Tổ chức thương mại thế giới

DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
Sơ đồ 2.1 Tổ chức bộ máy quản lý của Công ty.....Error: Reference source not
found


iv

Sơ đồ 2.2: Tổ chức bộ máy kế toán của Công ty....Error: Reference source not
found
Sơ đồ 2.3: Trình tự ghi sổ kế toán theo Hình thức Nhật kí – chứng từ:....Error:
Reference source not found
Bảng 2.1: Kết quả hoạt động SXKD trong năm 2014. .Error: Reference source
not found

Bảng 3.1: Bảng phân loại chi phí theo bộ phận......Error: Reference source not
found
Bảng 3.2 Báo cáo kết quả kinh doanh..........Error: Reference source not found


v


6

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài nghiên cứu
Khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới WTO, Việt Nam đã mở rộng
quan hệ thương mại, hợp tác kinh tế với nhiều nước trong khu vực và trên thế
giới. Bên cạnh việc tạo cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước phát triển thì
cũng đặt ra nhiều thách thức. Vì vậy đòi hỏi các doanh nghiệp phải chủ động tìm
ra các phương thức kinh doanh hiệu quả để có sức cạnh tranh trên thị trường.
Doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh là những chỉ tiêu đánh giá tình
hình hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. Trong đó, kết quả kinh doanh liên
quan trực tiếp đến chi phí bỏ ra và doanh thu đạt được. Khi doanh nghiệp tìm ra
hướng kinh doanh để tạo ra doanh thu thì việc sử dụng chi phí phải hợp lý, tiết
kiệm và hiệu quả là rất cần thiết.
Hiện nay, các hoạt động kinh tế diễn ra trong doanh nghiệp ngày càng trở
nên phức tạp. Do đó, việc xác định doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh còn
gặp nhiều khó khăn và cũng còn nhiều bất hợp lý.
Đặc biệt, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ nói chung và
Công ty cổ phần Đầu tư F.I.T nói riêng lại càng gặp nhiều khó khăn hơn trong
công tác kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh. Bởi vì, các doanh
nghiệp dịch vụ cung cấp các sản phẩm không tách rời khỏi nguồn gốc, không
ổn định về chất lượng. Đa số các trường hợp, dịch vụ được sản xuất và tiêu dùng

đồng thời, và chỉ được hoàn thành cùng với sự hoàn thành tiêu dùng của khách
hàng. Do đó, việc xác định doanh thu, chi phí gặp một số vấn đề vướng mắc.
Xuất phát từ lý luận và thực tiễn nêu trên tôi xin chọn đề tài: “Kế toán
doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh tại Công ty cổ phần Đầu tư F.I.T”
làm luận văn thạc sỹ của mình.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Đã có rất nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về đề tài Kế toán doanh thu,
chi phí và kết quả kinh doanh tại một doanh nghiệp. Tuy nhiên, các công trình


7

phần lớn nghiên cứu tại các doanh nghiệp sản xuất, thương mại. Có một số ít
công trình nghiên cứu tại các doanh nghiệp dịch vụ, cụ thể:
-

Luận văn Thạc sỹ “ Hoàn thiện kế toán chi phí – doanh thu – kết quả

hoạt động dịch vụ khách sạn tại các công ty kinh doanh dịch vụ khách sạn trên
địa bàn Hà Nội”, tác giả Hoàng Bảo Trung, Trường Đại học Thương Mại, năm
2008
Luận văn đã khái quát được vị trí của hoạt động dịch vụ trong nền kinh tế
thị trường ở nước ta, đồng thời phân tích, làm rõ những lý luận chung về chi phí,
doanh thu, kết quả hoạt động dịch vụ. Bên cạnh đó, luận văn còn trình bày kinh
nghiệm kế toán chi phí, doanh thu, kết quả hoạt động dịch vụ theo chuẩn mực kế
toán quốc tế và một số nước như Mỹ, Pháp và những bài học rút ra cho kế toán
chi phí, doanh thu, kết quả hoạt động khách sạn ở nước ta.
Luận văn đã khảo sát thực tế tại hai khách sạn lớn đạt tiêu chuẩn quốc tế ở Hà
Nội là Khách sạn Hà Nội Daewoo và Khách sạn Quốc tế Bảo Sơn. Khi nghiên cứu
về chi phí, tác giả đã phân tích trên hai góc độ: chi phí bằng ngoại tệ và chi phí

bằng Việt Nam đồng bởi hai khách sạn trên có lượng khách nước ngoài là khá lớn.
Tương tự doanh thu cũng được nghiên cứu trên góc độ doanh thu bằng ngoại tệ và
doanh thu bằng Việt Nam đồng. Trong đó, doanh thu được xác định theo từng bộ
phận kinh doanh (lưu trú, ăn uống, bổ sung).
Sau khi khảo sát thực trạng về chi phí, doanh thu, kết quả hoạt động dịch
vụ của hai khách sạn, tác giả đã đưa ra nhận xét ưu, nhược điểm trong tổ chức
công tác kế toán từ đó đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán chi phí, doanh
thu, kết quả hoạt động dịch vụ khách sạn.
- Luận văn Thạc sỹ “Hoàn thiện kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết
quả kinh doanh tại Công ty Cổ phần phát triển đô thị Từ Liêm (Lideco)”, tác giả
Nguyễn Minh Thoa, Trường Đại học Thương Mại, năm 2011.
Luận văn đã trình bày được những cơ sở lý luận chung về kế toán doanh
thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh. Tác giả đã hướng sang nghiên cứu
loại hình doanh nghiệp khác so với luận văn trên. Doanh thu của Công ty Cổ
phần phát triển đô thị Từ Liêm (Lideco) là doanh thu cho thuê văn phòng, doanh


8

thu cung cấp dịch vụ cho các văn phòng, doanh thu từ dịch vụ kinh doanh nhà ở
và chuyển nhượng đất có hạ tầng, hoạt động tài chính;…còn chi phí là chi phí để
duy trì hoạt động của văn phòng, chi phí hoạt động xây lắp, hoàn thiện hạ tầng,
chi phí tài chính,…
Tác giả đã đi sâu phân tích quy trình hạch toán cũng như sổ sách của mỗi
loại hình doanh thu, chi phí của Công ty. Doanh thu được tương ứng với chi phí
cần thiết bỏ ra để thu được doanh thu đó. Cuối cùng mới đưa ra những nhận xét,
đánh giá và giải pháp để hoàn thiện công tác kế toán.
- Luận văn Thạc sỹ “ Kế toán doanh thu dịch vụ tư vấn tại công ty cổ phần
tư vấn xây dựng giao thông Thanh Hóa”. Tác giả Lê Thị Xuân Hiếu, Trường
Đại học Thương Mại, năm 2011.

Cũng như hai luận văn trên, tác giả cũng đã trình bày được những cơ sở lý
luận chung về kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh của các
doanh nghiệp nói chung. Luận văn lại hướng chúng ta đến một loại hình doanh
nghiệp cung ứng dịch vụ khác. Công ty Cổ phần tư vấn xây dựng giao thông
Thanh Hóa là công ty chuyên cung cấp dịch vụ tư vấn xây dựng và kiểm định
chất lượng kết cấu hạ tầng Giao thông Công chính, đường sắt, đường bộ, môi
trường và các công trình xây dựng khác.
Tác giả đã chỉ ra việc xác định doanh thu của Công ty theo các gói dịch vụ
tư vấn cung cấp theo từng công trình xây dựng. Công ty thường bám sát từng
công trình xây dựng ngay từ ban đầu với dịch vụ tư vấn thiết kế, đến dịch vụ
khảo sát điều tra, thu thập số liệu cơ bản cho đến dịch vụ giám sát thi công và
kiểm địch chất lượng. Sau mỗi giai đoạn như vậy, kế toán sẽ xác định doanh thu
và chi phí tương ứng tạo ra doanh thu đó. Tác giả cũng đã nêu được cách hạch
toán, quy trình hạch toán kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh của
Công ty. Tuy nhiên, tác giả mới chỉ tập trung trình bày dưới góc độ kế toán tài
chính nà chưa nghiên cứu kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh dưới
góc độ kế toán quản trị.


9

- Luận án Tiến sỹ “Tổ chức công tác kế toán chi phí, doanh thu và kết quả
hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch lữ hành tại Việt Nam hiện nay”. Tác giả
Đỗ Minh Thoa, Học viện Tài chính, năm 2015.
Tác giả đã hệ thống hóa, phân tích làm sáng tỏ những lý luận cơ bản về tổ
chức kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh dịch vụ du lịch lữ hành ở
góc độ tổ chức thu nhận, hệ thống hóa và cung cấp thông tin kế toán về hoạt
động kinh doanh du lịch lữ hành. Luận án tiếp cận kế toán chi phí, doanh thu và
kết quả kinh doanh ở cả góc độ kế toán tài chính và kế toán quản trị. Tác giả đã
phân tích rõ đặc điểm tổ chức hoạt động kinh doanh và tổ chức quản lý ảnh

hưởng đến tổ chức công tác kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh
dịch vụ lữ hành ở Việt Nam hiện nay. Từ kết quả khảo sát 154 doanh nghiệp
kinh doanh dịch vụ du lịch lữ hành, tác giả đã trình bày thực trạng tổ chức thu
nhận thông tin kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh theo đặc thù của
từng loại chương trình du lịch. Qua đó, tác giả đã chỉ ra những tồn tại và hạn chế
trong công tác kế toán và đưa ra các giải pháp để hoàn hiện tổ chức công tác kế
toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh dịch vụ lữ hành. Tác giả đưa ra
các giải pháp như: hoàn thiện hệ thống chứng từ ghi nhận chi phí, doanh thu
cung cấp dịch vụ lữ hành; hoàn thiện tổ chức phân loại chi phí kinh doanh để tổ
chức tài khoản tập hợp chi phí kinh doanh; hoàn thiện cách xác định thời điểm
ghi nhận doanh thu cung cấp dịch vụ; hoàn thiện phương pháp định giá bán sản
phẩm du lịch lữ hành; xây dựng hệ thống chỉ tiêu quản trị chi phí, doanh thu và
kết quả hoạt động;…
Tóm lại, những công trình trước đây nghiên cứu về doanh thu, chi phí và
kết quả trong các doanh nghiệp nói chung nhưng chưa có công trình nào nghiên
cứu về doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh tại Công ty cổ phần Đầu tư
F.I.T.
Những vấn đề đặt ra cần nghiên cứu kế toán doanh thu, chi phí và kết quả
kinh doanh tại Công ty cổ phần Đầu tư F.I.T như sau:


10

Thứ nhất, kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh tại các doanh
nghiệp dịch vụ có những gì giống và khác kế toán doanh thu, chi phí và kết quả
kinh doanh tại các doanh nghiệp nói chung.
Thứ hai, kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh tại Công ty cổ
phần Đầu tư F.I.T đã tuân thủ các quy định hiện hành đã đáp ứng được yêu cầu
quản lý hay chưa.
Thứ ba, qua nghiên cứu thực trạng kế toán doanh thu, chi phí và kết quả

kinh doanh tại Công ty cổ phần Đầu tư F.I.T tác giả đã phát hiện ra những ưu
điểm, nhược điểm gì. Từ những nhược điểm còn tồn tại đó, tác giả sẽ đưa ra các
giải pháp như thế nào để hoàn thiện.
3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Khái quát, hệ thống hóa, phân tích làm rõ những lý luận cơ bản về kế toán
doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh tại các doanh nghiệp.
Phân tích thực trạng kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh tại
Công ty cổ phần Đầu tư F.I.T
Đánh giá thực trạng kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh tại
Công ty cổ phần Đầu tư F.I.T; những ưu điểm, hạn chế trong công tác kế toán
doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh để đưa ra các giải pháp hoàn thiện
công tác kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh tại Công ty cổ phần
Đầu tư F.I.T.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề lý luận chung về kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh
doanh trong các doanh nghiệp; thực trạng kế toán doanh thu, chi phí và kết quả
kinh doanh tại Công ty cổ phần Đầu tư F.I.T.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài nghiên cứu lý luận cơ bản về kế toán doanh thu, chi phí và kết quả
kinh doanh trong các doanh nghiệp; thực trạng kế toán doanh thu, chi phí và kết
quả kinh doanh tại Công ty cổ phần Đầu tư F.I.T theo hai góc độ kế toán tài
chính và kế toán quản trị. Qua đó phát hiện các vấn đề tồn tại cần khắc phục


11

nhằm hoàn thiện kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh tại Công ty cổ
phần Đầu tư F.I.T
- Về thời gian: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu kế toán doanh thu, chi phí và

kết quả kinh doanh tại Công ty cổ phần Đầu tư F.I.T theo số liệu kế toán năm
2014, 2015.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp thu thập số liệu
- Thu thập dữ liệu thứ cấp: thu thập các chứng từ gốc có liên quan đến
doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty cổ phần Đầu tư
F.I.T; tham khảo thêm sách và các tài liệu trên báo, tạp chí,…
- Thu thập dữ liệu sơ cấp: phương pháp quan sát trực tiếp, phương pháp
phỏng vấn trực tiếp.
5.2 Phương pháp xử lý, phân tích số liệu
Luận văn sử dụng các phương pháp xử lý, phân tích số liệu cụ thể như:
thống kê, phân tích, so sánh,…
Các thông tin đã thu thập ở trân được tập hợp, phân loại, chọn lọc và sắp
xếp một cách khoa học. Sử dụng các phương pháp kỹ thuật nghiệp vụ, đặc biệt
là phương pháp so sánh kết hợp với các phương pháp khác để nghiên cứu vấn
đề. Các thông tin sau khi được xử lý là cơ sở cho việc tổng hợp, phân tích, đánh
giá tình hình hoạt động và thực trạng kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh
doanh của Công ty.
6. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn được chia làm 03 chương:
Chương 1: Lý luận cơ bản về kế toán doanh thu, chi phí, kết quả kinh
doanh trong các doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng kế toán doanh thu, chi phí, kết quả kinh doanh tại
Công ty cổ phần Đầu tư F.I.T
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kế toán doanh thu, chi phí, kết quả kinh
doanh tại Công ty cổ phần Đầu tư F.I.T


12



13

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN DOANH THU, CHI PHÍ,
KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
1.1 Doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh trong các doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm, bản chất doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh
trong doanh nghiệp
 Khái niệm, bản chất doanh thu
Theo Chuẩn mực kế toán số 01 “Chuẩn mực chung”: Doanh thu và thu
nhập khác là tổng giá trị lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu
được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông
thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu, không bao gồm
các khoản vốn góp của cổ đông hoặc chủ sở hữu.
Theo Chuẩn mực kế toán số 14 “Doanh thu và thu nhập khác”: Doanh thu
chỉ bao gồm tổng giá trị của các lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã thu được hoặc
sẽ thu được. Các khoản thu hộ bên thứ ba không phải là nguồn lợi ích kinh tế,
không làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp sẽ không được coi là doanh
thu (Ví dụ: Khi người nhận đại lý thu hộ tiền bán hàng cho đơn vị chủ hàng, thì
doanh thu của người nhận đại lý chỉ là tiền hoa hồng được hưởng). Các khoản
góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu làm tăng vốn chủ sở hữu nhưng không là
doanh thu.
Theo Thông tư 200/2014/TT – BTC, Doanh thu là lợi ích kinh tế thu được
làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp ngoại trừ phần đóng góp thêm của
các cổ đông. Doanh thu được ghi nhận tại thời điểm giao dịch phát sinh, khi
chắc chắn thu được lợi ích kinh tế, được xác định theo giá trị hợp lý của các
khoản được quyền nhận, không phân biệt đã thu tiền hay sẽ thu tiền.
Theo Ủy ban Chuẩn mực kế toán quốc tế (IASC) định nghĩa: “Thu nhập là
các yếu tố làm tăng lợi ích kinh tế trong niên độ kế toán dưới hình thức tăng tài
sản hoặc giảm công nợ, kết quả là làm tăng vốn tự có mà không phải do việc

đóng góp vốn của các bên chủ sở hữu”.


14

Theo Chuẩn mực kế toán quốc tế số 18 (IAS 18) định nghĩa: “Doanh thu là
luồng thu gộp các lợi ích kinh tế trong kỳ, phát sinh trong quá trình hoạt động
thông thường, làm tăng nguồn vốn chủ sở hữu, chứ không phải phần đóng góp
của những người tham gia góp vốn cổ phần. Doanh thu không bao gồm những
khoản thu cho bên thứ ba”.
Tóm lại, doanh thu là tổng các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong
kỳ kế toán từ các hoạt động của mình, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu một
cách gián tiếp. Lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được từ một giao dịch biểu hiện
ở sự gia tăng của tài sản, hoặc làm giảm nợ phải trả do ảnh hưởng của giao dịch
đó. Tuy nhiên, không phải tất cả các giao dịch làm tăng tài sản hoặc giảm nợ
phải trả đều tạo ra doanh thu, mà chỉ những giao dịch có ảnh hưởng làm tăng
vốn chủ sở hữu một cách gián tiếp. Như vậy, một giao dịch làm tăng tài sản
(hoặc giảm nợ phải trả) và tăng vốn chủ sở hữu trực tiếp sẽ không tạo ra doanh
thu, ví dụ giao dịch góp vốn bằng tiền hay tài sản khác của chủ sở hữu, giao dịch
chuyển đổi nợ phải trả thành vốn chủ sở hữu,…
Do đó, bản chất của doanh thu là khoản thu từ hoạt động kinh doanh, cơ sở
tạo ra kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp và khẳng định: Không phải
mọi nghiệp vụ kinh tế làm tăng tài sản đều phát sinh doanh thu, đồng thời không
chỉ có sự phát sinh doanh thu mới làm thay đổi nguồn vốn chủ sở hữu. Doanh
thu chỉ là một trong những nghiệp vụ kinh tế phát sinh làm tăng tài sản và làm
thay đổi vốn chủ sở hữu.
Doanh thu của doanh nghiệp được tạo ra từ nhiều hoạt động khác nhau.
Nhằm cung cấp thông tin hữu ích giúp các đối tượng sử dụng đánh giá được quá
khứ và dự đoán tương lai để ra quyết định hiệu quả, kế toán cần thực hiện phân
loại doanh thu. Tùy vào mục đích sử dụng thông tin, doanh thu của doanh

nghiệp có thể được phân loại theo cách khác nhau.
 Theo nội dung, doanh thu bao gồm:
- Doanh thu bán hàng: là doanh thu bán sản phẩm mà doanh nghiệp sản
xuất ra, bán hàng hóa mua vào và bán bất động sản đầu tư.


15

- Doanh thu cung cấp dịch vụ: là doanh thu thực hiện công việc đã thỏa
thuận theo hợp đồng trong một hay nhiều kỳ kế toán như cũng cấp dịch vụ vận
tải, du lịch, tư vấn, cho thuê tài sản cố định theo phương thức cho thuê hoạt
động,…
- Doanh thu bán hàng nội bộ: là doanh thu số sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ
tiêu dùng trong nội bộ doanh nghiệp, giữa các đơn vị trực thuộc hạch toán phụ
thuộc trong cùng một công ty, tổng công ty hay tập đoàn.
- Doanh thu hoạt động tài chính: là doanh thu tiền lãi, tiền bản quyền, cổ
tức, lợi nhuận được chia, chênh lệch tỷ giá,…
 Theo nguồn hình thành, doanh thu bao gồm:
- Doanh thu từ hoạt động kinh doanh: là toàn bộ số tiền thu được hoặc sẽ
thu được từ các giao dịch như bán sản phẩm hàng hóa, cung ứng dịch vụ,…bao
gồm cả các khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán (nếu có).
- Doanh thu từ hoạt động tài chính: là những khoản thu do hoạt động đầu tư
tài chính hoặc kinh doanh về vốn đem lại. Doanh thu hoạt động tài chính gồm
tiền lãi, thu nhập từ cho thuê tài sản, cổ tức được hưởng, chênh lệch tăng tỷ giá
ngoại tệ,…
- Doanh thu từ hoạt động bất thường (thu nhập khác): là các khoản thu từ
hoạt động xảy ra không thường xuyên ngoài các khoản thu trên: thu nhập từ việc
nhượng bán, thanh lý tài sản cố định, thu hồi nợ khó đòi, nhận quà biếu tặng,
viện trợ,…
Ngoài ra, theo từng doanh nghiệp cụ tể mà doanh thu có thể phân chia theo

mặt hàng tiêu thụ, theo nơi tiêu thu, theo số lượng tiêu thụ,…Việc phân loại
doanh thu giúp doanh nghiệp có thể nắm bắt chính các tình tình tiêu thụ sản
phẩm, hàng hóa, dịch vụ cung ứng, hiệu quả mang lại từ các khoản dầu tư và các
hoạt động tài chính khác của doanh nghiệp. Hơn nữa, viêc phân loại doanh thu
giúp doanh nghiệp xác định, đánh giá từng loại doanh thu, những ưu điểm và
nhược điểm cần khắc phục trong hoạt động kinh doanh từ đó xây dựng chiến
lược kinh doanh hợp lý để ngày càng phát triển doanh nghiệp.
 Khái niệm, bản chất chi phí


16

Thuật ngữ chi phí có từ thời trung cổ (từ thế kỷ thứ V sau công nguyên) từ
đó đến nay người ta vẫn quan niệm chi phí như là những hao phí phải bỏ ra để
đổi lấy sự thu về.
Hiện tại cũng có nhiều khái niệm khác nhau về chi phí.
Xét dưới góc độ kế toán, theo Chuẩn mực Kế toán Việt Nam – Chuẩn mực
số 01 “Chuẩn mực chung”: Chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích
kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ
tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không
bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu.
Theo quan điểm của các trường đại học khối kinh tế: Chi phí của doanh
nghiệp được hiểu là toàn bộ các hao phí về lao động sống, lao động vật hóa và
các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp phải chi ra trong quá trình hoạt động
kinh doanh, biểu hiện bằng tiền và tính cho một thời kỳ nhất định.
Như vậy, chi phí được nhìn nhận như những khoản phí tổn đã phát sinh gắn
liền với hoạt động của doanh nghiệp bao gồm các chi phí phát sinh trong quá
trình hoạt động kinh doanh thông thường và các chi phí khác. Chi phí được định
lượng bằng một khoản tiền hoặc tương đương tiền doanh nghiệp chi ra hoặc
những khoản phí tổn góp phần làm giảm vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp

nhưng không phải là phân chia vốn hoặc hoàn trả vốn cho cổ đông. Khái niệm
chi phí gắn liền với việc sử dụng thước đo tiền tệ để đo lường các phí tổn đã tiêu
hao trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Chi phí luôn gắn
liền với một chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp.
Các khái niệm trên tuy có khác nhau về cách diễn đạt, về mức độ khái quát
nhưng đều thể hiện bản chất của chi phí là những hao phí phải bỏ ra để đổi lấy
sự thu về, có thể thu về dưới dạng vật chất, định lượng như số lượng sản phẩm
hoặc thu về dưới dạng tinh thần hay dịch vụ được phục vụ.
Bản chất kinh tế của chi phí được thể hiện ở các điểm sau:
• Nội dung của chi phí có thể biểu hiện bằng công thức:
C
Trong đó:

+

V

+

M1


17

+ C là hao phí lao động vật hóa – giá trị của tư liệu sản xuất đã tiêu hao như
khấu hao TSCĐ, chi phí vật liệu, công cụ, dụng cụ,..
+ V là hao phí lao động sống như chi phí về tiền lương (tiền công) phải trả
cho người lao động tham gia vào quá trình hoạt động kinh doanh.
+ M1 là một phần giá trị mới sáng tạo ra như các khoản trích theo lương:
BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ; các khoản thuế có tính chất chi phí như thuế tài

nguyên, thuế môn bài, thuế nhà đất; chi phí lãi vay.
• Các chi phí của doanh nghiệp phải được đo lường và tính toán bằng tiền
trong một khoảng thời gian xác định (năm, quý, tháng).
• Xét ở góc độ doanh nghiệp, chi phí luôn có tính cá biệt, nó bao gồm tất
cả các khoản chi phí mà doanh nghiệp phải chi ra để tồn tại và hoạt động.
• Độ lớn của chi phí phụ thuộc vào hai yếu tố cơ bản:
+ Khối lượng lao động và tư liệu sản xuất đã tiêu hao trong một thời gian
nhất định.
+ Giá cả các tư liệu sản xuất đã tiêu hao và tiền công của một đơn vị lao
động đã hao phí.
Chi phí khác với chi tiêu của doanh nghiệp. Chi tiêu chỉ là sự chi ra, sự
giảm đi thuần túy của tài sản bằng tiền của doanh nghiệp không kể các khoản đó
dùng vào việc gì và dùng như thế nào. Mặc dù chi tiêu là cơ sở của chi phí song
chi phí của doanh nghiệp sẽ không bao gồm các khoản chi tiêu có đặc điểm sau:
- Các khoản chi tiêu làm giảm 1 tài sản này nhưng làm tăng 1 tài sản khác
hoặc làm giảm 1 khoản nợ phải trả trong doanh nghiệp.
- Các khoản chi tiêu làm tăng 1 khoản nợ phải trả nhưng đồng thời làm tăng
1 tài sản hoặc giảm 1 khoản nợ phải trả khác của doanh nghiệp.
Như vậy, chi phí chỉ bao gồm các trường hợp làm giảm tài sản hoặc tăng
khoản nợ phải trả nhưng không kèm theo các biến động khác. Do có sự không
phù hợp giữa thời gian phát sinh các khoản chi tiêu và thời gian phát huy tác
dụng của nó đối với thu nhập của doanh nghiệp nên chi phí và chi tiêu có sự
khác biệt về thời gian: Khoản chi tiêu ở kỳ này nhưng còn được chờ phân bổ ở
kỳ sau (chi phí trả trước). Khoản được tính vào chi phí của kỳ này ( chi phí phải


18

trả ) nhưng chưa được chi tiêu (sẽ chi ở các kỳ sau).
Trong doanh nghiệp, chi phí bao gồm nhiều loại có nội dung kinh tế, công

dụng khác nhau và yêu cầu quản lý đối với từng loại cũng khác nhau. Để phục vụ
tốt công tác quản lý, kế toán cần thiết phải thực hiện phân loại chi phí.
 Phân loại chi phí theo nội dung kinh tế của chi phí
Theo cách phân loại này, toàn bộ chi phí sản xuất của doanh nghiệp được
chia thành:
+ Chi phí nguyên vật liệu: Là toàn bộ giá trị các loại nguyên vật liệu chính,
nhiên liệu, phụ tùng thay thế, vật liệu xây dựng cơ bản…..mà doanh nghiệp đã
sử dụng cho hoạt động SX.
+ Chi phí nhân công: Là toàn bộ tiền lương, tiền công phải trả, tiền trích
BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ của công nhân và nhân viên hoạt động SX trong
doanh nghiệp.
+ Chi phí khấu hao TSCĐ: Là toàn bộ tiền trích khấu hao TSCĐ sử dụng
cho SX của doanh nghiệp.
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là toàn bộ số tiền doanh nghiệp chi trả về các
dịch vụ mua ngoài như tiền điện, tiền nước….phục vụ cho hoạt động SX của
doanh nghiệp.
+ Chi phí khác bằng tiền: Là toàn bộ các chi phí khác dung cho hoạt động
SX ngoài 4 yếu tố trên.
 Phân loại chi phí theo mục đích, công dụng của chi phí
Theo cách phân loại này, chi phí của doanh nghiệp chia làm 02 loại là: chi
phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất, trong đó:
• Chi phí sản xuất là những khoản chi phí phát sinh tại các phân xưởng (bộ
phận) sản xuất gắn liền với các hoạt động sản xuất chế tạo sản phẩm của doanh
nghiệp, chi phí sản xuất bao gồm bao khoản mục chi phí:
+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Bao gồm chi phí về các loại nguyên
vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu sử dụng trực tiếp vào việc chế tạo sản xuất
sản phẩm.
+ Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm các chi phí về tiền lương, phụ cấp
phải trả và các khoản trích BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ trên tiền lương của



19

công nhân trực tiếp sản xuất .
+ Chi phí sản xuất chung: Là chi phí dùng cho việc quản lý và phục vụ sản
xuất cho bộ phận sản xuất, phân xưởng sản xuất.
• Chi phí ngoài sản xuất là những khoản chi phí doanh nghiệp phải chi để
thực hiện việc tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, cung cấp dịch vụ và chi cho bộ máy
quản lý doanh nghiệp, bao gồm:
+ Chi phí bán hàng: là những chi phí phát sinh liên quan đến việc tiêu thụ
sản phẩm, bao gồm toàn bộ chi phí cần thiết để thực hiện và đẩy mạnh quá trình
lưu thông, phân phối hàng hóa, đảm bảo việc đưa hàng hóa đến tay người tiêu
dùng. Chi phí bán hàng bao gồm các khoản chi phí như: chi phí quảng cáo,
khuyến mại; chi phí tiền lương cho nhân viên bán hàng, chi phí khấu hao TSCĐ
dùng trong bán hàng và các yếu tố mua ngoài liên quan.
+ Chi phí quản lý doanh nghiệp: là những chi phí phát sinh liên quan đến
việc tổ chức, quản lý hành chính và các chi phí liên quan đến hoạt động văn
phòng làm việc của doanh nghiệp. Chi phí quản lý bao gồm chi phí tiền lương
cho cán bộ quản lý doanh nghiệp và nhân viên văn, khấu hao TSCĐ dùng trong
quản lý và các yếu tố mua ngoài liên quan.
 Phân loại chi phí theo quan hệ với khối lượng công việc hoàn thành
Theo cách này, toàn bộ chi phí sản xuất được chia thành biến phí, định phí,
chi phí hỗn hợp.
+ Biến phí: Là những chi phí thay đổi về tổng số khi có sự thay đổi về khối
lượng sản phẩm, công việc hoàn thành, chẳng hạn như chi phí nguyên vật liệu trực
tiếp, chi phí nhân công trực tiếp….Biến phí thay đổi theo tỷ lệ thuận với khối lượng
sản phẩm, công việc hoàn thành, nhưng lại là hằng số nếu tính trên một đơn vị sản
phẩm.
+ Định phí: Là những chi phí không đổi so với khối lượng sản phẩm, công
việc hoàn thành, chẳng hạn các chi phí về khấu hao TSCĐ, chi phí về thuê mặt

bằng SX….Định phí tính cho một đơn vị sản phẩm hoàn thành sẽ thay đổi nếu
số lượng sản phẩm thay đổi.
+ Chi phí hỗn hợp: Là loại chi phí mà bản thân nó bao gồm cả yếu tố của
định phí và biến phí.


20

 Phân loại chi phí theo khả năng quy nạp vào các đối tượng kế toán chi
phí
+ Chi phí trực tiếp: Là những chi phí liên quan trực tiếp đến từng đối tượng
kế toán tập hợp chi phí mà kế toán có thể quy nạp trực tiếp cho từng đối tượng
chịu chi phí. Trong quản trị doanh nghiệp nói chung và kế toán quản trị nói
riêng, nếu loại chi phí này chiếm đa số trong tổng chi phí thì sẽ thuận lợi cho
việc kiểm soát chi phí và dễ dàng trong việc xác định nguyên nhân gây ra chi
phí.
+ Chi phí gián tiếp: Là các chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng kế toán
tập hợp chi phí khác nhau nên không thể quy nạp trực tiếp cho từng đối tượng
tập hợp chi phí được mà phải tập hợp theo từng nơi phát sinh chi phí khi chúng
phát sinh, sau đó quy nạp cho từng đối tượng theo phương pháp phân bổ gián
tiếp.
 Phân loại chi phí theo thẩm quyền ra quyết định
+ Chi phí kiểm soát được: Là chi phí mà các nhà quản trị ở một cấp quản lý
nào đó xác định được lượng phát sinh của nó, có thẩm quyền quyết định về sự
phát sinh chi phí đó, cấp quản lý đó kiểm soát được những chi phí này.
+ Chi phí không kiểm soát được: Là những chi phí mà các nhà quản trị ở
một cấp quản lý nào đó không thể dự đoán chính xác sự phát sinh của nó và
không có thẩm quyền quyết định đối với khoản chi phí đó.
 Căn cứ vào việc sử dụng chi phí trong quá trình lựa chọn các phương án
+ Chi phí chênh lệch: Là những chi phí có ở phương án này nhưng chỉ có ở

một phần hoặc không có ở phương án khác.
+ Chi phí cơ hội: Là chi phí bị mất đi vì lựa chọn phương án và hành động
này thay vì lựa chọn phương án hay hành động khác. Như vậy, ngoài những chi
phí kinh doanh đã được tập hợp trong sổ sách kế toán, trước khi ra quyết định,
nhà quản trị còn phải xem xét chi phí cơ hội phát sinh do những yếu tố kinh
doanh có thể sử dụng theo cách khác mà những cách này cũng mang lại lợi
nhuận.


21

+ Chi phí chìm: Là những chi phí đã phát sinh, nó có trong tất cả các
phương án SXKD được đưa ra xem xét lựa chọn. Đây là những chi phí mà nhà
quản trị phải chấp nhận không có sự lựa chọn. Bởi vậy, chi phí chìm luôn là là
thông tin không thích hợp cho việc xem xét, lựa chọn phương án tối ưu.
 Khái niệm, bản chất kết quả kinh doanh
- Kết quả kinh doanh: Là kết quả cuối cùng về các hoạt động của doanh
nghiệp trong một thời kỳ nhất định, là biểu hiện bằng tiền phần chênh lệch giữa
tổng doanh thu và tổng chi phí của các hoạt động kinh tế đã được thực hiện. Nếu
doanh thu lớn hơn chi phí thì doanh nghiệp lãi, nếu doanh thu nhỏ hơn chi phí
thì doanh nghiệp lỗ.
- Kết quả hoạt động kinh doanh : Là số chênh lệch giữa doanh thu thuần về
bán hàng và cung cấp dịch vụ và daonh thu tài chính với trị giá vốn hàng bán,
chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp và chi phí tài chính.
- Kết quả hoạt động khác: Là số chênh lệch giữa các khoản thu nhập khác
và các khoản chi phí khác ngoài dự toán của doanh nghiệp, hay những khoản thu
không mang tính chất thường xuyên, hoặc những khoản thu có dự tính nhưng ít
có khả năng xảy ra do nguyên nhân chủ quan hay khách quan mang lại.
Kết quả kinh doanh là chỉ tiêu cần thiết để đánh giá hiệu quả kinh doanh
của doanh nghiệp trong một kỳ kế toán nhất định. Kết quả kinh doanh cho biết

liệu hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có đem lại lợi nhuận hay không.
Đồng thời, kết quả kinh doanh còn cho biết doanh nghiệp đã chi tiêu bao nhiêu
tiền để sinh lợi; từ đó xác định được tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu của doanh
nghiệp đó.
Việc xác định kết quả kinh doanh chính xác còn giúp lãnh đạo doanh
nghiệp lựa chọn được những phương án kinh doanh, phương án đầu tư hiệu quả
nhất.
1.1.2 Nội dung, yêu cầu quản lý doanh thu, chi phí và kết quả kinh
doanh trong doanh nghiệp
 Đối với quản lý doanh thu


22

Doanh thu có ý nghĩa sống còn đối với doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp
bù đắp chi phí, thu hồi vốn, thực hiện giá trị thặng dư. Doanh thu thể hiện sức
mạnh của doanh nghiệp và mở rộng thị trường, nâng cao doanh thu là biện pháp
căn bản để tăng lợi nhuận doanh nghiệp, nâng cao uy tín và khả năng chiếm lĩnh
thị trường.
Để phát huy được hết vai trò của doanh thu, yêu cầu doanh nghiệp quản lý
doanh thu trên các mặt:
- Quản lý doanh thu của doanh nghiệp phải được tổ chức quản lý theo từng
hoạt động, theo từng nội dung của doanh thu giúp doanh nghiệp kiểm soát chặt
chẽ doanh thu của từng hoạt động.
- Quản lý kế hoạch và tình hình thực hiện kế hoạch doanh thu đối với từng
thời kỳ, từng mặt hàng, từng khách hàng. Quản lý chặt chẽ các khoản giảm trừ
doanh thu như giảm giá hàng bán, chiết khấu thương mại, hàng bán trả lại.
- Quản lý doanh thu theo hình thức thanh toán: có nhiều hình thức thanh
toán khác nhau, mỗi hình thức lại có một ưu điểm riêng. Do đó, các nhà quản lý
cần vận dụng yêu cầu này để lựa chọn hình thức thanh toán có lợi nhất cho

doanh nghiệp của mình.
 Đối với quản lý chi phí
Chi phí luôn đóng vai trò quan trọng trong bất cứ kế hoạch mở rộng và tăng
trưởng kinh doanh nào. Các công ty muốn tăng trưởng và đẩy mạnh lợi nhuận
cần không ngừng tìm kiếm những phương thức quản lý và sử dụng hiệu quả nhất
các nguồn vốn, chi phí kinh doanh, đồng thời phải tái đầu tư các khoản tiền đó
cho những cơ hội tăng trưởng triển vọng nhất.
Việc quản lý chi phí kinh doanh không chỉ đơn thuần là quản lý số liệu
phản ánh tổng hợp chi phí mà phải dựa trên cả các yếu tố chi phí riêng biệt để phân
tích toàn bộ chi phí sản xuất của từng công trình, hạng mục công trình hay theo nơi
phát sinh chi phí. Trên thực tế, hoạt động quản lý chi phí được tách rời đối với công
tác kế toán thống kê. Quản lý chi phí là tổng hợp, phân tích, đánh giá thực trạng về
việc sử dụng các nguồn vốn và chi phí, từ đó đưa ra những quyết định về các chi
phí ngắn hạn cũng như dài hạn của doanh nghiệp.


23

Quản lý chi phí bao gồm:
– Tiến hành phân tích và đưa ra một cơ cấu chi phí và nguồn vốn huy động
tối ưu cho công ty trong từng thời kỳ.
– Thiết lập một chính sách phân chia chi phí cùng các mức lợi nhuận một
cách hợp lý đối với công ty, vừa bảo vệ được quyền lợi của chủ công ty và các
cổ đông, vừa đảm bảo được lợi ích hợp pháp, hợp lý cho người lao động; xác
định phần lợi nhuận còn lại từ sự phân phối này để đưa ra các quyết định về mở
rộng sản xuất hoặc đầu tư vào những lĩnh vực kinh doanh mới, tạo điều kiện cho
công ty có mức độ tăng trưởng cao và bền vững.
– Kiểm soát việc sử dụng cả các tài sản trong công ty, tránh tình trạng sử
dụng lãng phí, sai mục đích.
Bộ phận quản lý chi phí trong các công ty sẽ dựa vào các thống kê kế toán,

báo cáo doanh thu, báo cáo nhân sự và tiền lương,… do các bộ phận kế toán,
quản trị và thống kê cung cấp, đồng thời kết hợp với những yếu tố khách quan
để tiến hành phân loại, tổng, hợp, phân tích và đánh giá các khoản chi phí của
công ty, so sánh kết quả phân loại của kỳ này với kỳ trước của công ty mình với
các công ty cùng ngành, lĩnh vực sản xuất, so sánh với các chuẩn mực của
ngành. Bằng các chỉ tiêu và sự nhạy bén mà bộ phận quản lý chi phí có thể chỉ
ra những mặt mạnh cũng như những thiếu sót của công ty trong kỳ.


24

 Đối với quản lý kết quả kinh doanh
Việc quản lý tốt doanh thu và chi phí sẽ tạo tiền đề cho quản lý kết quả
kinh doanh của doanh. Trong từng bộ phận kinh doanh, kế toán cùng với bộ
phận quản lý phải lập phương án quản lý tốt chi phí và thu nhập của bộ phận
mình góp phần thực hiện mục tiêu chung của toàn doanh nghiệp.
Khi xác định kết quả kinh doanh, các doanh nghiệp nói chung và các bộ
phận quản lý nói riêng cần phải thực hiện các yêu cầu sau:
- Kết quả hoạt động kinh doanh của kỳ hạch toán phải được kế toán theo
đúng chuẩn mực và chế độ kế toán quy định hiện hành.
- Kết quả hoạt động kinh doanh phải được hạch toán chi tiết theo từng loại
hoạt động.
- Doanh thu và thu nhập khác dùng để xác định kết quả kinh doanh phải là
doanh thu, thu nhập thuần.
1.2 Kế toán doanh thu, chi phí, kết quả kinh doanh trong các doanh nghiệp
1.2.1 Kế toán doanh thu, chi phí, kết quả kinh doanh trong các doanh
nghiệp dưới góc độ kế toán tài chính
1.2.1.1 Nguyên tắc kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh
a) Nguyên tắc xác định và ghi nhận doanh thu
 Nguyên tắc xác định doanh thu:

Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 “Doanh thu và thu nhập khác”
việc xác định doanh thu phải tuân theo các quy định sau:
- Doanh thu được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản đã thu hoặc sẽ
thu được.
- Doanh thu phát sinh từ giao dịch được xác định bởi thỏa thuận giữa doanh
nghiệp với bên mua hoặc bên sử dụng tài sản. Nó được xác định bằng giá trị hợp
lý của các khoản đã thu được hoặc sẽ thu được sau khi trừ (-) các khoản chiết
khấu thương mại, chiết khấu thanh toán, giảm giá hàng bán và giá trị hàng bán
bị trả lại.
- Đối với các khoản tiền hoặc tương đương tiền không được nhận ngay thì
doanh thu được xác định bằng cách quy đổi giá trị danh nghĩa của các khoản sẽ


25

thu được trong tương lai về giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu theo
tỷ lệ lãi suất hiện hành. Giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu có thể
nhỏ hơn giá trị danh nghĩa sẽ thu được trong tương lai.
- Khi hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hóa hoặc dịch vụ
tương tự về bản chất và giá trị thì việc trao đổi đó không được coi là một giao
dịch tạo ra doanh thu.
Khi hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hóa hoặc dịch vụ
khác không tương tự thì việc trao đổi đó được coi là một giao dịch tạo ra doanh
thu. Trường hợp này doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hóa
hoặc dịch vụ nhận về, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền
trả thêm hoặc thu thêm. Khi không xác định được giá trị hợp lý của hàng hóa
hoặc dịch vụ nhận về thì doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng
hóa hoặc dịch vụ đem trao đổi, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương
đương tiền trả thêm hoặc thu thêm.
 Nguyên tắc ghi nhận doanh thu:

Sau khi đã xác định nhận diện và phân loại các khoản doanh thu thì việc gh
nhận doanh thu phải được tuân thủ một số nguyên tắc như:
Phải tuân thủ các quy định trong Chuẩn mực kế toán số 14 “Doanh thu và
thu nhập khác” và các Chuẩn mực kế toán khác có liên quan. Việc ghi nhận một
khoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng liên quan đến
việc tạo ra doanh thu đó.
Doanh thu và chi phí liên quan tới cùng một giao dịch phải được ghi nhận
đồng thời theo nguyên tắc phù hợp.
Bên cạnh đó, tùy từng loại doanh thu thì có những điều kiện ghi nhận khác
nhau:
• Doanh thu bán hàng
Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thỏa mãn tất cả năm (5)
điều kiện sau:
(a) Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với
quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua;


×