Tải bản đầy đủ (.docx) (102 trang)

luận văn thạc sĩ hiệu quả sử dụng vốn tại tổng công ty 319

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (668.75 KB, 102 trang )

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
----------------------------

NGUYỄN THỊ MINH THÚY

HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI
TỔNG CÔNG TY 319

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ


2

HÀ NỘI, NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
----------------------------

NGUYỄN THỊ MINH THÚY

HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI
TỔNG CÔNG TY 319

CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
MÃ SỐ

: 60 34 02 01


LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. CHU THỊ THỦY


3

HÀ NỘI, NĂM 2017


4
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Hiệu quả sử dụng vốn tại Tổng công ty 319” là
công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu trong luận văn này được thu thập và sử dụng một cách trung thực.
Kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn không sao chép của bất cứ luận
văn nào và cũng chưa được trình bày hay công bố ở bất cứ công trình nghiên cứu
nào khác trước đây.
Hà Nội, ngày ... tháng ... năm 2016
Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Minh Thúy


5
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu, các thầy cô giáo trong
Khoa Sau đại học Trường Đại học Thương Mại đã tận tình dạy bảo và tạo điều kiện
tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập cũng như trong thời gian làm luận văn
tốt nghiệp.

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS.Chu Thị Thủy đã tận tình
hướng dẫn và giúp đỡ tôi và dành nhiều tâm huyết, đưa ra những góp ý quý
báutrong suốt quá trình nghiên cứu thực hiện luận văn của mình.
Đồng thời, tôi cũng xin cảm ơn toàn thể lãnh đạo và cán bộ nhân viên của
Tổng công ty 319 đã cung cấp cho tôi những thông tin và dữ liệu cần thiết trong quá
trình điều tra khảo sát để nghiên cứu đề tài.
Mặc dù đã cố gắng hết sức nhưng do trình độ, năng lực và thời gian có hạn
nên luận văn của tôi không thể tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được
những ý kiến đóng góp quý báu của thầy cô và bạn bè để luận văn được hoàn thiện
tốt hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Học Viên
Nguyễn Thị Minh Thúy

MỤC LỤC


6
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10

11
12
13
14
15
16
17
18
19

TỪ VIẾT TẮT
BĐS
DN
DT
HĐKD
HTK
KNTT
KPT
LN
LNST
NPT
QLDN
TSCĐ
TSDH
TSNH
VCĐ
VCSH
VKD
VLĐ
XDCB


NGHĨA CỦA TỪ
Bất động sản
Doanh nghiệp
Doanh thu
Hoạt động kinh doanh
Hàng tồn kho
Khả năng thanh toán
Khoản phải thu
Lợi nhuận
Lợi nhuận sau thuế
Nợ phải trả
Quản lý doanh nghiệp
Tài sản cố định
Tài sản dài hạn
Tài sản ngắn hạn
Vốn cố định
Vốn chủ sở hữu
Vốn kinh doanh
Vốn lưu động
Xây dựng cơ bản

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
 BẢNG BIỂU
 Biểu đồ 2.1: Tăng trưởng doanh thu của Tổng công ty 319 với các doanh

nghiệp cùng ngành qua các năm 2013-2015
SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Quy trình sản xuất kinh doanh tại Tổng công ty 319



7
Sơ đồ 2.2. Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của Tổng công ty 319


8
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
 Về mặt lý luận

Đối với doanh nghiệp (DN) nói riêng và với nền kinh tế nói chung, vốn là yếu
tố tiên quyết trong quá trình hình thành, hoạt động và phát triển. Để tiến hành các
hoạt động sản xuất kinh doanh dù dưới bất cứ một hình thức nào doanh nghiệp cũng
cần phải có một lượng vốn nhất định. Trong nền kinh tế thị trường, vốn quyết định
đến quy mô, năng lực sản xuất của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có vốn càng lớn thì
quy mô doanh nghiệp càng lớn, đảm bảo khả năng tài chính vững chắc, tạo điều
kiện hiện đại hóa công nghệ, nâng cao trình độ của người lao động từ đó giảm chi
phí sản xuất, tăng doanh thu, lợi nhuận và ngược lại doanh nghiệp có vốn hạn chế
sẽ rất khó khăn trong việc cải tiến công nghệ, quản lý tài chính để đầu tư cũng như
nâng cao trình độ của nhân viên. Quản lý và sử dụng vốn trong doanh nghiệp không
chỉ là việc bảo toàn và phát triển nguồn vốn mà còn là việc phải nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn, tức là thể hiện qua các chỉ số doanh thu (DT), lợi nhuận (LN) mà
doanh nghiệp thu được trong kỳ, mức sinh lời của một đồng vốn và một số chỉ tiêu
đặc thù khác. Cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường thì việc
sử dụng vốn như thế nào để đạt hiệu quả tốt nhất là vấn đề hàng đầu được các
doanh nghiệp quan tâm.
Để có thể nắm bắt được một cách đầy đủ và chính xác các thông tin tài chính
trong doanh nghiệp, các nhà quản trị cần tiến hành nghiên cứu, phân tích, đánh giá
hiệu quả sử dụng vốn từ nhiều góc độ khác nhau giữa hiện tại và quá khứ, giữa
doanh nghiệp và các đơn vị cùng ngành. Mục tiêu của nghiên cứu về hiệu quả sử

dụng vốn là giúp các doanh nghiệp thấy rõ trình độ quản lý và sử dụng vốn của
mình, đánh giá khả năng tài chính của doanh nghiệp một cách chính xác từ đó tìm
ra những giải pháp cơ bản thúc đẩy sự tăng trưởng của doanh nghiệp. Việc tổ chức
và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn sẽ giúp doanh nghiệp tối đa hóa lợi nhuận, tiết
kiệm được chi phí kinh doanh góp phần tăng doanh thu và lợi nhuận. Đồng thời
nâng cao khả năng cạnh tranh, năng lực huy động các nguồn tài trợ, khả năng thanh
toán được, khả năng khắc phục rủi ro trong kinh doanh.


9
Vì những lý do trên, nội dung về vốn và hiệu quả sử dụng vốn trong doanh
nghiệp rất cần những nghiên cứu mang tính hệ thống và khoa học nhằm đánh giá
một cách đúng đắn, đầy đủ, toàn diện và khách quan tình hình sử dụng vốn. Thấy
được cơ cấu nguồn vốn và khả năng tài trợ của nguồn vốn, từ đó tìm ra những hạn
chế trong công tác quản lý nguồn vốn của doanh nghiệp nhằm đề ra những phương
hướng, biện pháp cải tiến, hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong
doanh nghiệp.
 Về mặt thực tiễn

Trong quá trình khảo sát tại Tổng công ty 319, tôi nhận thấy công tác nghiên
cứu, thực hiện và sử dụng các phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đang
được ban lãnh đạo công ty dần quan tâm, nhưng chưa thật sự hiệu quả. Nội dung
phân tích còn sơ sài chưa đi sâu phân tích và đánh giá đầy đủ các chỉ tiêu phản ánh
hiệu quả sử dụng vốn, nên hiệu quả mang lại chưa cao, thông tin về hiệu quả sử
dụng vốn chưa đáp ứng được yêu cầu của ban lãnh đạo Tổng công ty.
Nhận thức được tầm quan trọng của vốn và hiệu quả sử dụng vốn, xuất phát từ
những cơ sở lý luận và tình hình thực tiễn tại Tổng công ty 319 cùng với những
kiến thức đã tích lũy được trong quá trình học tập nghiên cứu, tôi đã đi sâu vào
nghiên cứu và lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Hiệu quả sử dụng vốn tại Tổng công ty
319” làm đề tài luận văn của mình.

2. Tổng quan tình hình nghiên cứu

Trong điều kiện tình hình kinh tế diễn biến phức tạp như hiện nay, công tác
quản trị vốn nói chung và hiệu quả sử dụng vốn nói riêng là vấn đề được các chuyên
gia kinh tế tài chính, các nhà quản trị doanh nghiệp và các nhà khoa học đặc biệt
quan tâm. Do đó, đã có các công trình nghiên cứu về những chủ đề liên quan đến
hiệu quả sử dụng vốn với mức độ và cách tiếp cận khác nhau:
Luận văn thạc sĩ (2013) của tác giả Bùi Thị Trâm Anh đã có nghiên cứu về đề
tài Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngành sản xuất phim ảnh; trong nghiên
cứu của mình tác giả đã chỉ ra được những chỉ tiêu cơ bản về vốn và hiệu quả sử
dụng vốn cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của ngành sản


10
xuất phim ảnh; đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của
ngành. Tuy nhiên, trong quá trình phân tích luận văn chưa có những phân tích về
những nguyên nhân chủ quan như thái độ, trách nhiệm, tầm quan trọng của hiệu quả
sử dụng vốn trong ngành. Do đó, những đánh giá trong đề tài thiếu đi một phần
khách quan.
Luận văn thạc sĩ kinh tế (2014) của tác giả Phạm Thị Thảo, Khoa Tài chính
-Ngân hàng, Trường Đại học Thương Mại viết về đề tài Hiệu quả sử dụng vốn kinh
doanh của Công ty Cổ phần Công trình Viettel. Luận văn đi sâu phân tích rất đầy đủ
về các chỉ tiêu liên quan đến hiệu quả sử dụng vốn. Các số liệu được xử lý, lập
bảng, biểu khoa học, hợp lý. Đề tài đã giải quyết được những vấn đề cốt lõi về tình
hình và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh cũng như
điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp trong quá trình ứng dụng việc phân tích
hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh. Tuy nhiên, luận văn văn chưa có sự chú trọng
trong việc điều tra thái độ, nhận thức của lãnh đạo cũng như nhân viên trong công
ty về tầm quan trọng của công tác nghiên cứu, phân tích, quản lý hiệu quả sử dụng
vốn kinh doanh.

Luận văn thạc sĩ (2015) của tác giả Nguyễn Phúc Dũng về đề tài Nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần Sữa Hà Nội. Về tổng quan, luận văn đã
làm rõ được những vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn hiệu quả sử dụng vốn tại
đơn vị nghiên cứu. Các chỉ tiêu phân tích hiệu quả sử dụng vốn được trình bày rõ
ràng, dễ hiểu, lập luận thuyết phục. Tuy nhiên, khi phân tích chi tiết về vốn tác giả
chưa nghiên cứu sâu và làm rõ tính đa dạng của các nguồn vốn, cũng như không đề
cập đến các chỉ tiêu thể hiện khả năng thanh toán của doanh nghiệp đây là một
trong những chỉ tiêu thể hiện sự luân chuyển vốn và hiệu quả sử dụng vốn.
Luận văn thạc sĩ (2015) của tác giả Nguyễn Vũ Vương Anh về đề tài Nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn của công ty cổ phần Sông Đà HTC. Đề tài đã giải quyết rất
chuyên sâu về những vấn đề lý luận của vốn và hiệu quả sử dụng vốn; phân tích các
nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của công ty cổ phần Sông Đà HTC; từ
những phân tích thông qua số liệu thứ cấp, tác giả chỉ ra được nguyên nhân và giải


11
pháp trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong
quá trình nghiên cứu tác giả vẫn chưa có sự so sánh, liên hệ với các doanh nghiệp
cùng ngành để tìm ra xu hướng chung, từ đó đánh giá một cách khách quan hơn.
Tóm lại, các nghiên cứu trên nhìn chung đã đề cập đến những vấn đề cơ sở lý
luận về vốn và hiệu quả sử dụng vốn; phân tích được những nhân tố ảnh hưởng đến
hiệu quả sử dụng vốn; thực trạng hiệu quả sử dụng vốn, từ đó đưa ra những giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong các doanh nghiệp, trong các ngành
nghiên cứu. Tuy nhiên, các nghiên cứu chủ yếu đi phân tích dựa trên dữ liệu thứ cấp
được cung cấp từ nguồn báo cáo tài chính của doanh nghiệp mà thiếu đi phân tích
một nhân tố hết sức quan trọng là quan điểm, định hướng của lãnh đạo và nhân viên
phụ trách quản lý nguồn vốn về hiệu quả sử dụng vốn. Thêm vào đó, việc nghiên
cứu của các đề tài trước đây chủ yếu chỉ phân tích tại đơn vị nghiên cứu mà chưa có
sự liên hệ so sánh với các doanh nghiệp cùng ngành nên các phán đoán chủ yếu
mang tính chất chủ quan, chưa thực sự thuyết phục. Khắc phục được các thiếu sót

trên, trong luận văn của mình tôi đã thực hiện việc điều tra nhằm thu thập dữ liệu sơ
cấp, chủ yếu là tham khảo thái độ, quan điểm của nhà quản trị doanh nghiệp và
nhân viên tài chính kế toán về tầm quan trọng của việc nghiên cứu hiệu quả sử dụng
vốn trong doanh nghiệp. Luận văn cũng sử dụng nhiều nguồn dữ liệu khác nhau, thu
thập được ở những nguồn đáng tin cậy về các chỉ tiêu tài chính nói chung và hiệu
quả sử dụng vốn nói riêng tại các doanh nghiệp cùng ngành nhằm đưa ra cái nhìn
khái quát về tình hình vốn trong các doanh nghiệp xây dựng cơ bản (XDCB). Đây
là điểm mới mà các công trình nghiên cứu trước đây chưa đạt được.
3. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và phân tích thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại
Tổng công ty 319, luận văn đưa ra các quan điểm, đề xuất các giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Tổng công ty.
Để đạt mục tiêu trên, đề tài sẽ đi sâu giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về hiệu quả sử dụng vốn của doanh
nghiệp;


12
- Phân tích và đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại Tổng công ty 319,
chỉ ra những tồn tại về hiệu quả sử dụng vốn tại Tổng công ty 319;
- Đề xuất giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Tổng
công ty 319.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vốn và hiệu quả sử dụng vốn tại Tổng công
ty 319. Tuy nhiên, trong luận văn tốt nghiệp chỉ đi sâu phân tích các nội dung về
vốn kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Tổng công ty 319.
- Phạm vi nghiên cứu:

+ Về không gian: Tại Tổng công ty 319;
+ Về thời gian: Số liệu phân tích trong luận văn được thu thập qua 3 năm:
2013, 2014, 2015.
5. Phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp thu thập dữ liệu
- Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: Luận văn thu thập dữ liệu sơ cấp bằng
phương pháp phỏng vấn trực tiếp. Là phương pháp được thực hiện thông qua việc
phỏng vấn trực tiếp Tổng Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc, Trưởng phòng Tài chính Kế toán, Kế toán trưởng và một số nhân viên tại các phòng ban liên quan trong
Tổng công ty về một số vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu. Những câu hỏi về
hiệu quả sử dụng vốn chủ yếu trong 3 năm 2013, 2014 và 2015. Nhằm mục đích thu
thập thông tin về mức độ quan tâm của ban lãnh đạo công ty về vốn và hiệu quả sử
dụng vốn cũng như tình hình quản lý và sử dụng vốn của công ty từ đó làm cơ sở để
đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của công ty.
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp:
Là phương pháp thu thập dữ liệu thông qua các tài liệu sẵn có của Tổng công
ty, qua Báo cáo tài chính, Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh
doanh (HĐKD), Website của Tổng công ty và một số tài liệu liên quan khác của


13
Tổng công ty phục vụ cho việc phân tích. Ngoài ra, dữ liệu thứ cấp còn được thu
thập từ các nguồn luận văn của các nghiên cứu trước đó cùng đề tài nhằm thấy được
cái nhìn tổng quát các nghiên cứu cũng như thực trạng hiệu sử dụng vốn của các
doanh nghiệp cùng ngành trong nền kinh tế.
5.2. Phương pháp tổng hợp dữ liệu
Dữ liệu của luận văn được tổng hợp chủ yếu thông qua phương pháp bảng
biểu nhằm chỉnh lý và hệ thống hóa một cách khoa học các dữ liệu thu thập được.
Dựa vào các phiếu điều tra, kết quả của các cuộc phỏng vấn, qua số liệu của Báo
cáo tài chính, Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và một

số tài liệu khác để tiến hành tập hợp, tính toán và tổng hợp các số liệu vào các bảng
biểu thích hợp làm cơ sở cho việc phân tích hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
(VKD) tại Tổng công ty 319.
5.3. Phương pháp phân tích dữ liệu
Phân tích hiệu quả sử dụng vốn sử dụng chủ yếu một số phương pháp sau:
- Phương pháp so sánh
So sánh số liệu giữa các năm để thấy được tình hình tăng giảm và nguyên
nhân tăng giảm, tính toán, so sánh tỷ trọng của các khoản mục của chúng để
đánh giá được tình hình phân bổ các khoản mục. Các hình thức so sánh mà tác
giả sử dụng bao gồm so sánh tuyệt đối và so sánh tương đối một số chỉ tiêu như
tỷ trọng vốn lưu động, tỷ trọng vốn cố định, hệ số doanh thu trên vốn kinh
doanh,…
- Phương pháp dùng biểu mẫu
Biểu mẫu trong phân tích hiệu quả sử dụng vốn được thiết lập theo cột trong
đó ghi chép đầy đủ các khoản mục, các chỉ tiêu, số liệu để phân tích hiệu quả sử
dụng vốn của Tổng công ty 319 tác giả sử dụng các biểu mẫu khác nhau để so sánh
số liệu năm 2014 với năm 2013 và năm 2015 so với số liệu năm 2014, so sánh tỷ
trọng các khoản mục.


14
6. Kết cấu của luận văn.

Ngoài phần mục lục, lời mở đầu, kết luận, phụ lục và danh lục các tài liệu
tham khảo, danh mục bảng biểu, viết tắt, kết cấu luận vau gồm 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp;
Chương 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại Tổng công ty 319;
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Tổng
công ty 319.



15
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐNCỦA
DOANH NGHIỆP
1.1.Cơ sở lý luận về vốn
1.1.1.

Khái niệm vốn
Để tiến hành bất cứ hoạt động sản xuất kinh doanh nào, doanh nghiệp cũng

cần phải có vốn. Vốn có ý nghĩa quyết định đến sự thành công hay thất bại trong
mọi hoạt động của doanh nghiệp. Cùng với sự phát triển của lịch sử kinh tế xã hội,
các quan điểm về vốn xuất hiện và ngày càng hoàn thiện, có nhiều cách hiểu về vốn
khác nhau của các nhà kinh tế học thuộc các trường phái kinh tế khác nhau.
Các nhà kinh tế học cổ điển tiếp cận vốn với góc độ hiện vật. Họ cho rằng,
vốn là một trong những yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất kinh doanh, khi đó
khi bắt đầu hoạt động sản xuất kinh doanh người sáng lập nào cũng cần phải có
tiềm lực nhất định như công cụ sản xuất, nhân lực hay công cụ đầu tư... Cách hiểu
này phù hợp với trình độ quản lý kinh tế còn sơ khai - giai đoạn kinh tế học mới
xuất hiện và bắt đầu phát triển.
Theo một số nhà nghiên cứu tài chính thì vốn là tổng số tiền do những người
có cổ phần trong công ty đóng góp và họ nhận được phần thu nhập chia cho các
chứng khoán của công ty. Như vậy, các chuyên gia tài chính đã chú ý đến mặt tài
chính của vốn, làm rõ được nguồn gốc cơ bản của doanh nghiệp đồng thời cho các
nhà đầu tư thấy được lợi ích của việc đầu tư, khuyến khích họ tăng cường đầu tư
vào mở rộng và phát triển sản xuất.
Theo David Begg, Standley Fischer, Rudige Darnbusch trong cuốn Kinh tế
học: “Vốn là một loại hàng hoá nhưng được sử dụng tiếp tục vào quá trình sản xuất
kinh doanh tiếp theo”. Có hai loại vốn là vốn hiện vật và vốn tài chính. Vốn hiện
vật là dự trữ các loại hàng hoá đã sản xuất ra các hàng hoá và dịch vụ khác. Vốn tài

chính là tiền mặt, tiền gửi ngân hàng...
Một số nhà kinh tế học khác cho rằng vốn không chỉ bao gồm toàn bộ các yếu
tố kinh tế được bố trí để sản xuất hàng hoá, dịch vụ như tài sản tài chính mà còn cả


16
các kiến thức về kinh tế kỹ thuật của doanh nghiệp đã tích luỹ được, trình độ quản
lý và tác nghiệp của các cán bộ điều hành cùng chất lượng đội ngũ công nhân viên
trong doanh nghiệp, uy tín, lợi thế của doanh nghiệp. Một số quan điểm khác lại cho
rằng vốn là giá trị đem lại giá trị thặng dư.
Các quan niệm về vốn trên tiếp cận dưới những góc độ nghiên cứu khác nhau,
trong những điều kiện lịch sử khác nhau. Vì vậy, để đáp ứng đầy đủ yêu cầu về hạch
toán và quản lý vốn trong cơ chế thị trường hiện nay, Ở trong phạm vi luận văn này,
tác giả sử dụng khái niệm vốn kinh doanh trong cuốn Giáo trình Tài chính doanh
nghiệp của PGS. TS Nguyễn Đình Kiệm và TS Bạch Đức Hiển (xuất bản năm
2008): “Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá
trị tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm
mục đích sinh lời”.
1.1.2.Đặc điểm của vốn trong doanh nghiệp

Vốn có một số đặc điểm cơ bản sau:
- Vốn phải được biểu hiện bằng một lượng giá trị tài sản cụ thể: Chỉ những tài
sản có giá trị và giá trị sử dụng phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp mới được coi là vốn. Không thể có vốn mà không có tài sản hoặc
ngược lại.
- Vốn phải được duy trì ở một quy mô tối thiểu nhất định. Tức là phải tích lũy
đến một lượng đủ lớn để có thể tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Vốn phải vận động sinh lời, đạt được mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp.
Bất kể một doanh nghiệp dù kinh doanh loại hình, ngành nghề nào thì mục tiêu cuối
cùng cũng là tìm kiếm lợi nhuận. Do vậy, họ luôn mong muốn nguồn lực ban đầu

mà họ đầu tư vào đem lại cho nhà sáng lập và các thành viên trong tổ chức những
nguồn lợi nhất định. Vốn như một công cụ đầu tư ban đầu của doanh nghiệp và bắt
buộc phải được vận động trong thị trường để đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp.
- Vốn phải được bảo toàn. Vì vậy cần xem xét để lựa chọn dự án đầu tư có tính
khả thi cao nhất, cần tránh những dự án đầu tư không an toàn. Bên cạnh đó cần chú
ý đến thời gian hoàn vốn.


17
- Vốn phải có giá trị về mặt thời gian. Vì vốn của doanh nghiệp luôn chịu ảnh
hưởng của các nhân tố như lạm phát, sự biến động của giá cả nên giá trị của vốn ở
các thời điểm khác nhau là khác nhau.
- Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu nhất định và phải được quản lý chặt chẽ thì
việc sử dụng vốn mới tiết kiệm và hiệu quả.
1.1.3.Vai trò của vốn trong doanh nghiệp

Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh
đều cần phải có lượng tài sản nhất định. Biểu hiện hình thái giá trị của các tài sản đó
chính là vốn của doanh nghiệp. Chỉ khi nào có vốn doanh nghiệp mới có thể đầu tư
các yếu tố đầu vào để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh. Vốn của các doanh
nghiệp có thể thuộc sở hữu nhà nước, cá nhân, tập thể. Nhưng dù ở hình thức sở
hữu nào thì vai trò của vốn cũng không thay đổi. Với mọi doanh nghiệp dù ở hình
thức nào thì muốn hoạt động được đều phải có lượng vốn nhất định. Đây là điều
kiện tiên quyết, quan trọng nhất cho sự ra đời tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Tuỳ theo loại hình kinh doanh mà pháp luật quy định doanh nghiệp phải có số vốn
pháp định nhất định. Tuỳ theo nguồn vốn kinh doanh cũng như phương thức huy
động vốn mà doanh nghiệp có các tên gọi khác nhau như: doanh nghiệp tư nhân,
doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp
danh, công ty liên doanh…Như vậy, xét dưới góc độ luật pháp vốn là điều kiện để
doanh nghiệp được thành lập, cũng là một trong những tiêu chí để xác định hình

thức của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp có vốn mới có điều kiện để trang bị các thiết bị, cơ sở vật chất
cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh như nguyên liệu đầu vào, phát triển
thương hiệu, mở rộng thị trường,… cùng với việc ứng dụng khoa học vào hoạt động
sản xuất kinh doanh, vốn cũng quyết định đến khả năng đổi mới thiết bị, công nghệ,
phương pháp quản lý của doanh nghiệp trong suốt quá trình hoạt động. Số lượng
vốn của doanh nghiệp lớn hay nhỏ là một trong những tiêu thức quan trọng để xếp
doanh nghiệp vào quy mô lớn, hay nhỏ và nó cũng là điều kiện để sử dụng các tiềm
năng hiện có cũng như các yếu tố đầu vào doanh nghiệp.


18
Trong doanh nghiệp vốn còn đóng vai trò thể hiện ở chức năng giám đốc tài
chính đối với hoạt động sản xuất. Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp có thể đánh giá có hiệu quả kinh doanh hay không thông qua các chỉ tiêu sinh
lời. Vốn đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục từ khâu
mua sắm vật tư, sản xuất cho đến tiêu thụ sản phẩm. Hơn nữa trong nền kinh tế thị
trường tự do cạnh tranh, các DN muốn tồn tại và phát triển phải có các bí quyết công
nghệ tiên tiến để nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, hạ giá thành,
tiêu thụ sản phẩm, vì vậy vốn càng giữ vai trò quan trọng đối với doanh nghiệp.
Bên cạnh đó vốn còn ảnh hưởng đến phạm vi hoạt động đa dạng hoá ngành
nghề kinh doanh của doanh nghiệp bởi tất cả nhũng hoạt động xây dựng phương án
kinh doanh đầu tư máy móc sản xuất, dây chuyền công nghệ, xây dựng hệ thống
phân phối sản phẩm, phân tích thị trường… đều phụ thuộc vào quy mô vốn nhất
định.Việc đảm bảo tốt nguồn vốn kinh doanh còn giúp doanh nghiệp trong việc
chống đỡ được những tổn thất, rủi ro, biến động thị trường, khủng hoảng tài
chính…trong quá trình hoạt động, đặc biệt là những ngành kinh doanh nhiều rủi ro
như tài chính, ngân hàng, xây dựng cơ bản...Trong cơ chế thị trường cùng với việc
mở rộng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh, việc có vốn
và tập trung vốn nhiều hay ít vào doanh nghiệp có vai trò cực kỳ quan trọng trong

việc đẩy mạnh kinh doanh. Đồng thời nó cũng là nguồn lực để phát huy tài năng
của ban lãnh đạo doanh nghiệp, là điều kiện để thực hiện các chiến lược, sách lược,
kinh doanh, và nó cũng là chất keo để chắp nối, kết dính các quá trình kinh tế là dầu
nhớt để bôi trơn cỗ máy kinh tế vận động.
1.1.4.Phân loại vốn trong doanh nghiệp


19
1.1.1.1.

Căn cứ vào nguồn hình thành vốn

Theo nguồn hình thành vốn, vốn của doanh nghiệp bao gồm: vốn chủ sở hữu
(VCSH) và nợ phải trả (NPT).
Vốn chủ sở hữu là nguồn vốn thực sự thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp
có được thông qua việc huy động từ các nhà sáng lập khi doanh nghiệp mới thành
lập và được bổ sung từ các nguồn khác như lợi nhuận không chia, quỹ đầu tư phát
triển...hoặc giảm đi trong quá trình hoạt động kinh doanh. Doanh nghiệp có đầy đủ
các quyền chiếm hữu, chi phối và định đoạt đối với nguồn vốn này. Nguồn VCSH là
cơ sở đầu tiên của mỗi doanh nghiệp, trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp
nó tạo điều kiện cho doanh nghiệp chủ động hoàn toàn trong sản xuất kinh doanh.
Đây là nguồn vốn mang tính độc lập cao.
Nợ phải trả là nguồn vốn được hình thành từ việc đi vay. NPT được chia thành
nợ ngắn hạn và nợ dài hạn. Nợ ngắn hạn gồm các khoản vay ngắn hạn hoặc các
khoản vay dài hạn nhưng đến hạn trả trong kỳ, các khoản nợ người cung cấp, người
bán về hàng hóa, dịch vụ chưa trả tiền, các khoản nợ người mua, nợ thuế đối với
Nhà nước. Nợ dài hạn phản ánh số tiền đi vay dài hạn tại các ngân hàng hoặc vay
các công ty, các tổ chức hay cá nhân khác, kể cả các số nợ về mua hàng hóa có thời
hạn từ 01 năm trở nên. Các khoản nợ phải trả là nguồn vốn mà doanh nghiệp phải
trả một khoản chi phí nhất định để được sử dụng trong một khoảng thời gian nhất

định. Thời gian sử dụng nguồn nợ phải trả và chi phí đi vay được xác định thông
qua việc thỏa thuận với người cho vay và phải tuân theo một số quy định của pháp
luật liên quan đến việc huy động vốn.
Trên thực tế hầu hết các doanh nghiệp đều sử dụng cả hai nguồn vốn là vốn
chủ sở hữu và nợ phải trả trong quá trình sản xuất kinh doanh để đảm bảo nhu cầu
vốn của mình. Tỉ trọng của hai nguồn vốn này trong tổng nguồn vốn của doanh
nghiệp phụ thuộc vào mục tiêu cũng như tình hình kinh doanh của doanh nghiệp.
1.1.4.2.

Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển vốn


20
Theo đặc điểm luân chuyển vốn, vốn được phân thành vốn lưu động (VLĐ)
và vốn cố định (VCĐ).
Vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn tiền tệ ứng trước để đầu tư, mua
sắm các tài sản lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp
được thực hiện thường xuyên liên tục.Vốn lưu động trong doanh nghiệp là biểu hiện
bằng tiền của tài sản lưu động. Trong quá trình sản xuất kinh doanh các tài sản lưu
động luôn vận động, thay thế và chuyển hoá nhau, đảm bảo cho quá trình sản xuất
kinh doanh được tiến hành liên tục. Do vậy, vốn lưu động của doanh nghiệp cũng
không ngừng vận động qua các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh: Dự trữ, sản xuất
và lưu thông. Quá trình này được diễn ra liên tục và thường xuyên lặp lại theo chu
kỳ và được gọi là quá trình tuần hoàn, chu chuyển của vốn lưu động. Qua mỗi giai
đoạn của chu kỳ kinh doanh, vốn lưu động lại thay đổi hình thái biểu hiện từ hình
thái vốn tiền tệ ban đầu sang hình thái vốn vật tư hàng hoá dự trữ và vốn sản xuất,
rồi cuối cùng lại trở về hình thái vốn tiền tệ. Sau mỗi chu kỳ tái sản xuất vốn lưu
động hoàn thành một vòng chu chuyển.Để sản xuất kinh doanh có hiệu quả cao
doanh nghiệp cần phải xác định đúng số vốn lưu động cần thiết trong chu kỳ kinh
doanh nhằm tăng khả năng luân chuyển vốn đồng thời giảm thiểu tình trạng ứ đọng

hàng hóa vật tư và phát sinh chi phí không cần thiết.


21
Vốn cố định là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về tài sản cố định
(TSCĐ) mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần trong nhiều chu
kỳ sản xuất và hoàn thành trong một vòng tuần hoàn khi TSCĐ hết thời gian sử
dụng.Vốn cố định có một ý nghĩa rất quan trọng, vì không chỉ chiếm một tỷ trọng
lớn trong tổng số vốn kinh doanh của doanh nghiệp, có tính chất quyết định tới
năng lực sản xuất của doanh nghiệp mà còn do việc sử dụng vốn cố định thường
gắn liền với hoạt động đầu tư dài hạn, thu hồi vốn chậm và dễ gặp rủi ro. Vì vậy,
để sử dụng có hiệu quả vốn cố định trong hoạt động kinh doanh thường xuyên
cần thực hiện các biện pháp để không chỉ bảo toàn mà còn phát triển được vốn cố
định của doanh nghiệp sau mỗi chu kỳ kinh doanh. Vốn cố định là số vốn đầu tư
ứng trước để mua sắm, xây dựng các TSCĐ nên nếu số vốn này được sử dụng có
hiệu quả thì sẽ không mất đi, doanh nghiệp sẽ thu hồi lại được sau khi tiêu thụ các
sản phẩm hàng hoá hay dịch vụ của mình. Mặt khác, quy mô của vốn cố định nhiều
hay ít sẽ quyết định quy mô của TSCĐ, ảnh hưởng rất lớn đến trình độ trang bị kỹ
thuật và công nghệ, năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Song ngược lại
những đặc điểm kinh tế của TSCĐ trong quá trình sử dụng lại có ảnh hưởng quyết
định, chi phối đặc điểm tuần hoàn và chu chuyển của vốn cố định.


22
1.1.4.3.

Căn cứ vào hình thức huy động vốn
Theo hình thức huy động vốn bao gồm: vốn bên trong và vốn bên ngoài.
Vốn bên trong là nguồn vốn có thể huy động được từ chính hoạt động của


doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp Nhà nước vốn bên trong có thể là vốn đầu tư
của Ngân sách Nhà nước. Đối với doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty trách nhiệm
hữu hạn chủ sở hữu phải có một nguồn vốn ban đầu cần thiết để xin đăng ký thành
lập doanh nghiệp, nguồn vốn tự có ban đầu của doanh nghiệp chính là nguồn vốn
bên trong, nguồn vốn này có thể bổ sung thông qua các nguồn lợi nhuận giữ lại để
tái đầu tư, khoản khấu hao tài sản cố định, tiền nhượng bán tài sản, vật tư không cần
dùng hoặc thanh lý tài sản cố định.
Vốn bên ngoài là vốn được huy động từ bên ngoài doanh nghiệp để tăng thêm
nguồn lực tài chính cho hoạt động kinh doanh thông qua các nguồn như: Vay ngân
hàng và các tổ chức tín dụng, vốn liên doanh liên kết, tín dụng thương mại, thuê tài
sản, huy động bằng phát hành chứng khoán...
1.1.4.4.

Căn cứ vào góc độ pháp luật
Theo có độ pháp luật vốn bao gồm: vốn pháp định và vốn điều lệ.
Vốn pháp định là số vốn tối thiểu phải có để thành lập doanh nghiệp do pháp

luật quy định đối với từng ngành nghề và từng loại hình sở hữu doanh nghiệp.
Doanh nghiệp có số vốn dưới mức vốn pháp định thì không đủ điều kiện thành lập
doanh nghiệp.
Vốn điều lệ là số vốn do các thành viên đóng góp và ghi vào điều lệ của doanh
nghiệp. Tuỳ theo từng loại hình doanh nghiệp, theo từng ngành nghề, vốn điều lệ
không được thấp hơn vốn pháp định.
1.2. Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng vốn
1.2.1.Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn

Khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, mọi doanh nghiệp đều mong
muốn đạt được những kết quả nào đó. Kết quả đạt được trong kinh doanh mới đáp
ứng phần nào yêu cầu của cá nhân và xã hội. Tuy nhiên, kết quả đó được tạo ra ở
mức nào là vấn đề cần phải xem xét vì nó phản ánh chất lượng của hoạt động tạo

nên kết quả đó. Thực chất của hiệu quả kinh tế là thực hiện yêu cầu của quy luật


23
nhằm tiết kiệm các nguồn lực của doanh nghiệp. Nó biểu hiện trình độ sử dụng các
nguồn lực của doanh nghiệp để thực hiện mục tiêu xác định. Nó quy định động lực
phát triển của lực lượng sản xuất. Tạo điều kiện phát triển văn minh xã hội và nâng
cao đời sống của loài người qua mọi thời đại. Hiệu quả kinh tế là phạm trù khách
quan phản ánh trình độ và năng lực quản lý, biện pháp tổ chức sản xuất đảm bảo
thực hiện có kết qủa cao những nhiệm vụ kinh tế mà xã hội đặt ra trong từng thời kỳ
với chi phí nhỏ nhất, (tối đa hoá lợi ích, tối thiểu hoá lượng vốn kinh doanh của
doanh nghiệp, thu lợi nhuận cao, hoàn vốn nhanh).
Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp có thể hiểu là quan hệ giữa đầu ra và
đầu vào của quá trình kinh doanh hay cụ thể là quan hệ giữa toàn bộ kết quả kinh
doanh với toàn bộ chi phí của quá trình kinh doanh đó. Theo giáo trình phân tích
kinh tế doanh nghiệp thương mại của trường Đại Học Thương Mại:“Hiệu quả sử
dụng vốn kinh doanh là những chỉ tiêu kinh tế phản ánh mối quan hệ so sánh giữa
kết quả hoạt động kinh doanh với các chỉ tiêu vốn kinh doanh mà doanh nghiệp sử
dụng trong kỳ kinh doanh”. Hiệu quả sử dụng vốn không chỉ thể hiện đơn thuần ở
kết quả kinh doanh và chi phí kinh doanh, mà nó còn thể hiện ở nhiều mặt chỉ tiêu
về kinh tế thanh toán, số vòng quay của vốn. Để đánh giá một cách toàn diện về
hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời phải xem xét
những khó khăn, thuận lợi cũng như các lợi thế, nguy cơ tiềm tàng của doanh
nghiệp trong tương lai.
1.2.2.

Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
Để phân tích hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh trong doanh nghiệp, ta cần

phân tích các chỉ tiêu bao gồm: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh bình quân, hiệu

quả sử dụng vốn lưu động, hiệu quả sử dụng vốn cố định và hiệu quả sử dụng vốn
chủ sở hữu:
 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh bình quân

- Hệ số doanh thu trên vốn kinh doanh:
M
HMVKD=
VKD
Trong đó:


24
HMVKD: Hệ số doanh thu trên vốn kinh doanh
M: Doanh thu thuần trong kì
VKD: Vốn kinh doanh bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh sức sản xuất, khả năng tạo ra doanh thu của đồng vốn
kinh doanh. Chỉ số này càng cao thì hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh càng tốt và
ngược lại.
- Hệ số lợi nhuận trên vốn kinh doanh:
P
PVKD=
VKD
Trong đó:
PVKD : Hệ số lợi nhuận trên vốn kinh doanh
P: Lợi nhuận sau thuế
VKD: Vốn kinh doanh bình quân
Chỉ tiêu hệ số lợi nhuận trên vốn kinh doanh phản ánh sức sinh lời của đồng
vốn kinh doanh.Chỉ tiêu này cho biết có bao nhiêu đồng vốn lợi nhuận được tạo ra
khi bỏ một đồng vốn vào sản xuất kinh doanh. Chỉ tiêu hệ số lợi nhuận trên vốn
kinh doanh càng cao thì hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh càng cao và ngược lại.

- Tỷ suất sinh lời của tài sản:
ROAE=

EBIT
VKD

Trong đó:
ROAE: Tỷ suất lợi nhuận trước thuế và lãi vay trên vốn kinh doanh
EBIT: Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
VKD: Vốn kinh doanh bình quân
Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời phản ánh khả năng sinh lời của một đồng vốn kinh
doanh không tính đến ảnh hưởng của tiền lãi vay và thuế thu nhập doanh nghiệp.
 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động:


25
- Hệ số doanh thu trên vốn lưu động:
HVLĐ=

M
VLĐ

Trong đó:
HVLĐ: Hệ số doanh thu trên VLĐ
M: Doanh thu thuần trong kỳ
VLĐ: Vốn lưu động bình quân
Đây là chỉ tiêu phải ảnh số VLĐ cần có để đạt được một đồng doanh thu trong
kỳ. Chỉ tiêu này càng lớn thì hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao và ngược lại.
- Hệ số lợi nhuận trên vốn lưu động:
PVLĐ=


P
VLĐ

Trong đó:
PVLĐ: Hệ số lợi nhuận trên vốn lưu động
P: Lợi nhuận sau thuế và lãi vay
VLĐ: Vốn lưu động bình quân
Chỉ tiêu hệ số lợi nhuận trên vốn lưu động phản ánh số vốn lưu động cần thiết
để tạo ra một đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng cao thì hiệu quả sử dụng vốn lưu
động càng tốt và ngược lại.
- Số ngày chu chuyển vốn lưu động:
Số ngày chu chuyển vốn lưu động =

VLĐ bình quân*360
Giá vốn hàng bán

Chỉ tiêu này thể hiện số ngày cần thiết để cho VLĐ quay được một vòng, thời
gian của một vòng càng nhỏ thể hiện tốc độ luân chuyển càng lớn.


×