Tải bản đầy đủ (.doc) (29 trang)

quản lý nhà nước về văn hóa và tôn giáo đạo hòa hảo

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (346.92 KB, 29 trang )

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

Bài tìm hiểu:

Đạo Hòa Hảo ở Việt Nam

Lớp: KH14-Nhân sự 1
Họ tên:
Hoàng Thị Diên (nhóm trưởng)
Hoàng Thị Tuyết Mai
Nông Kim Cúc
Nguyễn Thị Tươi
Trần Thị Lan

Hà Nội ngày

tháng

năm


Mục lục
I: Lời mở đầu
II: Tìm hiểu chung về đạo Hòa Hảo
1: hoàn cảnh ra đời đạo hòa hảo
2.Sự phát triển
2.1.Thời kỳ Nhật xâm chiếm
2.2 1947-1963 lực lượng võ trang.
2.3. Thời kì 1963-1975
2.4. Thời kì sau 1975
.III: Cấu trúc đạo Hòa Hảo


1: Cấu trúc đạo hòa hảo
1.1: giáo lý hòa hảo
1.2. Giáo chủ
1.3:Nghi lễ và tổ chức
1.4:Niềm tin
2:Ưu nhược điểm đạo Hòa Hảo:
2.1: ưu điểm:
2.2:nhược điểm:

IV:Các chính sách và hoạt động quản lí nhà nước về tôn giáo:
1:các chính sách của nhà nước đối với tôn giáo:
2: Hoạt động quản lí của nhà nước đối với tôn giáo
3: thực trạng hoạt động và ảnh hưởng của đạo Hòa Hảo đến đời sống người
Việt Nam
3.1 thực trạng hoạt động của đạo Hòa Hảo
3.2: Ảnh hưởng của phật giáo hòa hảo đến đời sống người Việt Nam:

V:Kết luận


I: Lời mở đầu
Cùng với sự phát triển của đất nước hoạt động tôn giáo của nước ta cũng
ngày càng hoạt động mạnh mẽ. tính đến nay thì nước ta đã có rất nhiều tôn giáo
du nhập vào và tác động đến lối sống người dân Việt tạo thành một nét sống độc
đáo và mang đậm bản sắc riêng. Trong đó ta không thể không nhắc đến đạo Hòa
Hảo một tôn giáo do người Việt sáng tạo ra, khởi xướng nhằm chấn hưng đạo
phật, hình thành một nền đạo phật đặc thù tại Việt Nam vào nửa đầu thế kỉ XX.

II: Tìm hiểu chung về đạo Hòa Hảo
1: hoàn cảnh ra đời đạo hòa hảo

Đạo hòa hảo hay còn gọi là phật giáo hòa hảo ra đời ở miền Tây Nam Bộ
vào những năm cuối thập kỉ 30 của thế kỉ XX.Thời kì này,thực dân Pháp câu kết
với giai cấp địa chủ tư sản bóc lột các tầng lớp nhân dân vô cùng dã man cả về
vật chất cũng như tinh thần.
Cuộc sống của người dân hầu như bế tắc. Các phong trào đấu tranh chống đế
quốc Pháp và bẽ lũ phong kiến đều bị thực dân đàn áp. Nhiều tầng lớp nhân dân
cũng có tâm trạng bi quan,chán chường trong cuộc sống hiện thực,có nhu cầu
được an ủi,giải thoát về mặt tinh thần.
Trong xã hội các tôn giáo truyền thống như Nho,Phật,Lão tỏ ra bất lực
trước thời cuộc.Hệ tư tưởng tư sản không phù hợp với số đông quần chúng lao
động.Hệ tư tưởng vô sản chưa thật sự ăn sâu,bám rễ và phổ biến rộng rãi.
Người dân Tây Nam Bộ (phần lớn là nông dân) sống trong hoàn cảnh nghèo
túng,trình độ học vấn lúc đó có hạn nên ít chú ý tới những vấn đề triết lí cao siêu
rối rắm của các tôn giáo truyền thống. Họ có xu hướng đơn giản hóa các triết lí
cao siêu đó.Đặc biệt,họ đề cao tinh thần bất khuất chống giặc ngoại xâm,ngợi ca
những gương trung liệt như Trương Công Định, Thủ Khoa Huân, Nguyễn Trung
Trực…


Trước khi đạo Hòa Hảo ra đời,ở miền Tây Nam Bộ đã hình thành và tồn tại
nhiều phong trào quần chúng mang màu sắc tôn giáo như đạo Bửu sơn kì
hương,đạo Tứ ân hiếu nghĩa.
Đạo bửu sơn kì hương là một môn phái thiền của phật giáo do Đoàn Minh
Huyên(1807) quê ở Sa Đéc, một sĩ phu yêu nước thời Gia Long sáng lập ở vùng
núi Thất Sơn-Châu Đốc. Thông qua tổ chức tôn giáo này ông có ý định tập hợp
các lực lượng chống pháp.Đạo Hòa Hảo chịu ảnh hưởng tư tưởng rất lớn của
phái thiền Bửu sơn kì hương.
Đạo Tứ ân hiếu nghĩa được sáng lập bởi Đức Bổn sư Ngô Lợi ( 1831-1890).
Đạo này đề cao vai trò nghĩa vụ và trách nhiệm của con người,khơi gợi truyền
thống yêu nước,kêu gọi mọi người đứng dậy chống ngoại xâm,giải quyết mối

quan hệ giữa đạo và đời.
Sự ra đời của đạo Hòa Hảo gắn liền với tên tuổi ông Huỳnh Phú Sổ.Trong
thời gian chữa bệnh ở vùng Thất Sơn,ông giành nhiều thời gian đọc sấm Trạng
Trình và nghiên cứu tư tưởng của môn phái phật giáo Bửu hương kì sơn và đạo
Tứ ân hiếu nghĩa.
Chữa bệnh không khỏi, về nhà ông tự nhận mình là bậc “sinh như tri” biết rõ
quá khứ nhìn thấu tương lai,cứu chúng sinh khỏi bể khổ.
Ngày 15/05/1939 thấy cơ duyên đã đến,ông tổ chức lễ khai đạo tại làng Hòa
Hảo,cho ra đời môn phái Hòa Hảo.
2.Sự phát triển
Khi thuyết giảng về đạo pháp,Huỳnh Phú Sổ có nói về viễn cảnh thái bình
của đất nước,tinh thần đấu tranh chống giặc,bài xích quan lại tham tàn,ca ngợi
gương chiến đấu của các anh hùng dân tộc….điều đó đã đáp ứng được tình cảm
của đa số nông dân.số người theo ông ngày một đông.
2.1.Thời kỳ Nhật xâm chiếm


Cuối những năm 1940 số tín đồ của đạo Hòa Hảo có đến vài trăm ngàn
người.Sang năm 1941, đạo Hòa Hảo tiếp tục gia tăng số lượng tín đồ của
mình một cách nhanh chóng,cùng đó cả Nhật và Pháp đều muốn lợi dụng đạo
Hòa Hảo để phục vụ mưu đồ chính trị của mình. Khi Nhật vào Đông Dương họ
đã đặt quan hệ với Hòa Hảo để lật pháp nhưng không thành.Pháp lo ngại Huỳnh
Phú Sổ theo Nhật ,nên bắt và giam ông ở nhiều nơi như: Châu Đốc,Sa Đéc, Cần
Thơ,Bạc Liêu.
Năm 1942, Nhật đưa giáo chủ Hòa Hảo về Sài Gòn. Tại đây ông đã vận động
được nhiều nhân vật hoạt động chính trị thân Nhật vào đạo Hòa Hảo để tăng
cường hoạt động chính trị,tổ chức vũ trang.
Tháng 3/1945 Huỳnh Phú Sổ được Nhật giao đi vận động phong trào khuyến
nông,tuyên truyền thuyết “Đại Đông Á” kêu gọi thanh niên vào lực lượng vũ
trang.

Tháng 8/1945 ông có tham gia tổng khởi nghĩa.sau đó được mời tham gia ủy
ban kháng chiến Nam Bộ,với tư cách là đại biểu cho đồng bào theo đạo Hòa
Hảo.
Năm 1946, Huỳnh Phú Sổ cùng với những người lãnh đạo Hòa Hảo
thành lập tổ chức việt Nam Dân chủ Xã hội Đảng gọi tắt là "Đảng Dân xã"
vào Tháng Chính năm 1946 bao gồm lực lượng nòng cốt trong Hòa Hảo và tổ
chức Việt Nam Quốc gia Độc lập Đảng. Đảng Dân xã có điều lệ và chương
trình hành động, cơ cấu tổ chức riêng, có vai trò như một tổ chức chính trị. Từ đó
Hòa Hảo vừa có đạo vừa có đảng mang hình thức gần với một tổ chức chính trị.
Khối Hòa Hảo còn tổ chức lại lực lượng vũ trang vào Tháng 6 năm 1946 mang
tên "Nghĩa quân Cách mạng Vệ quốc liên đội nguyễn Trung Trực"
2.2 1947-1963 lực lượng võ trang.


Năm 1947 ông qua đời trong một biến cố ở Đốc Vàng-Châu Đốc.Nhân đó
bọn phản động lôi kéo các tín đồ phản đối,chống Việt Minh.Pháp ào ạt vũ trang
cho Hòa Hảo,lập các vùng căn cứ chống lại kháng chiến tiêu biểu là:
-Lê Quang Vinh(Ba Cụt) vùng Long Xuyên
-Trần Văn Soái( Năm Lửa) vùng Cần Thơ.
-Lâm Thành Nguyên( Hai Ngoán) vùng Châu Đốc.
- Nguyễn Giác Ngộ vùng Chợ Mới-Long Xuyên.
Những năm 1946,1947,1948 lực lượng vũ trang Hòa Hảo phát triền mạnh với
khẩu hiệu:” cứu nước,chống cộng,giữ đạo,thờ thầy”tổ chức nhiều cuộc tấn công
vào cơ sở kháng chiến ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, gây thiệt hại cho cách
mạng.
Đến năm 1954 tổng số tín đồ đạo Hòa Hảo khoảng trên 1 triệu người.
Năm 1955 Chính phủ Đệ nhất cộng hòa được thành lập và mở những
cuộc hành quân như "Chiến dịch Đinh Tiên Hoàng" rồi "Chiến dịch Nguyễn
Huệ" để bình định các giáo phái thống nhất quân lực. Các lãnh tụ Hòa Hảo
như tướng Trần Văn Soái (biệt danh Năm Lửa) rút về cố thủ Đồng Tháp.Quang

Vịnh (Ba Cụt) thì đem quân về chống giữ ở Châu Đốc, long Xuyên, Rạch Giá.
Bị truy nã Trần Văn Soái ra hàng còn Lê Quang Vinh thì bị bắt, sau đem xử tử
2.3. Thời kì 1963-1975
Năm 1964 đạo Hòa Hảo có sự củng cố lại về tổ chức, xây dựng mở
mang các cơ sở tôn giáo, văn hóa, xã hội. Hệ thống Ban trị sự được kiện toàn từ
trung ương đến cơ sở (hình thành cơ cấu tổ chức 4 cấp trung ương, tỉnh, huyện,
xã). Đảng Dân xã cũng được củng cố để hỗ trợ cho đạo, đồng thời cơ quan lãnh
đạo Hòa Hảo có sự phân đôi thành 2 ban trị sự trung ương: phái cũ do Lương
Trọng Tường, phái mới do Huỳnh Văn Nhiệm đứng đầu.Năm 1972 Lê Quang
Liêm tách ra khỏi phái cũ của Lương Trọng Tường thành lập ban trị sự trung


ương mới. Lúc này đạo Hòa Hảo có tới 3 ban trị sự trung ương cùng tồn tại cho
đến thống nhất đất nước. Dù phân hóa, Phật giáo Hòa Hảo tiếp tục phát triển vào
thời Đệ nhị Cộng hòa trong đó một sự kiện lớn là việc thành lập Viện Đại học
Hòa Hảo năm 1972 ở Long Xuyên. Khi chính thể Việt Nam Cộng hòa sụp đổ thì
các nhóm Hòa Hảo điều hành tổng cộng sáu trường trung học phổ thông, một
viện đại học và hai bệnh viện. Tất cả những cơ sở này bị chính quyền mới tịch
thu.
Đầu tháng 5/1975 tổ chức đảng Dân Xã tan rã,Ban trị sự giải tán,đạo Hòa
Hảo trở lại thành một tôn giáo khuyến thiện.
2.4. Thời kì sau 1975
Ở những năm 1975 số tín đồ của đạo Hào Hảo đã có khoảng 2 triệu người
Đạo Hòa Hảo ra đời trong tình hình chính trị phức tạp, từng bị các thế lực phản
động lôi kéo lợi dụng.Trên thực tế sự lợi dụng này có lúc khá nặng nề, gây thiệt
hại cho cách mạng và còn tạo ra tình trạng chia rẽ không bình thường trong nội
bộ của đạo Hòa Hảo. Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, ngày 19-6-1975,
Tổ đình đạo Hòa Hảo tuyên bố giải tán. Ban trị sự các cấp, kêu gọi tín đồ tu tại
gia như lúc đầu. Cho đến đầu năm 1999, đạo Hòa Hảo không có tổ chức giáo
hội, tín đồ tu tại gia.Hàng năm đến ngày khai đạo (18 tháng 5 Âm lịch) các tín đồ

tổ chức hành hương về Tổ đình (nơi sinh sống của gia tộc ông Huỳnh Phú Sổ).
Ngày 26-5-1999, Đại hội đại biểu đạo Hòa Hảo lần thứ I được tổ chức tại An
Giang, thông qua chương trình đạo sự, quy chế tổ chức, hoạt động của Ban đại
diện, đồng thời đã bầu ra Ban Đại diện nhiệm kỳ I và ngày 11-6-1999, Ban Tôn
giáo của Chính phủ đã chấp thuận quy chế đạo Hòa Hảo, tổ chức hoạt động và
nhân sự của Ban đại diện và cho đến nay, hoạt động của đạo Hòa Hảo đã trở nên
bình thường.Các tín đồ Hòa Hảo làm tốt việc đời,việc đạo,mong xây dựng đời
sống ấm no hạnh phúc.


Tuy nhiên có không ít kẻ phản động mượn danh đạo để chống phá cách
mạng,hò la “hiệp tác liên tôn” để “chấn hưng Tổ Quốc. Tháng 4/2001 Lê Quang
Liêm,tự xưng là người đứng đầu hệ phái phật giáo Hòa Hảo tuyên truyền xuyên
tạc về các chủ trương chính sách của đảng,âm mưu của Lê Quang Liêm là gây
biểu tình,chống phá nhà nước

III: Cấu trúc đạo Hòa Hảo
1: Cấu trúc đạo hòa hảo
1.1: giáo lý hòa hảo
Giáo lý Hòa Hảo được thể hiện trong những bài sấm kệ do Huỳnh Phú Sổ
biên soạn, bao gồm 6 tập:
1. Sấm khuyên người đi tu niệm
2. Kệ của người Khùng
3. Sấm giảng
4. Giác mê tâm kệ
5. Khuyến thiện
6. Những điều sơ học cần thiết của kẻ tu hiền
Giáo lý Hòa Hảo là sự tiếp thu và nâng cao tư tưởng Bửu Sơn Kỳ Hương,
gồm phần “Học Phật” và phần “Tu Nhân”.
Nội dung giáo lý có hai phần : Học Phật và Tu Nhân

Phần Học Phật: chủ yếu dựa vào giáo lý Phật giáo là ác pháp, chân pháp và
thiện pháp.
- Ác pháp:là các pháp làm trở ngại cho thiện pháp, gây nên tội lỗi khiến con
người không thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi
Trong các pháp có:
*Tam ngiệp
+Thân nghiệp gây ra sát sinh,trộm cắp,tà dâm
+Khẩu nghiệp gây ra nói dối,nói hai mặt.


+Ý nghiệp gây tham lam, giận dữ, si mê
*Thất tình gồm các trạng thái tình cảm: mừng,giận,buồn,gét,muốn,sợ.
*Lục dục:6 điều ham muốn là: danh vị,tài ,lợi,sắc đẹp,dục vọng,tật đế.Ở đây ta
thấy lục dục đạo Hòa Hảo mang tính xã hội,còn đạo phật mang tính cá nhân.
*Ngũ uẩn:tham, sân, si, nhân, ngã là 5 thứ tạo cho con người đần độn,ngu si, tối
tăm,cảm trở đễn chỗ siêu thoát, nguyên nhân tạo nên sự khổ,tạo sự luân hồi.
*Tứ đồ tường là bốn bức tường làm cho con người sa ngã,nhốt chặt trong tối tăm
tội lỗi. Đó là tử, sắc, tài, khí.
- Chân pháp: là các pháp phá tan những mê hoặc, tối tăm, giúp trí bừng sáng để
giác ngộ chân lý.Thuộc về chân pháp có:
+Tứ diệu đế: khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế
+Thập nhị nhân duyên
+Ngũ trược là 5 thứ nhơ bẩn làm ô nhiễm than tâm,mải say đắm trong cõi trần
ai,trụy lạc gồm: kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sanh trược, mạng
trược.
- Thiện pháp: là các pháp lành, con người cần tu tập để trở thành người tốt, sửa
thân tâm cho trong sạch.,Thiện pháp gồm có:
* Bát chính đạo là 8 con đường tu hành chân chính nếu ai theo được sẽ diệt trừ
được cái ác do thân, khẩu, ý tạo ra gồm: chính kiến,chính nghiệp, chính mạng,
chính ngữ diệt, chính tư duy, chính tinh tiến, chính định, chính niệm.

* Bát nhẫn là 8 điều nhẫn nhịn để vượt qua được những thử thách trong xử thế
và tu tập:
+Nhẫn năng:giữ cách xử thế với đời.
+Nhẫn giới: giữ nghiêm giới luật
+Nhẫn hương lân: giữ tình làng xóm
+Nhẫn phụ mẫu: giữ tình hiếu thảo với cha mẹ
+Nhẫn tâm: giữ lòng an định


+Nhẫn đức: giữ cho tính điềm đạm
+Nhẫn thành: giữ thành tâm thành tín.
Phần học phật của đạo Hòa Hảo cho rằng con người ta do tam nghiệp, lục
dục, ngũ uẩn, ngũ trược…nên phạm các điều các, chịu đau khổ trong vòng luân
hồi sinh tử. chỉ khi có chân pháp, hiểu được tứ diệu đế, thập nhị nhân duyên thì
mới diệt được ác pháp và đồng thời phải tu theo bát chính đạo, chịu “ bát nhẫn”
thì mới có thiện pháp để thoát khỏi luân hồi sinh tử trở thành bậc hiền nhân
Phần Tu Nhân: Tu Nhân là tu “tứ ân hiếu nghĩa”, bao gồm: ân tổ tiên cha mẹ,
ân đất nước, ân đồng bào nhân loại, ân tam bảo (Phật, Pháp, Tăng).
- Ân tổ tiên cha mẹ: phải hiếu nghĩa, nghe lời răn dạy, không làm điều xấu,
chăm sóc cha mẹ lúc già yếu ốm đau.
- Ân đất nước: yêu quê hương, góp phần làm cho quê hương giàu mạnh, bảo
vệ đất nước khi có ngoại xâm, không được phản bội làm tay sai cho ngoại bang.
- Ân đồng bào nhân loại: Đồng-bào ta và ta cùng chung một chủng-tộc, cùng
một nòi-giống rồng tiên, cùng có những trang lịch-sử vẻ-vang oanh-liệt, cùng
tương trợ lẫn nhau trong cơn nguy- biến, cùng chung phận-sự đào-tạo
một tương-lai rực rỡ trong bước tiền đồ của giang-sơn đất nước. Đồng-bào ta và
ta có một liênquan mật-thiết không thể rời nhau, chẳng thể chia nhau và
chẳng khi nào có ta mà không có đồng-bào, hay có đồng-bào mà không có ta.
Thế nên ta phải ráng giúp đỡ họ hầu đền đáp cái ơn mà ta đã thọ trong muôn
một.

- Ân tam bảo: tôn kính tam bảo ghi nhớ công ơn khai mở trí huệ cứu
vớt chúng sinh ra khỏi vùng luân hồi khổ ải.
Đạo Hòa Hảo khuyên tín đồ vừa học Phật vừa tu nhân để tạo nên
công đức.Có công đức để trở thành bậc hiền nhân. Song, họ đặc biệt yêu cầu tín
đạo phải tu nhân, cho rằng việc tu hành phải dựa trên đạo đức, trước hết đạo
làm người: Thiên kinh vạn điển, hiếu nghĩa vi tiên (Không có tu nhân thì


không thể học Phật, hoặc học Phật mà chẳng tu nhân thì cũng vô nghĩa); Dụng
tu Tiên đạo, tiên tu Nhân đạo; Nhân đạo bất tu, Tiên tu viễn ký (Muốn tu thành
Tiên Phật trước hết phải tu đạo làm người, đạo người mà không tu thì Tiên Phật
còn xa vời)
1.2. Giáo chủ
Đạo Hòa Hảo ra đời tại làng Hòa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc (nay
thuộc thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang) vào năm 1939 do
Huỳnh Phú Sổ, sinh ngày 15 tháng 11 năm 1920 (tức 25/11 Kỷ Mùi)thành
lập,ông là con của Huỳnh Công Bộ, một con người điềm đạm trầm tính, ít nói,
thường xa lánh chốn đông người ồn ã. Ông được cha cho học hết bậc sơ PhápViệt tại một trường ở huyện, có năng khiếu thơ, văn và thông minh, nhạy cảm.
Nhưng do sức khỏe luôn đau ốm nên ông không tiếp tục học lên bậc cao hơn.
Ông phải lên núi Cấm tìm thầy chữa bệnh và tại đây ông đã tu theo phái Bửu sơn
Kỳ Hương do Phật thầy Đoàn Minh Huyên (1807-1856) làm giáo chủ.
Huỳnh Phú Sổ tự nhận mình là bậc "sinh như tri", biết được quá khứ nhìn
thấu tương lai, được thọ mệnh cùng với Phật A-di-đà và Phật Thích-ca mâu-ni,
xuống hạ giới có nhiệm vụ truyền bá cho dân chúng tư tưởng Bửu Sơn Kỳ
Hương để "Chấn hưng Phật giáo, cứu độ chúng sinh khỏi sông mê, biển khổ và
đưa tới chốn Tây phương cực lạc". Ông chữa bệnh cho người dân bằng các bài
thuốc đã học và chính những lúc đi chữa bệnh đó ông đã kết hợp rao giảng về
Tứ ân hiếu nghĩa của Phật thầy Tây An Đoàn Minh Huyên qua những bài sấm
kệ do ông soạn thảo. Vì vậy chỉ trong vòng 2 năm từ 1937 đến 1939 số người
tin theo ông đã khá đông và ông trở nên nổi tiếng khắp vùng. Ngày 15tháng 5

năm Kỷ Mão (tức 4/7/1939) được ông chọn làm ngày khai đạo, khi ông chưa
tròn 20 tuổi.Nơi tổ chức lễ khai đạo chính là gia đình ông. Ông đã lấy tên ngôi
làng Hòa Hảo nơi mình sinh ra để đặt tên cho tôn giáo mới của mình: đạo Hòa


Hảo hay Phật giáo Hòa Hảo. Ông đã được các tín đồ suy tôn làm giáo chủ
Hòa Hảo.
Huỳnh Phú Sổ được xưng tụng là Phật thầy mượn thân xác mình để cứu độ
chúng sinh. Ông làm nhiều bài ca dao, thơ ca, nói thiên cơ, sau được tập hợp lại
thành bài giảng "Giác mê tâm kệ" có phần gần gũi tư tưởng thần bí, tín ngưỡng
dân gian nên trong hoàn cảnh đời sống nhân dân Nam Bộ đầu những năm 40
thế kỷ 20 dễ đi vào lòng người, được quần chúng tin theo. Người tính dồ Phật
Giáo Hòa Hảo có một câu răn lòng mình là: "Một đời, một đạo đến ngày
chung thân".
1.3:Nghi lễ và tổ chức
Đạo Hoà Hảo chủ trương tu tại gia hơn là đi lễ chùa. Họ chủ trương giúp đỡ
người nghèo hơn là cúng tiền xây chùa hay tổ chức lễ hội tốn kém. Những buổi
lễ được tổ chức rất đơn giản và khiêm tốn, không có ăn uống, hội hè. Lễ lộc,
cưới hỏi hay ma chay không cầu kỳ như thường thấy ở những tôn giáo khác. Họ
cho đó là những sự phung phí thay vì dùng tiền đó dể giúp đỡ những người thực
sự cần đến.
Đạo Hòa Hảo không có tu sĩ, không có tổ chức giáo hội mà chỉ có một số
chức sắc lo việc đạo và cả việc đời. Không có nơi thờ công cộng, trung tâm của
đạo ở làng Hòa Hảo gọi là tổ đình cũng chỉ mang tính gia tộc. Đạo này không
xây dựng chùa chiền, không có tượng ảnh thờ. Vật thờ của đạo Hòa Hảo là
miếng vải đỏ (trần điều) trên bàn thờ (còn gọi là trang thờ) đặt ở gian chính giữa
và xây một bàn thông thiên ở sân trước của nhà. Việc thờ phụng này thể hiện tư
tưởng của Phật giáo: "Phật tại tâm, tâm tức Phật". Đạo Hòa Hảo thờ Phật, ông bà
tổ tiên và các anh hùng tiên liệt có công với đất nước, không thờ các thần thánh
nếu không rõ nguyên nhân.

Lễ vật khi thờ phúng cũng rất đơn giản chỉ có hoa và nước lạnh (nước mưa,
nước lọc tinh khiết). Ban đêm đốt đèn ở bàn thờ trong nhà và bàn thờ thông


thiên. Khi thờ tín đồ chỉ đọc sấm giảng do thầy Huỳnh Phú Sổ soạn và niệm lục
tự Nam-mô-a-di-đà-Phật với mục đích tĩnh tâm.
Ngoài ra đạo Hòa Hảo còn có một số quy định về tôn giáo và quan hệ gia
đình, xã hội. Ví dụ người nhập môn phải tuyên thuệ trước Tam Bảo, nam tín đồ
phải để vấn tóc (búi) để giữ hiếu nghĩa với ông bà tổ tiên, tín đồ phải thực hiện
ăn chay từ thấp đến cao (4 đến 10 ngày trong 1 tháng hoặc trường chay như đạo
Cao Đài, ngày tín đồ phải 2 lần cầu nguyện và khấn lạy trước bàn thờ (sáng, tối).
Lời khấn nguyện khi cúng lễ của tín đồ Hòa Hảo là câu Nam mô nhất nguyện,
Thiên hoàng, Địa hoàng, Nhân hoàng, Liên hoa hải hội, thượng Phật từ bi, Phật
vương độ chúng, thế giới bình an.
Các ngày lễ tết
Trong một năm, theo âm lịch đạo Hòa Hảo có các ngày lễ, Tết chính:
Ngày 1 tháng Giêng: Tết Nguyên Đán
Ngày Rằm tháng Giêng: Lễ thượng nguyên
Ngày 8 tháng 4: Lễ Phật đản
Ngày 18 tháng 5: Lễ khai đạo
Ngày Rằm tháng 7: Lễ trung nguyên
Ngày 12 tháng 8: Vía Phật thày Tây An
Ngày Rằm tháng 10: Lễ hạ nguyên
Ngày Rằm tháng 11: Lễ Phật A-di-đà
Ngày 25 tháng 11: Lễ sinh nhật giáo chủ Huỳnh Phú Sổ
Ngày 8 tháng Chạp: Lễ Phật thành đạo
1.4:Niềm tin
Sở dĩ Ngài trổ tài "dùng huyền diệu của Tiên gia" chữa bệnh một cách thần
diệu như thế là để chứng tỏ Ngài không phải là hạng phàm nhơn như mọi người
đều biết; từ nhỏ đến lớn Ngài chưa từng có học trị chữa bệnh nhân đâu ? Nhưng

lại trị đâu hết đó, nhất là những bệnh đau tà hay điên cuồng thì càng làm cho


người đời phải đặt ra câu hỏi: Đây có lẽ có phải là một vị Tiên, Phật, Thánh,
Thần chi chi mượn xác phàm để ra đời cứu thế chăng?
Từ chỗ nghi ngờ phát sanh lòng tin tưởng Nghi sanh Tín). Ðức tin đó càng ngày
càng tăng trưởng do hành động hay phương pháp chữa trị của Ðức Huỳnh Giáo
Chủ.
- Chữa căn ( giải đáp nguồn gốc phát sinh bệnh tật, bệnh do yếu tố gì gây nên,
do đó bệnh căn học là một vấn đề cơ bản của y học)chứ không chữa quả, nghĩa là
bệnh nào đau căn thì Ngài nhận chữa, còn bệnh nào đau về nghiệp quả(gieo nhân
nào thì gặp quả nấy)thì Ngài từ chối. Như có lần (ở Nhơn Nghĩa) có một bệnh
điên chở đến; Ngài cũng cho uống thuốc và làm cho con bệnh bớt điên, nhưng
Ngài bảo thân nhân chở về nhà, rán cầu nguyện và làm phước may ra mới bớt.
Điều này chứng tỏ Ngài soi rõ căn quả của con bệnh, bệnh nào thuộc về căn,
bệnh nào thuộc về quả. Đó cũng là bằng chứng Ngài là bực siêu phàm mới có
năng khiếu ấy.
- Trong lúc chữa trị, với những bệnh hung tợn, Ngài thường kêu gọi chư Thần,
chư vị sai khiến, như bảo trói hay khảo tra thì liền sau đó con bệnh tự trói lấy, tự
lấy roi đánh vào người rồi lăn lộn than khóc van xin Ngài không cho khảo tra
nữa, nó cũng công khai. Ngài sai khiến luôn cả chư thần như thế, hẳn Ngài là
bực phi phàm: Phật Tiên Thần Thánh mới có uy lực sai thần tróc quỉ như vậy.
- Có nhiều chứng bệnh Ngài không chữa bằng phương pháp huyền diệu như
cho uống lá cây hay các thứ bông mà lại bằng phương pháp thường của một vị
lương y như bao nhiêu lương y trong làng, nghĩa là Ngài ra toa, rồi cầm toa ấy lại
tiệm thuốc Bắc, hốt thuốc về sắc uống. Ngài có học thuốc Bắc hồi nào đâu?Thế
mà Ngài viết các tên thuốc rất đúng, đến các thầy thuốc Bắc cũng phải kinh
ngạc.Điều này chứng tỏ Ngài không phải là hạng thường nhơn.
- Mỗi khi Ngài chữa bệnh, thường bắt con bệnh uống nước cúng Phật và khi
lành mạnh, bắt phải lạy bàn thờ Phật. Ngoài ra Ngài còn dạy khi về nhà rán niệm



Phật và cầu nguyện, làm lành lánh dữ. Sau ngày Ngài chính thức mở đạo, nếu ai
muốn qui y thì Ngài nhận cho qui y và bắt phải học các bài nguyện rồi về lập bàn
thờ Phật, hằng đêm lễ bái.điều này chứng tỏ Ngài qui ngưỡng theo Phật, như
Ngài nói “Ta thừa vưng sắc lệnh Thế Tôn, Xuống hạ giái truyền khai đạo pháp”
đây đúng là một trong hàng ngũ Phật Thánh.
- Từ ngày Ngài ra chữa trị, độ bệnh cứu đời, thường sai khiến chư thần chư
vị thì những đồng bóng hay cốt ông này, bà nọ không còn dám về đồng hay nhập
cốt nữa. Chủ nhân quá tha thiết cầu thỉnh thì có vị về cho biết rằng: Nay có Phật
ra đời cứu dân độ thế, uy lực rất lớn nên chúng tôi không dám về đồng hay bén
mảng lại gần, vì tự nhận thấy mình là phần còn thấp kém, nên không dám lại gần
các hàng Phật Thánh, sợ bị chư thần chư vị đánh đuổi.
Do đó mà người trong làng được biết phần thiêng liêng hay Ðức Huỳnh
Giáo Chủ về mặt siêu hình là một vị có phẩm trật cao siêu trong hàng Phật
Thánh.
Do những phương pháp chữa trị huyền diệu, cũng như ngôn hành của Ðức
Huỳnh Giáo Chủ thì thiết nghĩ đối với đời mà người ta nhận Ngài là một đấng
siêu phàm. Hoặc vì nhờ được “mạnh mà cảm lòng từ bi của chư vị với Trăm
Quan”, nên người đời qui ngưỡng theo Ðức Huỳnh Giáo Chủ và đặt cả Ðức tin
vào sự cứu độ của Ngài.
2:Ưu nhược điểm đạo Hòa Hảo:
2.1: ưu điểm:
-là chỗ dựa tinh thần của người dân khi niềm tin vào cuộc sống bị bế tắc trong
cuộc sống lầm than dưới ách thống trị của kẻ xâm lăng, đạo hòa hảo còn giáo
dục ý thức người dân hướng thiện trước sự xâm nhập của trào lưu văn hóa
phương tây.
- các tư tưởng đã có đóng góp rất nhiều nhiều cho lịch sử trong những lần vận
động độc lập cho đất nước



-tạo động lực về tinh thần để phát huy hoạt động.
-tăng cường tinh thần đoàn kết tương trợ giúp đỡ lần nhau trong khó khăn
-. Phật Giáo Hòa Hảo cũng đã chứng tỏ được sự cố gắng đóng góp công lao vào
nỗ lực bảo vệ và phát triển quốc gia nối tiếp truyền thống của lực lượng.
2.2:nhược điểm:
-Phật Giáo Hòa Hảo thiếu hẳn các cán bộ thuần túy, hoạt động đôi khi còn thiếu
tổ chức và phương pháp. Nhân sự đông đảo mà thành quả chưa tương xứng.
-Phật Giáo Hòa Hảo không có một “Qũy Tương Trợ” nào dành cung ứng cho
hoạt động xã hội. Mọi trợ giúp đến nay vẫn chỉ trông chờ vào sự đóng góp của
tín đồ. Hẳn nhiên sự tin tưởng đó không mang lại kết quả mong muốn.
-thực lực chia rẽ gây nhiều khó khăn trong hoạt động quản lý,dễ gây ra rối loạn
và bị các thế lực xấu lôi kéo.
-lập trường không đồng nhất.các đại diện không phản ánh đúng trung thực
khuynh hướng mà mình đại diện

IV:Các chính sách và hoạt động quản lí nhà nước về tôn giáo:
1:các chính sách của nhà nước đối với tôn giáo:
Trước tình hình tôn giáo ở Việt Nam hiện nay, với chính sách tự do tín
ngưỡng, tôn giáo đúng đắn và nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam, đông
đảo chức sắc, tín đồ các tôn giáo đã phát huy truyền thống yêu nước, gắn bó,
đồng hành cùng dân tộc, đoàn kết đồng bào tôn giáo với đồng bào không theo
tôn giáo, hăng hái tham gia các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, tham gia
xây dựng và củng cố quốc phòng, đảm bảo an ninh trật tự, góp phần làm nên
những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới quê hương, đất nước. Nhà nước
Việt Nam tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo được in ấn kinh sách, sửa sang,
làm mới cơ sở thờ tự, tổ chức sinh hoạt bình thường. Hoạt động xã hội, nhân
đạo, từ thiện của các tôn giáo ngày càng được mở rộng. Các tổ chức giáo hội



từng bước được củng cố; quan hệ của tôn giáo với Nhà nước ngày càng được
hoàn thiện.
Nhìn chung, đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào tôn giáo những năm
qua được nâng lên, đa số chức sắc, chức việc, tín đồ phấn khởi, tin tưởng trước
những thành tựu đổi mới của đất nước và chủ trương của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo; các tôn giáo luôn đồng
hành cùng dân tộc, hành đạo theo pháp luật, tích cực tham gia phát triển kinh tế,
xã hội, xóa đói giảm nghèo, làm từ thiện, xây dựng đời sống văn hóa,… góp
phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cùng nhau xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có
nhiều chủ trương, chính sách về tôn giáo và công tác tôn giáo, như Nghị quyết số
24 của Bộ Chính trị (khóa VI); đặc biệt sau khi có Nghị quyết 25/NQ-TW ngày
12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về “công tác tôn
giáo”, các tỉnh, thành phố đều xây dựng chương trình hành động; nhiều tỉnh,
thành phố có Nghị quyết chuyên đề về công tác tôn giáo, thành lập Ban chỉ đạo
công tác tôn giáo để chỉ đạo thống nhất trong hệ thống chính trị thực hiện công
tác tôn giáo.
Nhận thức của cấp ủy Đảng, chính quyền, các cơ quan quản lý về công tác
tôn giáo được nâng lên, trong xử lý những vấn đề liên quan đến tôn giáo đã vận
dụng linh hoạt hơn các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước vào hoàn cảnh cụ thể của từng địa phương, giải quyết tương đối kịp thời
các nhu cầu chính đáng về sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào; tạo điều
kiện giúp đỡ các giáo hội, chức sắc sinh hoạt tôn giáo đúng pháp luật.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội, các tổ chức xã
hội tích cực vận động đồng bào các tôn giáo thực hiện phương châm sống “tốt
đời, đẹp đạo”, chấp hành tốt chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà


nước, tham gia phát triển kinh tế - xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc,

thực hiện tốt cuộc vận động “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu
dân cư”. Các đoàn thể đẩy mạng công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương,
đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước trong đồng bào tôn
giáo, tích cực phát triển đoàn viên, hội viên, tăng cường xây dựng lực lượng
nòng cốt cho phong trào quần chúng ở địa phương.
Công tác quản lý Nhà nước có chuyển biến, đã từng bước xây dựng và hoàn
thiện khung pháp lý về tôn giáo. Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp
lệnh tín ngưỡng, tôn giáo; Chính phủ có Nghị định số 22/NĐ-CP ngày 01/3/2005
Hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo…
Chính phủ và các địa phương đã giải quyết kịp thời, đúng quy định pháp luật
về nhu cầu hoạt động tôn giáo và một số nhu cầu chính đáng của các tổ chức, cá
nhân tôn giáo, như phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, thuyên chuyển chức sắc
các tôn giáo; cho xây mới và cải tạo nhiều cơ sở thờ tự. Nhiều tỉnh, thành đã tích
cực giải quyết việc lập hồ sơ, xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho
các tôn giáo; tạo điều kiện thuận lợi để các tôn giáo sinh hoạt bình thường, đúng
theo tinh thần Nghị quyết hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7
(khóa IX) về Công tác tôn giáo đã nêu: Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần
của một bộ phận nhân dân, đã, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đảng, Nhà nước Việt Nam thực hiện
nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc trong quá trình xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận
động quần chúng. Công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị.
Mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp
theo quy định của pháp luật.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng khẳng định: “Tiếp tục
hoàn thiện chính sách, pháp luật về tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng


trong giai đoạn mới của đất nước; động viên các tổ chức tôn giáo, chức sắc tín đồ
sống tốt đời đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc. Quan tâm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo
hiến chương, điều lệ của các tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận,
đúng quy định của pháp luật. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh với hành vi lợi
dụng tôn giáo, để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc”. Để thực hiện
tốt chính sách tôn giáo theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, trong
những năm tới, cần làm tốt những nhiệm vụ cụ thể sau:
Một là, thực hiện có hiệu quả chủ trương, chính sách và các chương trình
đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng của Đảng, Nhà nước, quan
tâm đúng mức đối với các vùng trọng điểm: Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ,
không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và dân trí cho nhân dân trong
đó có đồng bào các tôn giáo.
Hai là, nâng cao nhận thức, thống nhất quan điểm chỉ đạo của cấp ủy
Đảng, chính quyền, các ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể đối với công
tác tôn giáo. Trên cơ sở triển khai nghiêm túc các chỉ thị, nghị quyết của Đảng
về tôn giáo, trong cán bộ, đảng viên và nhân dân làm cho cán bộ, đảng viên và
nhân dân làm cho cán bộ, đảng viên nhận thức rõ yêu cầu nhiệm vụ của công tác
tôn giáo
Ba là, đẩy mạnh công tác tham mưu, từng bước hoàn thiện cơ chế, chính
sách đối với công tác tôn giáo, tích cực tham gia xây dựng các văn bản pháp luật
về tôn giáo, đồng thời bổ sung kịp thời những chính sách đối với tôn giáo ở
những vùng, miền khác nhau. Trước mắt, làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến
pháp luật về tôn giáo để thống nhất nhận thức về công tác tôn giáo trong hệ
thống chính trị, trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Tập trung tuyên truyền sâu
rộng Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo; Nghị định của Chính phủ về hướng dẫn thi
hành một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo; Chỉ thị 01/CT-TTg của


Thủ tướng Chính phủ vè một số công tác đối với đạo Tin lành; các địa phương
đảm bảo tốt thông tin hai chiều, tập trung giải quyết kịp thời những vấn đề
vướng mắc, nảy sinh trong công tác tôn giáo như: đất đai, cơ sở thờ tự, tự do tín

ngưỡng, tôn giáo của nhân dân.
Bốn là, thực hiện tốt hơn công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo, tạo điều
kiện giúp đỡ Đại hội, Hội nghị thường niên của các tổ chức tôn giáo, xem xét
cho đăng ký hoạt động một số tổ chức tôn giáo theo quy định của pháp luật. Xử
lý kịp thời các trường hợp vi phạm pháp luật và mọi hoạt động lợi dụng tín
ngưỡng, tôn giáo để kích động, chia rẽ tôn giáo, dân tộc, gây rối, xâm phạm an
ninh quốc gia; góp phần đảm bảo an ninh chính trị ở địa phương.
Năm là, tăng cường công tác kiểm tra thực hiện chủ trương, các kết luận
của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng và Chỉ thị của Thủ tướng Chính
phủ đối với công tác tôn giáo hiện nay. Xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở
vững mạnh, nhất là đối với vùng đồng bào dân tộc, vùng đông tôn giáo.
Sáu là, Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội phối
hợp chặt chẽ với các ngành chức năng tuyên truyền sâu rộng các chủ trương,
chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước trong chức sắc, tín đồ các tôn giáo. Vận
động chức sắc, tín đồ sống “tốt đời, đẹp đạo” thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ
công dân, tích cực tham gia phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc
phòng và thực hiện cuộc vận động “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn
hóa ở khu dân cư”. Hướng dẫn các tôn giáo hoạt động đúng pháp luật, phát huy
những giá trị văn hóa đạo đức lành mạnh, hướng thiện của các tôn giáo phù hợp
với văn hóa truyền thống dân tộc.
Bảy là, công tác đối ngoại tôn giáo và đấu tranh chống lợi dụng tôn giáo
trong tình hình hiện nay, cần chủ động và tăng cường hơn nữa sự phối hợp giữa
các bộ, ban, ngành, các tỉnh, thành trong việc đối thoại và xử lý những vấn đề
tôn giáo nhạy cảm đang được các thế lực thù địch lợi dụng chiến lược “diễn biến


hòa bình” để xuyên tạc tình hình tôn giáo và chính sách tự do tín ngưỡng, tôn
giáo ở Việt Nam, gây sức ép với Nhà nước về tự do tôn giáo, dân chủ, nhân
quyền. Tích cực triển khai công tác đấu tranh ngăn chặn chống đối trong các tôn
giáo. Thực hiện tốt công tác tranh thủ, động viên và với những phần tử lợi dụng

tự do tín ngưỡng, tôn giáo đi ngược lại tôn chỉ, mục đích và đường hướng hành
đạo của các tổ chức tôn giáo.
Tám là, tiếp tục kiện toàn bộ máy làm công tác tôn giáo của Đảng , chính
quyền, mặt trận tổ quốc, các đoàn thể nhân dân từ Trung ương đến cơ sở đáp ứng
yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ làm công tác tôn giáo các cấp theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ XI, nhất là đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo ở cơ sở. Đồng
thời xây dựng chế độ phụ cấp ưu đãi cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về tôn giáo
nhằm động viên kịp thời cán bộ toàn ngành quản lý nhà nước về tôn giáo.
2: Hoạt động quản lí của nhà nước đối với tôn giáo
Trong các bản hiến pháp của nước ta đều có nêu rõ “ công dân có quyền tự
do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc không theo tôn giáo nào ” tuy nhiên bên cạnh
những sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo lễ hội lành mạnh, tuân thủ pháp luật thì vẫn
còn hiện tượng một số người lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hành nghề mê tín
dị đoan, mê hoặc nhân dân, cao hơn là phá hoại khối đại đoàn kết dân
tộc.....Trước tình hình đó công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo
càng cần được tăng cường, không chỉ trên phương diện vĩ mô mà còn ở các khu
vực , các địa phương trong cả nước.Cụ thể của hoạt động này như sau
A: Đối với việc thành lập và gia nhập các tổ chức tôn giáo
Căn cứ theo điêu 17 pháp lệnh về tín ngưỡng tôn giáo 2004 quy định:
1. Tổ chức tôn giáo được thành lập,chia, tách, sáp nhập, hợp nhất các tổ chức
trực thuộc theo hiến chương, điều lệ của tôn giáo.


2. Việc thành lập chia, tách , sáp nhập , hợp nhất tổ chức tôn giáo cơ sở phải
được sự chấp thuận của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương.
3. Viêc thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo không
thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này phải được sự chấp thuận
của Thủ tương Chính Phủ.

Bên cạnh đó, Nhà Nước còn có những quy định về phạm vi hoạt động của
Hội đoàn tôn giáo, hay các dòng tu, tu viện và các tổ chức tu hành tập thể khác
của tôn giáo muốn hoạt động phải đăng kí với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Tuy nhiên để đảm bảo an ninh trật tự và bảo đảm sự bình đẳng giữa người
theo đạo và không theo đạo, Nhà nước có những quy định cấm không cho nhập
tu đối với người trốn tránh pháp luật và nghĩa vụ công dân. Việc quy định như
vậy đảm bảo cho việc nhập tu được thực hiện minh bạch, trong sáng, tránh
không cho những trường hợp nhập cư với mục đích hay động cơ nhằm trốn tránh
không phải chịu trách nhiệm trước pháp luật hay thực hiện một số nghĩa vụ công
dân, đảm bảo trật tự, an toàn xã hôi.
B: Đối với việc tiến hành các nghi lễ tôn giáo và hoạt động tôn giáo khác.
Nội dung này được Nhà nước khá chú trọng bởi mỗi năm ở khắp trong và
ngoài nước diễn ra rất nhiều nghi lễ cùng như hoạt động tôn giáo. Cụ thể Nhà
nước hướng dẫn các chức sắc tôn giáo nắm vững và thực hiện đúng các quy định
của Nhà nươc về hoạt động đối ngoại của các tôn giáo, về việc cử các chức sắc
hoặc tôn giáo ra nước ngoài , hay đón các đoàn tôn giáo ở nươc ngoài vào Việt
Nam.
Hàng năm, người phụ trách tổ chức tôn giáo cơ sở phải đăng kí với chính
quyền chương trình hoạt động tôn giáo diến ra cơ sở đó, đặc biệt các ngày lễ


trong năm. Tuy nhiên khi có sự thay đổi quan trọng trong chương trình phải báo
cáo và được sự động ý của ủy ban nhân dân cấp xã.
1 :Theo quy định tại phap lệnh tín ngưỡng, tôn giáo cơ sở được tiến hành sau khi
có sự chấp thuận của Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi diễn ra hội nghị, đại hội
2: Việc tổ chức hội nghị, đại hội cấp trung ương hoặc toàn đạo của tổ chức tôn
giáo được tiến hành sau khi có sự chấp thuận của cơ quan quản lý nhà nước về
tôn giáo ở trung ương.
3: Việc tổ chức hội nghị, đại hội của tổ chức tôn giáo không thuộc các trường
hợp quy định tại khoản 1 và 2 Điều nay được tiến hành sau khi có sự chấp thuận

của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi diễn ra hội nghị, đại hội.
 Việc quy định như vậy giúp các cơ quan phân rõ thẩm quyền chấp nhận
của mình, đồng thời giảm thiểu tối đa những hoạt động tôn giáo “ ngoài
luồng” , đảm bảo tốt nhất trật tự tôn giáo do Nhà nước quản lí.
 Bên cạnh đó Nhà nước cho phép các tổ chức tôn giáo được in, xuất bản
các loại sách kinh, các ấn phẩm tôn giáo, đồ dùng việc đạo. Quy định này
giúp các tôn giáo có thể truyền bá một cách đầy đủ về tổ chức tôn giáo của
mình, đồng thời giúp công dân dễ tiếp cận , tìm hiểu và gia nhập các tôn
giáo theo nguyện vọng của mình.
C: Đối với hoạt động quốc tế của tôn giáo, tín ngưỡng, nhà tu hành, chức sắc
Theo quy định, các tổ chức tôn giáo, tín đồ, nhà tu hành, chức sắc có quyền
thực hiện các hoạt động quan hệ quốc tế theo quy định của hiến chương, điều lệ
hoặc giáo luật của tổ chức tôn giáo lợi dụng danh nghĩa để làm những việc ảnh
hưởng đến Nhà nước, nội dung này trong những năm gần đây được đặc biệt
quan tâm, Nhà nước thực hiện hướng dẫn các chức sắc tôn giáo nắm vững và
thực hiện đúng các quy định của Nhà nước về hoạt động đối nội và đối ngoại của
các tôn giáo, đồng thới cử các chức sắc hoặc các đoàn tôn giáo ra nước ngoài
hoặc đón các đoàn tôn giáo nước ngoài vào Việt Nam.


Ví dụ : Việt Nam đã đón và làm việc với đoàn của Hồng y Crescenzio Sepe – Bộ
trưởng Bộ truyền giáo Vatican sang Việt Nam vào tháng 11/2005.
D: Đối với cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo và tài sản của các tôn giáo.
Đối với nội dung này , Nhà Nước bảo hộ tài sản hợp pháp thuộc cơ sở tín
ngưỡng, tôn giáo, và nghiêm cấm việc xâm phạm các tài sản đó, chẳng hạn như
chùa, nhà thờ, thánh đường, thánh đất.... Đất có các công trình do cơ sơ tôn giáo
sử dụng bao gồm chùa, nhà thờ, thánh thất hay trụ sở của tổ chức, tôn giáo được
Nhà nước cho phép hoạt động và được sử dụng ổn định lâu dài.
Tuy nhiên nhà, đất, và các tài sản khác đã được tổ chức, cá nhân tôn giáo
chuyển giao cho các cơ quan nhà nước quan lí thì đều thuộc quyền sở hữu của

Nhà nước. Cơ sở thờ tự của tổ chức tôn giáo đã hiến cho Nhà nước để sử dụng
vào các việc công ích như trường học, bệnh viện...thì không đặt vấn đề trả lại.
Quy định này rất phù không chỉ trên cơ sở pháp luật mà còn trên cả tính nhân
đạo của tôn giáo.
E : Đối với việc đào tạo, bồi dưỡng những người chuyên hoạt động tôn giáo.
Nhà nước tạo điều kiện tối đa cho các tôn giáo đào tạo chức sắc, nhà tu hành
trong nước tại các cơ sở đào tạo đã được Nhà nước cho phép. Ngoài ra, các tôn
giáo có thể cử các chức sắc , nhà tu hành đi đào tạo ở nước ngoài nếu thực sự có
nhu cầu. Nhà nước còn cho phép các giảng viên giảng dạy ở các trường đào tạo
trong nước.
Bên cạnh đó các tổ chức tôn giáo phải đưa các môn học về lịch sử Việt
Nam hay pháp luật Việt Nam vào chính khóa của các trường đào tạo những
người chuyên hoạt động tôn giáo. Với quy định này, Nhà nước dã đưa đường lối,
chủ trương cũng như tôn chỉ mục đích hoạt động của đất nước đến từng tổ chức
tôn giáo, giúp nâng cao vai trò, vị thế của đất nước đối với những giáo dân, mặt
khác trực tiếp tuyên truyền trực tiếp chính sách, hay các quy định của pháp luật


nhằm giúp các giáo dân ở các tổ chức tôn giáo thực hiện đúng đương lối- chủ
trương của Đảng và Nhà nước
3: thực trạng hoạt động và ảnh hưởng của đạo Hòa Hảo đến đời sống người
Việt Nam
3.1 thực trạng hoạt động của đạo Hòa Hảo
Cùng với các chủ trương chính sách và hoạt động quản lý của nhà nước thì
hoạt động của đạo hòa hảo cũng có sự thay đổi và phát triển nhất định.
Phật giáo Hòa Hảo là một tôn giáo ra đời ở Nam Bộ từ những năm 1939,có
số lượng tín đồ tương đối lớn và là một trong những tôn giáo ở Việt Nam đã có
tổ chức hoạt động hợp pháp. Phật giáo Hòa Hảo là một tôn giáo cách tân, có xu
hướng nhập thế, đạo rất coi trọng hoạt động từ thiện xã hội. Vì vậy trong hiến
chương của giáo hội phật giáo Hòa Hảo đã xác định đường hướng hành đạo là

“ vì đạo pháp, vì dân tộc”. Tôn chỉ hành đạo là học phật, tu Nhân, tại gia cư sĩ,
giáo huấn tín đồ về tứ ân ,thực hiện 8 điều dăn cấm, cứu giúp người nguy khó,
tương trợ trong quan,hôn,tang,tế và hoạt động từ thiện hữu ích cho xã hội.
Đồng bào phật giáo Hòa Hỏa đại đa số là nông dân lao động sinh sống ở các
tỉnh,thành phố phía Nam.
Hiện nay tín đồ có mặt ở khắp 24 tỉnh,thành phố nhưng tập trung đông tại
các tỉnh, thành phố Tây Nam Bộ, các tỉnh khác có nhưng số lượng tập trung rất
ít.
Theo thống kê của Ban Tôn Giáo Chính Phủ, hiện nay phật giáo Hòa Hảo có
gần 1,3 triệu tín đồ, về tổ chức giáo hội phật giáo Hòa Hảo có tổ chức 2 cấp :cấp
toàn đạo có tên gọi Ban Trị Sự TW phật giáo Hòa Hảo, cấp cơ sở xã,phường, thị
trấn là Ban Trị Sự phật giáo Hòa Hảo ở cơ sở.
Từ khi phật giáo Hòa Hảo có tư cách pháp nhân ( năm 1999) về tổ chức đến
nay đã trải qua ba kỳ đại hội ( nhiệm kỳ là 5 năm) Đại hội lần I năm 1999 , Đại
hội lần II năm 2004, Đại hội lần III năm 2009 và xây dựng được Hiến chương


×