Tải bản đầy đủ (.doc) (10 trang)

Bài tham khảo về CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHOA HỌC

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (137.45 KB, 10 trang )

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHOA HỌC
VỀ KHU NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO
I. Các khái niệm và cơ sở khoa học về khu nông nghiệp công nghệ cao
I.1. Khái niệm
Từ năm 1986, OECD đã đưa ra một định nghĩa khái quát về công nghệ
cao (CNC) là các ngành công nghệ có một số đặc điểm sau:
- Đòi hỏi một nỗ lực lớn trong nghiên cứu và phát triển (NC&PT);
- Có ý nghĩa chiến lược đối với quốc gia;
- Các sản phẩm và quy trình công nghệ phải được đổi mới nhanh
chóng;
- Có tác động mạnh mẽ về hợp tác và cạnh tranh quốc tế trong NC&PT,
sản xuất và tìm kiếm thị trường trên quy mô thế giới.
Nghị định 99/2003/NĐ-CP ngày 28/8/2003 của Chính phủ về Quy chế
khu CNC đã bước đầu đưa ra định nghĩa cơ bản về CNC như sau:
1. Công nghệ cao là công nghệ được tích hợp từ các thành tựu khoa
học và công nghệ tiên tiến, có khả năng tạo ra sự tăng đột biến về năng suất
lao động, tính năng, chất lượng và giá trị gia tăng của sản phẩm hàng hoá,
hình thành các ngành sản xuất hoặc dịch vụ mới có hiệu quả kinh tế - xã hội
cao, có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc
phòng”
2. Khu công nghệ cao (khu CNC): là khu chuyên NC&PT, ứng dụng
CNC, ươm tạo CNC và/hoặc doanh nghiệp CNC, đào tạo nhân lực CNC, sản
xuất và kinh doanh sản phẩm CNC, có ranh giới địa lý xác định, được thành
lập theo quy định của Chính phủ.
3. Ươm tạo CNC và/hoặc doanh nghiệp CNC: là loại hình dịch vụ hỗ trợ
mục tiêu hoàn thiện, thương mại hóa, ứng dụng và chuyển giao CNC và mới
dựa vào các dịch vụ chuyên môn chất lượng cao liên quan đến kỹ thuật, đầu
tư và chuyển giao công nghệ, pháp lý, khởi sự và phát triển doanh nghiệp
CNC…
I.2. Các ngành công nghệ cao
Đến nay, về cơ bản trên thế giới đã thống nhất về 6 ngành CNC cần tập


trung NC&PT trong thế kỷ XXI, đó là:
1. Công nghệ thông tin
2. Công nghệ sinh học
3. Công nghệ vật liệu mới
4. Công nghệ năng lượng mới
5. Công nghệ hàng không vũ trụ
6. Công nghệ hải dương
I.3. Các loại hình khu công nghệ cao
Khu CNC bao gồm các loại hình sau:
1. Khu CNC đa chức năng (hoặc Khu CNC tổng hợp): là loại hình khu
CNC quy mô lớn, thực hiện đồng đều nhiều chức năng chính gồm nghiên
cứu - phát triển - đào tạo, ươm tạo CNC và/hoặc doanh nghiệp CNC và sản
xuất - kinh doanh sản phẩm CNC. Khu CNC đóng vai trò dẫn dắt nghiên
cứu - phát triển, CNCNC, thúc đẩy ứng dụng và phát triển CNC trong nhiều
ngành khác nhau trên cả nước.
2. Khu công nghiệp công nghệ cao (khu CNCNC): là loại hình khu
CNC tập trung vào các chức năng chính là sản xuất CNCNC, đào tạo và
ươm tạo CNC và/hoặc doanh nghiệp CNC.
3. Khu nông nghiệp công nghệ cao (Khu NNCNC): là loại hình khu
CNC chuyên sâu vào các lĩnh vực CNC phục vụ phát triển nền nông nghiệp
tri thức (nông-lâm-ngư nghiệp); trong đó thực hiện các chức năng chính là
sản xuất - kinh doanh các sản phẩm NNCNC, đào tạo, trình diễn CNC và
ươm tạo CNC và/hoặc doanh nghiệp CNC trong lĩnh vực nông nghiệp.
4. Khu CNC chuyên ngành: là loại hình khu CNC chỉ chuyên sâu vào
một lĩnh vực CNC cụ thể, như: công nghệ phần mềm, công nghệ sinh học, tự
động hóa, cơ điện tử, vật liệu mới…, trong đó tập trung vào một số chức
năng chính là công nghiệp CNC và ươm tạo CNC và/hoặc doanh nghiệp
CNC thuộc các lĩnh vực CNC tương ứng.
I.4. Một số yêu cầu về hình thành và phát triển khu nông nghiệp công
nghệ cao

a) Cở vật chất kỹ thuật
Có cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng và dịch vụ đạt tiêu chuẩn phù hợp
để thực hiện các hoạt động sản xuất - kinh doanh các sản phẩm nông nghiệp
CNC, đào tạo, trình dễn CNC và ươm tạo CNC và/hoặc doanh nghiệp CNC
trong lĩnh vực nông nghiệp.
b) Diện tích
- Tổng diện tích quy hoạch dài hạn của khu tối thiểu rộng 10 hecta;
- Diện tích để thực hiện các hoạt động sản xuất NNCNC nên tối thiểu
chiếm 60% tổng diện tích xây dựng của khu nông nghiệp CNC;
- Diện tích dành cho nghiên cứu - phát triển - đào tạo và ươm tạo có
thể tối đa chiếm tới 20% tổng diện tích xây dựng của khu nông nghiệp CNC.
c) Tiềm lực khoa học - công nghệ của địa phương
Địa phương nơi có dự án xây dựng khu NNCNC ít nhất cần có 01
trường đại học nông nghiệp và 01 viện nghiên cứu - phát triển đã thành
thành lập và hoạt động trên 5 năm; trong đó 15% đội ngũ giáo viên, nghiên
cứu viên đạt trình độ tiến sỹ và 30% đội ngũ giáo viên, nghiên cứu viên đạt
trình độ thạc sỹ thuộc các lĩnh vực CNC của khu.
d) Vị trí địa lý
Địa điểm lựa chọn xây dựng khu CNC phải đáp ứng các điều kiện
sau:
- Trên địa bàn các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Thành phố HCM, Đà
Nẵng, Huế, Nhà Trang, Cần Thơ, Lâm Đồng, Thái Nguyên, các trung tâm
kinh tế, khoa học - công nghệ và phát triển vùng.
- Cách trung tâm các thành phố lớn, sân bay, cảng biển không quá 50
km; và nằm cạnh các trục đường giao thông quốc lộ đã được xây dựng hoặc
trong quy hoạch xây dựng của quốc gia.
II. Chủ trương, chính sách phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở Việt
Nam
Đảng và Nhà nước ta luôn kiên trì chủ trương phát triển KH&CN nói
chung và KCNC nói riêng, trong đó có khu NNCNC. Nghị quyết Đại hội IX

đã nhấn mạnh hơn nữa việc phát triển CNC: “Đi nhanh vào một số ngành,
lĩnh vực sử dụng công nghệ hiện đại, CNC (tin học, sinh học, vật liệu mới,
tự động hóa)” và “Hoàn thành xây dựng những khu CNC và Hệ thống
phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia.”
Nhà nước đã có một số văn bản ban hành liên quan tới phát triển khu
CNC như: Nghị định số 36-CP ngày 24/4/1997 của Chính phủ và các thông
tư, hướng dẫn kèm theo; Nghị định số 99/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày
28/8/2003; Quyết định số 198/19998/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ
ngày12/10/1998 (về việc thành lập khu CNC Hoà Lạc); Quyết định số
95/2003/QĐ-TTG ngày 13/5/2003 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt
quy hoạch tổng thể Khu CNC TP. Hồ Chí Minh, Luật Đầu tư (Luật số
59/2005/QH11), được Quốc Hội Khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua; Nghị
định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22-9-2006 của Chính phủ Quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư.
Riêng về khu NNCNC, nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng
hóa nông sản, đem lại hiệu quả cao cho người sản xuất cũng như nền kinh tế,
ngành nông nghiệp Việt Nam đã đưa ra kế hoạch xây dựng và phát triển mô
hình ứng dụng CNC trong sản xuất nông lâm nghiệp với mục tiêu chuyển
dịch dần nền nông nghiệp truyền thống sang nền nông nghiệp CNC theo hai
hướng: ứng dụng công nghệ cao hơn hiện tại nhưng có mức đầu tư không
cao và ứng dụng ngay các công nghệ tiên tiến của thế giới. Bắt đầu từ đầu
năm 2003, đã có một số địa phương như Đà Lạt, Hải Phòng, Hà Nội, Tp Hồ
Chí Minh, Thái Nguyên, Bắc Ninh v.v... khởi đầu các đề xuất về mô hình
ứng dụng nông nghiệp CNC.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) đã chọn năm
2003 là năm phát động, triển khai xây dựng các mô hình ứng dụng nông lâm
nghiệp CNC. Mục tiêu cụ thể là ứng dụng các CNC trong quy trình sản xuất
nông lâm nghiệp, qua đó nâng cao năng suất, chất lượng và giảm giá thành
nông sản, tạo sức cạnh tranh và nâng cao thu nhập cho nông dân. Về nội
dung phát triển nông lâm nghiệp CNC trong giai đoạn đầu ưu tiên cho các

lĩnh vực: công nghệ cao về sản xuất giống cây trồng/vật nuôi,bảo quản và
chế biến nông sản; công nghệ canh tác/chăn nuôi tiên tiến để tiết kiện đầu
vào; công nghệ sinh học trong sản xuất các sản phẩm chất lượng cao phục
vụ sản xuất nông nghiệp; công nghệ thông tin trong xúc tiến thương mại,
khuyến nông, dự báo dịch bệnh, quản lý cây trồng và giống gia súc...
1
Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định 122/2004/QĐ-TTg ngày
5/7/2004 phê duyệt ‘Chương trình xây dựng mô hình ứng dụng và chuyển
giao KHCN phục vụ phát triển KT-XH nông thôn miền núi giai đoạn từ nay
đến năm 2010’. Triển khai Quyết định này, dự kiến từ nay đến 2007 cả nước
sẽ có tới 82 Dự án và xây dựng 110 mô hình ứng dụng CNC trong nông
nghiệp nông thôn .
II.1. Cơ chế, chính sách liên quan tới phát triển khu công nghệ cao và
khu nông nghiệp công nghệ cao ở nước ta
- Phát triển khu CNC và khu NNCNC ở nước ta đã được đặt trong
chính sách chung về phát triển CNC và công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước.
- Đã đi vào một số khía cạnh cụ thể về khuyến khích, quản lý nhà
nước...
Khuyến khích về đầu tư đã được Điều 43 của Luật Đầu tư số
59/2005/QH11 quy định: "(1) Căn cứ quy hoạch tổng thể phát triển khu
1
Xem thêm Lê Huy Ngọ "Phát triển mô hình nông lâm nghiệp công nghệ cao", Tạp chí Hoạt động khoa
học, số 4/2003, trang 2 -4.
công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế đã được Chính
phủ phê duyệt, các bộ, cơ quan ngang bộ và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh lập kế
hoạch đầu tư và tổ chức xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ
tầng xã hội ngoài hàng rào khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ
cao, khu kinh tế thuộc phạm vi quản lý. (2) Đối với một số địa phương có
địa bàn kinh tế - xã hội khó khăn và địa bàn kinh tế - xã hội đặc biệt khó

khăn, Nhà nước hỗ trợ một phần vốn cho địa phương để cùng với nhà đầu tư
đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng trong hàng rào khu công nghiệp,
khu chế xuất theo quy định của Chính phủ. (3) Nhà nước dành nguồn vốn
đầu tư từ ngân sách và tín dụng ưu đãi để hỗ trợ đầu tư phát triển hệ thống
kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội trong khu CNC, khu kinh tế và áp
dụng một số phương thức huy động vốn để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng
khu CNC, khu kinh tế."
Quản lý nhà nước về khu CNC từng bước được điều chỉnh qua các
văn bản như Nghị định số 36-CP ngày 24/4/1997, Nghị định số
99/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày 28/8/2003, Nghị định số
108/2006/NĐ-CP ngày 22-9-2006 về nội dung quản lý nhà nước đối với khu
CNC, quyền hạn của từng cấp quản lý nhà nước ....
Chính sách tài chính đối với khu CNC. Quyết định số 53/2004/QĐ-
TTg ngày 5/4/2004 của Thủ tướng Chính phủ và Pháp lệnh thuế thu nhập
đối với người có thu nhập cao đã dành các ưu đãi đặc biệt cho khu CNC
nhằm tạo môi trường thuận lợi cho các hoạt động đầu tư thu hút vốn, CNC,
nhân công có trình độ cao trong và ngoài nước, góp phần xây dựng các
ngành công nghiệp CNC làm động lực phát triển kinh tế, tạo thuận lợi để
gắn kết giữa đào tạo - nghiên cứu - phát triển CNC với sản xuất và dịch vụ,
góp phần nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ.
Về thuế TNDN, nhà đầu tư được hưởng thuế suất TNDN là 10% trong
suốt thời gian thực hiện dự án; được miễn thuế TNDN 4 năm kể từ khi có
thu nhập chịu thuế và giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo. Về
thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao: Lãi cổ phần của thành viên đầu
tư vào các cơ sở kinh doanh cổ phần trong lĩnh vực KH&CN, tiền thưởng về
cải tiến kỹ thuật, sáng chế phát minh không phải nộp thuế thu nhập. Thu
nhập về chuyển giao công nghệ trên 15 triệu đồng/lần được áp dụng thuế
suất thấp là 5% tổng thu nhập. Cá nhân là người Việt Nam, người Việt Nam
định cư ở nước ngoài làm việc cho các dự án đầu tư tại khu CNC được miễn,
giảm thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao để bằng mức thuế phải

nộp áp dụng đối với người nước ngoài có cùng mức thu nhập. Ngoài ra, còn
có những ưu đãi về thuế sử dụng đất, về vốn, tín dụng và bảo lãnh

×