Tải bản đầy đủ (.pdf) (20 trang)

Hạn chế của doanh nghiệp việt nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (697.34 KB, 20 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------------

NGUYỄN THU TRANG

HẠN CHẾ CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ
QUỐC TẾ

Chuyên ngành: Quan hệ quốc tế
Mã số: 60 31 40

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Hoàng Khắc Nam

Hà nội – 2009
MỤC LỤC

1


MỤC LỤC
1
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
3
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
4
LỜI NÓI ĐẦU
5


CHƢƠNG 1
QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA DOANH
NGHIỆP VIỆT NAM
8
1.1. .........................................................................................Khái quát về Hội nhập kinh tế quốc tế
1.2. .......................Quá trình phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế của doanh nghiệp Việt Nam
1.3. ............................................................................................................................... Đánh giá chung
CHƢƠNG 2
NHỮNG HẠN CHẾ CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG
HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Error! Bookmark not defined.
2.1. .......................................................................................................Hạn chế từ phía doanh nghiệp
2.2. ....................................................Hạn chế từ môi trƣờng kinh doanh và chính sách nhà nƣớc.
CHƢƠNG 3
GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC HẠN CHẾ CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT
NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾError! Bookmark not defined.
3.1. .................................................................................................................................. Doanh nghiệp
3.2. .............................................................................. Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nƣớc
KẾT LUẬN
Error! Bookmark not defined.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
15

2

8
9
14

Error

Error

Error
Error


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Số lƣợng doanh nghiệp Việt Nam qua các thời kỳ ............................................. 10
Bảng 1.2 Tỉ lệ loại hình doanh nghiệp năm 2005 ................................................................ 11
Bảng 1.3: Số lƣợng doanh nghiệp phân bổ theo vùng 2005 ................................................ 12
Bảng 1.4: So sánh về lao động và nguồn vốn tại Doanh nghiệp từ 2000- 2005 .................. 12
Bảng 1.5: Hiệu quả kinh doanh của các loại hình doanh nghiệp ......................................... 13
Bảng 2.1: Tỉ trọng đầu tƣ của các TĐKT và các TCT ......... Error! Bookmark not defined.
Bảng 2.2 Thực trạng giấy phép và điều kiện kinh doanh .... Error! Bookmark not defined.
Biểu 2.1: Tỉ lệ lao động đƣợc đào tạo .................................. Error! Bookmark not defined.
Biểu 2.2: Tƣơng quan về vốn giữa các loại hình doanh nghiệp (tỉ đồng) Error! Bookmark
not defined.
Biểu 2.3: Quy mô vốn của doanh nghiệp............................. Error! Bookmark not defined.

3


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ADB: Asia Development Bank
Ngân hàng phát triển Châu Á
FDI:
Foreign Development Investment
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
EU:
European Union

Liên minh Châu Âu
IMF:
International Money Fund
Quỹ Tiền tệ Quốc tế
WB:
World Bank
Ngân hàng thế giới
WTO:
World Trade Organization
Tổ chức Thương mại Thế giới

4


LỜI NÓI ĐẦU
Bắt nguồn từ quy luật phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao
động quốc tế, Toàn cầu hoá và Hội nhập kinh tế quốc tế đã thực sự trở
thành xu thế khách quan chi phối sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc
gia và quan hệ quốc tế.
Trong bối cảnh hiện nay, hội nhập kinh tế quốc tế không chỉ đơn thuần giới
hạn trong phạm vi cắt giảm thuế quan mà đã được mở rộng ra tất cả lĩnh
vực liên quan đến chính sách kinh tế thương mại, nhằm mục đích mở cửa
thị trường cho hàng hoá và dịch vụ, loại bỏ các rào cản hữu hình và vô hình
đối với trao đổi thương mại. Đối với Việt Nam, vấn đề đặt ra không phải
là có hội nhập hay không mà là làm thế nào để hội nhập kinh tế quốc tế có
hiệu quả, đảm bảo được lợi ích dân tộc, nâng cao được sự cạnh tranh của
nền kinh tế, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội
trong quá trình hội nhập. Báo cáo Chính trị Đại hội IX của Đảng, nhất là
Nghị quyết 07- NQ/W ngày 27/11/2001 của Bộ Chính trị về Hội nhập kinh
tế quốc tế đã nhấn mạnh quan điểm: “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế

và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn
lực bên ngoài để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững, đảm bảo tính
độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, giữ
gìn an ninh quốc gia, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường
sinh thái.” [10, tr.113]
Theo quan điểm này, hội nhập kinh tế quốc tế trong điều kiện toàn cầu hoá
kinh tế là một quá trình mà trọng tâm là chủ động mở cửa kinh tế, tham gia
phân công hợp tác quốc tế tạo điều kiện kết hợp có hiệu quả nguồn lực
trong nước và nước ngoài, mở rộng không gian và môi trường để phát triển
và chiếm lĩnh vị trí phù hợp trong quan hệ kinh tế quốc tế. Doanh nghiệp là
những đối tượng chính tham gia hội nhập về kinh tế, là yếu tố quyết định
cho sự thành công của hội nhập kinh tế quốc tế, bên cạnh các yếu tố khác
như sự quản lý và chính sách vĩ mô của nhà nước. Và hội nhập kinh tế
quốc tế chính là vận hội lớn giúp cho doanh nghiệp mở rộng kinh doanh,
thâm nhập thị trường thế giới, tìm kiếm và tạo lập thị trường ổn định, từ
đó có điều kiện thuận lợi để xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, phát triển
kinh tế trong nước, thực hiện thắng lợi các mục tiêu của Chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010.
Tuy nhiên, Việt Nam chủ động và tích cực hội nhập khi đang còn là một
nền kinh tế tập trung, nhỏ và yếu, nên những khó khăn, hạn chế và thậm
chí là cả thất bại bước đầu là tất yếu.
1.
Đề tài luận văn: Nhìn nhận được tính khách quan và bản chất
của vấn đề trong những hạn chế của doanh nghiệp Việt Nam, đề
5


xuất ra các phương hướng giải quyết chúng, góp phần đưa Việt
Nam hội nhập kinh tế quốc tế thành công, chính là mục đích cuối
cùng của đề tài. Xuất phát từ mục tiêu trên, em quyết định chọn đề

tài: “Hạn chế của Doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình Hội
nhập kinh tế quốc tế” cho luận văn thạc sĩ của mình, nhằm góp
phần định dạng những trở ngại của doanh nghiệp trong quá trình
phát triển, hội nhập và đề xuất một số giải pháp tương đối khả thi
để giải quyết vấn đề trên.
2.

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là những hạn chế hay khó
khăn bất cập của doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình Hội nhập
kinh tế quốc tế, từ đó đề ra các giải pháp khắc phục để doanh
nghiệp vượt qua các rào cản khách quan và chủ quan để hội nhập
sâu và rộng hơn. Phạm vi không gian nghiên cứu của luận văn là
hoạt động của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh Hội nhập
kinh tế quốc tế. Phạm vi thời gian của Luận văn là từ 2001 – 2007
(sau Đại hội Đảng IX đến nay).

3.

Phương pháp nghiên cứu: Vì đây là luận văn tốt nghiệp ngành
Quan hệ Quốc tế, nên tác giả luận văn đã vận dụng quan điểm của
Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế để đưa ra các nhận định
và giải quyết các vấn đề. Đồng thời, Hội nhập kinh tế cũng là một
hiện tượng trong Kinh tế Quốc tế nên để tìm hiểu các quy luật
vận động của chúng, tác giả luận văn cũng vận dụng các phương
pháp nghiên cứu trong Quan hệ Kinh tế Quốc tế.

4.

Tài liệu tham khảo: Luận văn này được viết dựa trên nguồn tài
liệu chính là các Văn kiện chính thức của các Đại hội Đảng, các

văn bản chính sách của Nhà nước, các Bộ ngành liên quan về thúc
đẩy Hội nhập kinh tế Quốc tế, các tài liệu chính thức của các tổ
chức Hiệp hội doanh nghiệp như Phòng Thương mại và Công

6


nghiệp Việt Nam, Hiệp hội Doanh nghiệp Hà Nội và các bài nghiên
cứu sâu của các học giả kinh tế trong và ngòai nước.
Cấu trúc của Luận văn: Luận văn được viết theo cấu trúc gồm 3

5.

phần: Phần mở đầu, 3 chương nội dung và phần kết luận. Phần
nội dung chính gồm 3 chương:


Chương 1 đưa ra khái quát chung về Hội nhập kinh tế quốc tế,

ý nghĩa vai trò của nó trong quá trình Hội nhập quốc tế là chủ trương
chính sách phù hợp của nhà nước Việt Nam nhằm thúc đẩy và tạo
điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam ngày càng hội nhập sâu vào nền
kinh tế thế giới. Nội dung Chương 1 cũng đưa ra khái quát chung về
doanh nghiệp Việt Nam trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến
năm 2007.


Chương 2 phân tích vào những hạn chế chủ quan và khách

quan của doanh nghiệp trong quá trình Hội nhập kinh tế quốc tế. Hạn

chế chủ quan là những nhân tố yếu kém từ chính bên trong doanh
nghiệp: khả năng lãnh đạo, định hướng thị trường, nguồn vốn và
nhân lực… Hạn chế khách quan là những khó khăn về môi trường
kinh doanh trong nước của doanh nghiệp, những cơ chế chính sách
đặc thù dành cho doanh nghiệp vẫn còn nhiều ràng buộc và chưa thực
sự tạo điều kiện tối đa cho doanh nghiệp.


Chương 3 đề xuất các giải pháp khắc phục những hạn chế và

yếu kém của doanh nghiêp Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế, từ việc nâng cao năng lực cạnh tranh (giá trị nội tại của
doanh nghiệp) đến việc cải thiện môi trường kinh doanh trong nước
cũng như điều chỉnh các chính sách vĩ mô để doanh nghiệp tiếp cận
thị trường quốc tế một cách dễ dàng hơn.

7


QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA
DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
Khái quát về Hội nhập kinh tế quốc tế
Định nghĩa:

Hội nhập kinh tế quốc tế là trình độ cao của quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế.
Hội nhập có nghĩa là gia nhập, tham gia vào một tổ chức chung, một trào lưu
chung của quốc tế, mỗi quốc gia trở thành một bộ phận trong một tổng thể. Hội
nhập kinh tế thường có nhiều mức độ từ nông đến sâu, từ một vài lĩnh vực đến
nhiều lĩnh vực, từ một vài nước đến nhiều nước. [4, tr.34]
Hội nhập theo mức độ liên kết:


-

+ Khu vực thương mại tự do (Free Trade Area)
+ Liên hiệp thuế quan (Customs Union)
+ Thị trường chung (Common Market)
+ Hội nhập kinh tế (Economic Intergration)
+ Hội nhập kinh tế toàn bộ (Total Economic Intergration)
Hội nhập theo địa lý: Hội nhập toàn cầu, hội nhập theo khu vực

-

Hội nhập theo lĩnh vực: thương mại, dịch vụ, tài chính…

Khi hội nhập kinh tế, mỗi quốc gia vẫn tồn tại với tư cách là một quốc gia độc
lập tự chủ, tự nguyện lựa chọn các lĩnh vực và tổ chức thích hợp để hội nhập.
Tuy nhiên, khi đã gia nhập thì phải tuân theo đầy đủ các nguyên tắc chung, phải
thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ của một thành viên, phải điều chỉnh chính sách
của mình sao cho phù hợp với luật chơi chung. [4, tr.34]
Tác động của Hội nhập kinh tế quốc tế:

Hội nhập kinh tế là xu hướng toàn cầu nên tác động của nó lan toả đến mọi khu
vực, mọi quốc gia. Ngay cả những nước chưa tham gia vào quá trình đó cũng bị
ảnh hưởng, tác động. Thực tế, trong thế giới ngày nay tuyệt đại bộ phận các
nước đều mở cửa hội nhập nên tác động của hội nhập rất rộng lớn.
Kinh tế là nền tảng của một quốc gia nên hội nhập kinh tế sẽ tác động toàn diện
đến các mặt chính trị, văn hoá xã hội của đất nước. Bất kể nước nào đã hội
nhập đều phải điều chỉnh luật lệ, chính sách để hội nhập thành công và hiệu
quả. Tuy nhiên hội nhập kinh tế là một quá trình, nên tuỳ theo mức độ mà hội
nhập trong từng giai đoạn mà tác động của nó có ảnh hưởng đến các mặt chính

trị, kinh tế, văn hoá và xã hội. Về phương diện kinh tế thì hội nhập kinh tế có
8


những tác động chủ yếu sau:
(i) Hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi các nước phải mở cửa nền kinh tế, thực
hiện tự do hoá về thương mại và đầu tư.
(ii) Hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi các nước phải tiến hành cải cách, đổi mới
kinh tế trong nước, nếu không sẽ nhanh chóng tụt hậu so với các nước khác.
(iii) Hội nhập kinh tế quốc tế cũng tạo ra áp lực cạnh tranh gay gắt hơn, không
chỉ trẻ thị trường xuất khẩu mà ngay cả tại thị trường nội địa.
(iv) Hội nhập kinh tế quốc tế buộc các nước phải cơ cấu lại nền kinh tế, tham
gia tích cực vào quá trình hợp tác và phân công lao động quốc tế để tập trung
vào những ngành sản xuất hiệu quả và có thế mạnh.
(v) Hội nhập kinh tế quốc tế còn tác động mạnh đến dịch vụ, bản quyền, sở
hữu trí tuệ, môi trường, sức khoẻ con người… những thứ còn mới mẻ so với
Việt Nam.[4, tr. 38-40]
Quá trình phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế của doanh nghiệp Việt
Nam
Doanh nghiệp trong Luận văn này là một đơn vị kinh tế thực hiện hạch toán
kinh tế độc lập, có đầy đủ tƣ cách pháp nhân, đƣợc thành lâp theo Luật Doanh
nghiệp Nhà nƣớc, Luật Hợp tác xã, Luật Doanh nghiệp, Luật Ðầu tƣ trực tiếp của
nƣớc ngoài hoặc theo Hiệp định ký kết giữa Chính phủ Việt Nam với Chính phủ
nƣớc ngoài. Cụ thể gồm các loại hình doanh nghiệp sau đây:
(i)

Các Doanh nghiệp Nhà nƣớc do Trung ƣơng quản lý và do Ðịa
phƣơng quản lý (kể cả các doanh nghiệp kinh tế Ðảng, đoàn thể do
Nhà nƣớc cấp vốn);


9

(ii)

Các doanh nghiệp tập thể thành lập theo Luật Hợp tác xã;

(iii)

Các doanh nghiệp tƣ nhân.

(iv)

Các công ty hợp danh;

(v)

Các công ty trách nhiệm hữu hạn;


(vi)

Các công ty cổ phần (kể cả doanh nghiệp Nhà nƣớc cổ phần hoá,
công ty cổ phần có vốn góp của Nhà nƣớc);

(vii)

Các doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ trực tiếp của nƣớc ngoài,
doanh nghiệp liên doanh đƣợc thành lập theo Luật đầu tƣ trực tiếp
của nƣớc ngoài. [4, tr. 5-10]


Doanh nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng của nền kinh tế, là bộ phận chủ
yếu tạo ra tổng sản phẩm trong nƣớc (GDP). Những năm gần đây, hoạt động của
doanh nghiệp đã có bƣớc phát triển đột biến, góp phần giải phóng và phát triển sức
sản xuất, huy động và phát huy nội lực vào phát triển kinh tế xã hội, góp phần
quyết định vào phục hồi và tăng trƣởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu
ngân sách và tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội nhƣ: Tạo việc làm,
xoá đói, giảm nghèo...Sự phát triển của doanh nghiệp nói chung là tiền đề vững
chắc cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế mà hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam
đang từng bƣớc hƣớng tới.
Số lượng Doanh nghiệp tăng nhanh
Bảng 0.1: Số lượng doanh nghiệp Việt Nam qua các thời kỳ

Năm

2000
2005
2010

DN
nhà nước
5.759
4.086

Số lượng DN
Tổng cộng
DN ngoài
DN có vốn
nhà nước nước ngoài
35.004
1.525

42.288
105.569
3.697
113.352
500.000
(dự báo)

Nguồn:[34]

Nhìn bảng trên chúng ta thấy số doanh nghiệp ngày một tăng, nếu tính đến
cuối năm 2000 cả nước có 42.288 doanh nghiệp đã và đang hoạt động sản xuất
kinh doanh, thì cũng vào thời điểm này năm 2005 là 113.352 doanh nghiệp,
bình quân mỗi năm trong 5 năm tăng trên 14 nghìn doanh nghiệp thực tế có
hoạt động. Như vậy để có thể có 500.000 doanh nghiệp vào cuối năm 2010 đòi
hỏi phải có sự đầu tư nhiều hơn nữa của mọi thành phần kinh tế để thành lập
các doanh nghiệp mới, trên cơ sở 4 chữ T (Tri thức, Tiền, Tâm, Thông tin) của
các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế, cùng với việc xây dựng và thực
hiện các Luật liên quan và những cải cách của Nhà nước nhằm tạo thuận lợi
10


cho việc thành lập cũng như hoạt động của các doanh nghiệp.
Tuy nhiên, nhìn bảng trên chúng ta cũng thấy, trong khi số doanh nghiệp nhà
nước ngày một giảm thì số doanh nghiệp ngoài nhà nước và doanh nghiệp có
vốn nước ngoài lại ngày một tăng. Việc tăng số doanh nghiệp nói chung, và có
tăng có giảm số doanh nghiệp ở các thành phần kinh tế khác nhau hoàn toàn
phù hợp với đường lối phát triển của Đảng và Nhà nước: với các doanh
nghiệp nhà nước theo chủ trương sắp xếp và cổ phần hoá doanh nghiệp, cho
nên không ít đơn vị bị giải thể, doanh nghiệp được ghép lại và doanh nghiệp
cổ phần hoá (năm 2000 có 305 công ty cổ phần có vốn Nhà nước, năm 2005

tăng lên 1096 doanh nghiệp); các doanh nghiệp khác tăng nhanh bởi chủ
trương phát triển kinh tế nhiều thành phần đã được Luật hoá từ văn bản
Luật quan trọng nhất đó là Hiến pháp, bởi chủ trương đẩy nhanh hội nhập
quốc tế,… chính vì những vấn đề cơ bản trên cùng với Việt Nam đã ra biển
khơi WTO, và kết quả thu hút vốn đầu tư nước ngoài ngày một nhiều hơn
cùng những cải cách hành chính và chống tham nhũng sẽ hứa hẹn số doanh
nghiệp thuộc hai thành phần này sẽ tăng nhanh hơn trong năm 2006-2010. [34]
Quy mô lao động và nguồn vốn và cơ cấu của doanh nghiệp cũng có bước tiến
đáng kể

Số lượng doanh nghiệp của các thành phần kinh tế khác nhau, nhưng lao động
và nguồn vốn của các thành phần kinh tế không cùng theo một tỷ lệ. Doanh
nghiệp nhà nước có số lao động và nguồn vốn tăng nhanh nhất, sau đó là
doanh nghiệp có vốn nước ngoài, trong khi đó doanh nghiệp ngoài nhà nước
lại giảm tương đối, cụ thể mời xem bảng sau để biết tỉ lệ từng loại hình
doanh nghiệp trong tổng số doanh nghiệp nói chung trên cả nước trong năm
2005:
Bảng 0.2 Tỉ lệ loại hình doanh nghiệp năm 2005

Hạng mục
Số lượng
Số lao động
Nguồn vốn

DN
Nhà nước
3,81%
32,69%
54,06%


DN ngoài
DN có vốn
nhà nước nước ngoài
93,13%
3,26%
47,46%
19,55%
26,27%
19,67%

Nguồn[34]

Cơ cấu các doanh nghiệp phân theo ngành kinh tế cũng có chiều hướng tích
cực, nhằm đẩy nhanh hơn quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
công nghiệp và dịch vụ: số doanh nghiệp thuộc khu vực I chỉ còn 2,14% (năm
2000: gần 8%), khu vực II: 36% (năm 2000: 35,2%),…Đặc biệt các doanh
nghiệp một số ngành tăng rất nhanh, như: công nghiệp khai thác dầu thô, khí
tự nhiên, sản xuất các sản phẩm từ cao su và platstic, sản xuất các sản phẩm
từ kim loại, sản xuất máy thu thanh, thu hình và thiết bị truyền thông, bưu
chính, viễn thông, bảo hiểm.
11


Số doanh nghiệp ngày một trải ra các tỉnh, thành phố , nhất là các vùng sâu,
vùng xa (số doanh nghiệp năm 2005 so với năm 2000 cả nước tăng 2,68 lần,
riêng Vùng Đông Bắc và Tây Bắc đều hơn 3,5 lần,…), điều này không chỉ góp
phần tăng trưởng kinh tế cũng như thay đổi cơ cấu kinh tế mà còn góp phần
thay đổi nhiều về đời sống xã hội ở các vùng, miền khác nhau của đất nước,
tuy nhiên vẫn còn khoảng cách khá xa giữa các vùng. Chi tiết được thể hiện
trong bảng sau đây:

Bảng 0.3: Số lượng doanh nghiệp phân bổ theo vùng 2005

Khu vực
Đồng bằng sông
Hồng
Hà Nội
TP Hồ Chí Minh
Đông Nam Bộ

Số lượng
Doanh
nghiệp
30.510

% so với số doanh
nghiệp trong cả
nước
26.9

% dân số so
với cả
nước
24.2

18.214
31.292
41.193

16.1
27.6

36.3

3.7
7.0
16.1

Nguồn: [34]

Quy mô và tầm vóc của từng doanh nghiệp được tăng cường

Không chỉ tăng nhanh về số lượng, quy mô của doanh nghiệp cũng có những
bước thay đổi đáng kể về lao động, vốn, quản lý, công nghệ…, góp phần quan
trọng để tăng nhanh hơn giá trị gia tăng cho toàn nền kinh tế quốc dân. Tuy
nhiên, với việc tăng nhanh nhất là số doanh nghiệp ngoài Nhà nước, cho nên
bình quân một doanh nghiệp năm 2005 chỉ có 55 lao động và 23,7 tỷ đồng vốn
(năm 2000: lần lượt hai chỉ tiêu trên là 74 lao động, và 23,6 Tỷ đồng - nếu tính
theo giá so sánh thì nhiều hơn 2005), do vậy, theo tiêu chí doanh nghiệp vừa và
nhỏ là dưới 500 lao động và vốn dưới 10 tỷ đồng, thì có tới 96,81% số doanh
nghiệp nước ta thuộc nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ ( có tới 51,3% DN có
dưới 10 lao động, và 41,8% doanh nghiệp chỉ có số vốn dưới 11 tỷ đồng). Quy
mô bình quân một doanh nghiệp có sự khác biệt rất lớn giữa các thành phần
kinh tế:

Bảng 0.4: So sánh về lao động và nguồn vốn tại Doanh nghiệp từ 2000- 2005

Loại hình doanh
nghiệp
DN Nhà nước
12


Lao động (người)
2000
363

2005
499

Nguồn vốn
(tỷ đồng)
2000
2005
130
355


30
267

DN ngòai Nhà nước
Doanh nghiệp có vốn
nước ngòai

32
330

3
192

7
143


Nguồn [34]

Tài sản và vốn của doanh nghiệp

Riêng về tài sản cố định và vốn đầu tư dài hạn - yếu tố gắn hơn tới việc tăng
năng suất lao động có nhiều sự khác biệt giữa các thành phần kinh tế, các
ngành và các vùng về quy mô tài sản cố định và vốn đầu tư dài hạn tính cho
một lao động:
Năm 2005, trang bị tài sản cố định và đầu tư dài hạn bình quân một lao động của
tất cả các doanh nghiệp là: 152,7 triệu đồng, riêng doanh nghiệp nhà nước: 238,7
triệu đồng (doanh nghiệp nhà nước trung ương: 380,9 triệu đồng; doanh nghiệp
ngoài nhà nước: 65,9 triệu đồng (doanh nghiệp tập thể chỉ có: 9,6 triệu đồng;
doanh nghiệp có vốn nước ngoài: 220,9 triệu đồng; doanh nghiệp liên doanh:
1178,8 triệu đồng).[34]
Kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Một nét nổi bật là các doanh nghiệp có vốn nước ngoài, sau đó là các doanh
nghiệp nhà nước đã có những đóng góp quan trọng trong nền kinh tế quốc dân
nói chung (thông qua chỉ tiêu doanh thu thuần), đóng góp cho Nhà nước (thông
qua thuế và các khoản phải nộp) và đóng góp cho bản thân các doanh nghiệp
nhiều nhất (lợi nhuận) và ngày một tăng.

Bảng 0.5: Hiệu quả kinh doanh của các loại hình doanh nghiệp

Loại hình doanh
nghiệp
DN Nhà nước
DN ngoài Nhà
nước

DN có vốn nước
ngoài
Tổng

Doanh thu
thuần
2002
2005
57,1
38,6
30,4
38,8

Thuế và các
khoản phải nộp
2002
2005
52,5
40,8
10,8
18,9

(đơn vị: %)
Lợi nhuận
2002
41,7
8,8

2005
41,2

8,8

18,5

22,6

36,7

40,3

49,5

50,04

100%

100%

100%

100%

100%

100%

Nguồn:[34]

Những con số ấn tượng trên cho chúng ta thấy, doanh nghiệp Việt Nam từ
năm 2000 đến nay đã đạt được những bước phát triển đáng kể, khẳng định

được bản lĩnh của mình để tự tin tham gia vào quá trình Hội nhập kinh tế
13


quốc tế, điều mà trong khoảng thời gian trước đó, chúng ta chưa đủ bản lĩnh
để hội nhập. Tuy rằng, phát triển một cách cân bằng giữa các loại hình doanh
ngiệp, đặc biệt các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu
(liên quan mật thiết đến các hoạt động hội nhập kinh tế quốc tế) là một yêu
cầu tất yếu phải được quan tâm và chú trọng hơn nữa. Cho nên, phải tìm mọi
biện pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp có vốn nhà
nước và doanh nghiệp không có vốn nhà nước nhằm nâng cao năng lực cạnh
tranh của các doanh nghiệp để có thể thắng ngay trên sân nhà và chủ động
phát triển trên đấu trường kinh doanh quốc tế.
Đánh giá chung
Trƣớc thời kỳ đổi mới, các khái niệm doanh nghiệp, doanh nhân hầu nhƣ không đƣợc sử dụng ở
nƣớc ta. Trong thời kỳ đổi mới, nhất là khi đất nƣớc thực hiện nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng
xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế, các khái niệm doanh nghiệp, doanh nhân ngày càng
đƣợc sử dụng phổ biến trong lĩnh vực khoa học, kinh tế… và trên các phƣơng tiện thông tin đại
chúng.
Trong chƣơng trình đổi mới toàn diện đất nƣớc, Đảng và Nhà nƣớc ta luôn chú trọng đến việc
hình thành, phát triển các doanh nghiệp, doanh nhân và coi đó là lực lƣợng chủ lực của phát triển
kinh tế – xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế. Nghị quyết Hội nghị Trung ƣơng khóa IX, lần đầu
tiên đã đặt ra yêu cầu xây dựng đội ngũ doanh nhân Việt Nam cùng với nhiệm vụ xây dựng giai
cấp công nhân, nông dân và đội ngũ trí thức. Đại hội X của Đảng đã đƣa ra chủ trƣơng cho phép
đảng viên đƣợc làm kinh tế tƣ nhân và đặt ra yêu cầu xây dựng chiến lƣợc quốc gia về phát triển
doanh nghiệp, trong đó đƣa ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2010 cả nƣớc có 500.000 doanh
nghiệp .

Từ một quốc gia có nền kinh tế tập trung bao cấp, không trọng dụng và đề cao
vai trò của doanh nghiệp trong đời sống xã hội (người kinh doanh bị gọi là “con

buôn”), cho đến năm 2008, Việt Nam đã có khoảng 350.000 Doanh nghiệp (trong
đó 95% là doanh nghiệp vừa và nhỏ theo tiêu chí có vốn dưới 10 tỉ đồng và dưới
300 lao động; 5% còn lại là các tổng công ty, tập đoàn kinh tế lớn của nhà nước
và các công ty có vốn đầu tư nước ngoài) [21]. 95% doanh nghiệp nói trên có
tổng số vốn khoảng 85 tỉ USD, hằng năm đóng góp khoảng 40%-50% việc làm
mới cho thị trường sử dụng lao động.[21]
Cùng với đƣờng lối đổi mới, các chính sách phát triển kinh tế, Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài. Luật
Doanh nghiệp, quỹ hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ… đi vào cuộc sống thực sự thúc đẩy các
doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ra đời và ngày càng phát triển nhanh về số lƣợng,
rộng về quy mô, phong phú về các loại hình và hoạt động ngày càng có hiệu quả.

Từ việc các doanh nghiệp Việt Nam chỉ gói gọn phạm vi hoạt động trong lãnh
thổ Việt Nam, đến nay, việc giao thương quốc tế giữa doanh nghiệp Việt Nam
với doanh nghiệp nước ngoài đã trở thành chuyện bình thường trong bối cảnh
Việt Nam ngày càng tích cực và chủ động trong hội nhập kinh tế quốc tế. Đây là
một yếu tố thực sự tích cực vì để hội nhập quốc tế thành công, thì doanh
nghiệp có vai trò như một đầu tàu dẫn dắt cả đoàn tàu đi tới đích đúng hướng
14


và an toàn.
Sau đây là một số điểm mốc trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam:
 Bình thƣờng hoá quan hệ với các tổ chức tài chính-tiền tệ quốc tế: WB, IMF, ADB.


1/1995: Nộp đơn gia nhập WTO



7/ 1995: Ký Hiệp định khung về Hợp tác kinh tế với Liên minh Châu Âu (EU).




7/1995 Gia nhập ASEAN



3/1996: tham gia sáng lập Diễn đàn á- Âu (ASEM) với 25 thành viên.



11/1998 gia nhập Diễn đàn Hợp tác kinh tế Châu á-Thái Bình Dƣơng (APEC): 21 thành
viên.



7/2000: Ký Hiệp định Thƣơng mại song phƣơng Việt Nam - Hoa Kỳ; có hiệu lực thi hành
từ 10/12/2001.



7/11/2006: Việt Nam chính thức gia nhập WTO[20]

Nhƣ vậy, mặc dù mới ra đời và phát triển nhƣng các doanh nghiệp Việt Nam đã thực hiện tính
năng động, linh hoạt thích ứng với điều kiện hội nhập, sự tự tin và ý chí kinh doanh cao… và kết
quả hoạt động là tích cực rất đáng khích lệ. Trong đó, một số doanh nghiệp đã khẳng định đƣợc
uy tín, chất lƣợng, hiệu quả và thƣơng hiệu của mình trên thị trƣờng trong nƣớc và quốc tế. Hoàn
toàn có cơ sở khẳng định rằng, các doanh nghiệp Việt Nam đang và sẽ trở thành đội quân chủ lực
trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế của đất nƣớc.
Tuy nhiên, trong bối cảnh của toàn cầu hóa, nhất là khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức

Thƣơng mại thế giới, các doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt với các đối thủ mới (các công ty
xuyên quốc gia, đa quốc gia có tiềm lực tài chính, công nghệ, kinh nghiệm và năng lực cạnh
tranh cao), phải cạnh tranh quyết liệt trong điều kiện mới (thị trƣờng toàn cầu với những nguyên
tắc nghiêm ngặt của định chế thƣơng mại và luật pháp quốc tế). Nói cách khác, các doanh nghiệp
Việt Nam đang phải đối mặt với những thách thức thật sự to lớn.

Để vững vàng trên con đường hội nhập, doanh nghiệp Việt Nam còn cần phải
vượt qua rất nhiêu khó khăn, thử thách, có những khó khăn đến từ những hạn
chế của chính doanh nghiệp, có những khó khăn do điều kiện ngoại cảnh tác
động. Điều quan trọng nhất là mỗi doanh nghiệp, để tồn tại và phát triển trong
thời đại toàn cầu hoá, cần nhìn ra một cách thấu đáo những hạn chế của chính
mình, từ đó từng bước hòan thiện năng lực cạnh tranh quốc tế trong bối
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Vũ Thành Tự Anh, Từ năm 2008, nhìn lại vai trò của nhà nước, Saigontimes,
/>2. Lê Xuân Bá, Tiến sĩ Trần Kim Hào, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Thắng (2006), Các
doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế,
Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà nội. (Tài liệu tham khảo do Ciem và Sida
15


thực hiện).
3. Báo

cáo

phân

tích

tình


hình

doanh

nghiêp

/>3652/baocao_phantich.doc
4. Bộ Thương mại (2004), Tài liệu bồi dưỡng: Kiến thức cơ bản về Hội nhập
kinh tế Quốc tế.
5. Bộ Thương mại (2007) , “Giật mình với …8%”,
/>6. Chuyên mục Hội nhập kinh tế quốc tế, www.mofa.gov.vn
7. Trần Quốc Dân (2005), Sức hấp dẫn, một giá trị văn hoá Doanh nghiệp – Nhà
xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà nội.
8. Lê

Đăng

Doanh,

Nhìn

lại

kinh

tế

Việt


nam

năm

2008,

/>9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Hội nhập kinh tế quốc tế: Những lợi thế và
khó khăn,
/>10.Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới
(Đại hội VI, VII, VIII, IX), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
11.Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ X, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội
12.Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện đại hội đảng thời kỳ đổi mới, Nhà
Xuất bản chính trị Quốc gia
13.FDI

năm

2008

-

không

chỉ



mầu


hồng,

/>14.Trương Thị Hiền. “Việt Nam gia nhập WTO – Mấy vấn đề lý luận và thực
tiễn”, Tạp chí Phát triển nhân lực, số 1(1) – 2007
16


15.Hiệp Hội doanh nghiệp Tp. Hà Nội, Báo cáo đánh giá về hoạt động của hiệp
hội doanh nghiệp Hà Nội (2007).
16.Phạm Chi Lan, Kinh tế Việt Nam năm 2009: Ưu tiên và giải pháp then chốt,
Tuần Vietnamnet
17.Lãnh

đạo

PCI

nhận

tội

hối

lộ



dự

án


ODA

Việt

Nam,

/>( />18.Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam: WTO – Việt Nam và trách
nhiệm của tri thức khoa học và công nghệ thời kỳ hội nhập quốc tế, Hà Nội,
1-2007, tr 36 – 37
19.Vũ Tiến Lộc (2007), Để cộng đồng doanh nhân Việt Nam là lực lượng xung
kích

trong

công

cuộc

chấn

hưng

kinh

đất

tế

nước,


http://203.162.0.19:8080/show_content.pl?topic=3&ID=2309
20.Một số thành tựu trong Hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam,
/>21.Năm

2009,

nhiều

doanh

nghiệp

nhỏ



vừa

sẽ

phá

sản,

:8080/SKHCN/vietNamese/DetailNew.asp?id=0_14
418_2300_0
22.Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ khi gia nhập
WTO, />23.Ngân hàng Thế giới (6-2008), Báo cáo cập nhật về tính hình Phát triển kinh
tế của Việt Nam.

24.PGS, TS Phạm Duy Nghĩa (2006), Đánh giá về Giấy phép Kinh doanh ở Việt
Nam, Ban Nghiên cứu của Thủ tướng chính phủ. />25.Nguyễn Thế Nghĩa (PGS., TS.) Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp VIệt nam trong thời kỳ Hội nhập kinh tế quốc tế ,
17


/>26.ODA 2008 cho Việt Nam: đạt mức kỷ lục mới 5426 tỉ USD,
/>27.Đàm Hồng Phương: Một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng
( />28.Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, Luật doanh nghiệp số 60/2005/QH11.
29.Nguyễn Vĩnh Thanh, Nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Thương
mại Việt Nam trong Hội nhập kinh tế quốc tế (Sách chuyên khảo), Nhà xuẩt
bản Lao động Xã hội.
30.Nguyễn Vĩnh Thanh, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, Nâng cao năng lực cạnh
tranh của Doanh nghiệp Việt Nam trong giai

đoạn hiện nay,

/>31.Võ Trí Thành (2001), Những Quan niệm và Khung khổ phân tích về tính
cạnh tranh, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương.
32.Võ Trí Thành (2006), Nâng cao giá trị gia tăng của doanh nghiệp Việt Nam:
Một số góc độ tiếp cận, Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương.
33.Tình

hình

xuất

nhập

khẩu


tháng

12



cả

năm

2008,

/>Category=Th%E1%BB%91ng%20k%C3%AA%20H%E1%BA%A3i%20quan
34.Tổng

cục

Thống

kê,

Nhận

diện

Doanh

nghiệp


Việt

Nam,

( />35.Nguyễn Tiến Thuận (chủ biên), Ts. Vũ Thị Bạch Tuyết, Ths. Vũ Duy Vĩnh,
Ths. Phí Thị Thu Hương, CN Hoàng Thị Phương Lan (2007), Xúc tiến Thương
mại với Doanh nghiệp trong điều kiện Hội nhập, Nhà xuất bản Tài chính, Hà
nội.
18


36.Phạm Quốc Thuần, Doanh nghiệp mất 245 ngày để thực hiện nghĩa vụ về
thuế.

Tại

ai?

/>
10861.htm
37.TTXVN: Thông tin tư liệu – 146 (842), ngày 07-12- 2006, tr 5
38.Vũ Quốc Tuấn - Hoàng Thu Hoà (2001), Phát triển Doanh nghiệp nhỏ và
vừa: Kinh nghiệm nước ngoài và phát triển Doanh nghiệp Nhỏ và vừa ở Việt
Nam, Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương và Nhà xuất bản Thống
kê phối hợp xuất bản.
39.Trang Thị Tuyết, Một số giải pháp hoàn thiện quản lý Nhà nước đối với
doanh nghiệp, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Bộ Nội vụ, Học viện Hành
chính quốc gia
40.Trách nhiệm xã hội của Doanh nghiệp: Công cụ tạo dựng lợi thế cạnh tranh,
( />41.Tổng


quan

kinh

tế

Việt

nam

năm

2007,

/>42.Lê Truyền, Kỷ yếu Hội thảo: Chiến lược Quốc gia về phát triển doanh
nghiệp và đội ngũ doanh nhân Việt Nam, Hà nội, 12-10-2006,
http://203.162.0.19:8080/show_content.pl?topic=1&ID=4583
43.UNDP Vietnam (2007), Improving the quality of business law: a quickscan of
Vietnam's Capacities and introduction of International Best Pratice.
44.Văn

hóa

doanh

nghiệp




yếu

tố

vàng

để

thành

công,

/>45.VCCI and UNSAID (2007), The Vietnam Provincial Competitiveness Index
2006: Mesuring Economic Governence for private sector development.
46.VCCI and UNSAID (2008), The Vietnam Provincial Competitiveness Index
2007: Mesuring Economic Governence for private sector development.
19


47.Khương M. Vu và giáo sư Darell M. West, Đại học Brown (2005), E_
Government and business competitiveness: A policy review.
48.Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương và UNDP (Dự án VIE 01/025),
Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, Nhà xuất bản Giao thông Vận tải.
49.Vốn FDI đăng ký vào Việt Nam năm 2008: Hơn 64 tỉ USD,
/>
20




×