Tải bản đầy đủ (.pdf) (32 trang)

Các loại người đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố Hải Phòng)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (690.11 KB, 32 trang )

Header Page 1 of 126.

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

BÙI THỊ HẰNG MONG

CÁC LOẠI NGƢỜI ĐỒNG PHẠM TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT
NAM (TRÊN CƠ SỞ THỰC TIỄN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2017

Footer Page 1 of 126.


Header Page 2 of 126.

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

BÙI THỊ HẰNG MONG

CÁC LOẠI NGƢỜI ĐỒNG PHẠM TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT
NAM (TRÊN CƠ SỞ THỰC TIỄN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG)

Chuyên ngành : Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số



: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. Trần Văn Dũng

Hà nội – 2017

Footer Page 2 of 126.


Header Page 3 of 126.

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các
số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung
thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƢỜI CAM ĐOAN

Bùi Thị Hằng Mong

Footer Page 3 of 126.


Header Page 4 of 126.


MỤC LỤC CỦA LUẬN VĂN
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục bảng
MỞ ĐẦU ...................................................................................................................4
Chƣơng 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC LOẠI NGƢỜI ĐỒNG
PHẠM .....................................................................................................................12
1.1. Các khái niệm có liên quan ..........................................................................12
1.1.1. Khái niệm đồng phạm ..................................................................................12
1.1.2. Khái niệm các loại người đồng phạm ..........................................................14
1.2. Phân biệt các loại ngƣời đồng phạm với chủ thể của một số tội phạm .....16
1.2.1. Phân biệt các loại người đồng phạm với chủ thể trong tội che giấu tội phạm
..................................................................................................................................16
1.2.2. Phân biệt các loại người đồng phạm với chủ thể trong tội không tố giác tội
phạm .........................................................................................................................19
1.2.3. Phân biệt các loại người đồng phạm với người hoạt động đắc lực trong một
số tội phạm ...............................................................................................................20
1.3. Pháp luật hình sự của một số nƣớc quy định về các loại ngƣời đồng
phạm ........................................................................................................................22
1.3.1. Pháp luật hình sự Liên bang Nga .................................................................22
1.3.2. Pháp luật hình sự Cộng hòa Liên bang Đức ...............................................23
1.3.3. Pháp luật hình sự Hoa Kỳ ............................................................................24
1.3.4. Pháp luật hình sự quốc tế .............................................................................25
Chƣơng 2. QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1999 VỀ CÁC
LOẠI NGƢỜI ĐỒNG PHẠM VÀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA HỌ ......28

Footer Page 4 of 126.


1


Header Page 5 of 126.

2.1. Quy định của Bộ luật hình sự 1999 về các loại ngƣời đồng phạm .............28
2.1.1. Người thực hành ............................................................................................28
2.1.2. Người tổ chức.................................................................................................33
2.1.3. Người giúp sức ...............................................................................................38
2.1.4. Người xúi giục ...............................................................................................40
2.2. Quy định của BLHS năm 1999 về trách nhiệm hình sự của các loại ngƣời
đồng phạm ..............................................................................................................43
2.2.1. Các nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự của các loại người đồng phạm
..................................................................................................................................45
2.2.2. Trách nhiệm hình sự của các loại người đồng phạm khi phạm tội chưa đạt .49
2.2.3. Trách nhiệm hình sự của các loại người đồng phạm trong trường hợp tự ý
nửa chừng chấm dứt việc phạm tội ..........................................................................51
2.3. Căn cứ quyết định hình phạt trong trƣờng hợp đồng phạm ......................55
2.3.1. Căn cứ tính chất của đồng phạm ....................................................................55
2.3.2. Căn cứ tính chất và mức độ tham gia của những người đồng phạm .............57
2.3.3. Căn cứ tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm hình
sự ..............................................................................................................................59
Chƣơng 3. THỰC TIỄN XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN ĐỒNG PHẠM TRÊN ĐỊA
BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT .....62
3.1. Một số đặc điểm về địa lý, kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng có ảnh
hƣởng đến tình hình phạm tội có tính chất đồng phạm .....................................62
3.2. Thực tiễn xét xử các vụ án đồng phạm trên địa bàn thành phố Hải Phòng
từ năm 2011-2015 ...................................................................................................64
3.2.1. Tình hình phạm tội dưới hình thức đồng phạm ở Hải phòng ........................64


Footer Page 5 of 126.

2


Header Page 6 of 126.

3.2.2. Tình hình xét xử các vụ án có đồng phạm trên địa bàn thành phố Hải Phòng
từ năm 2011-2015 ....................................................................................................65
3.2.3. Vướng mắc, khó khăn trong quá trình xét xử các vụ án có đồng phạm trên
địa bàn thành phố Hải Phòng ...................................................................................70
3.3. Quy định của Bộ luật hình sự 2015 về các loại ngƣời đồng phạm .............71
3.3.1. BLHS 2015 quy định cụ thể trường hợp người đồng phạm không phải
chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành ...................72
3.3.2. Vấn đề xác định đồng phạm trong trường hợp chủ thể là pháp nhân
thương mại phạm tội ...............................................................................................74
3.4. Một số đề xuất, kiến nghị ..............................................................................76
3.4.1. Kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của BLHS về chế định đồng phạm và
các quy định liên quan .............................................................................................76
3.4.2. Kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả xét xử các vụ án đồng phạm .................78
KẾT LUẬN ............................................................................................................80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................83

Footer Page 6 of 126.

3


Header Page 7 of 126.


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp ở Việt
Nam hiện nay thì việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự là hết sức
quan trọng và cần thiết. Đây cũng là một nhu cầu tất yếu và quy luật đối với mỗi
quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa. Cùng với hệ thống các văn bản pháp luật
trong lĩnh vực dân sự, thương mại, lĩnh vực hình sự cũng đặt ra yêu cầu cần phải
tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện. Bên cạnh đó, tình hình tội phạm ngày càng có diễn
biến phức tạp, các hình thức phạm tội do nhiều người cùng thực hiện, các loại tội
phạm mang tính chất quốc tế, tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm trên môi trường
mạng không phải là các hình thức phạm tội mới, nhưng dưới góc độ khoa học, các
hình thức phạm tội này đã làm thay đổi quan niệm về quyền tài phán của quốc gia,
nhất là tội phạm trong môi trường mạng internet, làm cho các quốc gia phải xích
lại gần nhau hơn trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm. Đồng thời, cũng làm
thay đổi quan niệm về vị trí pháp lý của các “nhà cung cấp dịch vụ mạng internet”
trong tố tụng hình sự…Các nội dung nêu trên đã và đang đặt ra những thách thức
cho các nhà lập pháp hình sự phải có những nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung các quy
định của pháp luật hình sự bài bản, đầy đủ hơn, góp phần đấu tranh có hiệu quả đối
với các hình thức phạm tội này.
Về lý luận, so với tội phạm do một người thực hiện, tội phạm được thực hiện
dưới hình thức đồng phạm thường có tính chất, mức độ nguy hiểm hơn, vì khả
năng gây ra hậu quả nghiêm trọng hơn, quy mô tội phạm lớn hơn và khoảng thời
gian tồn tại dài hơn khi có sự câu kết chặt chẽ về tổ chức và cách thức thực hiện. Ở
nước ta, những năm gần đây, tình hình tội phạm đang có chiều hướng gia tăng và
có nhiều diễn biến phức tạp. Phổ biến hiện nay là những vụ án nghiêm trọng có
nhiều bị cáo tham gia, đang được dư luận xã hội quan tâm theo dõi, lên án. Trong
vụ án đồng phạm, mỗi bị cáo khi thực hiện tội phạm có thể có vai trò khác nhau, sự
Footer Page 7 of 126.


4


Header Page 8 of 126.

liên kết, hỗ trợ lẫn nhau giữa những người cùng phạm tội càng củng cố quyết tâm
phạm tội của cả bọn. Tuy nhiên, tính chất và mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội
của từng người vẫn phải dựa trên hành vi cụ thể và mức độ tham gia trên thực tế.
Việc hiểu và nhận thức rõ điều này giúp chúng ta nhận ra sự nguy hiểm của loại tội
phạm được thực hiện dưới hình thức đồng phạm. Chính vì vậy, việc đấu tranh
phòng ngừa tội phạm nói chung và tội phạm dưới hình thức đồng phạm nói riêng là
việc làm cấp bách luôn được Đảng, Nhà nước ta quan tâm, đề cao và chú trọng.
Xét dưới khía cạnh địa bàn phạm tội, Hải Phòng là một trong những thành
phố có diễn biến tình hình tội phạm hết sức phức tạp, rất nhiều các tổ chức tội
phạm, các hoạt động phạm tội diễn ra trên địa bàn thành phố Hải Phòng được đưa
ra điều tra, truy tố, xét xử với mức độ rất nghiêm trọng. Trong bối cảnh như hiện
nay, tình hình tội phạm có tổ chức, tội phạm hoạt động xuyên quốc gia ở nước ta sẽ
còn diễn biến phức tạp. Các tổ chức tội phạm hoạt động với những vỏ bọc đa dạng,
phương thức hoạt động, hành vi che giấu tội phạm tinh vi, xảo quyệt hơn, gây khó
khăn cho công tác phát hiện và điều tra. Hoạt động phạm tội của các đối tượng
không giới hạn ở một địa phương, mà ngày càng thể hiện rõ xu hướng cấu kết, móc
nối với các đối tượng ở các tỉnh, thành phố khác, thậm chí cả với những đối tượng
là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài... hình thành những tổ
chức, đường dây phạm tội liên tỉnh, thành phố và mang tính quốc tế. Tội phạm do
chúng gây ra hầu hết là các nhóm tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt
nghiêm trọng. Vì vậy, việc nghiên cứu các loại người đồng phạm về khái niệm, đặc
điểm, trách nhiệm hình sự là một trong những nội dung quan trọng, góp phần nâng
cao sự hiểu biết đối với loại tội phạm nghiêm trọng này. Đặc biệt nghiên cứu thực
tiễn xét xử các loại người đồng phạm trên địa bàn thành phố Hải Phòng trong giai
đoạn 2011-2015, qua đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp

luật về vấn đề đồng phạm, vận dụng nó vào thực tế để đấu tranh, phòng ngừa có
hiệu quả đối với các loại người đồng phạm.
Footer Page 8 of 126.

5


Header Page 9 of 126.

Với lý do trên, học viên lựa chọn đề tài: “ Các loại người đồng phạm trong
Luật hình sự Việt Nam (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố Hải Phòng) ” để
làm đề tài cho luận văn nghiên cứu của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Đồng phạm, tội phạm có tổ chức hay tình hình phạm tội có tổ chức là một
trong những vần đề có nội dung rất phức tạp, được sự quan tâm của hầu hết các
quốc gia trên thế giới.
Trong thời gian qua việc nghiên cứu về đồng phạm đã thu hút được sự quan
tâm của nhiều nhà nghiên cứu lý luận, luật gia hình sự và cán bộ thực tiễn. Đến
nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố, thể hiện ở một số giáo trình
của các trường Đại học, Cao đẳng, sách chuyên khảo sau Đại học như:
- Những lý luận cơ bản về tội phạm trong Luật hình sự, Viện Nhà nước và
pháp luật, Uỷ ban khoa học Xã hội Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội,
1986;
- Mô hình lý luận về BLHS Việt Nam (Phần chung), GS.TSKH Đào Trí Úc
(Chủ biên), NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993;
- Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Trường Đại học Cảnh sát
nhân dân, Hà Nội, 1995;
- Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Tập I, trường Đại học Luật Hà Nội,
NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 1997;
- Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội (tập thể

tác giả do GS.TS Nguyễn Ngọc Hoà chủ biên), NXB Công an nhân dân, Hà Nội,
2000;
- Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Đại học Huế - Trung tâm đào tạo từ xa
(do GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên), NXB Giáo dục;

Footer Page 9 of 126.

6


Header Page 10 of 126.

- Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), của Khoa Luật trực thuộc
Đại học Quốc gia Hà Nội, (tập thể tác giả do GS. TSKH. Lê Cảm chủ biên), NXB
Đại học Quốc gia Hà Nội, 2003;
- Hình luật xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (Phần chung), Trường cao đẳng
Kiểm sát, Hà Nội, 1983;
- Sách chuyên khảo: Trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự,
NXB Tư pháp, Hà Nội, 2005 do TSKH Lê Cảm (chủ biên);;
Ngoài ra, các luận văn, luận án như:
Nguyễn Thị Trang Liên, với đề tài Các hình thức đồng phạm trong Luật hình
sự Việt Nam, Luận văn thạc sỹ luật học, năm 2007, Khoa luật - Đại học Quốc Gia
Hà Nội; Trần Quang Tiệp,
Đồng phạm trong Luật hình sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Trường
Đại học Luật Hà Nội, 2000;
Các sách bình luận, sách tham khảo, bài viết như: Bình luận khoa học Bộ
Luật hình sự Việt Nam năm 1999, Tập I, Phần chung (tập thể tác giả do TS. Uông
Chu làm chủ biên), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004; Đinh Văn Quế, Bình
luận khoa học Bộ Luật hình sự, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 2001; Đặng Văn
Doãn,Vấn đề đồng phạm, NXB Pháp lý, Hà Nội, 1986; Trần Quang Tiệp, Chế định

đồng phạm trong pháp Luật hình sự ở một số nước trên thế giới, Tạp chí Nhà nước
và pháp luật, số 11/1997; Nguyễn Ngọc Hòa, Trần Quốc Dũng phạm tội gì. Bàn về
các giai đoạn phạm tội và vấn đề cộng phạm, Tạp chí TAND, số 02/1980; Lê
Cảm,Về chế định đồng phạm, Tạp chí TAND, số 02/1988; Đoàn Văn Hường,
Đồng phạm và một số vấn đề về thực tiễn xét xử, Tạp chí TAND, số 4/2003; Lê
Thị Sơn,Về các giai đoạn thực hiện hành vi đồng phạm, Tạp chí Luật học, số
3/1998; Nguyễn Trung Thành, Phạm tội có tổ chức trong Luật hình sự Việt Nam:
Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 9/1999;
Nguyễn Trung Thành, Cơ sở và những nguyên tắc truy cứu trách nhiệm hình sự
Footer Page 10 of 126.

7


Header Page 11 of 126.

trong trường hợp phạm tội có tổ chức, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 6/2002;
Dương Văn Tiến, Phân biệt đồng phạm với che dấu tội phạm và không tố giác tội
phạm, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 1/1985…
Các tài liệu nêu trên đều đề cập đến các khía cạnh khác nhau và các mức độ
nghiên cứu khác nhau về vấn đề đồng phạm. Tuy nhiên, việc nghiên cứu các vấn
đề lý luận về đồng phạm gắn với thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm trên địa
bàn cụ thể là thành phố Hải phòng thì chưa có công trình nào nghiên cứu.Việc
nghiên cứu này nhằm có cơ sở thực tiễn cho những đề xuất hoàn thiện các quy định
của pháp luật hình sự cũng như nâng cao các giải pháp đấu tranh phòng chống tội
phạm tại địa bàn.
Do vậy, để góp phần khẳng định sự cần thiết của việc quy định các nội dung
liên quan đến chế định đồng phạm, học viên lựa chọn đề tài “ Các loại người đồng
phạm trong Luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố Hải
Phòng)” để làm đề tài cho luận văn nghiên cứu của mình là phù hợp với thực tế

yêu cầu về xây dựng và hoàn thiện pháp luật hình sự hiện nay.
3. Mục đích, đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là nghiên cứu những vấn đề lí luận liên quan đến các
loại người đồng phạm theo quy định của luật hình sự Việt Nam, đặc biệt là vấn đề
xác định TNHS, quyết định hình phạt của các loại người đồng phạm. Việc nghiên
cứu này nhằm mục đích phân biệt cụ thể các loại người đồng phạm với nhau và
phân biệt các loại người đồng phạm với một số khái niệm có liên quan trong khoa
học Luật hình sự (người che giấu tội phạm, người không tố giác tội phạm, người
hoạt động đắc lực). Đồng thời, nghiên cứu, đánh giá việc áp dụng pháp luật liên
quan đến đồng phạm trong quá trình xét xử những vụ án có đồng phạm tại một địa
bàn trọng điểm là thành phố Hải Phòng (giai đoạn 2011-2015), đưa ra kiến nghị, đề
xuất góp phần hoàn thiện chế định đồng phạm trong BLHS.
Footer Page 11 of 126.

8


Header Page 12 of 126.

3.2. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn về các
loại người đồng phạm trong Luật hình sự Việt Nam, cụ thể là:
- Nghiên cứu một số vấn đề chung về khái niệm, đặc điểm pháp lý của các
loại người đồng phạm Luật hình sự Việt Nam.
- Nghiên cứu Pháp luật hình sự của một số nước quy định về các loại người
đồng phạm.
- Nghiên cứu các quy định của BLHS 1999 về các loại người đồng phạm,
nguyên tắc xác định TNHS của người đồng phạm, quyết định hình phạt trong đồng
phạm và một số vấn đề khác liên quan đến chế định đồng phạm.

- Nghiên cứu tình hình phạm tội dưới hình thức đồng phạm trên địa bàn
thành phố Hải Phòng, qua đó đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp
luật về đồng phạm và thực tiễn xét xử các vụ án đồng phạm.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Trên cơ sở đối tượng, mục đích nghiên cứu đã xác định phạm vi nghiên cứu
của đề tài:
- Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật hình sự
hiện hành về đồng phạm mà cụ thể là các loại người đồng phạm. Bao gồm: nghiên
cứu khái quát khái niệm các loại người đồng phạm; phân tích vị trí, vai trò của các
loại người đồng phạm qua đó xác định các nguyên tắc xác định trách nhiệm hình
sự trong đồng phạm, quyết định hình phạt trong đồng phạm.
- Về tư liệu thực tế, tác giả nghiên cứu dựa trên thực tiễn xét xử các vụ án có
đồng phạm của tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, giai đoạn 05 năm (20112015) phân tích, làm sáng tỏ, từ đó đưa ra các biện pháp hoàn thiện quy định của
BLHS liên quan đến chế định đồng phạm, đồng thời nâng cao hiệu quả đấu tranh
phòng chống tội phạm trên địa bàn thành phố Hải Phòng.

Footer Page 12 of 126.

9


Header Page 13 of 126.

4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước
về đấu tranh phòng, chống tội phạm. Quá trình nghiên cứu trong đề tài còn sử dụng
các phương pháp nghiên cứu cụ thể như:
- Phương pháp phân tích: Phương pháp này thể hiện trong luận văn là những
lý giải, phân tích những điều luật qui định về chế định đồng phạm của các nhà

nghiên cứu khoa học luật hình sự Việt Nam qua đó rút ra được sự cần thiết, vai trò,
mục tiêu, ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này trong đời sống pháp luật, trong
quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền của Việt Nam.
- Phương pháp so sánh: Luận văn sử dụng phương pháp so sánh để đưa ra
kiến giải cho các qui định về các loại người đồng phạm, từ đó rút ra được những
kết luận về thực trạng, giải pháp và các đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật.
- Phương pháp thống kê xã hội học: Phương pháp này được thể hiện thông
qua những tài liệu, số liệu cũng như các báo cáo của Viện kiểm sát nhân dân thành
phố Hải Phòng trong thời gian vừa qua về tình hình xét xử đồng phạm để làm cơ
sở phân tích, nghiên cứu nhằm tìm ra nguyên nhân, giải pháp.
Ngoài ra trong đề tài còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như:
phân tích thuần túy quy phạm pháp luật; nghiên cứu, điều tra án điển hình... để
phân tích và luận chứng các vấn đề khoa học cần nghiên cứu trong luận văn này.
Trong quá trình thực hiện đề tài luận văn, học viên đã tiếp thu có chọn lọc
kết quả của các công trình đã công bố; các đánh giá, tổng kết của các cơ quan
chuyên môn và các chuyên gia về những vấn đề có liên quan đến các vấn đề
nghiên cứu trong luận văn.
5. Những đóng góp mới của luận văn
Dưới góc độ lý luận, kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần hoàn thiện lý
luận về các loại người đồng phạm trong khoa học Luật hình sự Việt Nam. Cụ thể,
Footer Page 13 of 126.

10


Header Page 14 of 126.

đã làm rõ các khái niệm về người thực hành, người tổ chức, người xúi giục, người
giúp sức trong đồng phạm, phân biệt các loại người đồng phạm với một số chủ thể
không trong vụ đồng phạm mà hiện nay thường có sự nhầm lẫn trong thực tiễn;

làm sáng tỏ chế định đồng phạm theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999;
phân tích thông qua nghiên cứu thực tiễn xét xử các vụ án đồng phạm trên địa bàn
thành phố Hải Phòng từ năm 2011 đến năm 2015, qua đó chỉ ra những mâu thuẫn,
bất cập của các quy định hiện hành; chỉ ra các sai sót trong quá trình áp dụng quy
định, đưa ra nguyên nhân để tìm giải pháp khắc phục, nâng cao hiệu quả áp dụng
các quy định của Bộ luật hình sự về đồng phạm .
Về thực tiễn, luận văn còn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo lý luận, có thể
sử dụng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu, học tập. Những đề xuất, kiến nghị của
luận văn sẽ cung cấp những luận cứ khoa học phục vụ cho công tác lập pháp và
hoạt động thực tiễn áp dụng BLHS Việt Nam liên quan đến việc xác định các loại
người đồng phạm, góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống
các tội phạm dưới hình thức đồng phạm.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài kết cấu cơ bản của một luận văn, gồm lời mở đầu, nội dung, kết luận
và danh mục tài liệu tham khảo thì luận văn được chia làm ba chương.
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về các loại người đồng phạm
Chương 2: Quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam 1999 về các loại người
đồng phạm và trách nhiệm hình sự của họ
Chương 3: Thực tiễn xét xử các vụ án đồng phạm trên địa bàn thành phố
Hải Phòng và một số kiến nghị, đề xuất

Footer Page 14 of 126.

11


Header Page 15 of 126.

Chƣơng 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC LOẠI NGƢỜI ĐỒNG PHẠM
1.1. Các khái niệm có liên quan

1.1.1. Khái niệm đồng phạm
Nghiên cứu lịch sử pháp luật hình sự của nước ta trong những năm đầu của
chính quyền nhân dân, vấn đề đồng phạm chưa được quy định một cách đầy đủ,
cụ thể, đồng phạm mới chỉ được phân biệt thành chính phạm và tòng phạm,
đồng nhất TNHS của những người tham gia trong bất kỳ trường hợp nào. Từ
những năm 60 đến trước năm 1985, cùng với sự phát triển của khoa học luật
Hình sự, vấn đề đồng phạm đã được quan tâm, đề cập nhiều hơn trong các sách
báo pháp lý, các công trình nghiên cứu. Tại Hội nghị tổng kết xét xử năm 1963,
Tòa án nhân dân tối cao có định nghĩa về đồng phạm (cộng phạm) như sau:
“Coi là cộng phạm nếu hai hoặc nhiều người cùng chung ý chí, cùng chung
hành động, nghĩa là hoặc tổ chức, hoặc xúi giục, hoặc giúp sức hoặc trực tiếp
cùng tham gia thực hiện hành vi phạm tội để cùng đạt tới kết quả phạm tội”.
Định nghĩa này về cơ bản đã xây dựng được khái niệm đồng phạm, trong đó xác
định được những dấu hiệu điển hình của đồng phạm. Tuy nhiên, nó chưa mang
tính khái quát và chưa phản ánh được những dấu hiệu đặc trưng của đồng phạm.
Mặc dù thực tiễn xét xử từ những năm 1946 đã đề cập đến vấn đề đồng phạm
trong các văn bản pháp luật hình sự nhưng vấn đề đồng phạm vẫn chưa được
quy định thành một chế định cụ thể.
Đồng phạm là một khái niệm cơ bản trong khoa học luật hình sự, Bộ luật
Hình sự đầu tiên của nước ta năm 1985, được Quốc hội thông qua vào ngày
27/6/1985 lần đầu tiên ghi nhận khái niệm đồng phạm, tại Điều 17:“Hai hoặc
nhiều người cố ý cùng thực hiện một tội phạm là đồng phạm”. Quy định này đã
đánh dấu một bước phát triển tích cực trong hoạt động lập pháp hình sự ở nước
ta. Thuật ngữ đồng phạm thay thế cho thuật ngữ cộng phạm được sử dụng trong

Footer Page 15 of 126.

12



Header Page 16 of 126.

các văn bản pháp luật hình sự trước đây, mặc dù bản chất pháp lý không thay
đổi, nhưng chính xác hơn. Tuy nhiên, khái niệm đồng phạm được quy định
trong Bộ luật hình sự 1985 vẫn tồn tại nhược điểm về mặt kỹ thuật lập pháp
hình sự, đó là thuật ngữ “hai người” được hiểu thuộc phạm trù “nhiều người”,
nói cách khác có sự lặp lại không cần thiết. Do đó, Bộ luật Hình sự 1999, được
Quốc hội thông qua vào ngày 21/12/1999 đã đưa ra định nghĩa pháp lý về khái
niệm đồng phạm tại Khoản 1 Điều 20 như sau: “Đồng phạm là trường hợp có
hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm”. Trong luật hình sự Việt
Nam, khái niệm đồng phạm là khái niệm cơ bản để từ đó xác định các quy phạm
khác của chế định đồng phạm về các loại người đồng phạm, các giai đoạn thực
hiện tội phạm, tự ý nửa chừng chấm dứt việc thực hiện tội phạm trong đồng
phạm, các hình thức đồng phạm và trách nhiệm hình sự trong đồng phạm. Việc
nhận thức đúng đắn khái niệm đồng phạm và xác định chính xác đồng phạm
trong thực tiễn xét xử là bảo đảm quan trọng cho việc thực hiện nguyên tắc pháp
chế xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực hình sự. Nguyên tắc này nhằm mục đích xử
lý đúng người, đúng tội, không kết tội oan và không để lọt tội phạm.
Từ khái niệm đồng phạm nêu trên, ta có thể đưa ra những căn cứ để xác định
một vụ đồng phạm bao gồm:
Thứ nhất, về mặt khách quan: số lượng người tham gia trong vụ án phải có từ
hai người trở lên, những người này đều phải có đủ năng lực trách nhiệm hình sự,
đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của BLHS và họ phải cùng nhau
thực hiện một tội phạm. Hành vi của người đồng phạm này liên kết chặt chẽ với
hành vi của người đồng phạm kia. Hành vi của những người đồng phạm phải
hướng về một tội phạm, phải tạo điều kiện, hỗ trợ cho nhau để thực hiện một tội
phạm thuận lợi, nói cách khác hành vi của đồng phạm này là tiền đề cho hành vi
của đồng phạm kia. Hành vi của tất cả những người trong vụ án đồng phạm đều là
nguyên nhân dẫn đến hậu quả tác hại chung của tội phạm, mặc dù có người trực
Footer Page 16 of 126.


13


Header Page 17 of 126.

tiếp, người gián tiếp gây ra hậu quả tác hại. Đây là đặc điểm về quan hệ nhân quả
trong vụ án đồng phạm.
Thứ hai, về mặt chủ quan: tất cả những người trong vụ án đồng phạm phải có
hình thức lỗi cố ý cùng thực hiện một tội phạm. Họ đều thấy rõ hành vi của toàn bộ
những người trong vụ án là nguy hiểm cho xã hội , mong muốn thực hiện tội phạm
hoặc có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra. Mỗi người đồng phạm đều thấy trước
hành vi của mình, thấy trước hành vi của tất cả những người đồng phạm là nguyên
nhân dẫn đến hậu quả tác hại. Đối với những tội phạm mà động cơ và mục đích
nêu trong điều luật là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm thì chỉ những
người phạm tội có động cơ và mục đích giống nhau thì mới có thể là đồng phạm
của nhau.
Trên thực tế, trường hợp đồng phạm thường gây ra hoặc đe doạ gây ra thiệt hại
nghiêm trọng hơn trường hợp chỉ có một người phạm tội. Do số người, thời gian
thực hiện tội phạm nhiều hơn và giữa họ có điều kiện giúp đỡ nhau về tinh thần và
vật chất, dẫn đến hoạt động phạm tội kiên quyết và táo bạo hơn. Trong vụ đồng
phạm, các đối tượng phạm tội dễ che giấu vết tích của tội phạm, trốn tránh sự truy
tìm của các cơ quan điều tra. Những tội phạm nguy hiểm nhất thường được thực
hiện dưới hình thức đồng phạm như: các tội xâm phạm an ninh quốc gia, các tội
xâm phạm sở hữu…Đồng phạm có tính nguy hiểm cao hơn cho xã hội nên được
quy định rất kỹ trong phần chung BLHS 1999 (Điều 20, Điều 48 khoản 1 điểm a)
và trong phần các tội phạm, ví dụ: Điều 79 tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền
nhân dân, Điều 82 tội bạo loạn…
1.1.2. Khái niệm các loại người đồng phạm
Nghiên cứu lịch sử khoa học luật hình sự nước ta, có thể thấy khái niệm

người đồng phạm chưa được các nhà làm luật quan tâm, ghi nhận về mặt pháp
lý, mà chỉ đề cập đến từng loại người đồng phạm cụ thể. Như vậy, để có một

Footer Page 17 of 126.

14


Header Page 18 of 126.

khái niệm chính xác về người đồng phạm chúng ta phải đi từ khái niệm đồng
phạm là khái niệm cơ bản, từ khái niệm đó, có thể hiểu người đồng phạm là
người cố ý tham gia vào việc thực hiện tội phạm cùng với người khác, người
đồng phạm phải là người thỏa mãn các điều kiện cơ bản của tội phạm, đồng thời
phải cùng tham gia thực hiện hành vi phạm tội với người khác.
Theo quy định pháp luật hình sự và các văn bản pháp luật chính thống hiện
nay, các loại người đồng phạm được phân biệt thành bốn loại người, bao gồm:
người thực hành, người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức. Cơ sở để
phân biệt các loại người đồng phạm là dựa trên vai trò, tính chất, sự tham gia
của họ vào việc thực hiện tội phạm. Trong một vụ đồng phạm, mỗi loại người
đồng phạm khác nhau sẽ tham gia với một vai trò khác nhau, hành vi, tính chất
phạm tội cũng khác nhau, nhưng động cơ, mục đích phạm tội là giống nhau.
Việc phân biệt các loại người đồng phạm có một ý nghĩa rất quan trọng cả về
mặt lý luận và thực tiễn. Phân biệt các loại người đồng phạm giúp các cơ quan
áp dụng pháp luật có được cái nhìn tổng quan, đúng đắn xuyên suốt quá trình
xét xử vụ án có đồng phạm. Theo khoa học Luật hình sự, người thực hành là
người có vai trò quan trọng nhất, vì họ là người thực hiện hành vi nguy hiểm
được mô tả trong cấu thành tội phạm. Người thực hành chính là người hiện thực
hóa ý định phạm tội của cả nhóm đồng phạm. Mức độ thiệt hại của tội phạm do
họ quyết định. Do đó, nhiều quy định xác định TNHS của vụ đồng phạm phụ

thuộc vào hành vi của người thực hành. Tuy nhiên, người thực hành không phải
là người nguy hiểm nhất. Theo quan điểm hiện nay, người tổ chức, người xúi
giục được coi là người nguy hiểm nhất, vì họ là tác giả tinh thần của tội phạm.
Người giúp sức cũng có đóng góp vai trò trong vụ đồng phạm, nhưng mức độ
nguy hiểm không như hành vi của người tổ chức, người xúi giục.

Footer Page 18 of 126.

15


Header Page 19 of 126.

1.2. Phân biệt các loại ngƣời đồng phạm với chủ thể của một số tội phạm
Trong Bộ luật hình sự, có những hành vi bị coi là tội phạm, có tính chất
tương đối giống với hành vi của một trong những người đồng phạm như: người
che dấu tội phạm, người không tố giác tội phạm, người hoạt động đắc lực… Do
đó, trên thực tế và lý luận cần phân biệt để đảm bảo sự nhận thức thống nhất.
1.2.1. Phân biệt các loại người đồng phạm với chủ thể trong tội che giấu tội
phạm
Che giấu tội phạm là hành vi của người tuy không hứa hẹn trước, nhưng sau
khi biết tội phạm được thực hiện đã che giấu người phạm tội, dấu vết, tang vật của
vụ án hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội.
Người thực hiện hành vi che giấu tội phạm phải chịu TNHS về tội che giấu tội
phạm trong các trường hợp được quy định tại Điều 313 BLHS 1999. Tuy nhiên,
đến BLHS 2015, vấn đề TNHS của người che giấu tội phạm đã có sự thay đổi.
Người che giấu tội phạm sẽ được loại trừ TNHS trong một số trường hợp người
che giấu là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người
phạm tội, trừ trường hợp che giấu các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc
biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của BLHS 2015. Về cơ bản, tội che

giấu tội phạm có các đặc trưng như sau:
a) Chủ thể: chủ thể của tội phạm này tuy không phải là chủ thể đặc biệt,
nhưng không phải ai cũng có thể trở thành chủ thể của tội phạm này, mà chỉ những
người từ đủ 16 tuổi trở lên mới có thể là chủ thể của tội phạm này. Vì theo quy
định tại khoản 1 và khoản 2 của Điều 313 BLHS 1999 thì không có trường hợp nào
là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng. Trong khi đó theo quy
định tại Điều 12 BLHS 1999 thì người đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi
chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội

Footer Page 19 of 126.

16


Header Page 20 of 126.

phạm đặc biệt nghiêm trọng, còn người đủ 16 tuổi trở lên mới chịu trách nhiệm
hình sự về mọi tội phạm.
b) Mặt khách quan: hành vi khách quan của tội che giấu tội phạm là hành vi
che giấu tội phạm. Những hành vi này được thực hiện một cách độc lập, sau khi
người khác đã thực hiện tội phạm . Tuy nhiên hành vi che giấu này không phải do
hứa hẹn trước với người thực hiện tội phạm mà chỉ che giấu sau khi biết tội phạm
đã thực hiện. Hành vi che giấu tội phạm có thể được thực hiện dưới một trong các
hình thức sau:
- Che giấu người phạm tội: là biết rõ một người đã thực hiện một tội phạm
nhưng đã chứa chấp, nuôi giấu trong nhà mình, tìm địa điểm cho người phạm tội
ẩn náu để không bị bắt, giúp đỡ người phạm tội bỏ trốn, giúp người phạm tội thay
hình đổi dạng để tránh sự truy tìm, phát hiện của mọi người hoặc có những hành vi
khác che giấu người phạm tội.
- Che giấu các dấu vết của tội phạm: một tội phạm xảy ra bao giờ cũng để lại

các dấu vết, các dấu vết mà tội phạm để lại có ý nghĩa rất quan trọng cho việc
chứng minh tội phạm, từ dấu vết mà cơ quan tiến hành tố tụng tìm ra thủ phạm.
Thông thường, người thực hiện hành vi phạm tội tự mình xoá các dấu vết, nhưng
cũng nhiều trường hợp người phạm tội do không kịp xoá các dấu vết nên sau khi
phạm tội đã nhờ người khác hoặc tuy không được nhờ nhưng người khác tự mình
xoá các dấu vết của tội phạm nhằm che giấu hành vi phạm tội của người đã thực
hiện tội phạm đó.
- Che giấu tang vật của tội phạm: tang vật của vụ án là công cụ, phương tiện
mà người phạm tội dùng vào việc thực hiện tội phạm. Che giấu tang vật là hành vi

Footer Page 20 of 126.

17


Header Page 21 of 126.

cất giấu, huỷ hoại hoặc làm biến dạng công cụ, phương tiện mà người phạm tội
dùng vào việc thực hiện tội phạm.
- Hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội: cản trở
việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội là không muốn cho tội phạm bị phát
hiện, xử lý theo pháp luật. Hành vi cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người
phạm tội rất đa dạng như: lợi dụng chức vụ, quyền hạn từ chối cung cấp các tài
liệu, sổ sách, giấy tờ có liên quan đến tội phạm; từ chối cung cấp địa chỉ, nơi ở của
người phạm tội đang ẩn náu mà mình biết rõ; dùng quyền hành để dụ dỗ, mua
chuộc, cướng ép người khác không khai báo, không cung cấp tài liệu, cho cơ quan
tiến hành tố tụng.
c) Mặt chủ quan : hành vi che giấu tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý.
Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là tạo điều kiện giúp cho người
phạm tội trốn tránh được sự trừng phạt của pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Hậu quả

của hành vi che giấu tội phạm không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội
phạm này. Tội phạm hoàn thành từ khi người phạm tội đã thực hiện hành vi che
giấu tội phạm, không phụ thuộc vào kết quả của việc che giấu đó có đạt kết quả
hay không.
Ngoài ra, cũng cần phân biệt trường hợp hứa sẽ che giấu hành vi phạm tội
trước khi một người thực hiện hành vi phạm tội nhưng sau khi tội phạm được thực
hiện thì họ không có sự che dấu gì, với trường hợp không hứa hẹn trước nhưng sau
khi biết tội phạm được thực hiện đã có hành vi che giấu người phạm tội. Trong
trường hợp hứa hẹn trước sẽ che giấu tội phạm, người phạm tội bị xử lý hình sự
theo tội danh mà người phạm tội đã thực hiện với vai trò là đồng phạm giúp sức.

Footer Page 21 of 126.

18


Header Page 22 of 126.

Ví dụ: Trước khi thực hiện hành vi cướp tài sản, A rủ B cùng tham gia, B đã
hứa hẹn trước là sẽ cất giấu tài sản mà A cướp được. Trong trường hợp này, B sẽ
bị xử lý hình sự về tội cướp tài sản mà A đã thực hiện với tư cách là đồng phạm
giúp sức.
1.2.2. Phân biệt các loại người đồng phạm với chủ thể trong tội không tố
giác tội phạm
Không tố giác tội phạm là khái niệm gần gũi với vụ án đồng phạm, nhưng
không phải là đồng phạm. Đây là tội phạm độc lập, tội này tuy được thực hiện với
hình thức lỗi cố ý nhưng người phạm tội không hứa hẹn trước về việc không tố
giác tội phạm. Hành vi không tố giác tội phạm là hành vi đến sau, khi mà tội phạm
đã được thực hiện xong. Khác với tội che giấu tội phạm, tội không tố giác tội phạm
được thực hiện khi tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã

được thực hiện mà không tố giác. Nếu tội che giấu tội phạm áp dụng khi tội phạm
đã được thực hiện, biết rõ điều ấy mà cố tình che giấu, tội che giấu tội phạm được
thực hiện bằng phương pháp hành động, thì tội không tố giác tội phạm được thực
hiện bằng phương pháp không hành động. Tội không tố giác tội phạm cũng có một
số đặc trưng như sau:
a) Chủ thể: chủ thể của loại tội phạm này cũng không phải là chủ thể đặc
biệt, nhưng chỉ những người từ đủ 16 tuổi trở lên mới có thể là chủ thể của tội
phạm này. Ngoài ra, BLHS 1999 quy định các trường hợp không tố giác tội phạm
phải chịu trách nhiệm hình sự tại Điều 314 BLHS 1999, loại trừ TNHS trong
trường hợp người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ
hoặc chồng của người phạm, trừ trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an
ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng. Bổ sung trường hợp người không tố
giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội

Footer Page 22 of 126.

19


Header Page 23 of 126.

phạm, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt (Khoản 3
Điều 314 BLHS 1999).
b) Mặt khách quan: tội che giấu tội phạm được thực hiện bằng các hành vi:
che giấu người phạm tội, che giấu các dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc hành vi
khác cản trở việc điều tra, xử lý người phạm tội. Những hành vi này được thực
hiện một cách độc lập, sau khi người khác đã thực hiện tội phạm mà không hứa
hẹn trước, vì vậy đây không phải là đồng phạm, mà là tội phạm độc lập. Tội che
giấu tội phạm được thực hiện bằng phương pháp hành động, bằng sự chủ động tích
cực làm những việc mà BLHS sự cấm.

c) Mặt chủ quan: tội che giấu tội phạm được thực hiện do cố ý trực tiếp.
Người che giấu tội phạm biết rõ tội phạm đã được thực hiện, biết rõ che giấu tội
phạm là cản trở hoạt động điều tra, xử lý tội phạm, gây khó khăn cho hoạt động
này, tuy nhiên họ mong muốn che giấu trót lọt tội phạm.
So với BLHS 1999, nội dung quy định về không tố giác tội phạm trong
BLHS 2015 cơ bản vẫn bao gồm nội dung nêu trên. Tuy nhiên, bổ sung thêm
Khoản 3 Điều 19 BLHS 2015 về người bào chữa. Theo đó, người bào chữa không
phải chịu trách nhiệm hình sự trong trường hợp không tố giác tội phạm do chính
người mình bào chữa đã thực hiện hoặc đã tham gia thực hiện mà người bào chữa
biết được khi thực hiện nhiệm vụ bào chữa, trừ trường hợp không tố giác các tội
xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại
Điều 389 BLHS 2015.
1.2.3. Phân biệt các loại người đồng phạm với người hoạt động đắc lực trong
một số tội phạm
Khác với khái niệm người thực hành, người tổ chức, người xúi giục, người
giúp sức, khái niệm người hoạt động đắc lực không được ghi nhận một cách cụ
thể, chính thức trong BLHS và cũng không được đề cập, nghiên cứu trong các

Footer Page 23 of 126.

20


Header Page 24 of 126.

tài liệu chuyên khảo của luật hình sự. Tuy nhiên, trong một số điều của BLHS
1999, tại phần các tội phạm: Điều 81, Điều 82 quy định về tội xâm phạm an
ninh lãnh thổ, tội bạo loạn...có nhắc đến một loại người là người hoạt động đắc
lực. Vậy khái niệm người hoạt động đắc lực được hiểu như thế nào? Người hoạt
động đắc lực có phải là một trong số các loại người đồng phạm hay không? Vấn

đề này cũng nên được pháp luật hình sự nghiên cứu, quy định một cách đầy đủ.
Theo quan điểm cá nhân, tác giả cho rằng người hoạt động đắc lực là người
tham gia chủ yếu, tích cực trong suốt quá trình thực hiện tội phạm cùng với
những người đồng phạm khác, là người đóng vai trò quan trọng, có tính quyết
định đối với hành vi phạm tội. Người hoạt động đắc lực có thể là người thực
hành, người tổ chức, người xúi giục hoặc người giúp sức, miễn là trong vụ đồng
phạm họ tham gia với mức độ cao, có một vai trò quan trọng trong vụ án và có
những hành vi làm gia tăng mức độ nguy hiểm của vụ án đó. Nếu việc phân biệt
các loại người đồng phạm thành người thực hành, người tổ chức, người xúi
giục, người giúp sức là dựa trên tính chất, vai trò tham gia của những người
đồng phạm thì người hoạt động đắc lực được phân biệt dựa trên mức độ tham
gia vào việc thực hiện phạm tội của những người đồng phạm. Tất cả các loại
người đồng phạm nêu trên đều có thể trở thành người hoạt động đắc lực nếu
hành vi của họ tham gia với mức độ tích cực.
Ví dụ: A, B, C rủ nhau, cùng bàn bạc đến tiệm vàng Mỹ Hưng để cướp. A là
người chủ mưu, lên kế hoạch thực hiện, đồng thời A đã đi mua dao và sửa soạn
những công cụ cần thiết để thực hiện hành vi phạm tội. Tối ngày 27/7/2015, như
kế hoạch đã được bàn bạc từ trước A, B, C cùng có mặt tại hiện trường để thực
hiện hành vi cướp tài sản tại tiệm vàng Mỹ Hưng. Trong vụ án đồng phạm này,
A được coi là người hoạt động đắc lực.

Footer Page 24 of 126.

21


Header Page 25 of 126.

1.3. Pháp luật hình sự của một số nước quy định về các loại người đồng
phạm

1.3.1. Pháp luật hình sự Liên bang Nga
Luật hình sự Liên bang Nga sử dụng một cách linh hoạt lý thuyết mượn tội
phạm tính - xác định TNHS của những người đồng phạm khác thông qua hành
vi phạm tội của người thực hành. Các giai đoạn thực hiện tội phạm của những
người đồng phạm khác được xác định độc lập tương đối, không hoàn toàn thông
qua các giai đoạn, mức độ thực hiện tội phạm của người thực hành. Hành vi xúi
giục chưa đạt, giúp sức và tổ chức chưa đạt được xác định là hành vi chuẩn bị
phạm tội. Hành vi tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội của người tổ chức,
người xúi giục, người giúp sức được công nhận căn cứ vào hành vi tích cực của
họ nhằm khắc phục, vô hiệu hóa kết quả sự hỗ trợ việc phạm tội trước đó của
mình, mà không liên hệ, thông qua hành vi thực hiện tội phạm của người thực
hành.
Điều 35, Bộ luật hình sự Liên bang Nga năm 1998 sửa đổi, bổ sung các năm
1999, 2001,2009,2010 ghi nhận các hình thức đồng phạm sau: (i) Nhóm; (ii) Nhóm
có thỏa thuận trước; (iii) Nhóm có tổ chức và đảng tội phạm. Theo đó, tội phạm
được thực hiện bởi nhóm có tổ chức là nhóm người ổn định, liên kết với nhau từ
trước để thực hiện một hoặc nhiều tội phạm. Khác với nhóm liên kết với nhau theo
thỏa thuận trước, nhóm có tổ chức đòi hỏi phải có dấu hiệu về tính ổn định, bền
vững và sự liên kết với nhau từ trước giữa các thành viên nhằm mục đích thực hiện
tội phạm. Trong điều luật này còn phân biệt hình thức đảng tội phạm. Đây là nhóm
có tổ chức chặt chẽ, bền vững được thành lập nhằm mục đích thực hiện các tội rất
nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng hoặc là liên kết của các nhóm có tổ chức.
Đảng tội phạm là hình thức đồng phạm nguy hiểm nhất trong số các hình thức
đồng phạm có thỏa thuận trước. Tính ổn định của của các thành viên của đảng tội

Footer Page 25 of 126.

22



×