Tải bản đầy đủ (.docx) (15 trang)

Tóm tắt luận văn: Hoàn thiện quản lý ngân sách Nhà nước trên địa bàn thành phố Nam Định tỉnh Nam Định

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (226.29 KB, 15 trang )

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Về tính cấp thiết của đề tài
Ngân sách Nhà nước là một công cụ quản lý tài chính quan trọng của một quốc gia, để quản lý
quá trình hình thành và phân bố một cách có hiệu quả việc sử dụng các nguồn lực tài chính khan hiếm
của quốc gia đó, tạo tiền đề và điều kiện thuận lợi thúc đẩy sự phát triển hài hoà cả về kinh tế và xã
hội, bảo đảm mục tiêu ổn định, công bằng và bền vững, thông qua việc thoả mãn nhu cầu xã hội. Trên
cơ sở đó tạo điều kiện tăng thu nhập, cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư.
Thực tế cho thấy ở các nước trên thế giới, NSNN thực sự trở thành một công cụ quản lý tài
chính quan trọng thông qua đó Nhà nước thực hiện các mục tiêu phát triển. Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào
đặc điểm của từng nước, tuỳ thuộc vào quan điểm, và nhận thức của các nhà hoạch định quản lý (cũng
như các ràng buộc khác) mục tiêu, định hướng, nhịp độ phát triển có thể có sự khác nhau giữa các
quốc gia.
Việt Nam (nhất là sau 1986) luôn theo đuổi chủ trương thực thi quản lý sử dụng NSNN là một công cụ
tài chính quan trọng để thúc đẩy sự phát triển các ngành và các vùng kinh tế. Năm 1996 luật NSNN ra
đời (có hiệu lực thi hành từ năm Ngân sách 1997) sau đóđược thay thế bằng luật NSNN năm 2002 (có
hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2004) đã góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả quản lý điều hành
NSNN theo chủ trương trên.
Thành phố Nam Định vừa là một cấp vùng kinh tế chiến lược; lại vừa là một cấp hành chính
địa phương lớn nhất của tỉnh Nam Định. Sự trùng hợp giữa kinh tế và hành chính đã cho phép thành
phố Nam Định là một cấp NSNN quan trọng.
Phát triển kinh tế - xã hội các tỉnh - thành phố là một nhiệm vụ sống còn đối với đất nước. Nhà
nước sử dụng công cụ NSNN như thế nào để thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội ở các địa phương.
Luật NSNN năm 2002, các văn bản dưới luật và Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành luật đã có tác dụng
to lớn vào việc nâng cao hiệu quả quản lý điều hành ngân sách Nhà nước nhằm thực hiện mục tiêu
phát triển đất nước nói chung và từng địa phương nói riêng. Tuy nhiên, tình hình kinh tế, đời sống của
cả nước và địa phương phát triển, biến đổi từng ngày, luật ngân sách và các văn bản khác qua thực
hiện bộc lộ những lạc hậu, hạn chế cần được bổ sung, hoàn thiện trong vấn đề quản lý NSNN.
Với lí do đó, tôi chọn đề tài: "Hoàn thiện quản lý ngân sách Nhà nước trên địa bàn thành
phố Nam Định- tỉnh Nam Định" làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu


Mục đích nghiên cứu của luận văn : khảo sát đánh giá công tác quản lý NSNN đối với thành
phố Nam Định trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay. Từ đó, đề xuất các quan điểm các phương
hướng và giải pháp tiếp tục hoàn thiện quản lý ngân sách đối với thành phố Nam Định trong thời gian
tới.
Để thực hiện mục đích luận văn phải hoàn thành các nhiệm vụ sau:
1


Về mặt lí luận : sẽ hệ thống hoá các cơ sở lí luận liên quan đến đề tài như : NSNN, Ngân sách
thành phố Nam Định; phát triển kinh tế - xã hội thành phố Nam Định; Quản lý NSNN thành phố Nam
Định trong điều kiện nền kinh tế thị trường.
Phân tích thực trạng quản lý NSNN đối với thành phố Nam Định – tỉnh Nam Định hiện nay.
Các phân tích được tiến hành trên cơ sở các quan điểm phát triển, quan điểm thị trường... và qua điều
tra khảo sát, phân tích nhằm phát hiện hệ thống quản lý NSNN đối với thành phố Nam Định hiện nay
còn những gì cản trở sự phát triển, cản trở sự hình thành cơ chế thị trường.
Đề xuất các quan điểm, hướng đổi mới hệ thống quản lý và các biện pháp tạo điều kiện thực
hiện các đổi mới đãđề xuất.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là NSNN, NSNN thành phố Nam Định, hệ thống phân cấp quản lý NSNN
đối với các địa phương của Nhà nước.
Hướng tiếp cận : Từ vị trí của các nhà hoạch định quản lý ngân sách ở TW, để nhìn nhận lại hệ
thống quản lý đã ban hành, theo các quan điểm phát triển, quan điểm kinh tế thị trường, và quan điểm hiệu
quả kinh tế- xã hội và thực tiễn thực thi các phân cấp quản lý thuộc lĩnh vực này các năm qua.
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu tình hình sau khi có luật NSNN 2002 là chủ yếu, có đối chiếu
với tình hình ở thời kỳ thực thi luật NSNN 1996.
Việc quản lý NSNN thành phố Nam Định liên quan đến hàng loạt phân cấp quản lý cụ thể, ít
nhất cũng là các phân cấp quản lý thu, chi ngân sách, các phân cấp quản lý thể hiện vai trò của nhà
nước trong các quan hệ giữa Nhà nước và các chủ thể kinh tế của nền kinh tế thị trường, phân cấp
quản lý phân định quyền hạn giữa TW với các cấp chính quyền địa phương trong quá trình hình
thành, tạo lập và sử dụng hợp lý có hiệu quả NSNN.... Tuy nhiên, do đối tượng nghiên cứu tập trung là

quản lý ngân sách cấp thành phố, nên nhóm phân cấp quản lý phân định trách nhiệm, quyền hạn giữa
TW với cấp chính quyền địa phương là quan trọng và bao trùm.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Hệ thống hoá những vấn đề lý luận và các quan điểm của nhà nước ta về phân cấp QLNSNN
trong công cuộc đổi mới đất nước.
Đánh giá tổng quát Thực trạng QLNSNN thành phố Nam Định giai đoạn 2011 - 2013.
Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm phát huy tính tích cực và hạn chế QLNSNN thành
phố Nam Định giai đoạn 2011 - 2013.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sẽ sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như: điều tra, khảo sát, phân tích, so
sánh, suy diễn, khái quát hoá… để nghiên cứu.
Thống kê, tổng hợp đánh giá dựa trên lý thuyết về NSNN, tình hình quản lý Thu - Chi và số liệu
thực tiễn về thu – chi ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố Nam Định.
6. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn dự kiến có 3 chương :
2


Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sỏ lý luận về NSNN
Chương 2 : Phương pháp luận và thiết kế nghiên cứu
Chương 3 : Thực trạng QLNSNN trên địa bàn thành phố Nam Định – tỉnh Nam Định
Chương 4 : Giải pháp hoàn thiện QLNSNN trên địa bàn thành phố Nam Định – tỉnh Nam
Định
CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CƯU VÀ CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ NSNN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Cùng với quá trình phát triển kinh tế của đất nước, công cụ ngân sách nhà nước đóng vai trò
hết sức quan trọng trong điều chỉnh chính sách vĩ mô. Tuy nhiên, với khả năng hạn hẹp thì việc sử
dụng các công cụ này như thế nào cho hiệu quả là một thách thức lớn, đòi hỏi các cấp, các ngành phải
thường xuyên nghiên cứu, từ lý luận đến thực tiễn để đưa ra những kiến nghị, những giải pháp góp
phần ngày càng hoàn thiện và nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách nhà nước.

Thực tế hiện nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về ngân sách nhà nước và quản lý ngân
sách nhà nước. Các tác giả đã đưa ra được nhiều những giải pháp kiến nghị có đóng góp tích cực vào
công tác quản lý ngân sách đặc biệt là hoàn thiện phân cấp quản lý NSNN, cân đối thu – chi ngân sách
nhà nước, chu trình ngân sách … Chính vì thế những năm vừa qua, nước ta đã thực hiện tương đối tốt
việc quản lý ngân sách nhà nước, nhờ đó góp phần ổn định và lành mạnh hóa nền tài chính quốc gia,
tạo điều kiện ổn định và tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội, phát triển nội lực phục vụ công cuộc
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Một số công trình nghiên cứu khoa học và một số tài liệu
tham khảo chuyền tải được những vấn đề về học thuật và thực tiễn liên quan đến ngân sách nhà nước,
hoàn thiện công tác quản lý ngân sách nhà nước có thể kể đến như :
Nghiên cứu khoa học của Phạm Văn Thịnh ( năm 2011 ) với đề tài : “ Hoàn thiện công tác
quản lý ngân sách nhà nước huyện Phù Cát ” … trên cơ sở những lý luận cơ bản về ngân sách nhà
nước, quản lý ngân sách huyện đánh giá đúng thực trạng tình hình quản lý ngân sách huyện Phù Cát,
từ đó đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác quản lý ngân sách huyện Phù Cát,
góp phần phát triển kinh tế xã hội … Tuy nhiên đề tài chưa đề cập đến sự phân cấp quản lý NSNN đặc
biệt là phân biệt vai trò cụ thể của từng cấp ngân sách.
Công trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Quỳnh Tiên (2014) luận văn thạc sĩ với đề tài : “ Phân
cấp quản lý ngân sách nhà nước tại tỉnh Quảng Trị ” hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về
phân cấp NSNN cho chính quyền địa phương hiện ở Việt Nam hiện nay; đánh giá hiệu lực hiệu quả về
phân cấp NSNN, phân tích thực trạng phân cấp quản lý ngân sách nhà nước tại tỉnh Quảng Trị; từ đó
đề xuất một số giải pháp tăng cường quản lý phân cấp NSNN tại tỉnh Quảng Trị trong những năm tới,
đáp ững nhu cầu phát triển kinh tế của địa phương. Tuy nhiên đề tài này chỉ đánh giá sự phân cấp quản
lý giữa ngân sách trung ương và ngân sách cấp tỉnh mà chưa đề cập đến tình hình quản lý ngân sách
nhà nước ở cấp huyện, thành phố và phường xã.

3


Bài viết “ Bàn về phân cấp quản lý ngân sách ” của tác giả ThS. Trần Việt Thảo trên tạp chí
Kinh tế và Dự báo, cơ quan ngôn luận của Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Tác giả đã phân tích rất chi tiết
những hạn chế, những vấn đề còn bất cập trong hệ thống ngân sách nhà nước. Từ đó đưa ra được các

giải pháp nhằm hạn chế và khắc phục các bất cập trên. Tuy nhiên, tác giả mới chỉ phân tích trên quan
điểm chủ quan chưa đưa ra được những số liệu thực tế về phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi cũng như
sự phân bổ ngân sách cấp trên – cấp dưới…
Bài nghiên cứu : “ Quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra và khả năng áp dụng ở Việt Nam ”
của PGS, TS. Nguyễn Văn Hậu ( Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh ) đăng trên
tạp chí Kinh tế và Dự báo. Trong bài nghiên cứu này tác giả đưa ra giải pháp có thể khắc phục những
nhược điểm của phương thức truyền thống quản lý ngân sách nhà nước theo đầu vào. Nhờ đó, nâng
cao hiệu quả quản lý ngân sách nhà nước… Việt Nam cần hoàn thiện hệ thống phân bổ vốn ngân sách
có căn cứ khoa học vững chắc dựa trên đầu vào; có thể áp dụng kiểu “ Ngân sách trọn gói ” trong 3
năm đối với chi thưởng xuyên, tiến tới áp dụng đối với cả các khoản chi đầu tư nhằm tăng tính linh
hoạt hơn cho các đơn vị sử dụng NSNN. Đẩy mạnh quá trình cải cách hành chính công, gắn liền với
cải cách chi tiêu công nhằm đơn giản hóa các thủ tục hành chính và tăng cường việc sử dụng hiệu quả
các nguồn lực công. Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị cũng như của công
chức nhà nước, viên chức sự nghiệp làm cơ sở xác định mức lao động và nguồn ngân sách cấp. Tuy
nhiên, để có thể áp dụng phương pháp này, Việt Nam còn phải trải qua những bước chuẩn bị khá
dài…
Như vậy cho đến hiện nay, chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu nghiên cứu một
cách toàn diện về ngân sách nhà nước, quản lý ngân sách nhà nước theo định hướng hoàn thiện sự
phân cấp quản lý như : Phân cấp nguồn thu, phân cấp theo nhiệm vụ chi, phân bổ ngân sách cấp trên
với cấp dưới …. Các đề tài trước chỉ dừng lại nghiên cứu trên một khía cạnh … và chưa đưa ra được
các giải pháp ứng dụng cho từng địa phương cụ thể. Chính vì vậy đề tài : “ Hoàn thiện quản lý ngân
sách nhà nước trên địa bàn thành phố Nam Định tỉnh Nam Định ” được phát triển nhằm bổ sung cho
các phần nghiên cứu trước và đặc biệt tập trung nghiên cứu tại địa bàn TP Nam Định để cung cấp cho
mọi người một cách nhìn nhận mới về quản lý ngân sách nhà nước cũng như sự phân cấp trong quản
lý.
1.2 Tổ chức hệ thống ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước (NSNN) là phạm trù kinh tế và phạm trù lịch sử. Sự hình thành và phát
triển của NSNN gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của kinh tế hàng hóa – tiền tệ trong các phương
thức sản xuất cộng đồng và Nhà nước của từng cộng đồng. Nói cách khác, sự ra đời của Nhà nước, sự
ra đời của kinh tế hàng hóa – tiền tệ là những tiền đề cho sự phát sinh, tồn tại và phát triển của NSNN.

Trong hệ thống tài chính thống nhất, NSNN là khâu tài chính tập trung giữ vị trí chủ đạo.
NSNN cũng là khâu tài chính được thành lập sớm nhất, nó ra đời tồn tại và phát triển gắn liền với sự
ra đời của hệ thống quản lý Nhà nước và sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa.

4


Về mặt hình thức hoạt động, NSNN biểu hiện đa dạng thông qua các khoản thu,chi tài chính của
Nhà nước ở các lĩnh vực hoạt động KT – XH. Các khoản thu, chi này được tổng hợp trong một bản dự
toán tài chính được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định. Các khoản thu mang tính chất bắt
buộc của NSNN là một là một bộ phận các nguồn tài chính chủ yếu được tạo ra thông qua việc phân
phối thu nhập quốc dân tạo ra trong khu vực sản xuất kinh doanh. Các khoản thu chủ yếu của ngân
sách mang tính chất cấp phát phục vụ cho đầu tư phát triển (ĐTPT) và tiêu dùng xã hội. Như vậy, về
biểu hiện bên ngoài có thể hiểu : NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước có trong dự toán,
đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và được thực hiện trong một năm nhằm đảm bảo
việc thực hiên chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
Song, hoạt động của NSNN là hoạt động phân phối nguồn tài chính của xã hội gắn liền với
hình thành và sử dụng quỹ NSNN. Trong quá trình đó xuất hiện hàng loạt các quan hệ tài chính
giữa một bên là nhà nước và một bên là các chủ thể trong xã hội và chúng được thể hiện ở phần
thu, chi của NSNN.
Như vậy, đằng sau biểu hiện bên ngoài của NSNN là một loại quỹ tiền tệ của Nhà nước với các
khoản thu, chi của nó thì NSNN lại phản ánh các quan hệ kinh tế trong quá trình phân phối, thể hiện
các quan hệ phân phối và các quan hệ lợi ích kinh tế gắn với một chủ thể đặc biệt, đó là Nhà nước
nhằm tạo lập và sử dụng nguồn tài chính của quốc gia để giải quyết các nhiệm vụ về KT – XH. Từ
những phân tích trên, có thể khái niệm về NSNN theo điều 1 Luật NSNN 2002 như sau : “ Ngân sách
Nhà nước là toàn bộ các khoản thu,chi của Nhà nước đã được các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước ”.
1.3 Quản lý ngân sách nhà nước
1.3.1 Khái niệm
Quản lý NSNN là quá trình Nhà nước vận dụng các chức năng của NSNN để hoạch định chính

sách, chế độ; sử dụng hệ thống các phương pháp thích hợp tác động đến các hoạt động thu,chi của
NSNN, làm cho chúng vận động theo yêu cầu khách quan của nền KT – XH, nhằm phục vụ tốt nhất
cho việc thực hiện các chức năng do Nhà nước đảm nhận.
Quản lý NSNN được thể hiện qua việc hoạch định các chính sách, cơ chế quản lý và Luật
NSNN. Việc hoạch định chính sách, cơ chế quản lý và Luật NSNN đứng đắn sẽ tạo điều kiện phát huy
tốt vai trò của ngân sách trong đời sống KT – XH. Quản lý NSNN là nghiệp vụ quản lý vĩ mô nhưng
có sự phân công, phân cấp quản lý kinh tế và hành chính, vừa khai thác tạo ra và nuôi dưỡng nguồn
thu, vừa phải bố trí các nhiệm vụ chi hợp lý. Tác động quản lý phải thông qua các hệ thống, các biện
pháp phù hợp với đặc điểm và quy luật vận động của đối tượng quản lý và được biểu hiện qua nhiều
mặt khác nhau như sau:
- NSNN phải được quản lý bằng pháp luật và kế hoạch.
- Quản lý NSNN sử dụng tổng hợp nhiều biện pháp nhưng rất coi trọng biện pháp tổ chức hành
chính.
- Quản lý NSNN là sự quản lý kết hợp yếu tố con người và yếu tố tài chính.
5


1.3.2 Các nguyên tắc quản lý ngân sách Nhà nước
Quản lý NSNN được thực hiện theo các nguyên tắc cơ bản sau :
- Nguyên tắc thống nhất : mọi khoản thu, chi của một cấp hành chính đưa vào một kế hoạch
ngân sách thống nhất. Thống nhất quản lý chính là việc tuân thủ một khuôn khổ chung từ việc hình
thành, sử dụng, thanh tra, kiểm tra, thanh quyết toán, xử lý các vấn đề vướng mắc trong quá trình triển
khai thực hiện.
- Nguyên tắc dân chủ: sự tham gia của xã hội, công chúng được thực hiện trong suốt chu trình
ngân sách, từ lập dự toán, chấp hành đến quyết toán ngân sách, thể hiện nguyên tắc dân chủ trong quản
lý ngân sách.
- Nguyên tắc cân đối ngân sách : kế hoạch ngân sách được trên cơ sở đảm bảo cân đối thu ,chi
ngân sách.
- Nguyên tắc công khai, minh bạch : các khoản thu,chi NSNN khi được quyết định phải được
công bố công khai cho nhân dân biết

- Nguyên tắc quy trách nhiệm : Nhà nước là cơ quan công quyền, sử dụng các nguồn lực của
nhân dân thực hiện các mục tiêu đề ra. Đây là nguyên tắc yêu cầu về trách nhiệm của các đơn vị cá
nhân trong quá trình quản lý ngân sách.
Quy trách nhiệm yêu cầu phân định rõ ràng quyền hạn và trách nhiệm của từng cá nhân, đơn
vị, chính quyền các cấp trong thực hiện ngân sách Nhà nước theo chất lượng công việc đạt được.
1.3.3 Phân cấp quản lý ngân sách Nhà nước
1.3.3.1 Khái niệm phân cấp quản lý ngân sách nhà nước
Phân cấp quản lý NSNN là việc xác định có bao nhiêu cấp ngân sách và mối quan hệ lẫn nhau
giữa các cấp đó như thế nào. Hơn thế nữa, từng cấp được quyền huy động những khoản thu nào cho
riêng cấp mình, những khoản thu đó dùng để đáp ứng những nhiệm vụ chi nào mà cấp đó phải đảm
nhiệm, ai là người toàn quyển quyết định đối với một cấp ngân sách. Phân cấp quản lý NSNN thực
chất là sự giao trách nhiệm và quyền hạn từ trung ương xuống các cấp chính quyền trong việc quản lý
và điều hành NSNN, đảm bảo cho việc các cấp chính quyền có sự tự chủ nhất định về tài chính để
thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình.
1.3.3.2 Sự cần thiết thực hiện phân cấp quản lý ngân sách Nhà nước
Thứ nhất, phân cấp quản lý ngân sách là tất yếu của dòng tài chính gắn liền với các hoạt động
kinh tế trong không gian và thời gian với những hình thức và phương thức theo các quan hệ tỷ lệ nhất
định về lượng.
Thứ hai, phân cấp quản lý ngân sách là tất yếu vì phải đảm bảo mối quan hệ chặt chẽ giữa phân
cấp quản lý kinh tế và phân cấp quản lý ngân sách.
Thứ ba, phân cấp quản lý NSNN còn là một tất yếu của việc nâng cao chất lượng và hiệu quả của
kế hoạch hóa và quản lý ngân sách.
Phân cấp quản lý ngân sách là cách tốt nhất để gắn các hoạt động của NSNN với các hoạt động KT –
XH địa phương một cách thiết thực và cụ thể nhằm tập trung đầy đủ, kịp thời các nguồn tài chính quốc gia
6


và phân phối sử dụng chúng công bằng, hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả cao. Việc phân cấp quản lý NSNN
liên quan đến hàng loạt phân cấp quản lý cụ thể, chẳng hạn như :
- Phân cấp quản lý thu,chi ngân sách

- Phân cấp quản lý thể hiện vai trò của Nhà nước trong quan hệ Nhà nước với chủ thể nền kinh tế.
- Phân cấp quản lý về phân định trách nhiệm, quyền hạn giữa trung ương và các cấp chính quyền
địa phương trong quá trình hình thành, tạo lập và sử dụng hợp lý, có hiệu quả NSNN.
1.3.3.3 Nguyên tắc của phân cấp quản lý ngân sách Nhà nước
Nguyên tắc 1 : Phân cấp quản lý NSNN phải phù hợp với phân cấp quản lý KT – XH của Nhà
nước.
Nguyên tắc 2 : Phân cấp quản lý NSNN phải đảm bảo thể hiện vai trò chủ đạo của NSTW và vị
trí độc lập của NSĐP trong hệ thống ngân sách thống nhất.
Nguyên tắc 3 : phân định rõ nhiệm vụ thu,chi giữa các cấp.
Nguyên tắc 4 : đảm bảo công bằng trong phân cấp ngân sách.
1.3.3.4 Nội dung của phân cấp quản lý ngân sách nhà nước
- Giải quyết mối quan hệ quyền lực giữa các cấp chính quyền trong việc ban hành các chính
sách, chế độ thu chi, chế độ quản lý NSNN.
- Giải quyết các mối quan hệ vật chất trong quá trình phân giao nhiệm vụ chi, nguồn thu và cân
đối NSNN.
- Giải quyết các mối quan hệ trong quá trình thực hiện chu trình ngân sách.
1.4 Kinh nghiệm của một số nước về quản lý ngân sách Nhà nước
1.4.1 Kinh nghiệm quản lý ngân sách Nhà nước của một số nước
a. Quản lý ngân sách nhà nước của Cộng hòa Pháp
b. Quản lý ngân sách nhà nước của Cộng hòa liên bang Đức
c. Quản lý ngân sách Nhà nước của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
1.4.2 Kinh nghiệm rút ra từ quản lý ngân sách nhà nước các nước trên thế giới

CHƯƠNG 2 : PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
2.1 Phương pháp thống kê mô tả
2.1.1 Khái niệm
2.1.2 Kĩ thuật tiến hành nghiên cứu
2.2 Phương pháp quan sát trực tiếp
2.2.1 Phương pháp quan sát
2.2.2 Áp dụng đối với đề tài nghiên cứu

2.3 Địa điểm và thời gian thực hiện nghiên cứu

7


CHƯƠNG 3 : THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH
PHỐ NAM ĐỊNH – TỈNH NAM ĐỊNH

3.1 Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tại thành phố Nam Định – tỉnh Nam Định
3.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tại TP Nam Định – tỉnh Nam Định
Thành phố Nam Định nằm ở phía Bắc của tỉnh Nam Định, thuộc trung tâm khu vực phía Nam
đồng bằng sông Hồng, trên tọa độ 24024’ đến 20027’ vĩ độ Bắc và từ 106007’ đến 106012’ kinh độ Đông
và được trải dài hai bên bờ sông Đào. Với diện tích 46,4km 2 gồm 20 phường, Là trung tâm kinh tế, chính
trị văn hóa của tỉnh Nam Định, có vị trí quan trọng và thuận lợi của vùng tam giác kinh tế nơi tiếp giáp
với nhiều đầu mối giao thông trong và ngoài tỉnh; cách Thủ đô Hà Nội 50 km về phía Tây Bắc,cách cảng
Hải Phòng 80 km về phía Đông Bắc và được bao quanh một số tỉnh lị khác như: Thái Bình (19 km);
Ninh Bình (28 km), Phủ Lý (30 km); thành phố nằm trong vùng ảnh hưởng của địa bàn kinh tế trọng
điểm các tỉnh phía Bắc gồm: Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng và
Quảng Ninh.
3.1.2 Tổ chức bộ máy quản lý ngân sách Nhà nước TP Nam Định – tỉnh Nam Định
Phòng Tài chính - Kế hoạch là cơ quan chuyên môn thuộc UBND thành phố Nam Định có
chức năng tham mưu, giúp UBND thành phố thực hiện chức năng quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực:
Tài chính, tài sản; kế hoạch và đầu tư; đăng ký kinh doanh, tổng hợp thống nhất quản lý về kinh tế hợp
tác xã, kinh tế tư nhân
Phòng Tài chính - Kế hoạch có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng; chịu sự chỉ
đạo và quản lý về tổ chức, biên chế và hoạt động của UBND thành phố, đồng thời chịu sự chỉ đạo,
hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Sở Tài chính, Sở Kế hoạch - Đầu tư.
3.2 Thực trạng quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn TP Nam Định – tỉnh Nam Định
3.2.1 Tình hình thu, chi ngân sách Nhà nước giai đoạn 2011 – 2013
Triển khai thực hiện công tác phân cấp ngân sách nhà nước trên địa bàn, kết quả thực hiện thu,

chi NSNN có tốc độ tăng khá cao. Trong đó, đã khai tác tốt các nguồn thi có tiềm năng như thu lĩnh
vực công thương nghiệp ngoài quốc doanh, thu từ DNNN địa phương, thu từ hoạt động xuất nhập
khẩu..., tổ chức thực hiện thu đúng, thu đủ các khoản thu theo quy định và chi phù hợp với dự toán.
Số thu NSNN không ngừng thăng lên qua các năm. Đạt được kết quả như vậy là do các cấp,
các ngành đã quan tâm khai thác tốt các nguồn thu trên địa bàn, chống thất thu thuế cho Nhà nước. Cơ
quan thuế thực hiện một loạt các biện pháp để quản lý thu thuế, đối thoại trực tiếp với người nộp thuế,
thực hiện việc đăng ký nộp hồ sơ kê khai thuế điện tử đẫ góp phần giảm bớt thủ tục hành chính, tiết
kiệm chi phí, tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế cũng như chi phí quản lý hành chính trong
việc thu thuế. Bên cạnh đó, việc điều hành chính sách tiền tệ của Nhà nước một cách linh hoạt và phù
hợp trong từng giai đoạn góp phần tích cực trong việc phonhg chống lạm phát, kích thích sự tăng
trưởng kinh tế.

8


Chi NSĐP hằng năm có quy mô ngày càng lớn. Năm 2011 đạt 282,6 tỷ đồng, năm 2012 đạt
804,18 tỷ đồng, năm 2013 đạt 737,5 tỷ đồng. Như vậy so với năm 2011, tổng mức chi NSĐP năm
2013 đã tăng 2,6 lần (tương đương 161%). Có sự thay đổi này là do như: Thành phố Nam Định giai
đoạn này đang thực hiện nhiều dự án phát triển cơ sở hạ tầng đô thị; xây dựng hoàn chỉnh đường gom
Quốc lộ 10 (đoạn từ Quốc lộ 21 đến nút giao Lộc Hòa); cải tạo và nâng cấp dường Hưng Yên;...Cải
tạo, nâng cấp Công viên Vị Xuyên. Hơn thế nữa, việc thực hiện chính sách cải cách tiền lương theo lộ
trình tăng lương của CP nên chi thường xuyên đã tăng nhanh qua các năm...
3.2.2 Phân cấp thẩm quyền trong việc quyết định chế độ, định mức phân bổ và chi tiêu ngân sách
Phân cấp thẩm quyền ban hành các chế độ, tiêu chuẩn, định mức thu – chi NSNN là một nội
dung của phân cấp ngân sách. Thực tế cho thấy, thẩm quyền này luôn gắn liền với các nội dung cụ thể
của quản lý ngân sách như: Quản lý thu, chi ngân sách; thiết lập hệ thống điều hòa và quản lý chu trình
ngân sách.
Để phục vụ cho việc xây dựng dự toán thu, chi đồng thời đảm bảo yêu cầu tiết kiện, chính
quyền cấp tỉnh cần sử dụng hệ thống định mức chi tiêu. Định mức chi tiêu là căn cứ để phân bổ và sử
dụng lực tài chính công.

3.2.3Tình hình thu NSNN trên địa bàn TP Nam Định
Đánh giá thu ngân sách: nhiều chỉ tiêu thu ngân sách năm 2012 đã hoàn thành vượt dự toán đã
giao và tăng cao so với năm trước, đạt được thành tích này xuất phát từ những nguyên nhân sau:
- Nhiều doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh được gia hạn nộp thuế GTGT, thuế TNDN trong năm 2011
đã đến hạn và thực hiện nộp thuế trong năm 2012.
- Công tác thu ngân sách được UBND tỉnh chỉ đạo Cục thuế, UBND các huyện, Thành phố, thị
xã, các cấp, các ngành triển khai thực hiện những giải pháp thiết thực, thu đúng, thu đủ, kịp thời các
khoản thu trong năm.
- Ngành thuế đã chủ động áp dụng đồng bộ và quyết liệt các biện pháp quản lý thu, khai thác
nguồn thu, chống thất thoát ngân sách. Công tác quản lý, giám sát, kê khai thuế ngày càng chặt chẽ và
tạo được những chuyển biến, tiến bộ tích cực. Sự phối hợp của các cơ quan Thuế - Kho bạc – Tài
chính và cấp ủy, chính quyền địa phương trong công tác quản lý thi, chi ngân sách được tăng cường,
đảm bảo thu đủ, không để thất thoát và huy động kịp thời các nguồn thu vào NSNN.
3.2.4Tình hình chi NSNN trên địa bàn TP Nam Định
Đánh giá chi ngân sách đảm bảo điều hành chi theo đúng dự toán giao do thực hiện Nghị quyết
11/2011/NQ-CP ngày 24/2/2011 của CP về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn
định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội. Các đơn vị dự toán thuộc Thành phố đã nghiêm túc thực
hiện chi thường xuyên, cắt giảm tối đa chi tiêu điều hành (công tác phí, hội nghị, tiếp khách, văn
phòng phẩm...) và mua sắm tài sản. Đầu năm Thành phố đã bổ sung thực hiện các nhiệm vụ: bảo trợ
xã hội Nghị định số 13/2010/NĐ-CP ngày 27/2/2010 của Chính phủ sửa đổi; bổ sung một số điều của
Nghị định số 67/2007/NĐ-CP; Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/1/2011 của Thủ tường CP về
việc ban hành tiêu chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 – 2015; Quyết định
9


471/QĐ-TTg ngày 30/3/2011 về trợ cấp khó khăn đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ
trang, người hưởng lương hưu có mức lương thấp, người hưởng trợ cấp ưu đãi người có công và hộ
nghèo...
3.2.5 Trợ cấp bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới
Số bổ sung từ NS từ NS cấp trên cho NSĐP để cân đối thu, chi ngân sách, đảm bảo các nhiệm

vụ KT – XH được giao, được xác định trên cơ sở tính toán các nguồn thu, nhiệm vụ chi quy định tại
Luật NSNN theo các tiêu thức: dân số, điều kiện tự nhiên, điều kiện KT – XH của từng vùng. Số bổ
sung này được ổn định từ ba đến năm năm. Hằng năm trong trường hợp có trượt giá, căn cứ vào số bổ
sung đã được HĐND quyết định.
Tại Thành phố Nam Định, số bổ sung từ NS cấp trên năm 2011 là 72,553 tỷ đồng; năm 2012
là 344,855 tỷ đồng và năm 2013 là 304,525 tỷ đồng. Nhờ đó nguồn thu của Thành phố không ngừng
tăng lên, đảm bảo công cuộc phát triển KT – XH.

10


3.2.6 Quản lý chu trình ngân sách
3.2.6.1 Lập dự toán ngân sách
Căn cứ để xây dựng dự toán là Chỉ thị của Thủ tướng CP, Thông tư của Bộ Tài chính hướng dẫn
xây dựng dự toán ngân sách hàng năm và định mức phân và chi thường xuyên được Thủ tướng CP ban
hành cho năm đầu của thời kỳ ổn định ngân sách, quy trình lập dự toán cụ thể như sau:
- UBND xã lập dự toán thu, chi ngân sách xã trình HĐND xã xem xét quyết định và báo cáo
UBND huyện.
- Phòng tài chính kế hoạch các Quận, huyện, Thành phố xem xét dự toán ngân sách của đơn vị trực
thuộc và dự toán thu do cơ quan thuế lập, lập dự toán và phương án phân bổ ngân sách trên địa bàn báo cáo
UBND huyện, Thành phố trình HĐND Quận, huyện, Thành phố quyết định, báo cáo UBND tỉnh.
- Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và đầu tư xem xét dự toán ngân sách của các đơn vị trực thuộc và
dự toán thu do cơ quan thuế, hải quan lập, lập dự toán và phương án phân bổ ngân sách trên địa bàn
báo cáo UBND tỉnh trình HĐND tỉnh quyết định, trình CP, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
3.2.6.2 Chấp hành dự toán NSNN
Sau khi NSĐP được thông qua bằng Nghị quyết của HĐND và Quyết định của UBND, việc
chấp hành NSĐP được thực hiện thống nhất theo văn bản quy định của trung ương và chỉ đạo của
UBND.
Trong quá trình chấp hành ngân sách, cơ quan tài chính căn cứ vào kế hoạch thu của cơ quan
thuế lập dự toán thu, chi ngân sách từng quý và chi tiết một số mục theo quy định. Các đơn vị dự toán

hàng tháng, quý phải lập dự toán gửi cơ quan tài chính cùng cấp xét cấp phát. Cơ quan KBNN cùng
cấp có trách nhiệm kiểm soát và thanh toán chi trả.
Như vậy, HĐND các cấp có trách nhiệm giám sát UBND các cấp và các cơ quan chấp hành
NSĐP.
3.2.6.3 Quyết toán NSNN
Về quá trình lập quyết toán ngân sách, các đơn vị lập quyết toán của đơn vị gửi lên đơn vị dự
toán cấp I, các đơn vị dự toán cấp I xét duyệt quyết toán của đơn vị trực thuộc lập quyết toán đơn vị
mình để gửi cho cơ quan tài chính. Cơ quan tài chính các cấp dưới lập báo cáo quyết toán thu, chi
ngân sách cấp mình và tổng hợp báo cáo quyết toán thu, chi NSĐP trình UBND đồng cấp phê duyệt để
gửi cơ quan tài chính cấp trên. Cơ quan KBNN các cấp có trách nhiệm tổ chức thực hiện công tác kế
toán và lập báo cáo quyết toán xuất nhập quỹ NSNN theo chế độ quy định.
Về xét duyệt và quyết định NSĐP, sau khi UBND các cấp phê duyệt quyết toán NSĐP sẽ trình
ra HĐND cùng cấp xem xét phê duyệt. HĐND có thể nêu các vấn đề chất vấn yêu cầu HĐND và các
cơ quan chức năng giải đáp trước khi phê chuẩn.
3.3 Đánh giá về tình hình quản lý ngân sách TP Nam Định – tỉnh Nam Định
3.3.1 Những thành quả đạt được
3.3.1.1 Đánh giá về việc ban hành các chế độ, định mức phân bổ và chỉ tiêu ngân sách
11


- Xu hướng phân cấp quản lý NSNN đang ngày càng mạnh mẽ
- Luật NSNN năm 2002 đã chuyển giao cho chính quyền địa phương quyền tự chủ khá lớn về
ngân sách
- Giữa định mức chi tiêu và định mức phân bổ ngân sách chưa có mối quan hệ chặt chẽ, định
mức chi tiêu chưa trở thành căn cứ để xác định mức phân bổ ngân sách
3.3.1.2 Đánh giá về cơ cấu thu và nhiệm vụ chi
- Trung ương vẫn quyết định nhiệm vụ thu – chi ngân sách địa phương.
- Chưa phân định rõ ràng, cụ thể nhiệm vụ, thẩm quyền trách nhiệm của mỗi cấp chính quyền
- Quá trình phân cấp quản lý NSNN đã trao cho chính quyền TP sự chủ động hơn trong việc sử
dụng các nguồn vốn, năng lực quản lý

3.3.1.3 Đánh giá về hệ thống trợ cấp ngân sách
- Nguồn bổ sung cân đối đã đóng vai trò quan trọng trong việc làm giảm tình trạng chênh lệch
của TP so với các huyện lân cận
- Việc xác định số bổ sung cân đối đã mang tính khách quan, đáp ứng được phần nào nhiệm
vụ của TP
3.3.1.4 Đánh giá về quy trình ngân sách Nhà nước
- Quy trình ngân sách đã được thực hiện nghiêm túc, đầy đủ theo trình tự, quy định của pháp
luật
- Việc lập báo cáo dự toán và quyết toán đều được xử lý trên hệ thống máy tính
- Khâu cấp phát kinh phí cho các đơn vị cũng được thay đổi
3.3.2 Những hạn chế, tồn tại
3.3.2.1 Đối với việc ban hành các chế độ, định mức phân bổ và chi tiêu ngân sách
- Hệ thống định mức tiêu chuẩn chi tiêu chưa đồng bộ
- Thiếu định mức để tiến hành nhiệm vụ chi, định mức chi không phù hợp với thực tiễn
- Trong thu NSNN vừa thực hiện phân cấp nguồn thu theo sắc thuế, vừa phân loại theo đối
tượng nộp, theo địa bàn nên rất phức tạp trong quản lý
- Việc quy định phân cấp quản lý thu của nội bộ ngành thuế chưa hợp lý
- Số bổ sung cân đối ngân sách ổn định trong 3 năm không tương ứng với nhiệm kỳ của HĐND
TP nên giảm hiệu quả
3.3.2.2 Đối với hệ thống trợ cấp ngân sách
- Nguồn thu của TP hạn hẹp và không ổn định nên TP nhận khoản chuyển giao của NSTW để
cân đối ngân sách cấp mình
- Việc tính toán số bổ sung vẫn chưa thật khoa học
- Đối với khoản bổ sung có mục tiêu thì cơ chế hiện tại vẫn cho phép tồn tại sự thỏa thuận và
điều chỉnh bất thường khi tính toán nhu cầu chi tiêu
3.3.2.3 Đối với quy trình ngân sách Nhà nước

12



- Các chỉ tiêu ngân sách (từ khâu lập toán đến chấp hành và quyết toán) còn rất cồng kềnh, phức
tạp
- UBND điều hành chấp hành NSĐP trong tình thế bị động, lúng túng
- Tổ chức quy trình kế toán quỹ NSNN, kế toán các đơn vị hành chính sự nghiệp chưa được đổi
mới thích ứng theo yêu cầu quản lý NSNN trong nền kinh tế thị trường
3.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế
3.3.3.1 Nguyên nhân khách quan
- Do bất cập từ các quy định của pháp luật NSNN hiện hành
- Do thẩm quyền quyết định tỷ lệ phân chia và bổ sung NSNN chưa rõ ràng, rành mạch
- Hạn chế trong tổ chức bộ máy thu ngân sách
3.3.3.2 Nguyên nhân chủ quan
- Phân cấp quản lý KT – XH trên địa bàn tỉnh còn bất cập với phân cấp thu, chi NSNN
- Sự phối hợp của các cấp, các ngành còn thiếu chặt chẽ, kịp thời nên tình trạng chi đầu tư nhiều
nơi còn dàn trải, lãng phí
- Công tác dự báo về nguồn thu, xác định nhiệm vụ chi cho các cấp ngành còn hạn chế
- Công tác quy hoạch, kế hoạch còn chưa theo kịp tốc độ phát triển KT – XH chưa có tầm nhìn
dài hạn

CHƯƠNG 4 : GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QLNSNN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ NAM
ĐỊNH – TỈNH NAM ĐỊNH

4.1 Mục tiêu phát triển kinh tế xã hội và ngân sách nhà nước thành phố Nam Định – tỉnh Nam
Định năm 2014 – 2015
Đẩy mạnh thực hiện các giải pháp đột phá; tập trung tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy tăng trưởng
và nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh. Tích cực huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực
cho phát triển nông nghiệp, nông thôn, xây dựng thành phố trung tâm vùng, phát triển kinh tế biển và
xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng lớn, then chốt. Giải quyết tốt các vấn đề xã hội, bảo đảm an
sinh xã hội, nâng cao đời sống nhân dân; phấn đấu đến hết năm 2015 xóa nhà tạm cho các hộ nghèo.
Tăng cường củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Nâng cao hiệu
quả công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Tranh thủ thời cơ, tích cực phấn đấu đạt và vượt các

mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII đã đề ra
4.2 Định hướng về công tác tài chính ngân sách và quản lý ngân sách nhà nước tại TP Nam Định
– tỉnh Nam Định trong thời gian tới
4.2.1 Định hướng về công tác tài chính ngân sách Nhà nước
4.2.2 Định hướng tăng cường quản lý ngân sách nhà nước cấp tỉnh – thành phố
4.3 Giải pháp tăng cường quản lý ngân sách nhà nước cho cấp tỉnh – thành phố
13


4.3.1 Nhóm giải pháp về nội dung quản lý ngân sách Nhà nước
4.3.1.1 Hoàn thiện nguyên tắc quản lý ngân sách Nhà nước
4.3.1.2 Phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn các cấp quản lý ngân sách
4.3.1.3 Đổi mới cơ chế cấp phát và cân đối ngân sách phù hợp
4.3.2 Nhóm giải pháp thực thi tại địa phương
4.3.2.1 Nâng cao năng lực cán bộ của chính quyền cơ sở trong việc quản lý nguồn lực tại địa phương
4.3.2.2 Tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình về ngân sách của chính quyền địa phương
với nhân dân
4.3.2.3 Thực hiện tốt việc khen thưởng, kỷ luật, chế tài xử lý vi phạm trong lĩnh vực thu, chi NSNN
4.3.2.4 Thực hiện các biện pháp tăng thu, tiết kiệm chi, phân bổ chi NSNN địa phương không dàn đều,
căn cứ nhu cầu công việc
4.3.2.5 Hiện đại hóa công tác điều hành chi ngân sách để nâng cao chất lượng lập dự toán ngân sách –
chấp hành ngân sách và quyết toán ngân sách để tăng hiệu quả của quá trình phân cấp
4.4 Kiến nghị
4.4.1 Về phía Chính phủ
4.4.2 Về phía các cấp chính quyền tỉnh Nam Định
KẾT LUẬN
Hoàn thiện công tác quản lý NSNN của Thành phố Nam Định hiện nay là một yêu cầu cấp
thiết có tính khách quan. Đây là hoạt động quản lý có liên quan đến mọi cấp, mọi ngành, mọi lĩnh vực,
do vậy cần phải được quan tâm dúng mức. Hoạt động phân cấp quản lý NSNN có ý nghĩa trên nhiều
mặt, có sự tác động, chi phối trong quá trình phát triển KT – XH trên địa bàn Thành phố, luôn gắn với

trách nhiệm quản lý từ HĐND, UBND tỉnh cho đến các thị xã, huyện, xã và cơ quan chức năng.
Việc tăng cường phân cấp quản lý NSNN cho các cấp chính quyền địa phương sẽ mang lại
những thành tựu về KT – XH, nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân cũng như phát huy được sự tự
chủ, năng động của địa phương, làm giảm sự phụ thuộc vào NSTW. Phân cấp quản lý NSNN đem lại
nhiều lợi ích nhưng có cũng chứa đựng nhiều rủi ro và chịu sự ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố. Chính vì
vậy, quá trình thực hiện phân cấp quản lý NSNN cần phải nghiên cứu kỹ lượng, tiến hành từng bước
nhằm đảm bảo tính hiệu quả và ổn định trong quản lý ngân sách, tạo bước đột phá cho quá trình cải
cách tài chính công ở nước ta.
Do thời gian và kinh nghiệm học tập còn hạn chế, tác giả xin cảm ơn sự giảng dạy, trang bị
kiến thức của tập thể Lãnh đạo, các giảng việc của Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội và của
Tiến sĩ Nguyễn Quốc Việt, các Nhà xuất bản, Tạp chí, các tác giả có liên quan đến luận văn. Tác giả
mong nhận được sự đóng góp ý kiến về chuyên môn của các Thầy cô và đồng nghiệp để luận văn ngày

14


càng hoàn thiện. Tác giả xin tiếp thu mọi ý kiến đóng góp và tiếp tục nghiên cứu để mở rộng đề tài,
góp phần nhỏ bé của mình vào công cuộc xây dựng phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.
Tác giả xin trân trọng cảm ơn!

15



×