Tải bản đầy đủ (.docx) (106 trang)

TỔNG hợp HÌNH PHẠT TRONG bộ LUẬT HÌNH sự VIỆT NAM QUA THỰC TIỄN tại tòa án NHÂN dân THÀNH PHỐ HUẾ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (744.93 KB, 106 trang )

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
------------

NGUYỄN THỊ HUYỀN
TỔNG HỢP HÌNH PHẠT TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
QUA THỰC TIỄN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ

Ngành: Luật Học
Chuyên ngành: Luật Hình Sự
Niên khóa: 2013 - 2017

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
SINH VIÊN THỰC HIỆN: NGUYỄN THỊ HUYỀN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: Th.S NGUYỄN THỊ XUÂN

THỪA THIÊN HUẾ, NĂM 2017

1


Lời Cam Đoan!
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu
khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ, trích dẫn
trong bài luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và
trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn
chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào
khác.

2



MỤC LỤC

3


DANH MỤC VIẾT TẮT

4

BCA

: Bộ công an

BLHS

: Bộ luật hình sự

BLTTHS

: Bộ luật tố tụng hình sự

HĐTP

: Hội đồng thẩm phán

HPBS

: Hình phạt bổ sung


HSST

: Hình sự sơ thẩm

HSPT

: Hình sự phúc thẩm

NQ

: Nghị quyết

QH

: Quốc hội

TAND

: Tòa án nhân dân

THAHS

: Thi hành án hình sự

TTLT

: Thông tư liên tịch

TTTN


: Tình tiết tăng nặng

SL

: Sắc lệnh

TNHS

: Trách nhiệm hình sự

VKSND

: Viện kiểm sát nhân dân

XHCN

: Xã hội chủ nghĩa


DANH MỤC BẢNG BIỂU

5


DANH MỤC BIỂU ĐỒ

6


TỔNG HỢP HÌNH PHẠT TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

QUA THỰC TIỄN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đối với một đất nước đang phát triển như Việt Nam, sự phát triển không
ngừng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội cũng là con dao hai lưỡi kéo
theo tình trạng số người vi phạm pháp luật ngày một gia tăng và một điều đáng
báo động là trong số người phạm tội đó, các hành vi ngày càng một nguy hiểm.
Có thể nói, tội phạm là một hiện tượng tiêu cực trong xã hội, đấu tranh phòng
chống tội phạm để bảo vệ lợi ích của mình và duy trì kỉ cương xã hội luôn là một
nhiệm vụ quan trọng nhất của mỗi Nhà nước. Để cụ thể hóa, luật hình sự đã quy
định những hành vi nào được coi là nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực
hành vi trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hay vô ý xâm phạm các
khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ là tội phạm. Người thực hiện hành vi
nguy hiểm cho xã hội được coi là tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự.
Thực tế xét xử vụ án hình sự trong những năm qua cho thấy, có nhiều
trường hợp một người thực hiện nhiều hành vi không bị phát hiện và đưa ra
xét xử cùng một lúc, mỗi hành vi cấu thành một tội phạm riêng biệt hay một
người đang phải chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về tội đã phạm trước
khi có bản án đó hoặc một người đang phải chấp hành bản án mà mà phạm tội
mới thì để đánh giá toàn diện và đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội của tất cả
các tội mà người phạm tội đã thực hiện, Tòa án phải tổng hợp hình phạt của
các tội thành hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành. Tổng hợp hình phạt
là trường hợp Tòa án không chỉ quyết định hình phạt cho một tội mà phải
quyết định hình phạt chung cho nhiều tội. Do vậy, đây là một chế định đặc
biệt quan trọng trong luật hình sự.
7


Hiện nay, khoa học luật hình sự trong nước đã có nhiều công trình khoa

học nghiên cứu về hình phạt, quyết định hình phạt nhưng chủ yếu chỉ đề cập
một cách tổng thể và có hệ thống những khía cạnh lý luận chung nhất về hình
phạt mà chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu có hệ thống, toàn
diện và sâu sắc riêng về tổng hợp hình phạt dưới góc độ lý luận cũng như thực
tiễn áp dụng. Trong khi đó, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành các văn bản
quan trọng về cải cách tư pháp như: Nghị quyết số 08-NA/TW ngày
02/01/2002 của Bộ Chính trị về "Một số nhiệm vụ trong tâm công tác tư pháp
trong thời gian tới", Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 25/4/2005 của Bộ Chính
trị về "Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến
năm 2010, định hướng đến năm 2020". Đặc biệt, trong Nghị quyết số 49NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về "Chiến lược cải cách tư pháp đến
năm 2020" đã xác định: "Sớm hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến
lĩnh vực tư pháp phù hợp mục tiêu của chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật. Coi trọng việc hoàn thiện chính sách hình sự và thủ tục tố
tụng tư pháp, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử
lý người phạm tội". Việc tổng hợp hình phạt cũng là một nội dung quan trọng
trong công tác hoàn thiện pháp luật để răn đe và đấu tranh phòng ngừa tội
phạm có hiệu quả hơn. Để thực hiện được điều đó, chúng ta cũng nên chú
trọng vào việc nghiên cứu những vẫn đề lý luận, công tác thực tiễn việc thực
hiện chế định tổng hợp hình phạt nói chung và ở thành phố Huế nói riêng, tập
trung đi sâu vào từng vấn đề cụ thể. Từ đó mới nâng cao hiệu quả hoạt động
trong hoạt động răn đe và đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
Chính vì tất cả những lí do trên, em mạnh dạn chọn đề tài " Tổng hợp
hình phạt trong bộ luật hình sự Việt Nam qua thực tiễn tại TANDTP Huế"

8


2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Chế định tổng hợp hình phạt được nghiên cứu ở những phương diện,
phạm vi khác nhau, được công bố trong các công trình khoa học, giáo trình

giảng dạy, bài viết trên các tạp chí và sách chuyên khảo như: Cấp độ luận văn
thạc sĩ luật học có đề tài của các tác giả Trần Văn Sơn "Quyết định hình phạt
trong luật hình sự Việt Nam" (1996) và tác giả Hoàng Chí Kiên "Quyết định
hình phạt trong trường hợp đặc biệt" (2004). Bên cạnh đó, về giáo trình, sách
chuyên khảo, bình luận có các công trình sau: Hình phạt trong luật Hình sự
Việt Nam, của PGS.TS Nguyễn Ngọc Hòa, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 1995; Tội phạm học, luật hình sự và tố tụng hình sự Việt Nam, của
PGS.TS Võ Khánh Vinh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995;
Giáo trình luật hình sự Việt Nam (phần chung), của TS Uông Chu Lưu và
ThS. Trần Văn Sơn, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1997; Đinh Văn Quế,
Bình luận khoa học Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 (phần chung), Nhà
xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 2000; v.v... Ngoài ra, một số tác giả cũng
đã công bố những bài báo khoa học có đề cập đến hình phạt như: Đinh Văn
Quế, "Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án", Tạp chí Tòa án nhân dân, số 11,
2004; Đinh Văn Quế, "Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên
phạm tội", Tạp chí kiểm sát, số 6, 2007; Phạm Hồng Hải, "Một số điểm mới
cơ bản trong phần chung Bộ luật hình sự năm 1999", Tạp chí Nhà nước và
pháp luật, số 6, 2000; Phạm Văn Thiệu, "Tổng hợp hình phạt của nhiều bản
án", Tạp chí Tòa án, số 3, 2008; Phạm Mạnh Hùng, "Vấn đề người chưa thành
niên phạm tội trong luật hình sự” v.v... Trên cơ sở nghiên cứu cho thấy, chế
định tổng hợp hình phạt chưa được quan tâm nghiên cứu đúng mức, chế định
này chủ yếu được nằm trong nội dung hình phạt và quyết định hình phạt - đó
là một nội dung nhỏ trong của các sách giáo trình, sách chuyên khảo mà
không có một cuốn giáo trình, chuyên khảo, bình luận chuyên biệt về chế định
này. Mặt khác, chưa có công trình khoa học nào nghiên chế định tổng hợp
9


hình phạt và thực tiễn áp dụng trên địa bàn thành phố Huế. Do vậy, chế định
tổng hợp hình phạt cần được quan tâm hơn nữa trong công tác nghiên cứu

khoa học để hoàn thiện chế định này nhằm góp phần nâng cao hiệu quả trong
công tác đấu tranh phòng chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay trên cả
nước nói chung và trên địa bàn thành phố Huế nói riêng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu:
Mục đích của luận văn là nghiên cứu các quy định của pháp luật về chế
định tổng hợp hình phạt dưới khía cạnh lập pháp hình sự và áp dụng chúng
trong thực tiễn trên địa bàn thành phố Huế, từ đó luận văn đưa ra những giải
pháp nhằm hoàn thiện các quy định về tổng hợp hình phạt trong luật hình sự
Việt Nam, cũng như đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả của hình phạt
này trong thực tiễn áp dụng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn với đề tài “Tổng hợp hình
phạt trong bộ luật hình sự Việt Nam qua thực tiễn tại TANDTP Huế” đặt
cho mình các nhiệm vụ nghiên cứu chính sau đây:
- Nghiên cứu những quy định của pháp luật về chế định tổng hợp hình
phạt trong các bộ luật hình sự qua các thời kì.
- Điều tra thực tiễn, tổng hợp số liệu cụ thể về việc áp dụng chế định
tổng hợp hình phạt tại Tòa án trong thời gian từ năm 2010 - 2015
- Đánh giá thực trạng (nguyên nhân, hậu quả) tình hình thực hiện chế
định tổng hợp hình phạt
- Việc nghiên cứu và tìm hiểu thêm các quy định về tổng hợp hình phạt
trong thực tế giúp em nhìn nhận vẫn đề một cách toàn diện. Từ đó đưa ra
những kiến nghị và đề xuất một số giải pháp hướng tới hoàn thiện pháp luật
cũng như cơ chế áp dụng pháp luật trong thực tiễn thực hiện chế định tổng
hợp hình phạt trong xét xử tại tòa án nhân dân thành phố Huế.
10


4. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:

4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Tổng hợp hình phạt trong luật hình sự Việt Nam




o

o

o

Thực tiễn hoạt động xét xử cửa Tòa an trong chế định Tổng hợp hình
phạt. Từ đó đưa ra giải pháp đấu tranh ngăn ngừa, phòng chống tội phạm.
4.2. Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu lý luận: Tìm hiểu các khái niệm cơ bản, các văn bản,
trích dẫn các lý luận của các nhà luật gia đã nghiên cứu về vấn đề này
Phương pháp phân tích và tổng hợp: đây là phương pháp được sử dụng rộng
rãi, và thường xuyên trong qua trình nghiên cứu về những vấn đề lý luận
chung mang tính bao hàm.
Phương pháp so sánh: Đây là sự sử dụng các khái niệm, các tiêu chí để tìm ra
những điểm khác và giống giữa những phạm trù cần nghiên cứu khi tìm hiểu
vấn đề.
5. Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu và giải quyết những vấn đề lý luận chung về chế
định tổng hợp hình phạt trong luật hình sự Việt Nam, kết hợp với việc nghiên
cứu đánh giá tình hình áp dụng chế định tổng hợp hình hình phạt trong thực
tiễn xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Huế và những nguyên nhân của
những tồn tại, hạn chế để kiến nghị những giải pháp hoàn thiện luật thực định
và nâng cao hiệu quả áp dụng chế định tổng hợp hình phạt trong thực tiễn.

Về thời gian: Luận văn nghiên cứu thực tiễn áp dụng việc tổng hợp hình
phạt trên địa bàn thành phố Huế trong 6 năm (2010-2015)
6. Bố cục đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung của niên luận gồm 3 chương:
Chương 1 : Những vấn đề lí luận chung về tổng hợp hình phạt
Chương 2: Thực tiễn áp dụng các trường hợp tổng hợp hình phạt trên địa
bàn Thành phố Huế
Chương 3: Những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng chế định tổng
hợp hình phạt của Tòa án.
11


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG
VỀ TỔNG HỢP HÌNH PHẠT
1.1. Khái niệm, ý nghĩa của tổng hợp hình phạt:
1.1.1. Khái niệm:
a. Khái niệm hình phạt
Trong pháp luật hình sự của Việt Nam thời kì từ sau cách mạng tháng
tám 1945 đến trước khi bộ luật hình sự năm 1999 ra đời, thì định nghĩa pháp
lí của khái niệm hình phạt chưa bao giờ được ghi nhận về mặt lập pháp. Trong
khoa học luật hình sự Việt Nam giai đoạn đó, xung quanh khái niệm hình
phạt, giữa các nhà hình sự học luôn đi theo tư tưởng tiến bộ, nhân đạo về hình
phạt, nên đã đưa ra những quan niệm về hình phạt mà về cơ bản là thống nhất,
mặc dù trong mỗi quan niệm đó có những sự khác nhau nhất định, Chẳng hạn:
Quan điểm thứ nhất, GS.TS. Võ Khánh Vinh quan niệm: “Hình phạt là
biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất do luật quy định được Toà án nhân
dân nhân danh Nhà nước quyết định trong bản án đối với người có lỗi trong
việc thực hiện tội phạm và được thể hiện ở việc tước đoạt hoặc hạn chế các

quyền và lợi ích do pháp luật quy định đối với người bị kết án". 1
Quan điểm thứ hai, Theo TS. Uông Chu Lưu và TS. Nguyễn Đức Tuấn
thì hình phạt được hiểu là "biện pháp cưỡng chế của nhà nước do Toà án áp
dụng đối với người thực hiện tội phạm theo quy định của luật hình sự, tước bỏ
hoặc hạn chế những quyền và lợi ích nhất định của người bị kết án nhằm mục
đích cải tạo, giáo dục người phạm tội và ngăn ngừa tội phạm". 2

1 Võ Khánh Vinh, Nguyên tắc công bằng trong Luật hình sự Việt Nam, NXB Công an Nhân dân, Hà Nội,1994.
2 Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, Hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995

12


Hai quan điểm trên tương đối thống nhất về việc định nghĩa hình phạt.
Hình phạt với tính chất là biện pháp trách nhiệm hình sự được Nhà nước sử
dụng như là một công cụ, phương tiện quan trọng để trừng trị, giáo dục, cải tạo
người phạm tội. Tính cưỡng chế của hình phạt, tức là dùng quyền lực nhà nước
bắt phải tuân theo, được thể hiện ở nội dung trừng trị là một đặc điểm cơ bản
của hình phạt; đặc điểm này cho phép phân biệt hình phạt với các biện pháp tác
động xã hội khác. Nội dung trừng trị của hình phạt có thể nặng, nhẹ khác nhau,
nhưng chúng đều có cùng tính chất là một loại biện pháp cưỡng chế trong hệ
thống các biện pháp cưỡng chế nhà nước. Khi được áp dụng, hình phạt gây nên
những tổn hại nhất định cho người phạm tội. Họ có thể bị tước bỏ hoặc bị hạn
chế những quyền và lợi ích thiết thân nhất, chẳng hạn như tước quyền tự do
(hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân), hạn chế quyền tự do cư trú (các hình
phạt quản chế, cấm cư trú, trục xuất), tước các quyền dân sự, chính trị (hình
phạt cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định, cấm hành nghề hoặc làm công việc
nhất định; hình phạt tước quyền công dân), tước quyền lợi vật chất (các hình
phạt tiền, tịch thu tài sản), thậm chí họ có thể bị tước cả quyền sống của mình
(hình phạt tử hình). Đồng thời, khi áp dụng hình phạt đối với người phạm tội,

nhà nước thể hiện thái độ phản ứng chính thức, lên án về mặt chính trị-pháp lý,
đạo đức đối với tội phạm và với người thực hiện tội phạm.
Bên cạnh đó hình phạt là biện pháp trách nhiệm hình sự (TNHS) mà Nhà
nước sử dụng để trừng trị, giáo dục, cải tạo người phạm tội. Do đó, hình phạt
có nội dung trừng trị và nội dung giáo dục, cải tạo người phạm tội. Bằng việc
áp dụng hình phạt, Nhà nước trừng trị và đồng thời lên án họ về việc đã thực
hiện hành vi phạm tội gây hại cho xã hội, thông qua đó thuyết phục, giáo dục
để họ nhận thức được nghĩa vụ, trách nhiệm của mình đối với hành vi phạm
tội đã thực hiện, làm cho họ hiểu sự sai trái, lỗi lầm và tính chất tội phạm của
hành vi của mình gây ra; thấy được sự lên án, phản ứng của Nhà nước đối với
tội phạm do họ thực hiện, có ý thức tuân thủ pháp luật và các quy tắc của cuộc
sống xã hội, trở thành người công dân có ích cho xã hội.
13


Thông qua quá trình tiếp thu các quan điểm, các nhà làm luật đã tiến
hành pháp điển hóa, thông qua bộ luật hình sự năm 1999 thì định nghĩa pháp
lí của khái niệm lần đầu tiên mới được nhà làm luật chính thức ghi nhận trong
khoản 1 Điều 26 BLHS 1999 như sau: “ Hình phạt là biện pháp cưởng chế
nghiêm khắc nhất của nhà nước nhằm tước bỏ quyền hoặc hạn chế quyền, lợi
ích của người phạm tội”. 3
b. Khái niệm tổng hợp hình phạt
Hiện nay chưa có một định nghĩa cụ thể về chế định tổng hợp hình phạt
trong từ điển hay trong BLHS. Tuy nhiên, theo quy định của luật hình sự thì
một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội và được Bộ luật hình sự
quy định là tội phạm thì phải chịu hình phạt. Theo Điều 45 Bộ luật hình sự
quy định: "Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật
hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi
phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng
trách nhiệm hình sự".4 Đây là trường hợp người phạm một tội được quy định

trong Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, nhiều trường hợp, người phạm tội phạm
nhiều tội tương ứng với việc tuyên nhiều hình phạt. Về mặt lý luận cũng như
thực tiễn xét xử cho thấy, không phải người phạm nhiều tội nào cũng bị phát
hiện và đem ra xét xử cùng một lúc. Có trường hợp một người thực hiện
nhiều hành vi phạm tội bị phát hiện, được đưa ra xét xử cùng một lần và bị
Tòa án tuyên nhiều hình phạt (trường hợp phạm nhiều tội). Tuy nhiên, cũng
có trường hợp bị cáo đang chấp hành một bản án lại bị đem ra xét xử về một
tội mà người đó đã phạm trước hoặc sau khi có bản án đang chấp hành
(trường hợp có nhiều bản án). Trong các trường hợp trên, người bị kết án sẽ
phải chịu nhiều hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của
các hành vi phạm tội. Hình phạt người bị kết án phải chấp hành có thể cùng
3 Quốc hội (1999), Bộ luật hình sự, Hà Nội.
4 Quốc hội (1999), Bộ luật hình sự, Hà Nội.

14


loại nhưng cũng có thể khác loại. Có loại hình phạt có thể quy về cùng loại
nhưng cũng có trường hợp bị cáo phải chấp hành đồng thời nhiều hình phạt.
Để đánh giá toàn diện về nhân thân người phạm tội cũng như thể hiện đầy đủ
nhất thái độ của Nhà nước đối với họ, khi xét xử Tòa án phải tổng hợp tất cả
các hình phạt đã tuyên thành hình phạt chung. Mặt khác, việc tổng hợp hình
phạt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan thi hành án khi thực hiện chức
năng, nhiệm vụ của mình.
Tóm lại, tổng hợp hình phạt là việc Tòa án xác định hình phạt chung
cho người phạm tội bị kết án.
Trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 có bốn trường hợp khi xét xử
Tòa án phải tổng hợp hình phạt. Đó là: tổng hợp hình phạt trong trường hợp
phạm nhiều tội (Điều 50), tổng hợp hình phạt trong trường hợp có nhiều bản
án (Điều 51), tổng hợp hình phạt đối với người chưa thành niên phạm nhiều

tội (Điều 75) và tổng hợp hình phạt trong các trường hợp liên quan đến án
treo (khoản 5 Điều 60).
1.1.2. Ý nghĩa của tổng hợp hình phạt :
Thứ nhất, tổng hợp hình phạt góp phần củng cố pháp chế và giữ gìn trật
tự pháp luật xã hội chủ nghĩa. Để tổng hợp hình phạt đúng Tòa án trước tiên
phải quyết định hình phạt đúng. Để quyết định hình phạt đúng Tòa án phải
nhận thức đúng và tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về quyết
định định hình phạt cũng như các quy định có liên quan. Mặt khác, hình phạt
tổng hợp có tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của các hành vi
phạm tội thì mới có tính thuyết phục, người bị kết án nhận thấy tính chất sai
trái của hành vi cũng như sự cần thiết của bản án đã tuyên, từ đó họ sẽ tự giác
chấp hành hình phạt. Bên cạnh đó, một hình phạt tổng hợp thỏa đáng sẽ có
tính chất phòng ngừa chung để họ tuân thủ pháp luật cũng như nâng cao ý
thức pháp luật, khuyến khích quần chúng nhân dân tích cực tham gia vào cuộc
đấu tranh phòng chống tội phạm.
15


Thứ hai, tổng hợp hình phạt đúng sẽ góp phần đạt được mục đích và
nâng cao hiệu quả của hình phạt. Có thể nói, hiệu quả hình phạt càng cao thì
kết quả đạt được trong thực tế càng gần với mục đích của hình phạt. Hình
phạt chung được tuyên trên cơ sở tổng hợp hình phạt của từng tội và trong
giới hạn luật cho phép đối với từng loại hình phạt nên nó đánh giá đầy đủ và
toàn diện nhất của Nhà nước đối với tất cả các tội mà bị cáo đã thực hiện,
tương xứng với toàn bộ các tội mà bị cáo đã phạm, tránh bỏ lọt tội phạm. Nếu
hình phạt được tuyên đúng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi
phạm tội thì người phạm tội và những người có liên quan mới nhận thấy được
tính đúng đắn của bản án và tích cực cải tạo để trở thành công dân tốt cũng
như tạo được niềm tin trong nhân dân về tính nghiêm minh của pháp luật và
sự chính trực trong công tác xét xử của các cơ quan có thẩm quyềnVừa xét xử

đúng người đúng tội, vừa bảo vệ được pháp chế xã hội chủ nghĩa và thể hiện
được sự công bằng và minh bạch trong việc hoạt động xét xử.
Thứ ba, việc tổng hợp hình phạt đúng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ
quan thi hành án thực thi nhiệm vụ của mình, góp phần tăng cường sự phối hợp
giữa các cơ quan tiến hành tố tụng với các cơ quan có liên quan. Trong thực tế,
nhiều khi người bị kết án phải chịu nhiều hình phạt nhưng các hình phạt lại
không được tổng hợp theo đúng quy định của pháp luật gây khó khăn cho các cơ
quan thi hành án trong quá trình thực hiện, do vậy có nhiều bản án có hiệu lực
nhưng phần hình phạt lại chưa được chấp hành. Điều này dễ dẫn đến tình trạng
sai sót trong quá trình xét xử, một số đối tượng sẽ coi thường pháp luật, kỉ cương
của nhà nước. Ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng chống tội phạm
1.2. Nguyên tắc và phương pháp tổng hợp hình phạt :
1.2.1. Nguyên tắc tổng hợp hình phạt
Có nhiều cách định nghĩa về khái niệm “Nguyên tắc”. Mỗi ngành khoa
học, mỗi lĩnh vực cụ thể đề cập tới vấn đề nguyên tắc theo góc độ riêng, đặc
16


thù cho ngành khoa học hay lĩnh vực hoạt động đó. Có thể hiểu “Nguyên tắc
là những điều cơ bản đi tổ chức đặt ra dựa trên những quan điểm tư tưởng
nhất định đòi hỏi các tổ chức và cá nhân phải tuân theo” 5 hay theo nghĩa
chung thì nguyên tắc được hiểu là "điều cơ bản định ra nhất thiết phải tuân
theo trong một loạt việc làm". Mặc dù sử dụng câu chữ khác nhau nhưng
những định nghĩa trên đều hướng đến một cách nhìn nhận thống nhất với
nhau. Tổng hợp hình phạt là một chế định trong luật hình sự nên cũng chịu sự
chỉ đạo của các nguyên tắc chung của luật hình sự. Do vậy, các nguyên tắc
tổng hợp hình phạt là những tư tưởng chỉ đạo trong quá trình xây dựng và áp
dụng các quy phạm pháp luật hình sự để Tòa án tổng hợp hình phạt chính xác
đối với người phạm tội.
Tuy nhiên, ngoài việc tuân theo những nguyên tắc tư tưởng chỉ đạo

chung, chế định tổng hợp hình phạt còn phải tuân theo những tư tưởng chỉ
đạo riêng, đặc thù của hoạt động này. Các nguyên tắc chung của Luật hình sự
là tư tưởng chỉ đạo cho toàn bộ quá trình áp dụng pháp luật hình sự thì
nguyên tắc tổng hợp hình phạt là những tư tưởng chỉ đạo cho một giai đoạn
hoạt động của Tòa án trong quá trình áp dụng quy định tổng hợp hình phạt.
Do vậy chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung cho nhau nên khi
áp dụng chế định này phải căn cứ vào các nguyên tắc chung của luật hình sự
và những nguyên tắc đặc thù để việc áp dụng quy định tổng hợp hình phạt
chính xác và đạt hiệu quả cao, tránh những sai sót trong quá trình xét xử.
Theo nội dung các quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam về tổng hợp
hình phạt có quy định trong BLHS, hiện có các nguyên tắc tổng hợp hình phạt
sau: nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ
nghĩa, nguyên tắc cá thể hóa hình phạt và nguyên tắc công bằng.

5 Viện Ngôn ngữ học (2000), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng.

17


1.2.1.1 Nguyên tắc pháp chế XHCN
Trong từ điển Tiếng Việt, pháp chế được hiểu như sau: “Pháp chế là chế
độ trong đó đời sống và hoạt động xã hội được đảm bảo bằng pháp luật.”
Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa được Khoản 1 Điều 8 Hiến pháp
2013 quy định: “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và
pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật….” 6 Ở đây có thể hiểu
“Pháp chế xã hội chủ nghĩa” là sự tôn trọng và thực hiện pháp luật một cách
nghiêm chỉnh và chính xác của tất cả các cơ quan Nhà nước, các tổ chức và
mọi công dân trong hoạt động của mình. Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ
nghĩa trong tổng hợp hình phạt thể hiện ở việc Tòa án phải tuân thủ đúng theo
các quy định của BLHS khi thực hiện hoạt động xét xử của mình. Tuy nhiên,

trong quá trình thực hiện nguyên tắc này ở trong thực tế, cần chú trọng xem
xét hiểu đúng nội dung nguyên tắc này để tránh dẫn đến tình trạng máy móc,
cứng nhắc khi áp dụng các quy định pháp luật vào việc giải quyết vụ án cụ
thể. Nội dung của nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổng hợp hình
phạt được thể hiện cả trong luật hình sự và áp dụng luật hình sự.
Trong luật hình sự, nội dung nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong
tổng hợp hình phạt thể hiện qua việc đã quy định rõ giới hạn của hình phạt
chung đối với từng loại hình phạt. Cụ thể: tại điểm a, khoản 1, Điều 50 quy
định "...hình phạt chung không được vượt qua ba năm đối với hình phạt cải
tạo không giam giữ, ba mươi năm đối với hình phạt tù có thời hạn", hay ở
khoản 2 Điều 50, Điều 74 cũng quy định tương tự. Ngoài ra theo quy định tại
khoản 3, Điều 51: "Trong trường hợp một người phải chấp hành nhiều bản án
có hiệu lực pháp luật mà các hình phạt của các bản án chưa được tổng hợp,
thì Chánh án Tòa án ra quyết định tổng hợp các bản án theo quy định tại
khoản 1 và khoản 2 Điều này", điều luật này thể hiện trong BLHS đã có quy
6 Quốc hội (2013), Hiến pháp, Hà Nội.

18


định nhằm bảo đảm cho hiệu lực của bản án và bảo đảm tính nghiêm túc của
pháp luật. Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổng hợp hình phạt còn
được thể hiện qua các quy định thể hiện thái độ nghiêm khắc của Nhà nước
đối với những kẻ phạm tội không biết ăn năn, hối cải, coi thường pháp luật,
không có ý thức cải tạo tốt để hoàn lương mà tiếp tục có hành vi vi phạm
pháp luật. Đó là quy định tại khoản 5, Điều 60: "Đối với những người được
hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử thách, thì Tòa án quyết
định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình
phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 51 bộ luật này" .7 Hay trong quy
định về tổng hợp hình phạt tại khoản 2, Điều 51 đối với một người đang phải

chấp hành một bản án mà lại phạm tội mới thì hình phạt chung thực tế có thể
rất nghiêm khắc với họ.
Trong áp dụng luật hình sự, nội dung của nguyên tắc pháp chế xã hội chủ
nghĩa được thể hiện qua những việc cụ thể sau:
Khi tổng hợp hình phạt Tòa án phải nêu rõ căn cứ pháp lý được ghi trong
bản án, tức là Tòa án phải ghi rõ điều, khoản, điểm đã vận dụng ở trong bất cứ
văn bản pháp luật đã dẫn giải. Đây là công việc hết sức quan trọng của Tòa án
khi tuyên án vì nó làm cho bản án mang tính hợp pháp, có sức thuyết phục.
Bên cạnh đó, nó còn là cơ sở để Tòa án cấp trên giám sát, kiểm tra việc xét xử
của Tòa án cấp dưới, phát hiện và sửa chữa kịp thời những sai sót của Tòa án
cấp dưới.
Khi tổng hợp hình phạt Tòa án phải áp dụng đúng các quy định về tổng
hợp hình phạt trong luật hình sự và các văn bản có liên quan. Các quy định về
tổng hợp hình phạt phải được hiểu và áp dụng thống nhất trong cả nước theo
đúng quy định của pháp luật.

7 Quốc hội (1999), Bộ luật hình sự, Hà Nội.

19


Khi tổng hợp hình phạt, Tòa án phải trên cơ sở các hình phạt riêng đối
với từng tội, từng bản án rồi mới tổng hợp thành hình phạt chung. Điều này
cũng rất quan trọng, bởi vì hình phạt chung là sự phản ánh đầy đủ và toàn
diện những đánh giá của Tòa án đối với tất cả các tội mà bị cáo đã thực hiện
do đó nó phải tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của
tất cả các tội đó. Vừa thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, vừa đảm
tỉnh xét xử nghiêm minh với mức độ và tính chất của hành vi phạm tội.
1.2.1.2 Nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa
Công dân Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam. Dù có phạm tội họ

vẫn là công dân Việt Nam, vẫn là thành viên của xã hội. Chính vì vậy, khi
xem xét hành vi phạm tội của họ, Nhà nước luôn chú ý đến nhiều khía cạnh
như độ tuổi, tình trạng sức khỏe, tình trạng bản thân khi phạm tội như mang
thai, hoàn cảnh gia đình đang gặp khó khăn đặc biệt để xác định mức hình
phạt phù hợp, điều đó xuất phát từ đạo đức, truyền thống dân tộc Việt Nam và
được thấm nhuần trong nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa của Luật Hình
sự Việt Nam.
Tư tưởng nhân đạo luôn thể hiện rõ nét trong đường lối chính sách của
Đảng và các văn bản pháp luật của Nhà nước. Nội dung nguyên tắc nhân đạo
xã hội chủ nghĩa trong tổng hợp hình phạt được thể hiện cả trong luật hình sự
và áp dụng pháp luật hình sự.
Trong luật hình sự, nội dung nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa trong
tổng hợp hình phạt được thể hiện qua các quy định đối với người chưa thành
niên phạm tội, các quy định về giới hạn mức cao nhất đối với từng loại hình
phạt khi tổng hợp hình phạt. Những quy định về mức hình phạt tại Điều 74
của BLHS là một trong những quy định thể hiện tinh thần nhân đạo của pháp
luật, của nhà nước xã hội chủ nghĩa đối với người chưa thành niên. Hình phạt
đối với người chưa thành niên chủ yếu mang tính giáo dục nhằm đưa các em
20


trở về làm người có ích cho xã hội. Ngoài ra, Điều 50 Bộ luật hình sự năm
1999 quy định giới hạn mức cao nhất của hình phạt chung đối với từng loại
hình phạt. Ví dụ: Khoản 1 quy định: "Nếu các hình phạt đã tuyên cùng là cải
tạo không giam giữ hoặc cùng là tù có thời hạn, thì các hình phạt đó được
cộng lại thành hình phạt chung; hình phạt chung không được vượt quá ba
năm đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, ba mươi năm đối với hình phạt
tù có thời hạn".8 Việc quy định giới hạn mức cao nhất của hình phạt chung
cũng là thể hiện tinh thần nhân đạo trong chính sách hình sự của Nhà nước
bởi lẽ nếu không có quy định này thì người phạm tội có thể phải chịu một

mức hình phạt bất lợi hơn rất nhiều.
Trong áp dụng luật hình sự:
Nội dung nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa thể hiện trước hết ở việc
Tòa án áp dụng các tình tiết giảm nhẹ khi xét xử phải chú ý đến đặc điểm tốt
về nhân thân của người phạm tội như: Thái độ với lao động sản xuất, công
tác, học tập, lối sống, phạm tội lần đầu,.... Thông qua đó, Toà án khải xem xét
để tuyên một hình phạt nhẹ hơn cho bị cáo. Hình phạt chung được quyết định
trên cơ sở các hình phạt riêng của từng tội do đó để thể hiện được tinh thần
nhân đạo trong hình phạt chung thì nó phải được thể hiện ngay trong khi
quyết định hình phạt đối với từng tội để họ có thể thấy được sự khoan hồng
của nhà nước, từ đó mới giúp họ nhận định được hành vi sai trái, hướng họ
trở thành công dân có ích cho xã hội.
Để việc tổng hợp đúng và mang tính nhân đạo thì việc quyết định một
hình phạt đúng và mang tính nhân đạo đòi hỏi Tòa án phải có thái độ khoan
hồng với người phạm tội khi họ có tình tiết giảm nhẹ. Khi quyết định hình
phạt cũng như tổng hợp hình phạt, Tòa án luôn thể hiện thái độ khoan hồng
của pháp luật, luôn đặt mục đích cải tạo, giáo dục người phạm tội trở thành
8 Quốc hội (1999), Bộ luật hình sự, Hà Nội.

21


công dân tốt là mục đích quan trọng hàng đầu vì nó là mục đích cơ bản nhất,
chủ yếu nhất. Việc tổng hợp hình phạt nếu quá thiên về mục đích trừng phạt
thì người phạm tội dễ nảy sinh tâm lý tiêu cực, chống đối pháp luật, không
chịu cải tạo. Điều đó có nghĩa nếu người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ
thì hình phạt áp dụng cho họ càng được giảm nhẹ hơn so với trường hợp
không có tình tiết giảm nhẹ hoặc có ít tình tiết giảm nhẹ (trong điều kiện các
tình tiết khác tương đương). Đó chính là cơ sở để việc tổng hợp đúng và mang
tính nhân đạo. Vừa thể hiện được nguyên tắc nhân đạo trong việc tổng hợp

hình phạt vừa đấu tranh ngăn ngừa và phòng chống tội phạm.
1.2.1.3 Nguyên tắc cá thể hoá trong tổng hợp hình phạt
Cá thể hóa hình phạt là một trong những nguyên tắc quan trọng, nguyên
tắc đặc thù của chế định hình phạt. Nội dung chính của nguyên tắc này là hình
phạt phải phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi
phạm tội, phù hợp với nhân thân người phạm tội cũng như hoàn cảnh phạm
tội, cần cân nhắc áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự để lựa chọn loại và mức hình phạt cụ thể áp dụng cho người phạm tội sao
cho hợp lý, công bằng và nhân đạo. Trong luật hình sự, hình phạt chung được
tuyên trên cơ sở từng hình phạt riêng đối với từng tội do đó nội dung nguyên
tắc cá thể hóa trong tổng hợp hình phạt trước hết phải tuân theo nguyên tắc cá
thể hóa hình phạt trong hoạt động quyết định hình phạt, sau đó là những nội
dung riêng của tổng hợp hình phạt. Ở phần chung của Bộ luật hình sự, nội
dung nguyên tắc cá thể hóa hình phạt được thể hiện ở các quy định về:
nguyên tắc xử lý tội phạm (Điều 3); phân loại tội phạm (Điều 8); căn cứ quyết
định hình phạt (Điều 45); quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị
phạm tội, phạm tội chưa đạt (Điều 52); quyết định hình phạt trong trường hợp
đồng phạm (Điều 53); nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội (Điều
69, Điều 74, Điều 75). Ở phần các tội phạm, nguyên tắc cá thể hóa hình phạt
22


trong quyết định hình phạt được thể hiện ở chỗ các chế tài quy định cho các
tội phạm cụ thể chủ yếu là chế tài lựa chọn. Hầu hết các tội phạm cụ thể đều
có các khung hình phạt với mức hình phạt nặng nhẹ khác nhau. Do vậy, tùy
từng trường hợp cụ thể Tòa án quyết định hình phạt phù hợp với tính chất
nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.
1.2.1.4. Nguyên tắc công bằng trong tổng hợp hình phạt
Theo cuốn Từ điển tiếng Việt thì công bằng được hiểu là "theo đúng lẽ
phải, không thiên vị".9 Ở nước ta, công bằng đã trở thành một đạo lý tốt đẹp

trong đời sống của nhân dân. Tư tưởng công bằng luôn được thể hiện trong
đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Trong quyết định hình phạt, nguyên tắc công bằng được hiểu là hình phạt
phải phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, không
phân biệt giới tính, dân tộc, địa vị, tôn giáo, tín ngưỡng, thành phần xuất thân,
tình trạng tài sản... của người phạm tội. Hình phạt càng phù hợp với hành vi
phạm tội thì nguyên tắc công bằng càng được thực hiện có hiệu quả. Trong
tổng hợp hình phạt, công bằng là một nguyên tắc đặc thù được thể hiện trong
cả luật hình sự và áp dụng luật hình sự. Trong luật hình sự: Nguyên tắc công
bằng trong tổng hợp hình phạt được thể hiện cụ thể ở chỗ: Trong trường hợp
phạm nhiều tội, người phạm nhiều tội phải chịu hình phạt về tất cả các tội mà
mình đã phạm. Còn trong trường hợp có nhiều bản án, một người đang phải
chấp hành một bản án lại phạm tội mới thì thời gian đã chấp hành bản án
trước của bị cáo không được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt chung.
Tương tự, tổng hợp hình phạt trong các trường hợp có liên quan đến án treo,
nguyên tắc công bằng chính là việc buộc người được hưởng án treo phải chấp
hành hình phạt của bản án cho hưởng án treo nếu người này phạm tội mới
trong thời gian thử thách. Và trong trường hợp người chưa thành niên phạm
9 Viện Ngôn ngữ học (2000), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng.

23


nhiều tội, nếu tội nặng nhất được thực hiện khi đã đủ 18 tuổi thì việc tổng hợp
hình phạt được thực hiện như đối với người thành niên cũng được coi là đã
thể hiện được nguyên tắc công bằng.
Trong áp dụng luật hình sự: Nguyên tắc công bằng thể hiện ở chỗ trong
từng trường hợp cụ thể, Tòa án phải tuyên hình phạt tổng hợp phù hợp với
tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của các hành vi phạm tội đã thực
hiện, không phân biệt giới tính, dân tộc, tôn giáo…Tòa án phải thống nhất

trong việc hiểu và vận dụng cách thức tổng hợp hình phạt trên cả nước, tránh
tình trạng mỗi nơi hiểu theo một cách dẫn đến sự thiếu thống nhất trong quá
trình giải quyết các vụ án. Khi quyết định hình phạt riêng cho từng tội, Tòa án
phải xem xét tất cả các tình tiết có trong vụ án, không được bỏ sót bất kỳ tình
tiết nào có liên quan đến hành vi phạm tội cũng như khả năng đạt được mục
đích của hình phạt, từ đó quyết định hình phạt thỏa đáng, công bằng với bị
cáo và như vậy việc tổng hợp hình phạt mới phù hợp với toàn bộ các hành vi
phạm tội của bị cáo.
1.2.2. Phương pháp tổng hợp hình phạt:
Việc tổng hợp hình phạt phải tuân thủ theo những phương pháp nhất
định. Đó là phương pháp thu hút, phương pháp cộng hình phạt và phương
pháp cùng tồn tại.
Về phương pháp cộng hình phạt, nguyên tắc cộng hình phạt có hai
trường hợp: phương pháp cộng toàn bộ và phương pháp cộng một phần.
Phương pháp cộng toàn bộ là phương pháp cho phép cộng toàn bộ các hình
phạt thành hình phạt chung. Phương pháp này được áp dụng khi có thể và cần
thiết phải cộng toàn bộ các hình phạt với nhau (hình phạt chung sau khi đã
cộng không vượt giới hạn mà luật cho phép đối với loại hình phạt đó).
Phương pháp cộng một phần là phương pháp cho phép cộng hình phạt cao
nhất với một phần hình phạt còn lại thành hình phạt chung. Phương pháp này
24


được áp dụng khi, không thể cộng toàn bộ được vì mới cộng một phần với
hình phạt nặng nhất đã đạt mức tối đa cho phép của loại hình phạt này.
Ví dụ: A bị Toà án tuyên phạt 20 năm tù về tội cướp tài sản theo khoản 3
Điều 133 BLHS, 10 năm tù về tội cướp giật tài sản theo khoản 4 Điều 136.
Trong trường hợp này, hình phạt chung mà bị cáo A phải chấp hành là 30 năm
tù.
Về phương pháp thu hút, theo phương pháp thu hút, hình phạt chung là

hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên. Phương pháp này được
áp dụng trong trường hợp không thể cộng hết các hình phạt lại với nhau do có
một trong các hình phạt đã tuyên là hình phạt nặng nhất trong hệ thống hình
phạt hay do các hình phạt không thể cùng chấp hành.
Ví dụ: Bị cáo B phạm tội hiếp dâm và tội giết người. Toà án tuyên tử
hình đối với tội giết người và 10 năm tù với tội hiếp dâm. Hình phạt chung
trong trường hợp này là tử hình. Ví dụ khác: Bị cáo C phạm tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ của người khác và tội huỷ hoại hoặc cố
ý làm hư hỏng tài sản. Toà án tuyên hình phạt tù chung thân đối với tội “cố ý
gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ của người khác “và 5 năm tù với
tội “huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản”. Trong trường hợp này, hình
phạt chung là tù chung thân.
Về phương pháp cùng tồn tại, nguyên tắc cùng tồn tại được áp dụng khi
không áp dụng được hai phương pháp trên. Tổng hợp hình phạt theo phương
pháp này sẽ không có hình phạt chung cho tất cả các tội mà chỉ có việc phải
chấp hành đồng thời các hình phạt.
Ví dụ: Bị cáo D phạm tội buôn lậu và tội chống người thi hành công vụ.
Toà án tuyên phạt 50 triệu đồng về tội “buôn lậu” và phạt 3 năm tù về “tội
chống người thi hành công vụ”. Trường hợp này bị cáo phải chấp hành đồng
thời cả hai hình phạt trên.
25


×