Tải bản đầy đủ (.doc) (22 trang)

Phương pháp dạy học thực hành môn sinh học 11 (nâng cao) nhằm tạo hứng thú và hiệu quả học tập cao cho học sinh trường THPT lê lợi

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (792.63 KB, 22 trang )

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

TRƯỜNG THPT LÊ LỢI

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

TÊN ĐỀ TÀI:
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THỰC HÀNH
MÔN SINH HỌC 11 (NÂNG CAO) NHẰM TẠO HỨNG THÚ
VÀ HIỆU QUẢ HỌC TẬP CAO CHO HỌC SINH
TRƯỜNG THPT LÊ LỢI

Người thực hiện : Đỗ Thị Hoa
Chức vụ :

Giáo viên

Tổ bộ môn:

Sinh học

SKKN thuộc lĩnh vực: Sinh học

1


THANH HÓA, NĂM 2017

MỤC LỤC
Trang
Mục lục


PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
II. MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
III. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
PHẦN II: NỘI DUNG
Chương I. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1. Khái niệm Sinh học
2. Thí nghiệm sinh học
2.1. Thí nghiệm sinh học là gì?
2.2. Phân loại thí nghiệm sinh học
2.3. Yêu cầu khi tiến hành thí nghiệm sinh học
3. Phương pháp thực hành thí nghiệm
3.1. Bản chất
3.2. Vai trò
3.3. Yêu cầu
Chương II: THỰC TRẠNG DẠY HỌC THỰC HÀNH Ở TRƯỜNG
THPT
1.Thực trạng về cơ sở vật chất
2. Thực trạng dạy học thực hành trong dạy học Sinh học ở trường THPT
Chương 3: GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
I. NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁC TIẾT THỰC HÀNH TRONG
CHƯƠNG TRÌNH SÁCH GIÁO KHOA 11 NÂNG CAO
1. Các bài thực hành thuộc chương 1: Chuyển hóa vật chất và năng lượng
1.1. Bài 6: Thực hành: Thoát hơi nước và bố trí thí nghiệm về phân bón
1.2. Bài 13: Thực hành: Tách chiết sắc tố từ lá và tách các nhóm sắc tố
bằng phương pháp hóa học
1.3. Bài 14: Thực hành: Chứng minh quá trình hô hấp tỏa nhiệt
1.4. Bài 21: Thực hành: Tìm hiểu hoạt động của tim ếch
2. Các bài thực hành thuộc chương 2: Cảm ứng

2.1. Bài 25: Thực hành: Hướng động
2.2. Bài 33: Thực hành: Xem phim về một số tập tính ở động vật
3. Các bài thực hành thuộc chương 3: Sinh trưởng và phát triển
Bài 40: Thực hành: Quan sát sinh trưởng và phát triển của một số động vật
4. Các bài thực hành thuộc chương 4: Sinh sản
Bài 43: Thực hành: Nhân giống giâm, chiết, ghép ở thực vật
2

1
3
3
4
4
4
5
5
5
5
5
5
6
6
6
6
6
7
7
7
9
9

9
9
9
10
10
11
11
12
13
13
14
14


II. BỔ SUNG MỘT SỐ THÍ NGHIỆM ĐƠN GIẢN KHÔNG CÓ
TRONG CÁC BÀI THỰC HÀNH SGK 11 NÂNG CAO NHẰM GIÚP
HỌC SINH HÌNH THÀNH KIẾN THỨC TỐT HƠN.
1. Thí nghiệm đơn giản
a. Khái niệm
b. Vai trò của thí nghiệm đơn giản
c. Yêu cầu của việc xây dựng và sử dụng thí nghiệm đơn giản
2. Các thí nghiệm đơn giản bổ sung vào tiết dạy lí thuyết
Chương 4: HIỆU QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI.
1. Kết quả thực nghiệm
1.1. Xử lí số liệu bằng thống kê toán học
1.2. Đánh giá kết quả
2. Phạm vi ảnh hưởng của đề tài
2.1. Tới các cấp quản lí
2.2. Tới giáo viên
2.3. Tới học sinh

PHẦN III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
I. KẾT LUẬN
II. KIẾN NGHỊ
a. Với các cấp quản lí
b. Với giáo viên bộ môn Sinh học.
TÀI LIỆU THAM KHẢO

15
15
15
15
15
15
16
16
16
16
18
18
18
18
19
19
19
19
19
20

PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định phương châm "Giáo dục là quốc sách
hàng đầu''. Nền giáo dục nước ta luôn đổi mới và cải cách để nâng cao chất lượng
giáo dục toàn diện. Trong đó, đổi mới phương pháp dạy học là vấn đề them chốt để
nâng cao chất lượng giáo dục. Đổi mới phương pháp dạy học đã và đang đạt được
nhiều bước tiến mới.
Trong các phương pháp dạy học tích cực, sử dụng phương tiện trực quan
được xem là một trong những giải pháp mang tính thực tiễn đạt hiệu quả cao nhất.
Phương pháp trực quan đã và đang được áp dụng rộng rãi ở các nước trong khu
vực và trên thế giới, với phương châm "học đi đôi với hành”, “lí luận gắn liền với
thực tiễn", “lí thuyết không xa dời thực tiễn”. Đây là phương pháp giúp học sinh có
thể trực tiếp khám phá, tự mình tìm ra bản chất và giải thích các sự vật, hiện tượng
diễn ra xung quanh dựa trên những hiểu biết của mình. Sử dụng thí nghiệm trong
dạy học cũng là một trong những biện pháp dạy học mang lại hiệu quả tối ưu được
dùng rộng rãi trên nhiều lĩnh vực. Thí nghiệm, thực hành giúp học sinh khám phá
sự vật hiện tượng cụ thể, thực tế gắn với các kiến thức đã học từ đó hiểu rõ bản
chất kiến thức đã học và có thể ứng dụng linh hoạt trong cuộc sống.
3


Hầu hết ở các trường Trung học phổ thông (THPT) trên cả nước đang gặp
rất nhiều khó khăn trong việc dạy học các tiết dạy thực hành ở tất cả các môn.
Nghiên cứu các bài thực hành trong chương trình Sinh học 11 nâng cao, tôi
nhận thấy:
- Ở một vài bài thực hành, các nguyên liệu thí nghiệm còn hạn chế, không
phù hợp với từng địa phương, từng vùng miền, từng thời điểm thí nghiệm.
- Các mẫu vật, dụng cụ và hóa chất chưa đáp ứng đủ cho các bài thực hành.
- Cách thức tiến hành thí nghiệm phức tạp, không đảm bảo thời lượng cho
một tiết học, có những bài học có quá nhiều thí nghiệm.
Sinh học là môn khoa học tự nhiên thực nghiệm, phương pháp chủ yếu là
quan sát và làm thí nghiệm. Dạy học thực hành trong môn Sinh học là một tất yếu

đang được quan tâm khai thác và đưa vào sử dụng. Kiến thức sinh học rất đa dạng
và phong phú, để tìm hiểu rõ bản chất của kiến thức đòi hỏi phải tiến hành nhiều
thí nghiệm khác nhau.
Qua dạy học, tôi nhận thấy, hầu hết học sinh đều rất thích học thực hành, kể
cả những nội dung không thể thực hành ngay trong tiết học mà phải giao việc về
nhà trước hoặc sau tiết thực hành. Trong tiết học đó các em không phải “nhồi nhét”
kiến thức mà vẫn tự mình chiếm lĩnh tri thức, mang lại hiệu quả học tập cao.
Tuy nhiên, cũng do đổi mới giáo dục mà hiện nay, tại các trường THPT,
nhiều học sinh có xu hướng chọn môn học hướng về các tổ hợp môn thuộc các
khối A, A1, D… nhiều hơn, ít em chọn tổ hợp môn có bộ môn Sinh học. Điều đó
cũng đồng nghĩa với việc các em ít chú ý đến môn không theo tổ hợp xét tuyển Đại
học, Cao đẳng của mình, vì các em quan niệm “Thi gì, học nấy”. Chính điều này đã
làm giảm hứng thú học tập của các em ở các tiết học thuộc các môn không xét
tuyển, trong đó có môn Sinh học. Thái độ học tập của học sinh cũng làm giảm
hứng thú của giáo viên khi lên lớp và cũng vì vậy, nhiều người không muốn cho
học sinh lên phòng thực hành để thực hiện các bài thực hành trong phân phối
chương trình vì nhiều lí do khác nhau. Tiết thực hành trở thành tiết “nghỉ ngơi”,
học sinh càng giảm hứng thú học tập bộ môn.
Từ những trải nghiệm thực tế qua nhiều năm dạy học và kết quả đạt được
trong công tác dạy học, tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Phương pháp dạy học thực
hành môn Sinh học 11 (nâng cao) nhằm tạo hứng thú và hiệu quả học tập cao
cho học sinh trường THPT Lê Lợi”.
II. MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc dạy học thực hành Sinh học
11 nâng cao ở trường THPT, từ đó đề xuất một số phương pháp dạy học thực hành
một cách có hiệu quả nhằm nâng cao hứng thú học tập cho học sinh.
- Sử dụng các phương án thực hành thí nghiệm để thiết kế tiến trình dạy học
một số bài thực hành trong chương trình sinh học 11 theo hướng tổ chức hoạt động
học cho học sinh nhằm nâng cao hứng thú học tập bộ môn Sinh học và nâng cao
hiệu quả học tập bộ môn tại trường THPT.

4


- Đánh giá tính khả thi của đề tài thông qua khả năng nhận thức của học sinh
và hiệu quả của các phương án thực hành.
III. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu:
- Hệ thống các bài thực hành trong các bài thực hành của chương trình Sinh
học 11 Nâng cao.
- Khách thể: Học sinh lớp 11A3, 11A5 Khóa học 2015- 2018 Trường THPT
Lê Lợi.
2. Phạm vi nghiên cứu:
- Đề tài chỉ nghiên cứu các thí nghiệm thuộc các bài thực hành trong
chương trình sinh học 11 Nâng cao.
- Nghiên cứu và đổi mới một số phương pháp, đối tượng, dụng cụ, hóa chất
thí nghiệm và các phương án thực hành trong chương trình sinh học 11 Nâng cao.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết
Thu thập, nghiên cứu và hệ thống lại các tài liệu có liên quan đến đề tài để
làm cơ sở nghiên cứu và thực nghiệm.
2. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Tiến hành thực hành các bài thực hành trong chương trình Sinh học 11.
- Khảo sát tính khả thi của các thí nghiệm thực hành trong các buổi thực
nghiệm tại trường.
3. Phương pháp phân tích, đánh giá kết quả, thống kê xử lí số liệu
Xử dụng công thức toán thống kê để xử lí số liệu thu thập được nhằm đánh
giá kết quả thực nghiệm.
4. Phương pháp viết báo cáo khoa học.

PHẦN 2: NỘI DUNG

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1. Khái niệm Sinh học.
Sinh học hay là Sinh vật học là một môn khoa học về sự sống (từ tiếng
Anh: biology bắt nguồn từ Hy Lạp với bios là sự sống và logos là môn học).[1]
Sinh học là một nhánh của khoa học tự nhiên, tập trung nghiên cứu các cá
thể sống, mối quan hệ giữa chúng với nhau và với môi trường. Nó miêu tả những
đặc điểm và tập tính của sinh vật, ví dụ: cấu trúc, chức năng, sự phát triển, môi
trường sống, cách thức các cá thể và loài tồn tại ví dụ: nguồn gốc, sự tiến hóa và
phân bổ của chúng [1].
Sinh học bao hàm nhiều ngành học khác nhau được xây dựng dựa trên
những nguyên lý riêng. Có 4 nguyên lý tạo thành nền tảng cho sinh học hiện đại: lý
thuyết tế bào, tiến hóa, di truyền và cân bằng nội môi. Các môn học này có mối
quan hệ qua lại với nhau, giúp ta hiểu về sự sống với các mức độ, phạm vi khác
nhau. Sinh học là khoa học thực nghiệm, để lĩnh hội các kiến thức Sinh học, cần
thực hành, thí nghiệm.[1]
2. Thí nghiệm sinh học.
5


2.1. Thí nghiệm sinh học là gì?
Thí nghiệm sinh học là mô hình nhân tạo, mô phỏng quá trình cơ chế sinh
học để qua đó con người hiểu biết bản chất của các hiện tượng, đối tượng sống.[2]
- Thí nghiệm là mô hình đại diện cho hiện thực khách quan, là cơ sở xuất
phát của quá trình nhận thức. Thí nghiệm sinh học là một trong những phương
pháp trong nhóm trực quan và thực hành, là phương pháp có ý nghĩa rất quan trọng
trong dạy học Sinh học.[2]
- Thí nghiệm là cầu nối giữa lí thuyết với thực tiễn.
Vì vậy, thí nghiệm là phương tiện duy nhất giúp học sinh hình thành kĩ năng,
kĩ xảo thực hành và tư duy kĩ thuật:
+ Kĩ năng sử dụng và bảo quản các dụng cụ thí nghiệm.[2]

+ Kĩ năng tiến hành thí nghiệm: xử lí mẫu vật, sử dụng hóa chất và dụng cụ,
quan sát, so sánh, ...[2]
+ Kĩ năng phân tích, so sánh các hiện tượng xảy ra trong thí nghiệm.[2]
+ Kĩ năng sử dụng các phương pháp thống kê, xử lí kết quả thí nghiệm và rút ra
kết luận.[2]
- Thí nghiệm sinh học giúp học sinh tìm hiểu bản chất của các hiện tượng
hay quá trình sinh học.[2]
- Thí nghiệm sinh học có thể sử dụng để tổ chức các hoạt động nhận thức
của học sinh với các mức độ tích cực, tự lực và sáng tạo khác nhau như thông báo,
tái hiện, tìm tòi, nghiên cứu...[2]
2.2. Phân loại thí nghiệm sinh học
a. Căn cứ vào mục đích sử dụng thí nghiệm, thí nghiệm được phân thành 3 loại:
- Thí nghiệm chứng minh: có vai trò minh họa cho lời giảng của giáo viên.
- Thí nghiệm nghiên cứu: có vai trò là nguồn dẫn đến tri thức mới cho học sinh.
- Thí nghiệm thực hành: có vai trò củng cố tri thức, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo
cho học sinh.
b. Căn cứ vào chủ thể tiến hành thí nghiệm, thí nghiệm được phân thành 2 loại:
- Thí nghiệm do thầy cô và phụ tá thí nghiệm thực hiện.
- Thí nghiệm do họ sinh thực hiện.
c. Căn cứ vào thời gian, địa điểm tiến hành, thí nghiệm được chia thành 2 loại:
- Thí nghiệm được chuẩn bị sẵn ở nhà.
- Thí nghiệm được tiến hành trong tiết thực hành trên lớp.
2.3. Yêu cầu khi tiến hành thí nghiệm sinh học
- Trước khi tiến hành thí nghiệm, giáo viên phải chỉ rõ mục đích thí nghiệm,
vai trò của các dụng cụ, hóa chất và mẫu vật thí nghiệm.
- Thí nghiệm thực hành phải đơn giản, phù hợp với điều kiện ở trường, địa
phương, dễ tiến hành, vừa sức với học sinh.
- Thời gian thí nghiệm phải hợp lí, hạn chế kéo dài thí nghiệm quá thời
lượng cho phép của một tiết học.
- Số học sinh tham gia vào nhóm thực hành phù hợp với từng bài thực hành.

- Sau khi tiến hành thí nghiệm phải tổ chức cho học sinh thảo luận dựa trên
kết quả quan sát và trả lời các câu hỏi đã nêu ra từ trước.
- Những kết luận của học sinh phải được giáo viên bổ sung và hoàn thiện.
3. Phương pháp thực hành thí nghiệm
6


3.1. Bản chất
Thí nghiệm thực hành do học sinh tự tiến hành theo hướng dẫn của giáo viên
hoặc do giáo viên tiến hành để học sinh quan sát. Thí nghiệm thực hành có thể sử
dụng để hình thành kiến thức mới hoặc có thể sử dụng để củng cố hoàn thiện tri
thức, rèn luyện kĩ năng.
3.2. Vai trò
- Thực hành là phương pháp nghiên cứu đối tượng và hiện tượng trong điều
kiện nhân tạo nhằm tìm hiểu ảnh hưởng của một hay một vài yếu tố xác định nhằm
theo dõi một vài khía cạnh nhất định.
- Thực hành cho phép học sinh đi sâu tìm hiểu bản chất của vấn đề cần được
nghiên cứu nên có tác dụng giúp học sinh nắm vững và khắc sâu kiến thức.
- Trong khi tiến hành thực hành, học sinh phải trực tiếp tác động vào đối
tượng, chủ động thay đổi các điều kiện thí nghiệm,... Vì vậy, ngoài tác dụng về mặt
trí dục, thực hành còn có tác dụng rèn luyện một số kĩ năng như: kĩ năng lắp ráp
dụng cụ thí nghiệm, kĩ năng thao tác thực hành trên đối tượng nghiên cứu.
3.3. Yêu cầu
- Để thực hành thu được kết quả tốt, giáo viên cần xác định rõ mục đích yêu
cầu, hướng dẫn cách thức tiến hành, theo dõi, thu thập số liệu, phân tích kết quả.
Giáo viên cần nêu rõ yêu cầu cần thiết để học sinh quan sát, viết thu hoạch đúng
nội dung.
- Sau khi tiến hành xong thực hành, giáo viên cần tổ chức cho học sinh thảo
luận, giải thích, thiết lập mối quan hệ nhân quả giữa các hiện tượng sinh học. Trên
cơ sở đó học sinh vạch ra bản chất bên trong của các sự vật, hiện tượng đang

nghiên cứu. Yêu cầu học sinh viết bài tường trình về bài thực hành để đánh giá
mức độ lĩnh hội tri thức của các em.
Chương II: THỰC TRẠNG DẠY HỌC THỰC HÀNH Ở TRƯỜNG THPT
1.Thực trạng về cơ sở vật chất
Những năm gần đây, do đổi mới PPDH theo hướng lấy học sinh làm trung
tâm nên thiết bị dạy học đã và đang được quan tâm hơn, bước đầu đã có những đáp
ứng nhất định đối với các trường THPT. Tuy vậy, thực trạng thiết bị dạy học thực
hành vẫn còn rất nhiều hạn chế, thể hiện:
- Thiết bị dạy học vẫn thiếu nhiều do quy mô, hệ thống trường THPT rộng
lớn. Do đó, tình trạng "Dạy chay - học chay" còn đang phổ biến ở nhiều trường.
- Dạy học Sinh học nhưng không có vườn trường, ao trường… để học sinh
làm thực hành.
- Có sự chênh lệch trong việc trang bị và sử dụng thiết bị dạy học giữa các
trường ở thành phố, thị xã, với các vùng nông thôn và miền núi.
- Có sự khác biệt trong đầu tư trang thiết bị của các trường chuẩn và trường
chưa đạt chuẩn.
- Thiết bị được đầu tư không đồng bộ, bảo quản không đúng cách nên không
sử dụng được.
- Chất lượng thiết bị dạy học còn nhiều hạn chế: Nhiều thiết bị dạy học không
đảm bảo chất lượng, không đạt những yêu cầu, có nhiều thiết bị dạy học mua về
mà không được sử dụng. Mặt khác, nhiều thiết bị dạy học ở các trường THPT quá
7


cũ, hóa chất hết hạn sử dụng,… nên khi tiến hành thí nghiệm cho kết quả thiếu
chính xác.
Ở Thanh Hóa, tiến trình đổi mới đổi mới PPDH đang từng bước được triển
khai ở các trường THPT. Chính vì vậy, việc sử dụng thí nghiệm và các phương tiện
trực quan trong dạy học đang được quan tâm. Tuy nhiên, so với số lượng học sinh
thì mức độ đầu tư thiết bị dạy học còn thiếu và gặp nhiều khó khăn.

Trường THPT Lê Lợi chúng tôi là trường chuẩn Quốc gia nên cơ sở vật chất
được đầu tư rất nhiều, trong đó có thiết bị thực hành. Tuy nhiên, cơ sở vật chất cho
tiết thực hành còn nhiều hạn chế như:
+ Phòng thực hành dùng chung cho cả 2 bộ môn: Sinh học và Hóa học.
+ Các dụng cụ và hóa chất thí nghiệm không đầy đủ, không đảm bảo chất lượng
cho tiết thực hành, nhiều hóa chất quá hạn sử dụng, thiết bị cũ, hỏng cho kết quả
không chính xác. Kính hiển vi bảo quản không đúng cách nên mờ, khó quan sát.
+ Không có vườn trường để thực hành Sinh học, Công nghệ, Nghề Làm vườn.
2. Thực trạng dạy học thực hành trong dạy học Sinh học ở trường THPT
- Với thực trạng thiết bị thực hành thiếu thốn, hỏng hóc, quá hạn sử dụng, …
nhiều giáo viên không thể thường xuyên đưa học sinh lên phòng làm thực hành,
cũng từ đó hình thành thói quen ngại làm thực hành, ngay cả những thí nghiệm
trong chương trình rất dễ thực hiện với trang thiết bị hiện có. Điều đó cũng làm
giảm hứng thú của học sinh với môn học. Đồng thời cũng không giúp các em tự
lĩnh hội tri thức mà việc lĩnh hội kiến thức mang tính thụ động.
- Nhiều giáo viên ngại dạy tiết thực hành vì tốn thời gian, công sức, kĩ năng
thực hành kém, …
- Cán bộ phụ trách thí nghiệm ở hầu hết các trường chỉ hầu như làm nhiệm
vụ “giữ chìa khóa” phòng thực hành và làm các công việc khác do Ban Giám hiệu
giao, không phụ trách thực hành cùng giáo viên bộ môn.
- Chỉ có 1 cán bộ phụ trách phòng thực hành, các thiết bị, dụng cụ thực hành
chung cho tất cả các môn: Vật lí, Hóa học, Sinh học, Tin học, … không có phụ tá
phụ trách riêng từng bộ môn,… Cán bộ phụ tá thí nghiệm lại còn kiêm nhiệm
nhiều công việc khác.
Như vậy, mặc dù thí nghiệm có vai trò quan trọng trong dạy học Sinh học,
nhưng trên thực tế thí nghiệm vẫn chưa được chú trọng đúng mức và thực hành
chưa đạt được hiệu quả mong muốn.
Trên thực tế, nhiều bài thực hành được tiến hành nhưng chưa đạt mục tiêu đề
ra, các phương tiện, dụng cụ hiện đại còn rất hạn chế, nên dẫn đến tình trạng ''dạy
chay - học chay" còn phổ biến, học sinh phải công nhận kiến thức mà không chứng

minh được đúng hay sai.
Với thực trạng về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, … như trên, trong phạm vi
nghiên cứu của đề tài này, tôi mạnh dạn giới thiệu một số phương pháp dạy học
thực hành Sinh học 11 để học sinh dễ tiến hành, giúp tiết học thực hành trở nên có
ý nghĩa hơn, học sinh có hứng thú cao trong học tập bộ môn Sinh học và việc dạy
học đạt hiệu quả cao. Cụ thể:
+ Sử dụng tối ưu những trang thiết bị còn sử dụng được trong phòng thí
nghiệm.
8


+ Thay thế một số nguyên liệu phù hợp với từng địa phương, từng vùng
miền, từng mùa và với từng thời điểm thí nghiệm.
+ Thay thế một số hóa chất, dụng cụ thực hành dễ kiếm, rẻ tiền hoặc có thể
tận dụng các vật dụng xung quanh đời sống chúng ta.
+ Xây dựng các phương án thực hành đơn giản, thao tác dễ tiến hành giúp
giáo viên và học sinh dễ dàng tiến hành thí nghiệm mà vẫn đảm bảo mục tiêu bài
thực hành, đồng thời khắc phục một phần những bất cập nêu trên.

Chương 3: GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
I. NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁC TIẾT THỰC HÀNH TRONG
CHƯƠNG TRÌNH SÁCH GIÁO KHOA 11 NÂNG CAO
1. Các bài thực hành thuộc chương 1: Chuyển hóa vật chất và năng lượng
1.1. Bài 6: Thực hành: Thoát hơi nước và bố trí thí nghiệm về phân bón
- Với bài thực hành này, học sinh không thể thực hiện được thí nghiệm trồng
cây ngoài vườn và trồng cây trong dung dịch do thời lượng 1 tiết học quá ít.
Học sinh chỉ thực hiện được:
+ Thí nghiệm đo cường độ thoát hơi nước bằng phương pháp cân nhanh.
+ Nhận dạng các loại phân hóa học: tinh thể, màu sắc, độ tan,…
- Vậy làm thế nào để học sinh thấy được vai trò cụ thể của từng loại phân

hóa học đối với cây trồng? Đây không phải là thí nghiệm khó làm nhưng cần rất
nhiều thời gian. Mặt khác hầu hết các trường không có vườn trường để học sinh
thực hành. Vì vậy, giáo viên bộ môn có thể thực hiện bằng 2 cách sau:
+ Cách 1: Giáo viên thực hiện thí nghiệm này từ trước đó rồi chụp ảnh và
ghi kết quả lại, trình chiếu cho học sinh.

9


+ Cách 2: Giáo viên giao việc cho từng nhóm học sinh về nhà làm, có chụp
ảnh và ghi chép kết quả thu hoạch sau 1 tháng, không chỉ viết báo cáo về cách bố
trí thí nghiệm.
- Thí nghiệm trồng cây trong dung dịch cũng thực hiện tương tự như trên.
1.2. Bài 13: Thực hành: Tách chiết sắc tố từ lá và tách các nhóm sắc tố bằng
phương pháp hóa học
- Trong bài thực hành này, giáo viên cho học sinh thực hiện những nội dung
đã nêu rõ trong sách giáo khoa.
- Ngoài ra cần lưu ý: Giáo viên nên cho học sinh chuẩn bị mỗi nhóm một
loại lá khác nhau để sau khi tách chiết các em có thể so sánh màu sắc đậm nhạt của
dịch chiết từ đó đánh giá được hàm lượng diệp lục trong mội loại lá. Ngoài ra nên
chuẩn bị lá không quá già vì sẽ khó nghiền hơn lá non.[3]

Chiết rút sắc tố từ lá
Trên cơ sở đó, giáo viên có thể đưa ra các câu hỏi gợi mở lí thú, cuốn hút
học sinh trả lời.
- Ví dụ:
+ Vì sao phải tách chiết hỗn hợp sắc tố bằng dung môi hữu cơ?[3]
+ Dựa vào nguyên tắc nào để tách chiết các nhóm sắc tố ra khỏi hỗn hợp?[3]
+ Vì sao dịch chiết ở một số loại lá cây có màu xanh đậm, một số lá có màu
xanh nhạt hơn? Điều đó có liên quan gì đến sự phân bố của cây theo chiều thẳng

đứng không?....[3]
1.3. Bài 14: Thực hành: Chứng minh quá trình hô hấp tỏa nhiệt
- Với bài thực hành này, để có kết quả báo cáo trong tiết thực hành, giáo viên
cần hướng dẫn các nhóm học sinh thực hiện một phần công việc từ ở nhà. Đó là
việc ngâm hạt đủ nước và ủ trước 1 đêm ở nhà. Đến tiết thực hành, học sinh chỉ
theo dõi kết quả, thảo luận và viết thu hoạch.
- Thao tác thực hành như hướng dẫn trong sách giáo khoa. Nên sử dụng loại
hạt phổ biến ở địa phương như lúa, ngô, đậu,…

10


Lúa nảy mầm tỏa nhiệt
- Nên hướng dẫn học sinh sử dụng nước ấm 2 sôi 3 lạnh để ngâm hạt sẽ sớm
cho kết quả và kết quả rõ ràng hơn.
- Ngoài ra, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh tính hệ số hiệu quả năng
lượng hô hấp và hỏi một số câu hỏi liên hệ thực tế như:
+ Tại sao nên sử dụng nước ấm để ngâm hạt?
+ Tại sao trong quá trình ngâm hạt, nên thay nước sạch thường xuyên?
+ Lúa, ngô,.. thu hoạch về, không kịp phơi thường bị nảy mầm, vì sao?
+ Tại sao hô hấp lại tỏa nhiệt, viết phương trình chứng minh?
1.4. Bài 21: Thực hành: Tìm hiểu hoạt động của tim ếch
- Tiến trình thực hành (như sách giáo khoa đã nêu).
- Giáo viên nên lưu ý cho học sinh một số điều sau:
+ Xác định điểm chọc tủy ếch: xác định một tam giác đều có 2 đỉnh là 2 mắt
ếch, đỉnh thứ 3 của tam giác về phía đầu. Đó là điểm chọc tủy.
+ Trong quá trình mổ, nếu chảy máu thì dùng bông thấm đẫm dung dịch sinh
lí vắt vào chỗ máu chảy để hòa loãng máu sau đó dùng bông thấm hết máu đã hòa
loãng, như vậy sẽ dễ dàng quan sát.[4]
+ Trong quá trình thí nghiệm, thường xuyên nhỏ dung dịch sinh lí lên tim để

tim không bị khô.[4]

11


Chọc tủy ếch
- Ngoài ra, giáo viên nên cho học sinh trả lời các câu hỏi mở rộng kiến
thức để tăng thêm sự cuốn hút trong bài thực hành. Ví dụ:
+ Trình tự co giãn của tâm nhĩ và tâm thất có vai trò như thế nào trong vận
chuyển máu qua các buồng tim?[3]
+ Giải thích tại sao tim co giãn nhịp nhàng theo chu kì. Tác dụng?[3]
+ Trình bày những quan sát về hoạt động tim lúc bình thường và khi kích
thích dây thần kinh đi đến cũng như dưới tác dụng của ađrênalin. Có gì khác nhau
về nhịp co và lực co trong các trường hợp trên?[3]
+ Trình bày những quan sát được về hệ vận chuyển máu ở màng da chân ếch
hay ở màng treo ruột. Giải thích sự khác nhau về màu máu, tốc độ vận chuyển và
chiều vận chuyển.[3]
- Giáo viên có thể bổ sung kiến thức cho học sinh:
+ Ađrênalin do tuyến thượng thận tiết ra tác dụng lên tim tương tự như dây
giao cảm, làm cho tim dập nhanh và mạnh.[3]
+ Hoạt động của vỏ não ảnh hưởng đến hoạt động của tim. Ví dụ: căng
thẳng thần kinh, sợ hãi, hồi hộp, xúc động tác động đến trung khu điều hòa tim
mạch làm tim đập nhanh, mạnh.[3]
2. Các bài thực hành thuộc chương 2: Cảm ứng
2.1. Bài 25: Thực hành: Hướng động
- Tiến trình thực hành (như sách giáo khoa đã nêu).
- Giáo viên nên lưu ý cho học sinh một số điều sau:
+ Học sinh phải được giáo viên hướng dẫn từ trước đó cả tuần, học sinh làm
thực hành ở nhà trước ít nhất 1 tuần mới cho kết quả tốt nhất.
+ Trong tiết thực hành, học sinh chỉ quan sát và ghi chép kết quả thu hoạch.

+ Giáo viên nên làm mẫu ở nhà và còn yêu cầu học sinh chụp ảnh thực vật
có hiện tượng hướng động mà các em quan sát được trong tự nhiên.
- Giáo viên yêu cầu học sinh giải thích các hiện tượng quan sát được. Nêu
được ý nghĩa của hướng động đối với đời sống thực vật.

12


Hướng trọng lực
2.2. Bài 33: Thực hành: Xem phim về một số tập tính ở động vật
- Học sinh ngày nay rất nhanh nhạy với công nghệ thông tin. Khả năng sử
dụng công nghệ thông tin của các em hiện nay rất tốt, giáo viên có thể yêu cầu cao
hơn với học sinh. Thay vì giáo viên sưu tầm vi deo, băng hình về tập tính rổi trình
chiếu cho học sinh thì giáo viên nên giao việc sưu tầm video cho học sinh từ trước
khi đến tiết thực hành khoảng 1 tuần.
- Giáo viên chia lớp thành 4 nhóm, phân công cụ thể:
+ 1 nhóm sưu tầm băng hình về tập tính kiếm ăn của chim.
+ 1 nhóm sưu tầm băng hình về tập tính sinh sản của bò sát.
+ 1 nhóm sưu tầm băng hình về tập tính sinh sản của thú.
+ 1 nhóm sưu tầm băng hình về tập tính kiếm ăn của côn trùng.
- Yêu cầu cụ thể với mỗi nhóm như sau:
+ Sưu tầm video được phân công.
+ Thuyết minh lời thuyết minh về đoạn phim do nhóm sưu tầm.
+ Hoàn chỉnh đoạn phim như một phim khoa học đã từng xem trên ti vi hoặc
trên mạng internet hoặc thuyết minh trực tiếp trên lớp khi trình chiếu video.

Tập tính sinh sản ở rắn

13



Tập tính kiếm ăn ở chim
- Qua việc sưu tầm, thuyết minh và hoàn thiện video, học sinh vừa hình
thành kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin, vừa hình thành kĩ năng thuyết minh,
làm việc nhóm,… vừa củng cố thêm kiến thức về tập tính động vật. Các em phải
xem nhiều băng hình về tập tính động vật, lựa chọn video tâm đắc nhất để thuyết
minh. Từ đó các em có thêm nhiều hiểu biết về tập tính các loài.
- Để củng cố và kiểm tra khả năng nắm bắt kiến thức của học sinh, giáo viên
nên bổ sung một số câu hỏi trắc nghiệm để học sinh lựa chọn và trả lời nhanh.
3. Các bài thực hành thuộc chương 3: Sinh trưởng và phát triển
Bài 40: Thực hành: Quan sát sinh trưởng và phát triển của một số động vật
- Yêu cầu: Nội dung thực hành như sách giáo khoa đã nêu.
- Lưu ý: Giáo viên nên sử dụng mẫu vật thật, mẫu sống (trứng vịt lộn) để
hiệu quả thực hành cao hơn.

- Ngoài ra, giáo viên củng cố bài bằng các câu hỏi gợi mở để cuốn hút học
sinh, như:
+ So sánh phôi gà và gà con về cấu tạo, kích thước?[4]
+ Phân tích, so sánh sự khác nhau về hình thái và lối sống của tằm, nhộng và
bướm ngài.[4]
+ Nêu những sai khác về hình thái và lối sống của nòng nọc và ếch.[4]

14


+ Nêu sơ lược kĩ thuật ấp trứng gà, trứng vịt lộn…,kĩ thuật chăn nuôi tằm.
[4]
4. Các bài thực hành thuộc chương 4: Sinh sản
Bài 43: Thực hành: Nhân giống giâm, chiết, ghép ở thực vật
- Với bài thực hành này, học sinh không thể thực hiện được thí nghiệm giâm,

chiết, ghép ngoài vườn trường vì đa số các trường không có vườn trường để học
thực hành.
- Ghép cánh và chiết cành là kĩ thuật khó hơn giâm cành nhưng có thể cho
các em thao tác trên lớp với thời lượng chương trình 45 phút. Giáo viên nên phân
công một số nhóm ghép cành, một số nhóm chiết cành. Có 2 cách sau đây để khắc
phục khó khăn trong dạy thực hành bài này, tốt nhất nên sử dụng cách 1:
+ Cách 1: Giáo viên yêu cầu học sinh chuẩn bị 1 cành đã chặt khỏi cây cùng
với các vật dụng cần thiết để làm thực hành chiết, ghép ngay trên phòng thực hành.
+ Cách 2: Giáo viên trình chiếu vi deo hướng dẫn học sinh cách giâm, chiết,
ghép một số cây phổ biến quen thuộc. Học sinh xem băng hình, ghi chép quy trình
và tự vận dụng linh hoạt ở gia đình.

- Thao tác giâm cành đã quá quen thuộc với học sinh nông thôn vì ở gia đình
các em cũng đã thường xuyên thực hiện: giâm cành rau ngót, rau khoai, rau
muống, nhiều loài hoa, sắn, mía,… Vì vậy với điều kiện thực tế, giâm cành có thể
giao việc về nhà cho các em làm.
- Giáo viên giao cho các nhóm học sinh hoặc giao việc cho cá nhân học sinh
về nhà làm thực hành. Tuy nhiên, để có kết quả thực hành chiết, ghép phải mất trên
1 tháng, khi đó, đã kết thúc năm học. Giáo viên cần nêu cao tinh thần tự giác thực
hành ở nhà để các em tự tiến hành làm thực hành.

15


II. BỔ SUNG MỘT SỐ THÍ NGHIỆM ĐƠN GIẢN KHÔNG CÓ TRONG
CÁC BÀI THỰC HÀNH SÁCH GIÁO KHOA 11 NÂNG CAO NHẰM GIÚP
HỌC SINH HÌNH THÀNH KIẾN THỨC TỐT HƠN.
Phần lớn giáo viên hình thành kiến thức cho học sinh bằng cách áp đạt học
sinh phải công nhận kiến thức. Theo tôi, để các em dễ dàng có được kiến thức,
hứng thú trong học tập và lâu quên kiến thức đã lĩnh hội, cách tốt nhất là đưa thêm

các thí nghiệm đơn giản vào dạy học.
1. Thí nghiệm đơn giản
a. Khái niệm:
Thí nghiệm đơn giản là thí nghiệm được tiến hành với các vật liệu, dụng cụ
thông thường, dễ kiếm, rẻ tiền, được giáo viên và học sinh sưu tầm, thiết kế và sử
dụng các hiện tượng đơn giản thuộc phạm vi chương trình phổ thông, đảm bảo thời
lượng tiết học và mục tiêu bài học.
Thí nghiệm đơn giản có đặc điểm: đơn giản, dễ làm, tiện lợi, phù hợp vì thế
nên tính khả thi cao. Do đó, thí nghiệm đơn giản góp phần đáng kể trong việc tăng
cường tính trực quan trong dạy học sinh học.
b. Vai trò của thí nghiệm đơn giản:
- Tránh được tính chất giáo điều, hình thành logic bài giảng chặt chẽ, phát
huy vai trò tự tìm tòi khám phá của học sinh.
- Kích thích hứng thú học tập của học sinh, từ những dụng cụ hóa chất đơn
giản dễ tìm học sinh có thể tự tiến hành ở nhà hoặc tiến hành các phương án thí
nghiệm khác nhau để khắc sâu kiến thức.
- Thông qua tiến hành thí nghiệm giúp học sinh hình thành các khái niệm,
quá trình hay quy luật sinh học, giúp học sinh chiếm lĩnh tri thức khoa học.
c. Yêu cầu của việc xây dựng và sử dụng thí nghiệm đơn giản
- Thí nghiệm phải đảm bảo tính trực quan cao, số lượng dụng cụ phải đủ,
dụng cụ thí nghiệm đủ lớn để quan sát rõ các hiện tượng thí nghiệm. Như vậy các
thí nghiệm phải được bố trí hợp lí, khoa học, dễ quan sát.
- Thí nghiệm phải gắn với kiến thức bài giảng, phải là thí nghiệm cần thiết
của chương trình sách giáo khoa và hợp logic lập luận của giáo viên.
- Thí nghiệm phải ngắn gọn. Nếu thí nghiệm có thể làm trước ở nhà và đem
lên lớp để quan sát, khi đó giáo viên phải hướng dẫn học sinh thực hiện trước để
đảm bảo chất lượng bài thực hành.
- Thí nghiệm phải đảm bảo thành công, các lần thí nghiệm phải cho kết quả
như nhau hoặc gần như nhau, phù hợp với thực tiễn, đảm bảo uy tín của giáo viên
và tạo niềm tin vào khoa học cho học sinh.

- Thí nghiệm phải có sức thuyết phục, các hiện tượng xảy ra phải đặc trưng
thể hiện đặc tính cụ thể của sinh vật, thí nghiệm phải đảm bảo tính khoa học, đúng
đắn, không áp đặt kết quả.
2. Các thí nghiệm đơn giản bổ sung vào tiết dạy lí thuyết.
Nội dung này tôi sẽ nghiên cứu và tiếp tục phát triển ở đề tài sáng kiến
kinh nghiệm năm học tới (năm học 2017- 2018).
16


Chương 4: HIỆU QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI.
Nội dung đề tài trên được tôi tiến hành trong năm học 2015-2016 tại lớp
11A3 và 11A5 trường THPT Lê Lợi - Thọ Xuân - Thanh Hóa.
- Ở các tiết thực hành tại các lớp, tôi đã soạn giáo án theo phương pháp mới,
nâng cao tính khả thi và hiệu quả tiết thực hành, đồng thời giúp học sinh hứng thú
hơn trong học tập.
- Các bài dạy thực nghiệm là:
+ Bài 13: Thực hành: Tách chiết sắc tố từ lá và tách các nhóm sắc tố bằng
phương pháp hóa học.
+ Bài 33: Thực hành: Xem phim về một số tập tính ở động vật.
Ở tất cả các buổi thực hành của các lớp đối chứng và thực nghiệm, tôi đã
quan sát và ghi chép các hoạt động học của học sinh để đánh giá kết quả thực
nghiệm sư phạm qua các mặt:
+ Về chất lượng: Kiểm tra các thao tác kĩ thuật thực hành, chất lượng bài thu
hoạch, số câu trả lời đúng cho các câu hỏi bổ sung, mở rộng kiến thức.
+ Về thái độ: Tạo không khí sôi nổi, tích cực học tập trong tiết thực hành
thông qua các hoạt động nhóm, thảo luận và trao đổi ý kiến, nhận xét kết quả thí
nghiệm. Trao đổi trực tiếp với học sinh để đánh giá chính xác về mức độ hứng thú
trong học tập.
+ Kiểm tra, đánh giá: Sau bài thực hành tôi cho học sinh làm bài kiểm tra 15
phút để đánh giá kết quả.

Qua đó, tôi đánh giá mức độ tiếp thu kiến thức và sử dụng các đối tượng,
dụng cụ, hóa chất và các phương án thí nghiệm, đánh giá tinh thần học tập.
-> Từ đó đánh giá tính khả thi của đề tài.
1. Kết quả thực nghiệm
1.1. Xử lí số liệu bằng thống kê toán học
- Sư dụng một số công thức toán thống kê để xử lí số liệu, thống kê, đánh giá kết
quả thực nghiệm.
- Sử dụng các dạng đồ thị, biểu đồ hình chữ nhật, biểu đồ đường gấp khúc… để
so sánh kết quả thực nghiệm.
- Lập bảng thống kê và vẽ đồ thị
- Các tham số đặc trưng:
i =n

+ Giá trị trung bình cộng ( X ):

X =


i =1

ni . X i
n

Trong đó: n là số học sinh tham gia kiểm tra
ni là số học sinh đạt điểm Xi
Xi là điểm số trong thang điểm 10
1.2. Đánh giá kết quả:
- Tôi tiến hành thực nghiệm cụ thể để đánh giá chính thức 2 bài thực
hành trên. Mỗi bài đều dùng 2 lớp 11A3(45 học sinh) và 11A5(43 học sinh) để
đánh giá. Trong đó 11A3 là lớp đối chứng và 11A5 là lớp thực nghiệm.

Bài 13: Thực hành: Tách chiết sắc tố từ lá và tách các nhóm sắc tố bằng
phương pháp hóa học
Lớp đối chứng (ĐC): Lớp 10A4(n= 45)
17


Lớp thực nghiệm (TN): Lớp 10A1(n= 43)
* Bảng phân phối thực nghiệm như sau:
phương
xi 0
1
2
3
4
5
6
án
ni
ĐC
45
0
0
0
2
5
8
13
TN
43
0

0
0
0
1
5
8
* Biểu đồ:
ni

7

8

9

10

9
10

4
8

3
7

1
4

Xi

Biểu đồ tần suất kết quả tổng hợp của bài 13
- Căn cứ vào kết qủa thực nghiệm, tôi thấy:
+ Điểm trung bình của lớp thực nghiệm 11A5 (7,3) cao hơn lớp đối chứng
11A3 (6,1).
+ Tỉ lệ học sinh đạt điểm khá, giỏi tăng lên rõ rệt ở các lớp thực nghiệm,
đồng thời số học sinh điểm yếu và trung bình của lớp thực nghiệm cũng giảm.
Bài 33: Thực hành: Xem phim về một số tập tính ở động vật.
Lớp đối chứng (ĐC): Lớp 10A4(n= 45)
Lớp thực nghiệm (TN): Lớp 10A1(n= 43)
* Bảng phân phối thực nghiệm
phương
xi 0
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
án
ni
ĐC
45
0
0
0
3

6
9
12
7
5
2
1
TN
43
0
0
0
0
1
4
8
12
10
5
3
* Biểu đồ:
ni

Xi
Biểu đồ tần suất kết quả tổng hợp của bài 33
18


- Căn cứ vào kết qủa thực nghiệm, tôi thấy:
+ Điểm trung bình của lớp thực nghiệm 11A5 (7,23) cao hơn các lớp đối

chứng 11A3 (6,13).
Tỉ lệ học sinh đạt điểm khá, giỏi cũng tăng lên ở lớp thực nghiệm, đồng thời
số học sinh điểm yếu và trung bình của lớp thực nghiệm cũng giảm rõ rệt.
Như vậy, việc dạy học thực hành theo phương pháp mới giúp cho giáo viên
và học sinh chủ động trong tiết thực hành, vừa giảm đi trở ngại cho giáo viên, vừa
tăng hứng thú học tập cho học sinh, hiệu quả dạy học cao hơn, góp phần quan
trọng vào tiến trình đổi mới phương pháp dạy học.
2. Phạm vi ảnh hưởng của đề tài.
2.1. Tới các cấp quản lí
- Giúp các cấp quản lí quan tâm hơn đến vấn đề dạy học thực hành ở trường,
từ đó giúp học sinh dễ dàng chiếm lĩnh tri thức mà không phải thụ động lĩnh hội từ
giáo viên.
- Giúp các cấp quản lí đầu tư hơn đến việc đầu tư trang thiết bị phòng thực
hành, cũng như giao việc chuẩn bị thực hành cho phụ tá thí nghiệm nhiều hơn
(trước đó ở nhiều trường, giáo viên tự mượn chìa khóa phòng thực hành, tự chuẩn
bị, tự tiến hành… rồi trả chìa khóa…).
2.2. Tới giáo viên
- Giúp cho các giáo viên vận dụng linh hoạt trong quá trình thực hiện dạy học
thực hành ở trường mình.
- Giúp giáo viên có được những phương pháp dạy học thực hành phù hợp với
thực tiễn dạy học, không lãng phí thời gian tiết học.
2.3. Tới học sinh
- Giúp các em HS năng động, tự tin, hoạt bát hơn trong khi học thực hành.
Các em hứng thú học tập bộ môn nhiều hơn.
- Học sinh tự khám phá tri thức sẽ nhớ lâu hơn, ham học hơn. Qua đây kết quả
học tập của các em cũng tiến bộ hơn nhiều.

19



Phần 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Sau một thời gian thực hiện đề tài, tôi đã đạt được một số kết quả sau:
1. Bổ sung cơ sở lí luận và thực tiễn của việc nghiên cứu, xây dựng
phương pháp dạy học các bài thực hành Sinh học 11.
2. Thiết kế được các giáo án sáng tạo, vận dụng linh hoạt, cụ thể cho
từng bài thực hành.
3. Thực nghiệm sư phạm cho thấy việc dạy học thực hành đã đem lại
hiệu quả cao và có tính khả thi, có thể áp dụng linh hoạt trong dạy học
sinh học ở trường THPT.
2. Kiến nghị
Qua quá trình nghiên cứu đề tài tôi có một số kiến nghị sau:
a. Với các cấp quản lí.
- Các cấp quản lí, các nhà trường và giáo viên bộ môn cần chú trọng hơn
việc dạy học thực hành. Vì dạy học thực hành có hiệu quả rất tích cực.
- Cần đầu tư hơn nữa các trang thiết bị, phòng thực hành,… để giáo viên và
học sinh dễ dàng thực hành và tính chính xác của thí nghiệm thực hành cao.
- Các nhà trường cần khuyến khích các giáo viên khai thác và sử dụng các
thí nghiệm đơn giản phù hợp với điều kiện địa phương, vùng miền, điều kiện từng
trường để phục vụ hiệu quả cho dạy học sinh học.
b. Với giáo viên bộ môn Sinh học.
- Mỗi giáo viên cần nhiệt tình, tích cực hơn trong việc dạy học thực hành.
- Tôi mong rằng những nghiên cứu, trăn trở của tôi sẽ được phổ biến cho
nhiều giáo viên. Từ đó, đồng nghiệp thẳng thắn góp ý để đề tài hoàn thiện hơn và
ứng dụng rộng rãi hơn trong thực tiễn dạy học, đem lại hiệu quả dạy học cao hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG

Thanh Hóa, ngày 19 tháng 05 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của

mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.
Người viết

Đỗ Thị Hoa

20


TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. />[2]. Đại cương về thí nghiệm trong dạy hoc Sinh học. 123doc.org
[3]. Mai Sỹ Tuấn (2013), Thực hành Sinh học trong trường phổ thông, NXB Giáo
dục Việt Nam.
[4]. Vũ Văn Vụ (2007), Sinh học 11 Nâng cao, NXB Giáo dục.

21


DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG ĐÁNH
GIÁ XẾP LOẠI CẤP SỞ GD&ĐT XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Đỗ Thị Hoa
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên Trường THPT Lê Lợi
TT

Tên đề tài SKKN

1.

Phương pháp dạy bài thực hành “Đa dạng

thế giới sinh vật” qua thực tế thiên nhiên
rừng Lam Kinh Thọ Xuân cho học sinh

2.

lớp 10 trường THPT Lê Lợi.
Phương pháp giáo dục kĩ năng sống cho

Cấp đánh
giá xếp
loại

Kết quả
đánh giá
xếp loại

Năm học
đánh giá
xếp loại

Ngành

C

2011

Ngành

C


2013

Ngành

C

2016

Ngành

Giải KK

2015

Ngành

Ba

2016

Ngành

Ba

2017

học sinh lớp chủ nhiệm qua các tiết hoạt

3.


động tập thể.
Kinh nghiệm giáo dục kĩ năng sống cho
học sinh của giáo viên chủ nhiệm tại

4.

trường THPT Lê Lợi
Dạy học theo chủ đề tích hợp: “Bảo vệ đa
dạng thế giới sinh vật khu di tích Lam

5.

Kinh - Thọ Xuân - Thanh Hóa”
Dạy học theo chủ đề tích hợp: “Chung tay
phòng tránh một số bệnh truyền nhiễm

6.

thường gặp ở địa phương”
Dạy học theo chủ đề tích hợp: “Chung tay
cùng người nông dân phòng trừ sâu bệnh
hại lúa”

22



×