Tải bản đầy đủ (.doc) (53 trang)

Nâng cao chất lượng công tác tham mưu, giúp việc của Văn phòng Ban Quản lý khu kinh tế cửa khẩu Lào Cai, giai đoạn 20172021

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (299.56 KB, 53 trang )

LỜI CẢM ƠN
Đề án tốt nghiệp Cao cấp lý luận chính trị “Nâng cao chất lượng công
tác tham mưu, giúp việc của Văn phòng Ban Quản lý khu kinh tế cửa khẩu
Lào Cai, giai đoạn 2017-2021” được hoàn thành là kết quả của một quá
trình học tập, nghiên cứu và vận dụng những tri thức được học trong suốt 2
năm ở lớp Cao cấp lý luận chính trị. Kết quả này không chỉ là sự phấn đấu
của bản thân mà còn có sự trợ giúp của các thầy, cô Học viện chính trị khu
vực I Hà Nội đã hết lòng tận tụy, truyền đạt những kiến thức quý báu trong
suốt thời gian học tại Trường.
Xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến:
- Các thầy, cô Học viện chính trị khu vực I Hà Nội, đặc biệt là giảng
viên cố vấn thực hiện đề án đã tận tình hướng dẫn phương pháp nghiên cứu
khoa học và nội dung đề tài.
- Cán bộ, chuyên viên Phòng Tổng hợp- Hành chính và các phòng chức
năng có liên quan của Ban Quản lý khu kinh tế cửa khẩu Lào Cai
- Ban lãnh đạo Ban Quản lý khu kinh tế cửa khẩu Lào Cai đã tạo điều
kiện cho tôi theo học khóa học này.
Cuối cùng xin chân thành cảm ơn gia đình, các anh chị đồng nghiệp,
bạn bè đã hết lòng động viên tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành Đề án
tốt nghiệp này.
Xin chân thành cảm ơn!


MỤC LỤC


DANH MỤC CÁC BẢNG


1
A. MỞ ĐẦU


1. Lý do xây dựng đề án
Hiện đại hóa nền hành chính là một trong những nội dung trọng tâm của
công cuộc cải cách hành chính Việt Nam. Quan điểm, mục tiêu và nhiệm vụ
của cải cách hành chính ở nước ta đã được đề cập trong các văn kiện Hội nghị
Trung ương 8 khóa VII, Hội nghị Trung ương 3 và 7 khóa VIII, trong các
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, IX, và X. Hội nghị Trung
ương 8 khóa VII xác định: cải cách nền hành chính là nhiệm vụ trọng tâm của
việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước để đề ra mục tiêu: xây dựng một nền
hành chính trong sạch, có đủ năng lực, sử dụng đúng quyền lực và từng bước
hiện đại hóa để quản lý có hiệu lực, hiệu quả công việc của Nhà nước, thúc
đẩy xã hội phát triển lành mạnh, đúng hướng, phục vụ đắc lực đời sống nhân
dân, xây dựng nếp sống và làm việc theo pháp luật trong xã hội.
Hoạt động tham mưu và giúp việc của bộ phận văn phòng đóng một vai
trò rất quan trọng trong xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế hiện nay.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy “Công tác văn phòng có tầm quan trọng đặc
biệt, giúp cho cán bộ lãnh đạo nắm được tình hình. Cán bộ văn phòng nắm
tình hình sai thì lãnh đạo sẽ giải quyết công việc không đúng....cho nên phải
luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, năng lực công tác và giữ bí mật, để phấn
đấu thực hiện tốt nhiệm vụ được giao”. Kiện toàn, nâng cao chất lượng các cơ
quan tham mưu và đội ngũ cán bộ làm công tác tham mưu, là một chủ trương
lớn của Đại hội XI, XII của Đảng và của Đại hội XVIII Đảng bộ tỉnh. Bởi vì,
hiệu quả hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng luôn gắn liền với
chất lượng, hiệu quả công tác của các cơ quan tham mưu.
Trong thời gian qua, công tác tham mưu, giúp việc của Văn phòng Ban
quản lý khu kinh tế Lào Cai đã hoạt động có hiệu quả. Văn phòng thực hiện


2
khá tốt chức năng, nhiệm vụ được giao. Mặc dù vậy vẫn còn một số tồn tại,
hạn chế như: Cơ chế phối hợp chưa tốt, sự phân công công việc còn có sự

chồng chéo, bỏ trống, quy chế làm việc chưa chặt chẽ; hiệu quả thực hiện các
công việc chuyên môn, nghiệp vụ còn chưa cao, …đã làm ảnh hưởng không
nhỏ đến hiệu quả hoạt động của Văn phòng Ban quản lý khu kinh tế Lào Cai.
Trước những tình hình thực tế đang diễn ra, bên cạnh đó nhận thấy chưa có đề
tài nghiên cứu về hoạt động của Văn phòng Ban quản lý khu kinh tế Lào Cai
nên tôi đã chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng công tác tham mưu, giúp việc
của Văn phòng Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Lào Cai, giai đoạn 2017 2020” làm đề án tốt nghiệp Cao cấp lý luận chính trị.
2. Mục tiêu của đề án
2.1. Mục tiêu chung
Nâng cao chất lượng công tác tham mưu, giúp việc của Văn phòng Ban
quản lý Khu kinh tế tỉnh Lào Cai dựa trên cơ sở nâng cao nhận thức và trình độ
chuyên môn của cán bộ làm công tác tham mưu, giúp việc tại Văn phòng nhằm
tăng cường hiệu quả hoạt động của Văn phòng Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh
Lào Cai.
2.2. Mục tiêu cụ thể
Đề án thực hiện các mục tiêu cụ thể đến năm 2020 như sau:
- Hoàn thiện bộ máy tổ chức Văn phòng Quản lý Khu kinh tế tỉnh Lào
Cai đảm bảo được tính chuyên môn hóa trong công việc và đáp ứng được yêu
cầu trong công việc.
- Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác tham mưu tại văn
phòng Ban Quản lý khu kinh tế tỉnh Lào Cai.


3
- Đầu tư trang thiết bị phục vụ cho các hoạt động của Văn phòng nhằm
đảm bảo công tác tham mưu, giúp việc được thực hiện một cách có hiệu quả.
3. Giới hạn của đề án
- Giới hạn về đối tượng: Chất lượng công tác tham mưu, giúp việc
của văn phòng
- Giới hạn về không gian: Văn phòng Ban quản lý Khu kinh tế tỉnh Lào Cai.

- Giới hạn về thời gian: Đề án được thực hiện trong giai đoạn từ
2017 – 2020.


4

B. NỘI DUNG
1. CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
1.1 Cơ sở khoa học
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1. Văn phòng
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Văn phòng” là bộ phận phụ trách công việc
giấy tờ, hành chính trong một cơ quan, đơn vị và lâu nay trong xã hội vẫn
thường quan niệm Văn phòng là cơ quan “bưng, bê, kê, đặt, quyền rơm vạ đá”,
“làm dâu trăm họ”.... Nhưng thực tế cho thấy cách hiểu như vậy là chưa đủ,
chưa thực sự thuyết phục và có phần “xem nhẹ” chức năng của cơ quan này. Là
một bộ phận không thể thiếu trong cơ cấu tổ chức của các cơ quan nhà nước,
các tổ chức chính trị - xã hội, các công ty trong và ngoài nước…Văn phòng gắn
liền với quá trình ra đời, tồn tại và phát triển của cơ quan, đơn vị, có vị trí, vai
trò quan trọng đặc biệt, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ. Văn phòng không chỉ đơn
thuần thực hiện các công việc giấy tờ, hành chính mà còn được giao nhiều chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn, vừa giúp việc, tham mưu, vừa đôn đốc, kiểm tra; là
“đầu mối công việc” được lãnh đạo, thủ trưởng cơ quan, đơn vị ủy quyền “thừa
lệnh” trong triển khai, giải quyết nhiều nội dung công việc quan trọng; hiệu quả
hoạt động của Văn phòng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả hoạt
động chung của toàn bộ cơ quan, đơn vị….
Có thể thấy rằng, có nhiều cách tiếp cận, nhiều định nghĩa về Văn phòng,
nhưng chung nhất có thể nói: Văn phòng là bộ máy tham mưu, điều hành tổng
hợp, đầu mối điều phối hoạt động của cơ quan, tổ chức; là trung tâm thu thập,
xử lý và cung cấp thông tin phục vụ cho hoạt động quản lý, điều hành của lãnh

đạo; là nơi chăm lo mọi lĩnh vực phục vụ quản trị, hậu cần bảo đảm các điều
kiện vật chất cần thiết cho hoạt động chung của cơ quan, tổ chức đó. Xuất phát


5
từ thực tế, sự tồn tại của công tác Văn phòng là một yếu tố khách quan, có vai
trò và vị trí đặc biệt quan trọng trong cơ cấu tổ chức của cơ quan, tổ chức, bởi
vì Văn phòng là cơ quan tổng hợp, có những đóng góp đắc lực trong công tác
tham mưu, giúp việc cho lãnh đạo trong chỉ đạo, điều hành.
Văn phòng Ban quản lý là phòng chuyên môn thuộc Ban quản lý, có công
tác tham mưu cho Lãnh đạo Ban trong việc thực hiện công tác tổ chức bộ máy,
cán bộ; hành chính, quản trị; quản trị tài chính, tài sản; công tác thanh tra, kiểm
tra; công tác cải cách hành chính; công tác đối ngoại; công tác tiếp dân và quản
lý bộ phận “tiếp nhận và trả kết quả” của cơ quan.
1.1.1.2. Công tác tham mưu
Theo từ điển tiếng Việt “Tham mưu là giúp góp những ý kiến lớn có tính
chất chỉ đạo - tham mưu cho lãnh đạo”. Trong điều kiện kinh tế, xã hội hiện
nay Công tác tham mưu không chỉ là tham dự, đề xuất chủ trương, chính sách
cho cơ quan lãnh đạo cấp trên, cho lãnh đạo, quản lý cấp mình mà còn là
hướng dẫn và chỉ đạo thực hiện về lĩnh vực mình đảm trách cho cấp lãnh đạo,
quản lý và cơ quan tham mưu cấp dưới. Tham mưu vừa là tham gia vào việc
đề xuất thiết kế một kế hoạch, một chương trình, vừa đề ra các phương án tổ
chức thực hiện các kế hoạch, chương trình của một chủ thể quyền lực lãnh
đạo, quản lý nhất định.
1.1.1.3. Ban Quản lý khu kinh tế
Theo khoản 1, Điều 1 của thông tư liên tịch số 06/2015/TTLT-BKHĐTBNV của Bộ Kế hoạch và Đầu tư – Bộ Nội vụ định nghĩa rằng “Ban Quản lý
là cơ quan trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) thực hiện chức năng
quản lý nhà nước trực tiếp đối với khu công nghiệp, khu chế xuất (sau đây
gọi chung là khu công nghiệp), khu kinh tế ven biển, khu kinh tế cửa khẩu

(sau đây gọi chung là khu kinh tế) và tổ chức cung cấp dịch vụ hành chính


6
công và dịch vụ hỗ trợ khác có liên quan đến hoạt động đầu tư và sản xuất
kinh doanh cho nhà đầu tư trong khu công nghiệp, khu kinh tế”.
Ban Quản lý chịu sự chỉ đạo và quản lý về tổ chức, biên chế, công chức,
viên chức, chương trình kế hoạch công tác và kinh phí hoạt động của Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh; chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra về chuyên môn
nghiệp vụ của các Bộ, ngành quản lý về ngành, lĩnh vực trong công tác quản
lý khu công nghiệp, khu kinh tế; có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với các cơ
quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong công tác quản lý khu
công nghiệp, khu kinh tế.
Ban Quản lý có tư cách pháp nhân; tài khoản và con dấu mang hình quốc
huy; sử dụng kinh phí quản lý hành chính nhà nước, kinh phí hoạt động sự
nghiệp và vốn đầu tư phát triển do ngân sách nhà nước cấp theo kế hoạch
hàng năm; nguồn kinh phí khác theo quy định pháp luật.
1.1.2. Các tiêu chí đánh giá chất lượng công tác tham mưu, giúp việc
của Văn phòng Ban quản lý
Chất lượng của công tác tham mưu, giúp việc của Văn phòng Ban quản lý
được thể hiện qua các tiêu chí sau:
Thứ nhất, chất lượng đội ngũ làm công tác tham mưu, giúp việc của Văn
phòng Ban quản lý. Chất lượng của đội ngũ cán bộ được thể hiện qua các tiêu
chí: Phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm làm việc.
Thứ hai, hiệu quả công tác tham mưu, giúp việc của Văn phòng Ban
quản lý. Hiệu quả của công tác tham mưu được thể hiện qua kết quả công tác
tham mưu, giúp việc của Văn phòng Ban quản lý trong các lĩnh vực công tác
tổ chức bộ máy; Công tác cán bộ; Công tác hành chính, quản trị; Công tác
quản lý tài chính và tài sản; Công tác thanh tra, kiểm tra; Công tác đối ngoại;
Công tác cải cách hành chính.



7
1.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công tác tham mưu, giúp
việc của Văn phòng Ban quản lý Khu kinh tế.
1.1.3.1 Môi trường bên trong
Thứ nhất, tổ chức Văn phòng
Mọi hoạt động của Văn phòng đều xuất phát và xoay quanh các chức
năng, quyền hạn và nhiệm vụ của Ban quản lý, phạm vi ảnh hưởng, đối tượng
điều chỉnh và các mối quan hệ, nghĩa vụ và quyền lợi mà cơ quan cấp trên
tham gia. Do đó, chức năng và nhiệm vụ của Văn phòng được quy định bởi cơ
quan cấp trên có thẩm quyền trực tiếp quy định. Các điều kiện trên quy định
quy mô và tính chất hoạt động của văn phòng. Các quy định cùng các chế độ,
chính sách của nhà nước tạo ra một khung pháp lý cần thiết cho hoạt động của
văn phòng. Cùng trong yếu tố tổ chức này, công tác tham mưu, giúp việc của
văn phòng chịu ảnh hưởng trong mối quan hệ tương tác với các phòng, ban,
bộ phận khác trong cơ quan.
Thứ hai, nguồn nhân lực
Trong bất kỳ tổ chức nào, nguồn nhân lực giữ vai trò vô cùng quan trọng
đối với mọi hoạt động diễn ra tại tổ chức, đơn vị đó. Để Văn phòng đi vào
hoạt động, mặc dù được chuẩn bị đầy đủ các phương tiện hiện đại, tiện ích,
đáp ứng các yêu cầu đòi hỏi của công việc tuy nhiên không có sự tham gia
của người lao động thì các hoạt động khó có thể đi vào ổn định và phát huy
hết vai trò quan trọng của nó. Nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ có tác động
vô cùng tích cực đến các hoạt động của văn phòng. Với nguồn nhân lực chất
lượng cao, các hoạt động của Văn phòng được xử lý một cách bài bản, của cơ
sở, các nghiệp vụ phát sinh đột xuất được xử lý một cách khéo léo có căn cứ
nhất, tránh tối đa những sự sai sót trong hoạt động của văn phòng và ngược
lại. Chỉ xét riêng về trình độ chuyên môn của nguồn nhân lực làm việc tại Văn
phòng. Nếu chưa nắm vững nghiệp vụ chuyên môn, khả năng xử lý công việc



8
còn chậm sẽ làm gián đoạn, chậm tiến độ công việc. Bên cạnh đó, xét về đạo
đức làm việc, tâm lực của nguồn nhân lực cũng là một yếu tố ảnh hưởng trực
tiếp đến mọi hoạt động của Văn phòng. Đạo đức nghề nghiệp chưa tốt, chưa
tâm huyết với nghề, đặc biệt là thói tham nhũng, tham ô tại sẽ khó phòng
chánh nếu bản thân người lao động không có ý thức tự giác làm việc, do đó sẽ
ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động và cụ thể là công tác tham mưu, giúp
việc của Văn phòng Ban quản lý.
Thứ ba, cơ chế làm việc
Cơ chế làm việc của Văn phòng Ban Quản lý Khu kinh tế được hoạt động
theo quy định của văn phòng và cơ quan có thẩm quyền quản lý. Tuy nhiên, tùy
theo đặc điểm của hoạt động văn phòng tùy theo từng thời kỳ, cần có những cơ
chế quản lý và hoạt động sao có hiệu quả nhất. Tránh các hiện tượng công viêc
quá tải, các nhân viên luôn làm việc trong trạng thái ức chế, quá tải sẽ ảnh
hưởng trực tiếp đến hiệu quả công tác tham mưu, giúp việc của Văn phòng.
Bên cạnh đó, cơ chế thương phạt, đánh giá cần phải được thực hiện thường
xuyên và công bằng sẽ là một đòn bẩy cho các hoạt động được diễn ra một
cách nhanh chóng và đạt đúng muc tiêu đề ra một cách tốt nhất.
Thứ tư, điều kiện làm việc
Trong quá trình làm việc, các yếu tố từ môi trường làm việc có ảnh hưởng
trực tiếp đến các nhân viên tham gia vào các hoạt động của Văn phòng, từ đó
ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động của Văn phòng thực hiện.
1.1.3.2. Môi trường bên ngoài
Thứ nhất, các chính sách, pháp luật
Các chính sách pháp luật trực tiếp ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển
của cơ quan, tổ chức. Vì mỗi cơ quan, tổ chức đó đều hoạt động dựa trên sự
quản lý của Nhà nước bằng các quy định, pháp luật do Nhà nước ban hành.
Những chính sách, quy định chung của Nhà nước về văn phòng là hành lang

pháp lý chung, là căn cứ để văn phòng xây dựng nội quy, quy chế hoạt động.


9
Những chính sách pháp luật đầy đủ, phù hợp và có hiệu lực thi hành cao sẽ
thuận lợi cho quá trình tổ chức hoạt động của cơ quan nói chung và hoạt động
của văn phòng nói riêng. Bên cạnh đó, hệ thống các chính sách của mỗi đơn
vị luôn phải hoàn chỉnh cho phù hợp với tình hình phát triển của mỗi thời kỳ
và có tính khả thi cao là điều kiện để công tác văn phòng thực hiện có hiệu
quả hơn.
Thứ hai, điều kiện kinh tế- xã hội
Trình độ phát triển kinh tế - xã hội mà mọi địa phương đều phải vận
hành hoạt động theo các quy luật kinh tế - xã hội vì các quy luật đó có tác
động rất lớn đến hoạt động của Ban quản lý Khu kinh tế từ đó tác động trực
tiếp đến công tác tham mưu, giúp việc của Văn phòng. Nếu thị trường và
chính sách kinh tế thuận lợi sẽ khuyến khích các cơ quan tăng cường đầu tư,
hiện đại hóa trang thiết bị, ngoài ra môi trường kinh tế xã hội ổn định phát
triển còn góp phần cải tạo tự nhiên, xã hội, tạo môi trường kinh tế lành mạnh
hơn. Từ đó đặt ra những cơ hội và thách thức đối với các nhà quản lý, cần
phải không ngừng nâng cao, đổi mới các hướng đi phù hợp, mang lại hiệu quả
phát triển kinh tế, xã hội, sự phát triển chung.
Chung lại, mọi sự tác động từ các yếu tố bao gồm cả bên trong và bên
ngoài đều sẽ gây ra ảnh hưởng đến hoạt động văn phòng tại các cơ quan. Vì vậy
cần phải biết vận dụng những điều kiện thuận lợi, các tác động tích cực vào hoạt
động chung của văn phòng, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực để hoạt động của
văn phòng HĐND – UBND huyện nói riêng và hoạt động chung của UBND
cấp huyện và hệ thống các cơ quan nhà nước đi vào ổn định, hoạt động có hiệu
quả nhất.



10
1.2 Cơ sở chính trị, pháp lý
1.2.1. Cơ sở chính trị
Xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của công tác tham mưu trong việc
thực hiện có hiệu quả các mục tiêu chính trị, kinh tế, xã hội, Đảng ta luôn
quan tâm đến công tác này, nhất là trong giai đoạn hiện nay.
Tại Hội nghị công tác Văn phòng cơ quan hành chính Nhà nước toàn
quốc do Văn phòng Chính phủ tổ chức tại Hà Nội năm 2010, lúc đó Phó Thủ
tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Sinh Hùng đã đến dự và đặc biệt nhấn
mạnh: “Đừng nghĩ rằng cứ điều ai về làm Văn phòng cũng được và ai cũng
làm Văn phòng được”, đó là nhận định rất đúng đắn, mang tính khái quát
cao và là lời nhắc nhở sâu sắc tới lãnh đạo, cán bộ, công chức của cơ quan, tổ
chức các cấp, các ngành cần phải nâng cao nhận thức đúng đắn, toàn diện và có
sự quan tâm đặc biệt tới vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Văn phòng,
chăm lo xây dựng tổ chức, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng cán bộ, công
chức làm công tác văn phòng, tạo điều kiện tốt nhất để Văn phòng phát huy tốt
vai trò tham mưu. Tuy mỗi người được đào tạo một chuyên ngành khác nhau
nhưng khi vào Văn phòng công tác, các cán bộ, chuyên viên phải tích cực học
hỏi để có những hiểu biết tổng hợp về các ngành, lĩnh vực; luôn tự giác rèn
luyện, trau dồi phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp, vững vàng về trình độ chuyên
môn nghiệp vụ; trong hoạt động công vụ, luônquán triệt và bám sát nguyên tắc
“kịp thời, chính xác và hiệu quả”, “nắm được tình hình” để dự báo chính xác,
tham mưu đúng, trúng, sâu, toàn diện, tổng hợp giúp lãnh đạo cơ quan, tổ chức
điều hành công việc.
Trong giai đoạn mới của cách mạng, Nghị quyết Đại hội lần thứ X của
Đảng nêu rõ: “Tổ chức cơ quan tham mưu chuyên trách của Đảng tinh gọn,
có chất lượng cao... cải tiến lề lối làm việc, nâng cao chất lượng nghiên cứu,
đề xuất, tham mưu, hướng dẫn, kiểm tra của các cơ quan tham mưu của



11
Đảng các cấp”. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII nêu: “Kiện toàn, nâng
cao chất lượng các cơ quan tham mưu, đội ngũ cán bộ làm công tác tham
mưu, nhất là ở cấp chiến lược”
1.2.2. Cơ sở pháp lý
- Căn cứ Luật tổ chức chính quyền địa phương số 77/2015/QH13 ban
hành ngày 19 tháng 06 năm 2015;
- Căn cứ luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 80/2015/QH13
ban hành ngày 22 tháng 06 năm 2015
- Căn cứ vào luật Đầu tư số 67/2014/QH13 ban hành ngày 26 tháng
11 năm 2014
- Căn cứ Nghị định số 29/2008/NĐ – CP ngày 14/03/2008 của Chính
phủ quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế;
- Căn cứ Nghị định số 164/2013/NĐ – CP ngày 12/11/2013 của Chính
phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 29/2008/NĐ – CP ngày
14/03/2008 của Chính phủ quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu
kinh tế;
- Căn cứ Nghị định số 34/2016/NĐ – CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ
quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật ban hành văn bản
quy phạm pháp luật;
- Căn cứ Quyết định số 45/2013/QĐ – TTg ngày 25/7/2013 của Thủ
tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế điều hành hoạt động tại các cửa
khẩu biên giới đất liền;
- Căn cứ Thông tư liên tịch số 06/2015/TTLT – BKHĐT – BNV ngày
03/9/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư – Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ban Quản lý khu công nghiệp,
khu chế xuất, khu kinh tế.


12

- Quyết định số 317/QĐ – TTg của Thủ tướng chính phủ ban hành ngày
04/03/3014 về việc thành lập Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Lào Cai;
- Quyết định số 67/2016/QĐ – UBND tỉnh Lào Cai ban hành ngày
19/08/2016 về Quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ
chức của Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Lào Cai;
- Quyết định số 175/2016/BQL của Ban Quản lý Khu Kinh tế tỉnh Lào
Cai ban hành ngày 31/10/2016 về Quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ các
phòng, ban chuyên môn thuộc Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Lào Cai;
1.3. Cơ sở thực tiễn
Chức năng quan trọng của Văn phòng của Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh
Lào Cai là tham mưu cho Lãnh đạo Ban trong việc thực hiện các nhiệm vụ:
Công tác tổ chức bộ máy; Công tác cán bộ; Công tác hành chính, quản trị;
Công tác quản lý tài chính và tài sản; Công tác thanh tra, kiểm tra; Công tác đối
ngoại; Công tác cải cách hành chính. Chức năng tham mưu là chức năng cơ
bản nhất của Văn phòng Ban Quản lý khu Kinh tế tỉnh Lào Cai. Công tác tham
mưu của văn phòng chỉ rõ những hoạt động tham vấn của công tác văn phòng;
còn nội dung tổng hợp nghiêng nhiều về khía cạnh thống kê, xử lý thông tin dữ
liệu phục vụ thiết thực cho hoạt động quản lý. Muốn có được những quyết định
đúng đắn, khoa học, người thủ trưởng không thể chỉ dựa vào ý kiến chủ quan
của bản thân mà cần phải xem xét đến những yếu tố khách quan khác, các ý
kiến tham mưu của các cấp phó, của nhân viên, trợ giúp. Khi đó, các thông tin,
ý kiến được đưa ra cần thu thập, phân tích và tổng hợp lại làm cơ sở, căn cứ sử
dụng và tham khảo cho các nhà quản trị, các nhà lãnh đạo. Cần có một bộ phận
chuyên phụ trách, phân loại và sắp xếp dữ liệu, thông tin một cách có khoa học
và bài bản khi đó bộ phận văn phòng sẽ đảm nhiệm công việc quan trọng này
và cần hoàn thành tốt nhiệm vụ và chức năng của mình. Các thông tin và hiệu
quả trong công việc đó là vô cùng cần thiết bởi hiệu quả mà nó mang lại. Mặt


13

khác, kết quả tham vấn ở trên phải xuất phát từ những thông tin ở cả đầu vào và
đầu ra, các thông tin trên nhiều lĩnh vực khác nhau, từ nhiều đối tượng khác
nhau mà văn phòng thu thập được. Như vậy, tham mưu cần có tổng hợp và
tổng hợp lại để làm cơ sở tham mưu để cùng trợ giúp chung cho Lãnh đạo Ban
lựa chọn quyết định của mình một cách tối ưu nhất, tốt nhất phục vụ cho mọi
mục tiêu hoạt động của đơn vị.
Trong giai đoạn 2014 – 2016, công tác tham mưu của Văn phòng của
Ban Quản lý Khu Kinh tế tỉnh Lào Cai đã đạt được nhiều thành tựu như xây
dựng chương trình chiến lược phát triển của tỉnh về lĩnh vực công nghiệp,
phát triển kinh tế cửa khẩu; Xây dựng công tác tác hàng năm của UBND tỉnh
về phát triển và hiện đại hóa hệ thống các cửa khẩu trong phạm vi toàn tỉnh;
Tham mưu đề xuất giải pháp chỉ đạo điều hành. Tuy nhiên, công tác tham
mưu của Văn phòng của Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Lào Cai vẫn còn
những hạn chế như: Công tác báo cáo, tổng hợp có lúc còn chậm tiến độ, chất
lượng chưa đảm bảo (báo cáo còn chung chung, phản ảnh chưa sát với thực
tế, số liệu chưa thống nhất); công tác phục vụ còn thiếu kinh nghiệm; xử lý
tình huống có lúc thiếu linh hoạt. Nguyên nhân là do: lực lượng cám bộ làm
công tác tham mưu còn thiếu trong khi khối lượng công việc hàng năm phát
sinh nhiều, một số nhiệm vụ đột xuất, bị động…. là áp lực đối với cán bộ
công chức Văn phòng trong thực hiện nhiệm vụ được giao; công chức làm
công tác Văn phòng năng lực còn hạn chế, thiếu kinh nghiệm, khả năng phân
tích, dự báo, xử lý thông tin chưa tốt; chưa thật sự nỗ lực tự học, tự nghiên
cứu vì nhiệm vụ được giao.
Xét thấy tầm quan trọng của công tác tham mưu của bộ phận Văn phòng
của Ban quản lý Khu Kinh tế tỉnh Lào Cai cùng với những hạn chế còn tồn tại
trong hoạt động tham mưu của Văn phòng nên việc thực hiện nâng cao chất
lượng công tác tham mưu, giúp việc của Văn phòng Ban Quản lý Khu kinh tế


14

tỉnh Lào Cai trong giai đoạn 2017 – 2020 là hết sức cấp thiết trong bối cảnh
hiện nay.
2. NỘI DUNG THỰC HIỆN CỦA ĐỀ ÁN
2.1 Bối cảnh thực hiện đề án
2.1.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội tỉnh Lào Cai
Vị trí địa lý
Lào Cai là một tỉnh vùng cao biên giới thuộc vùng trung du và miền núi
phía Bắc của Việt Nam, giáp ranh giữa vùng Tây Bắc và vùng Đông Bắc.
Phía Bắc Lào Cai giáp Trung Quốc, phía Tây giáp tỉnh Lai Châu, phía đông
giáp tỉnh Hà Giang, phía Nam giáp tỉnh Yên Bái.
Đặc điểm kinh tế
Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh năm 2016 ước tính tăng 10,13% so với
năm 2015.Trong mức tăng 10,13% mức tăng chung, khu vực nông, lâm
nghiệp và thủy sản tăng 5,34%, thấp hơn mức 7,65% của năm 2015, đóng góp
0,87 điểm phần trăm vào mức tăng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng
tăng 14,25%, thấp hơn mức tăng 21,04% của năm trước, đóng góp 5,27 điểm
phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 9,79% cao hơn mức tăng 21,04% của năm
trước, đóng góp 3,74 điểm phần trăm; Thuế sản phẩm tăng 2,89% đóng góp
0,25 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung
Với lợi thế về địa lý kinh tế, chính trị đã tạo cho Lào Cai có nhiều tiềm
năng, cơ hội phát triển, trong đó phải kể đến:
Thứ nhất, Là cửa ngõ giao lưu quốc tế trên tuyến hành lang kinh tế Côn
Minh- Lào Cai- Hà Nội- Hải Phòng- Quảng Ninh; và một vành đai kinh tế
trên cơ sở phát triển giao thương với các tỉnh phía Tây- Nam (Trung Quốc),
các tỉnh, thành phố trong cả nước theo tuyến hành lang.
Thứ hai, Lào Cai giàu tài nguyên khoáng sản, trữ lượng lớn và có tính
đại diện về chủng loại của cả nước (gồm 150 mỏ và điểm mỏ với trên 35 loại
khoáng sản). Nhiều danh lam thắng cảnh (Sa Pa, Bắc Hà, Bát Xát...) với nhiều



15
sản phẩm du lịch độc đáo: Du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, văn hóa, leo núi,
mạo hiểm. Thổ nhưỡng phong phú và khí hậu đa dạng là điều kiện thuận lợi
cho việc trồng nhiều loại cây có giá trị kinh tế khác nhau có thể phát triển
thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung.
Thứ ba, hệ thống kết cấu hạ tầng liên kết quốc tế và liên vùng đã và đang
được đầu tư mạnh. Đường cao tốc Nội Bài- Lào Cai sẽ đưa vào khai thác vào
quý III/2014; chương trình cải tạo, nâng cấp hệ thống đường sắt Yên ViênLào Cai tăng năng lực vận chuyển từ 1,5 triệu tấn/năm hiện nay lên 5 triệu
tấn/năm; sân bay Lào Cai, đường sắt tốc độ cao Lào Cai- Hải Phòng… sẽ tác
động mạnh đến các hoạt động kinh tế- xã hội trong tương lai.
Thứ tư, với gần 200 km đường biên giới, phía Bắc giáp tỉnh Vân Nam
(Trung Quốc), Lào Cai trở thành một nút giao thông quan trọng, một điểm
trung chuyển lý tưởng cho sự lưu thông hàng hóa, hợp tác thương mại giữa
các tỉnh Trung du miền núi Bắc bộ (TDMNBB) cũng như cả nước với Trung
Quốc trong các hoạt động kinh tế. Đồng thời nơi đây cũng là cầu nối không
chỉ của Việt Nam mà cả các nước ASEAN với thị trường Vân Nam và Miền
Tây Trung Quốc trong khu vực mậu dịch tự do ASEAN- Trung Quốc
(CAFTA).
Thứ năm, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội vùng trung du và
miền núi phía Bắc (sau đây gọi là Vùng) được Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt tại Quyết định số 1064/QĐ-TTg ngày 8/7/2013 xác định phát triển
mạnh hành lang kinh tế Côn Minh- Lào Cai- Hà Nội- Hải Phòng- Quảng Ninh
nhằm phát huy hiệu quả tiềm năng và thế mạnh của Vùng nói chung và Lào
Cai nói riêng.
Mặc dù vậy, Lào Cai cũng gặp không ít khó khăn, hạn chế:
Kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển,
bao gồm hệ thống giao thông huyết mạch từ Hà Nội đến Lào Cai, các tuyến
quốc lộ, cơ sở hạ tầng thiết yếu ở nông thôn…Kinh tế mặc dù có bước phát



16
triển nhanh song do khó khăn nội tại của một tỉnh vùng cao biên giới, điểm
xuất phát thấp… nên đến nay Lào Cai vẫn là tỉnh nghèo; tỷ lệ hộ nghèo, cận
nghèo còn ở mức cao, đến hết năm 2016, tỷ lệ hộ nghèo còn 15,21%, hộ cận
nghèo chiếm 9%. Chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu.
Phong tục tập quán lạc hậu trong một số dân tộc, ý thức chưa tự vươn lên còn
phổ biến ở đồng bào vùng cao, cản trở phát triển.
Đặc điểm xã hội
Dân số, lao động việc làm
Dân số trung bình năm 2016 toàn tỉnh ước tính 684,295 nghìn người, tăng
1,45% so với năm 2015, bao gồm dân số thành thị 156,317 nghìn người, chiếm
22,84%; dân số nông thôn 527,978 nghìn người, chiếm 77,16%; dân số nam
345,748 nghìn người, chiếm 50,53%; dân số nữ 338,547 nghìn người chiếm
49,47%.
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của tỉnh ước tính đến thời điểm
01/01/2017 là 431,397 nghìn người, tăng 8,937 nghìn người so với cùng thời
điểm năm trước, trong đó lao động nam chiếm 50,52%; lao động nữ chiếm
49,48%.
Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành kinh tế năm
2016 ước tính 424,468 nghìn người, tăng 1,66% so với năm 2015. Lao động
từ 15 tuổi trở lên đang làm việc năm 2016 của khu vực nông, lâm nghiệp và
thủy sản chiếm 67,94% tổng số; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm
12,99%; khu vực dịch vụ chiếm 19,77%.
Năng suất lao động xã hội toàn tỉnh năm 2016 theo giá hiện hành ước
tính đạt 71,5 triệu đồng/lao động (Tương đương khoảng 3.197 USD/lao
động). Tính theo giá so sánh năm 2010, năng suất lao động toàn tỉnh năm
2016 ước tính tăng 8,3% so với năm 2015.


17

Công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm mới được triển khai đồng
bộ và đạt được nhiều kết quả: Ước đến hết năm 2016 toàn tỉnh đã đào tạo
được 13.985 người đạt 101% kế hoạch.Trong đó: Cao đẳng, trung cấp: 2.747
người, đạt 102%; Sơ cấp và đào tạo thường xuyên 11.238 người, đạt 101%;
Trong năm tạo việc làm tăng thêm cho 11.915 lao động, đạt 103,5% KH,
trong đó lao động nữ là 5.900 người, 1.500 lao động vay vốn Quỹ quốc gia về
việc làm với với tổng số tiền vay là 40 tỷ đồng từ nguồn vốn thu hồi.
Đời sống dân cư và đảm bảo an sinh xã hội
Năm 2016, toàn tỉnh có 5.991 lượt hộ thiếu đói tương ứng với 24.628
nhân khẩu. Tỉnh Lào Cai đã tiếp nhận và phân bổ 496,92 tấn gạo của Chính
phủ trong đó: 155,31 tấn gạo cứu đói cho 2.662 hộ tương ứng với 10.454 khẩu
trong dịp Tết Nguyên đán năm 2016 và 148,11 tấn gạo cho 2.243 hộ tương ứng
với 9.874 nhân khẩu thiếu đói dịp giáp hạt; 193,5 tấn gạo hỗ trợ cho 1.086 hộ
với 4.300 nhân khẩu bị ảnh hưởng do cơn bão số 1 và số 2. Thiếu đói chủ yếu
tập trung ở hầu hết các huyện. Để đời sống nhân dân được ổn định và không có
hộ nào bị đói trong dịp tết Nguyên đán Đinh Dậu năm 2017. Sở Lao động
Thương binh và Xã hội tỉnh Lào Cai đã tham mưu với UBND tỉnh có văn bản
trình Chính phủ xin hỗ trợ 351 tấn gạo.
Công tác an sinh xã hội tiếp tục nhận được sự quan tâm chỉ đạo của các
cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương. Trong năm tổ chức các hoạt
động thăm hỏi, tặng quà các gia đình chính sách, các đơn vị tập thể nhân dịp
lễ, tết với tổng số 19,4 nghìn xuất quà, trị giá: 5.457,59 triệu đồng; Thực hiện
mua 13.308 thẻ BHYT cho người có công. Xây nhà tình nghĩa, sửa chữa nhà
ở cho người có công là 87 hộ với tổng số tiền đồng 3,09 tỷ đồng.
Giáo dục đào tạo
Tính đến thời điểm 30/10/2016, toàn tỉnh có 658 cơ sở giáo dục (tư thục
10) với 1.458 điểm trường; tổng số nhóm lớp 8.611 nhóm/lớp, 196.792 học sinh;
tỷ lệ huy động trẻ nhà trẻ đạt 19,1%; mẫu giáo đạt 96,1% (riêng 5 tuổi đạt



18
99,9%); trẻ 6-10 tuổi đạt 99,8% (riêng 6 tuổi đạt 99,9%); 11-14 tuổi đạt 99,1%;
học sinh hoàn thành chương trình tiểu học học lên lớp 6 đạt 98,2%.
2.2 Thực trạng vấn đề cần giải quyết trong đề án
2.2.1 Khái quát chung về văn phòng Ban quản lý
Khu kinh tế tỉnh Lào Cai
2.2.1.1 Khái quát về Ban quản lý Khu kinh tế tỉnh Lào Cai
Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Lào Cai được thành lập tại Quyết định số
317/2014/QĐ-TTg ngày 04/3/2014 của Thủ tướng Chính phủ. Ban Quản lý
Khu Kinh tế là cơ quan quản lý Nhà nước trực thuộc UBND tỉnh Lào Cai,
thực hiện chức năng quản lý nhà nước trực tiếp đối với khu công nghiệp, khu
kinh tế, các cửa khẩu biên giới đất liền trên địa bàn tỉnh; quản lý và thực hiện
chức năng cung ứng dịch vụ hành chính công và dịch vụ hỗ trợ khác có liên
quan đến hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh cho nhà đầu tư trong khu
công nghiệp, khu kinh tế, tại các cửa khẩu trên địa bàn tỉnh Lào.
Ban quản lý Khu kinh tế tỉnh Lào Cai có 9 phòng, ban chuyên môn giúp
việc là: Văn phòng, phòng Kế hoạch - Tài chính, phòng Quản lý cửa khẩu,
phòng Quy hoạch xây dựng và Quản lý đầu tư, phòng Quản lý Doanh nghiệp
và lao động, phòng Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Đại diện quản lý Khu
công nghiệp Tằng Lỏng, Đại diện quản lý Khu công nghiệp Đông Phố Mới và
Bắc Duyên Hải- Khu thương mại công nghiệp Kim Thành, Ban Quản lý dự án
đầu tư xây dựng các công trình; có 03 đơn vị trực thuộc là: Ban Quản lý cửa
khẩu Lào Cai, Trung tâm dịch vụ, tư vấn và hạ tầng khu công nghiệp, Trung
tâm dịch vụ các cửa khẩu Lào Cai.
2.2.1.2 Vị trí, chức năng của văn phòng Ban Quản lý Khu kinh tế, tỉnh
Lào Cai
Văn phòng là phòng chuyên môn thuộc Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Lào
Cai, có chức năng tham mưu cho Lãnh đạo Ban trong việc thực hiện công tác



19
tổ chức bộ máy, cán bộ; hành chính, quản trị; quản lý tài chính,tài sản; công tác
thanh tra, kiểm tra; công tác cải cách hành chính; công tác đối ngoại; công tác
tiếp công dân và quản lý bộ phận “Tiếp nhận và trả kết quả” của cơ quan
2.2.1.3 Nhiệm vụ
Tham mưu cho Lãnh đạo Ban trong việc thực hiện các nhiệm vụ sau:
Công tác tổ chức bộ máy
- Xây dựng đề án thành lập, tổ chức lại Ban Quản lý và các đơn vị trực
thuộc theo quy định của pháp luật.
- Xây dựng, ban hành và triển khai thực hiện nội quy, quy chế làm việc
của cơ quan; xây dựng quy chế làm việc với các cơ quan chuyên môn thuộc
UBND tỉnh hoạc các cơ quan có liên quan để thực hiện nhiệm vụ và quyền
hành được giao theo cơ chế “Một cửa” và “Một cửa liên thông”.
Công tác cán bộ
- Xây dựng dự thảo văn bản quy định điều kiện, tiêu chuẩn chức danh
đối với Trưởng, Phó các phòng, ban, đơn vị trực thuộc Ban quản lý.
- Xây dựng cơ cấu tiêu chuẩn công chức, viên chức.
- Thực hiện công tác quản lý biên chế hành chính, sự nghiệp và tuyển
dụng công chức, viên chức.
- Thực hiện công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, bổ nhiệm, bổ
nhiệm lại, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển, biệt phái, nhận xét, đánh giá,
khen thưởng, kỷ luật, thôi viêcu, nghỉ hưu và thực hiện chính sách đối với cán
bộ, công chức, viên chức.
- Thực hiện việc nâng ngạch, chuyển ngạch, nâng lương, chuyển xếp lương.
- Quản lý hồ sơ cán bộ, công chức, viên chức theo quy định.
Công tác Hành chính quản trị
- Quản lý trụ sở cơ quan; Đảm bảo cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc
của cơ quan.



20
- Thực hiện công tác văn thư, lưu trữ, bảo mật tài liệu theo đúng quy
định hiện hành của Nhà nước.
- Tổ chức các hội nghị, hội thảo, tập huấn của cơ quan.
- Xây dựng chương trình công tác của Lãnh đạo Banl ghi biên bản và
thông báo nội dung kết luận các hội nghị, cuộc họp của cơ quan; đôn đốc các
phòng, ban chuyên môn và các đơn vị trực thuộc thực hiện chương trình công
tác và các nội dung kết luận các cuộc họp, hội nghị.
- Phối hợp với các đơn vị liên quan trong việc kiểm tra công tác giữ gìn an
ninh, trật tự; thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, tổ chức và phát triển lực lượng tự vệ
cơ quan; xây dựng và đề xuất những biện pháp thực hiện công tác bảo đảm an
ninh, trật tự, thực hiện công tác phòng cháy, chữa cháy trong trụ sở cơ quan.
- Quản lý và vận hành mạng nội bộ của Ban; tổ chức quản lý và vận
hành trang thông tin điện tử, làm đầu mối kiểm soát tin bài, nội dung hỏi đáp
trên cổng thông tin điện tử cơ quan.
Công tác quản lý tài chính và tài sản
- Thực hiện quản lý tài chính, tài sản được giao; thu và quản lý các loại
phí, lệ phí theo quy định của pháp luật.
Công tác thanh tra, kiểm tra
- Tổ chức và phối hợp với các cơ quan quản lý Nhà nước trong việc
thanh tra, kiểm tra, tiếp dân và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, phòng
chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và xử lý các hành vi vi phạm hành chính
trong khu công nghiệp, khu thương mại công nghiệp Kim Thành.
- Thực hiện công tác nội chính, phòng chống tham nhũng, thực hành tiết
kiệm, chống lãng phí.
Công tác đối ngoại.
- Tham mưu cho Trưởng Ban Quản lý Khu kinh tế thực hiện quản lý nhà
nước về công tác đối ngoại trong lĩnh vực được giao.



21
- Thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực phát triển Khu công nghiệp, Khu
kinh tế cửa khẩu, các cửa khẩu biên giới đất liền theo quy định của pháp luật.
- Tổ chức đón, tiếp khách đến tham quan, học tập, công tác tại cơ quan
theo đúng quy định.
Công tác cải cách hành chính
- Thực hiện công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính
và công tác quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001: 2008 của Ban; trực
tiếp quản lý bộ phận “Tiếp nhận và trả kết quả” của cơ quan.
- Tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả theo cơ chế “Một cửa”, “Một cửa
liên thông”.
2.2.2 Thực trạng chất lượng công tác tham mưu, giúp việc của Văn
phòng Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Lào Cai
2.2.2.1 Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác tham mưu,
giúp việc.
Tính đến ngày 31/12/2016, tổng số lượng cán bộ thuộc Văn phòng Ban
Quản lý Khu Kinh tế tỉnh Lào Cai bao gồm có 26 cán bộ ở các bộ phận khác
nhau thực hiện công tác tham mưu và giúp việc cho Lãnh đạo Ban. Số lượng
cán bộ thuộc Văn phòng Ban Quản lý đã có sự gia tăng qua các năm từ 22 cán
bộ năm 2014 tăng lên 26 cán bộ năm 2016. Trong đó, sự gia tăng này tập
trung chủ yếu đối với các vị trí chuyên viên, văn thư, lái xe và điện nước. Tuy
nhiên sự gia tăng về số lượng cán bộ qua các năm không nhiều. Hầu hết các
cán bộ của Văn phòng Ban quản lý chủ yếu là nam và có độ tuổi dưới 35 tuổi.
Tuổi đời của các cán bộ tương đối trẻ, thuận lợi cho việc tiếp thu, nâng cao
kiến thức.
Số liệu cụ thể về số lượng, trình độ học vấn, trình độ ngoại ngữ tin học
được thể hiện qua Bảng 1.


22

Bảng 1: Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác tham
mưu, giúp việc của Văn phòng Ban quản lý
Đơn vị: Cán bộ
Chỉ tiêu
Số lượng
Vị trí làm việc
Chánh văn phòng
Phó chánh văn phòng
Chuyên viên
Kế toán
Nhân viên văn thư
Nhân viên tạp vụ
Nhân viên lái xe
Nhân viên điện nước
Nhân viên bảo vệ
Nhân viên vệ sinh
Trình độ học vấn
Sau đại học
Đại học
Cao đẳng
Trung cấp
Trung học chuyên nghiệp
THPT
Đã được đào tạo bồi dưỡng về
quản lý Nhà nước
Trình độ ngoại ngữ
Trình độ tin học

2014
22


2015
23

2016
26

1
2
4
1
1
1
2
2
4
4

1
2
4
1
1
1
2
3
4
4

1

2
5
1
2
1
3
3
4
4

0
7
1
1
6
7

0
9
0
1
6
7

0
12
0
1
6
7


2

3

5

9
8

10
8

12
10

Nguồn: Văn phòng Bộ Quản lý Khu kinh tế tỉnh Lào Cai, 2016
Số liệu Bảng 1 cho thấy, các cán bộ làm công tác tham mưu ở các vị trí
Chánh văn phòng, Phó chánh văn phòng, chuyên viên, kế toán, văn thư có số
lượng không nhiều. Năm 2014, số lượng đạt 9 cán bộ (chiếm tỷ trọng
40,91%), năm 2015, số lượng đạt 9 cán bộ (chiếm tỷ trọng 39,13%) đến năm
2016 số lượng đạt 11 cán bộ (chiếm tỷ trọng 42,31%). Trong khi đó, số lượng
cán bộ làm bộ phận giúp việc chiếm ưu thế với số lượng lần lượt qua các năm


×