Tải bản đầy đủ (.pdf) (59 trang)

Rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho học sinh trong dạy học bài Ngữ cảnh (Ngữ văn 11)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1 MB, 59 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

---------***---------

TRẦN VĂN GIÁP

RÈN LUYỆN KỸ NĂNG GIAO TIẾP
CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC BÀI “NGỮ CẢNH”
(NGỮ VĂN 11)

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn

HÀ NỘI – 2017


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

---------***---------

TRẦN VĂN GIÁP

RÈN LUYỆN KỸ NĂNG GIAO TIẾP
CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC BÀI “NGỮ CẢNH”
(NGỮ VĂN 11)
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
Người hướng dẫn khoa học:


TS. PHẠM KIỀU ANH

HÀ NỘI - 2017


LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình triển khai thực hiện đề tài “Rèn luyện kỹ năng giao tiếp
cho học sinh trong dạy học bài “Ngữ cảnh” (Ngữ văn 11)”, tác giả khoá luận
thường xuyên nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi và chỉ bảo tận
tình của các thầy, cô giáo trong khoa Ngữ văn, đặc biệt là các thầy, cô trong
tổ Phương pháp dạy học Ngữ văn và TS. Phạm Kiều Anh – người hướng dẫn
trực tiếp.
Em xin được bày tỏ sự biết ơn và gửi lời cảm ơn trân trọng nhất tới các
thầy cô.
Do năng lực nghiên cứu có hạn, khoá luận chắc chắn không tránh khỏi
những thiếu sót. Rất mong sự chỉ bảo, góp ý của các thầy cô giáo và các bạn.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 25 tháng 04 năm 2017
Tác giả khoá luận

Trần Văn Giáp


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khoá luận tốt nghiệp Đại học với đề tài: “Rèn luyện
kỹ năng giao tiếp cho học sinh trong dạy học bài “Ngữ cảnh” (Ngữ văn 11)”
là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi.
Tôi xin chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình.
Hà Nội, ngày 25 tháng 04 năm 2017
Tác giả khoá luận


Trần Văn Giáp


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

SỐ THỨ TỰ

CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ

CHỮ VIẾT TẮT

1

Học sinh

HS

2

Giáo viên

GV

3

Kỹ năng giao tiếp

KNGT


4

Sách giáo khoa

SGK

5

Phương pháp dạy học

PPDH

6

Trung học phổ thong

THPT


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài .................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ......................................................................................... 2
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................ 4
3.1. Mục đích nghiên cứu ....................................................................... 4
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu ....................................................................... 5
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ............................................................. 5
4.1. Đối tượng nghiên cứu ...................................................................... 5
4.2. Phạm vi nghiên cứu ......................................................................... 5
5. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................... 5

5.1. Phương pháp tổng hợp các vấn đề lí thuyết ................................... 5
5.2. Phương pháp so sánh, đối chiếu ..................................................... 6
5.3. Phương pháp thử nghiệm ................................................................ 6
5.4. Phương pháp thống kê ..................................................................... 6
6. Bố cục của khoá luận ............................................................................. 6
NỘI DUNG ...................................................................................................... 7
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN ............................. 7
1.1. Kỹ năng và kỹ năng giao tiếp ............................................................. 7
1.1.1. Kỹ năng .......................................................................................... 7
1.1.2. Kỹ năng giao tiếp ........................................................................... 8
1.1.2.1.Khái niệm kỹ năng giao tiếp .................................................... 8
1.1.2.2. Các kỹ năng giao tiếp .............................................................. 9
1.1.3. Quy trình hình thành kỹ năng .................................................... 11
1.2. Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ ................................................. 13
1.2.1. Khái niệm hoạt động giao tiếp .................................................... 13


1.2.2. Các nhân tố của hoạt động giao tiếp .......................................... 14
1.2.2.1. Nhân vật giao tiếp ................................................................. 14
1.2.2.2. Nội dung giao tiếp ................................................................. 14
1.2.2.3. Mục đích giao tiếp ................................................................. 14
1.2.2.4. Phương tiện và cách thức giao tiếp ...................................... 15
1.2.2.5. Hoàn cảnh giao tiếp .............................................................. 15
1.2.3. Ngữ cảnh ..................................................................................... 16
1.3. Kỹ năng giao tiếp của học sinh THPT ............................................ 17
1.3.1. Kỹ năng giao tiếp tiếng Việt ........................................................ 17
1.3.2. Đặc điểm tư duy của HS THPT trong hoạt động giao tiếp ....... 18
1.3.3. Khả năng giao tiếp của HS THPT ............................................. 19
1.3.4. Những biểu hiện cơ bản trong kỹ năng giao tiếp của HS THPT
................................................................................................................. 19

1.4. Cơ sở thực tiễn ................................................................................... 20
1.4.1. Điều tra, khảo sát thực trạng dạy học Tiếng Việt ở trường THPT .... 20
1.4.2. Điều tra, khảo sát thực trạng học Tiếng Việt ở trường THPT .......... 21
1.4.3.Đánh giá chung ............................................................................ 21
Chương 2. DẠY HỌC BÀI “NGỮ CẢNH” (NGỮ VĂN 11) THEO
HƯỚNG RÈN LUYỆN KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO HỌC SINH THPT
......................................................................................................................... 23
2.1. Mục đích của việc dạy bài “Ngữ cảnh” ........................................... 23
2.2. Nguyên tắc rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho HS khi dạy học bài “Ngữ
cảnh” .......................................................................................................... 25
2.2.1. Nguyên tắc phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh ...... 25
2.2.2. Nguyên tắc dạy học gắn liền với thực tiễn cuộc sống ............... 26
2.2.3. Nguyên tắc khoa học ................................................................... 26
2.2.4. Nguyên tắc rèn luyện kỹ năng tư duy học sinh ......................... 27


2.3. Dạy học bài “Ngữ cảnh” theo định hướng rèn luyện kỹ năng giao
tiếp cho người học .................................................................................... 28
2.3.1. Tạo tình huống kích thích nhu cầu giao tiếp và định hướng giao
tiếp cho học sinh .................................................................................... 29
2.3.2. Học sinh xác định hướng giao tiếp, và tiến hành phân tích các
tri thức tiếng Việt theo nhiệm vụ giao tiếp ........................................... 30
2.3.3. Rút ra kết luận khoa học trong bài học ..................................... 31
2.3.4. Thực hành giao tiếp theo các nhiệm vụ học tập mới ................ 31
2.3.5. Đánh giá sản phẩm ..................................................................... 32
2.4. Xác định các phương pháp dạy học bài “Ngữ cảnh” theo định
hướng rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho người học ................................ 33
2.4.1. Thảo luận nhóm .......................................................................... 33
2.4.2. Vấn đáp - đàm thoại .................................................................... 34
2.4.3. Thuyết trình ................................................................................. 35

2.4.4. Rèn luyện theo mẫu .................................................................... 35
Chương 3. THỬ NGHIỆM SƯ PHẠM .......... Error! Bookmark not defined.
3.1. Mục đích thử nghiệm ........................ Error! Bookmark not defined.
3.2. Đối tượng thử nghiệm ....................... Error! Bookmark not defined.
3.3. Chủ thể thử nghiệm .......................... Error! Bookmark not defined.
3.4. Thời gian thử nghiệm ........................ Error! Bookmark not defined.
3.5. Nội dung thử nghiệm ........................ Error! Bookmark not defined.
KẾT LUẬN ................................................................................................... 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO


[Type the document title]

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục
tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học- từ chỗ quan tâm tới
việc học sinh (HS) học được gì đến chỗ quan tâm tới việc HS học được cái gì
qua việc học. Để thực hiện điều đó, hoạt động dạy học phải hướng tới các
nhiệm vụ là tập trung hình thành và rèn luyện cho chủ thể học tập cách vận
dụng kiến thức, cách rèn luyện kỹ năng, phát triển năng lực và phẩm chất
người học. Có thể khẳng định trong giai đoạn hiện nay, việc dạy học định
hướng phát triển kỹ năng giao tiếp của người học thực sự có ý nghĩa thực tế.
Cùng với những biến đổi to lớn của thế giới, sự phát triển của cuộc
cách mạng khoa học - công nghệ đã đưa thế giới chuyển từ kỉ nguyên công
nghệ sang kỉ nguyên thông tin và tri thức. Điều đó chứng tỏ quá trình hội
nhập toàn cầu đang làm cho việc rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển
giữa các nước trở nên nhanh hơn. Với bối cảnh toàn cầu hoá hội nhập quốc tế
đó, xã hội có những thay đổi về vị thế người lao động. Một trong những đòi
hỏi đó là mỗi công dân khi tham gia hoạt động xã hội phải có khả năng hội

nhập, thích ứng, cạnh tranh quốc tế, đặc biệt là phải có kỹ năng giao tiếp
(KNGT) để tham gia hòa nhập cộng đồng. Việc rèn luyện kỹ năng này được
đánh giá là góp phần tạo cho con người cơ hội thể hiện niềm hi vọng, ước mơ,
ý kiến, cảm xúc và rèn luyện cách nói năng, mở rộng phạm vi giao tiếp trong
cuộc sống của mình.
Tuy nhiên, trong nhiều khảo sát gần đây của các nhà ngôn ngữ học, có
một thực tế đáng suy nghĩ là khả năng giao tiếp của HS chưa thực sự chuẩn
mực và hiệu quả. Từ những bài viết, từ những cuộc nói chuyện trong nhiều
nơi của xã hội, có thể nhận thấy phần lớn kỹ năng sử dụng ngôn ngữ, kỹ năng
SVTH: Trần Văn Giáp

Trang 1


[Type the document title]

trình bày, diễn đạt của các em chưa tốt. Khả năng thuyết trình còn vụng về,
cách lập luận thiếu chặt chẽ, nhiều em còn thái độ, biểu hiện thiếu tự tin trong
giao tiếp. Tình trạng này khá phổ biến trong xã hội, trong đó có một bộ phận
không ít là HS THPT. Điều đó chứng tỏ việc dạy học Tiếng Việt, Làm văn
chưa thực sự đạt hiệu quả. Cũng vì thế, để có thể đổi mới dạy học Ngữ văn
theo yêu cầu mới, một trong những nhiệm vụ cần thiết là phải hình thành và
rèn luyện cho HS những kỹ năng thiết yếu – trong đó có KNGT.
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Rèn
luyện kỹ năng giao tiếp cho học sinh trong dạy học bài “Ngữ cảnh” (Ngữ văn
11).
2. Lịch sử vấn đề
Giao tiếp là một trong những kỹ năng cốt lõi được xác định cần hình
thành và rèn luyện cho HS trong giai đoạn hiện nay. Việc dạy học Ngữ văn
hướng tới rèn luyện kỹ năng giao tiếp này cho HS cũng đã được đề cập trong

một số công trình khoa học.
Trong cuốn “Những thủ thuật trong dạy học - các chiến lược nghiên
cứu và lí thuyết về dạy học dành cho các giảng viên Đại học và Cao đẳng”,
tác giả Wilbrt J.Mckeachie đã dựa trên quan điểm thực tiễn của phương pháp
dạy học hiện nay cho rằng “Theo chương trình dạy học tiếng Pháp, phải dựa
trên việc thực hành ngôn ngữ trong và ngoài lớp học tiếng Pháp, HS phải luôn
luôn được đặt vào tình huống giao tiếp”. Theo đó, tác giả đặc biệt nhấn mạnh
“Cơ bản là phải đặt HS trong một tình huống giao tiếp làm sản sinh hoặc
thông hiểu lời nói” [21]. Nhận định trên đã khẳng định vai trò và ý nghĩa là
việc dạy học ngôn ngữ theo hướng giao tiếp. Để có thể hướng quá trình dạy
học ngôn ngữ chú trọng tới giao tiếp, GV cần phải tạo ra những tình huống có
vấn đề để chủ thể học tập tham gia vào hoạt động giao tiếp. Đây là nhận định

SVTH: Trần Văn Giáp

Trang 2


[Type the document title]

có ý nghĩa quan trọng để GV Ngữ văn có thể tổ chức quá trình dạy học những
tri thức tiếng Việt đạt hiệu quả cao.
Trong cuốn “Phương pháp dạy học tiếng Việt”, các tác giả Lê A, Nguyễn
Quang Ninh, Bùi Minh Toán đã đưa ra một số phương pháp dạy học tiếng
Việt thường được sử dụng, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến phương pháp
giao tiếp. Trong sách có viết “Phương pháp giao tiếp là phương pháp quan
trọng trong dạy học tiếng Việt. Phương pháp giao tiếp là phương pháp hướng
dẫn HS vận dụng lí thuyết được học vào thực hiện các nhiệm vụ của quá trình
giao tiếp, chú ý đến đặc điểm và các nhân tố tham gia vào hoạt động giao
tiếp” [1, 69-70]. Đặc biệt các tác giả còn nhấn mạnh “Phương pháp này có thể

được áp dụng khi dạy học từ ngữ, câu, phong cách và đặc biệt là các bài học
thuộc phân môn tiếng Việt” [1]. Từ ý kiến trên, có thể khẳng định các tác giả
đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của phương pháp giao tiếp. Phương pháp này
có thể giúp cho HS vận dụng được những lí thuyết đã học để thực hành các
văn bản trong quá trình giao tiếp.
Hai tác giả Phan Phương Dung và Đặng Kim Nga trong cuốn “Hoạt
động giao tiếp với dạy học tiếng Việt ở Tiểu học” cũng đã đề cập một cách
sâu sắc về quan điểm giao tiếp trong dạy học tiếng Việt ở Tiểu học. Theo các
tác giả, “Trong dạy học tiếng Việt ở Tiểu học, giao tiếp vừa là cách thức vừa
là mục đích học tập. Thông qua giao tiếp và bằng con đường giao tiếp trong
các tình huống nói năng gần với hiện thực, HS thường xuyên luyện tập, sử
dụng lời nói, từ đó kỹ năng giao tiếp của các em được hình thành một cách
toàn diện và bền vững” [3]. Mặc dù tài liệu này chủ yếu nghiên cứu phương
pháp dạy học tiếng Việt ở Tiểu học nhưng nó cũng góp phần định hướng cho
việc xây dựng cơ sở lí luận của đề tài.
Trong cuốn “Phương pháp dạy học tiếng Việt”, tập 2 (Giáo trình đào
tạo GV Tiểu học hệ cao đẳng sư phạm và sư phạm 12+2), các tác giả Nguyễn
SVTH: Trần Văn Giáp

Trang 3


[Type the document title]

Trí, Lê A, Nguyễn Phương Nga đã nhấn mạnh: “Quan điểm giao tiếp là quan
điểm cơ bản nhất trong việc tổ chức dạy học tiếng Việt ở trường phổ thông.
Quan điểm này chi phối toàn bộ chương trình dạy học từ việc lựa chọn nội
dung, phương pháp đến hình thức dạy học” [19, 11]. Quan niệm này đã gợi
dẫn cho chúng tôi những tiền đề lí thuyết thiết yếu cho việc nghiên cứu đề tài
này.

Tóm lại giao tiếp chính là một quan điểm dạy học hiện đại. Cho đến nay
có rất nhiều tài liệu, công trình và nhiều quan điểm khác nhau về việc dạy học
tiếng mẹ đẻ theo hướng giao tiếp. Nhưng những tài liệu trên mới chỉ đề xuất
việc dạy tiếng Việt theo quan điểm này chứ chưa có công trình nào đề xuất
việc rèn luyện KNGT cho HS trong một bài dạy tiếng Việt cụ thể. Từ nhận
thức đó, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài “Rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho
học sinh THPT trong dạy học bài “Ngữ cảnh” (SGK Ngữ văn 11)” với hi
vọng sẽ đóng góp một phần nào đó vào việc nghiên cứu, áp dụng hướng giao
tiếp vào dạy học nói trên, từ đó nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt nói
riêng và dạy học Ngữ văn nói chung.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này nhằm xác định được những vấn đề cần thiết để
tổ chức dạy học tiếng mẹ đẻ có chú trọng tới việc hình thành và phát triển
KNGT cho HS (bao gồm kỹ năng tạo lập, sản sinh lời nói, khả năng tiếp nhận
lời nói khi giao tiếp) trong quá trình dạy học Tiếng Việt. Từ đó, giúp cho các
em không chỉ có những hiểu biết về tiếng mẹ đẻ mà chủ thể học tập còn có
KNGT trong quá trình học tập và trong suốt cuộc đời các em.

SVTH: Trần Văn Giáp

Trang 4


[Type the document title]

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài “Rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho học sinh THPT
trong dạy học bài “Ngữ cảnh” (sách giáo khoa Ngữ văn 11)”, chúng tôi xác
định những nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản sau:

- Tổng hợp hệ thống cơ sở khoa học về kỹ năng, kỹ năng giao tiếp,
những định hướng khi dạy học chú trọng tới rèn luyện kỹ năng cho người học,
bước đầu vận dụng vào dạy bài “Ngữ cảnh” ở trường THPT.
- Đề xuất cách thức thiết kế và tổ chức dạy học bài “Ngữ cảnh” nhằm
phát triển kỹ năng giao tiếp cho HS lớp 11 ở trường THPT.
- Tiến hành thử nghiệm để quan sát thái độ, hứng thú học tập của HS
khi học tập theo những đề xuất đó.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Để hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu đề ra trên đây, khóa luận tập trung vào
tìm hiểu đặc điểm của dạy học theo định hướng phát triển kỹ năng và KNGT cho
người học nhằm tìm ra những cách thức tổ chức hoạt động dạy học theo hướng phát
huy tính tích cực độc lập của HS.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Gắn với nội dung đề tài nghiên cứu, chúng tôi xác định và chọn bài
“Ngữ cảnh” (Ngữ văn 11) làm đối tượng nghiên cứu.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
5.1. Phương pháp tổng hợp các vấn đề lý thuyết
Tổng hợp là thao tác tư duy nhằm phát hiện ra các mối liên hệ giữa các
mặt, các bộ phận của hiện tượng. Đồng thời nghiên cứu lí thuyết giúp chúng
tôi năm bắt, xâu chuỗi, tổng hợp những vấn đề lí thuyết liên quan tới đề tài.
Trên cơ sở đó mà chúng tôi tổng hợp lại toàn bộ vấn đề nghiên cứu để có cái
SVTH: Trần Văn Giáp

Trang 5


[Type the document title]


nhìn toàn diện cho vấn đề. Phương pháp này chủ yếu được sử dụng trong việc
phân tích những cơ sở lí luận và thực tiễn của việc hình thành, củng cố và
phát triển KNGT của HS.
5.2. Phương pháp so sánh, đối chiếu
So sánh đối chiếu là thao tác tư duy để phân biệt hiện tượng, khái niệm
với các hiện tượng, khái niệm khác. Trong khóa luận này, phương pháp so
sánh, đối chiếu được sử dụng khi chúng tôi quan sát đặc điểm tâm lý của chủ
thể học tập trước và sau khi được rèn luyện kỹ năng giao tiếp, so sánh giữa
lớp dạy bình thường với lớp học thực hiện theo những đề xuất mà chúng tôi
nêu trong khóa luận này để có những điều chỉnh cho phù hợp.
5.3. Phương pháp thử nghiệm
Phương pháp này được thực hiện trên những phương diện đó là:
Thiết kế nội dung dạy học theo hướng nghiên cứu của đề tài và thử tổ
chức dạy học ở trường THPT.
Quan sát và rút ra nhận xét về thái độ, hứng thú học tập của HS trong
giờ học theo đề xuất.
5.4. Phương pháp thống kê
Phương pháp này được sử dụng để phân loại và phân tích kết quả khảo
sát thực trạng của HS trước khi tiến hành thực nghiệm.
6. Bố cục của khoá luận
Khoá luận được triển khai thành ba phần: Mở đầu, nội dung và kết luận.
Phần nội dung của khoá luận được cấu trúc với 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn
Chương 2: Dạy học bài “Ngữ cảnh” (Ngữ văn 11) theo hướng rèn luyện
kỹ năng giao tiếp cho học sinh THPT
Chương 3: Thử nghiệm sư phạm

SVTH: Trần Văn Giáp

Trang 6



[Type the document title]

NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1. Kỹ năng và kỹ năng giao tiếp
1.1.1. Kỹ năng
Kỹ năng là một yếu tố có quan hệ chặt chẽ với tri thức. Đó là cơ sở để
con người thực hiện một hoạt động nào đó. Muốn thực hiện hoạt động, con
người cần có kỹ năng nhất định. Tri thức, kỹ năng tạo điều kiện thuận lợi và
thúc đầy năng lực phát triển. Ngược lại, năng lực lại giúp con người nắm
vững kỹ năng, tri thức cần thiết. Từ những kiến thức được trang bị, người
học cần phải có khả năng vận dụng chúng vào thực tế, khả năng vận dụng đó
gọi là kỹ năng.
Cho đến nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về kỹ năng và đưa ra
nhiều khái niệm khác nhau về nó. Theo “Từ điển tâm lí học”, các tác giả
A.V.Petrovxki cho rằng kỹ năng là giai đoạn nắm vững các hành động dựa
trên quy tắc nào đó và hành động phù hợp với quy tắc ấy trong quá trình giải
quyết nhiệm vụ đã xác định. Theo “Từ điển tiếng Việt”, kỹ năng là khả năng
vận dụng những kiến thức trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế. Theo “Tâm
lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm” kỹ năng là “Khả năng vận dụng kiến
thức (Khái niệm, cách thức, phương pháp…) để giải quyết môt nhiệm vụ
mới” [17, 90].
Thực chất của việc hình thành kỹ năng là hình thành cho HS nắm vững
một hệ thống các hành động, các thao tác nhằm làm biến đổi và sáng tỏ
những thông tin chứa đựng trong bài tập, trong nhiệm vụ và đối chiếu chúng
với các hành động cụ thể. Các nhà giáo dục học phân tích kỹ năng thành hai
loại: Kỹ năng bậc một và kỹ năng bậc hai.

SVTH: Trần Văn Giáp

Trang 7


[Type the document title]

+ Kỹ năng bậc một là kỹ năng thực hiện đúng hành động, hoạt động
phù hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hành động ấy, Cho
dù hành động cụ thể hay hành động trí tuệ. Loại kỹ năng này thông qua luyện
tập tới mức hoàn hảo, các thao tác được diễn ra hoàn toàn tự động hoá không
cần có sự hiện diện của ý thức hoặc sự tham gia của ý thức rất ít thì biến
thành kỹ xảo.
+ Kỹ năng bậc hai là khả năng thực hiện hành động, hoạt động một
cách thành thạo, linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với những mục tiêu trong
những điều kiện khác nhau. Trong kỹ năng bậc hai yếu tố linh hoạt sáng tạo
là yếu tố cơ bản, đó là cơ sở cho hoạt động đạt hiệu quả cao.
Theo Lê A – Nguyễn Trí, quan niệm về kỹ năng được hiểu như một
khả năng của con người có thể hoàn thành các nhiệm vụ trong những điều
kiện mới, dựa trên những tri thức và kinh nghiệm đã được tích luỹ và một
loạt các kỹ xảo trong mối quan hệ mật thiết với nhau. Trong quá trình lĩnh
hội và sáng tạo văn bản, kỹ năng và kỹ xảo luôn có mối quan hệ biện chứng
với nhau.
Như vậy kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được
trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế.
1.1.2. Kỹ năng giao tiếp
1.1.2.1. Khái niệm kỹ năng giao tiếp
Từ quan niệm về kỹ năng, chúng tôi cho rằng kỹ năng giao tiếp của mỗi
cá nhân là khả năng nhận biết nhanh chóng những biểu hiện bên ngoài và diễn
biến tâm lí bên trong, đồng thời cá nhân đó biết sử dụng ngôn ngữ và phi

ngôn ngữ, biết cách định hướng và điều khiển quá trình giao tiếp đạt được
mục đích nhất định.
Dạy học theo quan điểm giao tiếp là một trong những tư tưởng chủ đạo
của chiến lược dạy học môn Ngữ văn ở trường phổ thông. Hiện nay các nước
SVTH: Trần Văn Giáp

Trang 8


[Type the document title]

trên thế giới rất coi trọng quan điểm này, lấy hoạt động giao tiếp là một căn
cứ để hình thành và phát triển các hoạt động ngôn ngữ mà cụ thể là 4 kỹ năng:
Nghe, nói, đọc, viết.
1.1.2.2. Các kỹ năng giao tiếp
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trọng yếu nhất của con người. Tuy
nhiên muốn sử dụng tốt nhất thứ phương tiện trọng yếu này vào quá trình giao
tiếp, con người phải có những kỹ năng cơ bản về ngôn ngữ cũng như các kỹ
năng thực hiện giao tiếp. Để sử dụng bất cứ ngôn ngữ nào, bên cạnh việc có
những hiểu biết về cách sử dụng các đơn vị ngôn ngữ, con người còn phải
hướng tới các kỹ năng sử dụng chúng. Xét riêng về các kỹ năng ngôn ngữ,
người ta thường nhắc tới các kỹ năng căn bản là nghe - nói - đọc - viết.
Kỹ năng đầu tiên của việc sử dụng ngôn ngữ là kỹ năng nghe. Là hoạt
động tiếp nhận thông tin bằng thính giác, nghe một cách có ý nghĩa là nghe và
hiểu được nó, phản hồi được một cách sáng tạo cái điều chúng ta nghe thấy.
Nghe không phải là một hoạt động thụ động mà là một kỹ năng cần sử dụng
để nhận biết nội dung, mục đích, ý đồ của người nói. Có ba cách nghe khác
nhau: Nghe thụ động, nghe chủ động, nghe với định kiến.
Kỹ năng cần rèn luyện khi nghe:
+ Biết phát hiện những vấn đề chính.

+ Biết ghi nhanh, ghi đúng, ghi đầy đủ.
+ Duy trì sự chú ý liên tục trong suốt quá trình nghe.
Kỹ năng thứ hai của việc sử dụng ngôn ngữ là kỹ năng nói. Kỹ năng
này được thể hiện rõ trong quá trình các nhân vật giao tiếp (người phát tin)
chuyển nội dung suy nghĩ, nội dung thông báo của người nói vốn thuộc lĩnh
vực tinh thần sang dạng vật chất, dạng mã hóa ngôn ngữ nhằm mục đích là
truyền đạt cách nói là hoạt động thể hiện ngôn bản bằng lời, thông qua sự hiểu
biết của mình về một kinh nghiệm hay sự việc nào đó mà người nghe hiểu
SVTH: Trần Văn Giáp

Trang 9


[Type the document title]

được điều mình muốn nói. Hoạt động nói chịu ảnh hưởng của các nhân tố sau:
Nhân vật giao tiếp, đối tượng giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, mục đích giao
tiếp…
Những điều kiện để nói hiệu quả:
+ Nội dung bài nói tốt.
+ Hiểu biết sâu rộng, kỹ càng về nội dung cần trình bày.
+ Xác định đúng đối tượng nói và mục đích nói.
+ Xác định đúng nội dung cần trình bày.
+ Biết giao tiếp với người nghe, Biết tuân thủ những nguyên tắc giao
tiếp bằng ngôn ngữ.
+ Biết làm chủ lời nói của mình, cần khiêm tốn, thận trọng, trách
nhiệm…
+ Biết sử dụng ngôn ngữ nói một cách tinh tế (nói uyển chuyển, khi dí
dỏm, khi vui tươi…).
Một kỹ năng khác, cũng gắn liền với quá trình tiếp nhận nội dung giao

tiếp bằng đường kênh thính giác, bằng ngôn ngữ âm thanh là kỹ năng đọc.Đọc
là hoạt động tiếp nhận thông tin bằng mắt và có hoặc không sử dụng bộ máy
phát âm. Trong nhà trường, khi học sinh đọc các tài liệu học tập, qua việc tiếp
xúc với các văn bản trong chương trình học, vốn kiến thức ngôn ngữ, văn học,
khoa học, nghệ thuật… của HS sẽ tăng lên dần. Các dạng đọc: Đọc thầm, đọc
thành tiếng, đọc đồng thanh, đọc diễn cảm…
Các kỹ năng khi đọc cần rèn luyện:
+ Biết nắm bắt nhanh chóng tư tưởng cơ bản của một tác phẩm văn học
nghệ thuật.
+ Biết vận dụng các loại ngữ liệu vào việc đọc.
+ Biến sử dụng cường độ của giọng đọc một cách hợp lí.
+ Biết sử dụng các yếu tố phi ngôn ngữ (tư thế, nét mặt, cử chỉ…)
SVTH: Trần Văn Giáp

Trang 10


[Type the document title]

Kỹ năng cuối cùng của việc sử dụng ngôn ngữ là kỹ năng viết. Viết là
hoạt động tạo lập ngôn bản bằng chữ viết. Viết một cách có ý nghĩa là viết để
trao đổi những ý kiến, suy nghĩ, những nội dung thông tin nào đó.
Trước khi viết cần chú ý: Viết về chủ đề gì? Viết nhằm mục đích gì?
Viết như thế nào? Nên cho học sinh tập nói trước khi viết thành bài. Cần xây
dựng dàn ý, đặt vấn đề, giải quyết vấn đề và kết thúc vấn đề, Cần giúp cho
học sinh sử dụng được các kiểu câu, các loại văn bản.
Như vậy, những kỹ năng này luôn đi cùng nhau và hỗ trợ cho nhau.
Trong đó, kỹ năng nói liên quan chặt chẽ với kỹ năng nghe, đọc, viết. Muốn
nói và viết tốt người nói cần có kỹ năng tiếp nhận thông tin (nghe, đọc). Kỹ
năng nói hiệu quả là khả năng biểu đạt bằng lời nói, là một loại năng lực được

thể hiện qua khẩu ngữ để truyền đạt thông tin, biểu đạt tư tưởng, tình cảm một
cách chính xác, sinh động, có sức thuyết phục. Kỹ năng nói được quyết định
bởi ba yếu tố sự phát âm, khả năng diễn đạt và sự phát âm chính xác. Sự phát
âm có các đặc trưng về cao độ, trường độ, cường độ. Khả năng diễn đạt liên
quan đến cách phát âm và sự bất cần trong khi nói cũng như điểm mạnh và
điểm yếu của tiếng địa phương. Phát âm lẫn lộn một số chữ ở các vùng lấy
tiếng phổ thông của một quốc gia làm chuẩn. Sử dụng ngôn từ tốt sẽ giúp
truyền đạt thông tin và giải quyết công việc nhanh chóng, hiệu quả. Tạo mối
quan hệ tốt đẹp trong giao tiếp, giúp con người nâng cao uy tín bản thân, tự
khẳng định và là công cụ ảnh hưởng đối với người khác.
1.1.3. Quy trình hình thành kỹ năng
Vấn đề hình thành kỹ năng được nhiều nhà tâm lí học trong và ngoài
nước quan tâm. Mỗi tác giả, mỗi trường phái có ý kiến khác nhau, xong đều
thống nhất với nhau rằng: Kỹ năng được hình thành trong hoạt động, bất cứ kĩ
năng nào cũng cũng phải dựa trên cơ sở lí thuyết đó là kiến thức. Sở dĩ như
vậy là vì xuất phát từ cấu trúc kỹ năng (phải hiểu biết mục đích, cách thức đi
SVTH: Trần Văn Giáp

Trang 11


[Type the document title]

đến kết quả và hiểu những điều kiện cần thiết để triển khai cách thức đó). Sự
vận dụng kiến thức để khám phá, biến đổi chính là kỹ năng. Quá trình hình
thành kỹ năng thường bao gồm 3 bước:
Bước 1: Nhận thức đầy đủ về mục đích, cách thức và điều kiện hành
động.
Bước 2: Quan sát mẫu và làm thử theo mẫu.
Bước 3: Luyện tập để tiến hành các hành động theo đúng yêu cầu, điều

kiện hành động nhằm đạt được mục đích đề ra.
Theo các tác giả, việc nhận thức mục đích và cách thức điều kiện hành
động là quan trọng nhất. Nhưng chỉ mới dừng lại ở bước này thì chưa có kỹ
năng vì nó chỉ thể hiện ở mặt lí thuyết, tri thức về hành động chứ chưa có mặt
kĩ thuật, thao tác thực tiến của hành động để đạt được mục đích đề ra. Giai
đoạn làm thử theo mẫu cũng không kém phần quan trọng. Ở giai đoạn này,
con người một mặt thực hiện các thao tác theo mẫu để hình thành kỹ năng,
một mặt con người đối chiếu với tri thức về hành động và điều chỉnh các thao
tác hành động nhằm đạt kết quả, giảm bớt những sai sót trong quá trình hành
động. Sau khi làm thử để nắm vững các cách thức hành động, người ta phải
tiến hành luyện tập để hoàn thiện kỹ năng. Ở giai đoạn này các tri thức về
hành động được củng cố nhiều hơn, các tri thức hành động cũng được ôn
luyện có hệ thống làm cho người ta nắm chắc hành động hơn. Đến đây có thể
nói kỹ năng được hình thành. Tuy nhiên đến đây kỹ năng vẫn chưa ổn định.
Kỹ năng chỉ thực ổn định khi người ta hành động có kết quả trong những điều
kiện khác nhau. Tâm lí học hiện đại đã khẳng định chỉ trong hoạt động thì kỹ
năng mới hình thành và phát triển. Như vậy bài tập là một tập hợp yêu cầu
hoạt động để đạt tới kết quả nào đó. Nếu làm một kiểu bài tập cùng kiểu lặp đi
lặp lại tới mức độ cần thiết thì sẽ hình thành được kỹ năng tương ứng. Tóm

SVTH: Trần Văn Giáp

Trang 12


[Type the document title]

lại, trong các bài học hình thành có thể nói bài tập là phương tiện, kỹ năng là
mục đích trọng yếu cần đạt tới.
1.2. Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ

1.2.1. Khái niệm hoạt động giao tiếp
Trong mọi hoạt động của đời sống xã hội, con người cần phải giao tiếp
với nhau. Xã hội càng phát triển, nhu cầu giao tiếp của con người càng nhiều.
Vì thế, giao tiếp được coi là một phương tiện xã hội, giao tiếp là cách thức,
hoạt động để tiếp nhận các thông tin của đời sống, để trao đổi mọi tư tưởng,
tình cảm giữa người và người trong mọi mặt của đời sống.
Giao tiếp là một quá trình quan hệ tác động giữa các cá thể, là quá trình
thông tin quan hệ giữa con người với con người, là quá trình hiểu biết lẫn
nhau, ảnh hưởng lẫn nhau và trao đổi cảm xúc lẫn nhau. Ở khoá luận này
chúng tôi sử dụng quan niệm của nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Uẩn trong
cuốn “Tâm lí lọc đại cương” NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 1996- một quan
niệm phản ánh được phương diện cốt lõi của giao tiếp bằng ngôn ngữ. Đó là:
“Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lí giữa người với người thông qua đó con người
trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác
động qua lại với nhau. Hay nói khác đi giao tiếp là xác lập và vận dụng các
quan hệ người- người, hiện thực hoá các quan hệ xã hội giữa chủ thể này với
chủ thể khác” [14,35].
Như vậy, có thể khẳng định, giao tiếp là hoạt động diễn ra thường
xuyên giữa mọi người trong xã hội. Giao tiếp có ở mọi nơi, mọi lúc, có thể ở
dạng lời nói nhưng cũng có khi tồn tại ở dạng viết. Giao tiếp cũng có thể được
tiến hành bằng nhiều phương tiện “ngôn ngữ” khác như: cử chỉ, điệu bộ, hành
động, nét mặt, các phương tiện kỹ thuật... Tuy nhiên phương tiện quan trọng
nhất, phổ biến nhất và hiệu quả tối ưu nhất vẫn là ngôn ngữ. Nhờ ngôn ngữ và

SVTH: Trần Văn Giáp

Trang 13


[Type the document title]


giao tiếp, con người trao đổi thông tin, bộc lộ tình cảm, thái độ, quan hệ... để
tổ chức xã hội hoạt động.
1.2.2. Các nhân tố của hoạt động giao tiếp
Trong hoạt động giao tiếp có nhiều nhân tố khác nhau, các nhân tố này có
mối quan hệ mật thiết với nhau và mỗi nhân tố có một vai trò riêng. Và có 5
nhân tố cơ bản: Nhân vật giao tiếp, hoàn ảnh giao tiếp, nội dung giao tiếp, mục
đích giao tiếp, phương tiện và cách thức giao tiếp.
1.2.2.1. Nhân vật giao tiếp
Nhân tố chủ yếu, không thể thiếu trong bất kỳ một hoạt động giao tiếp
nào là nhân vật giao tiếp. Hiểu một cách đơn giản nhất thì nhân vật giao tiếp
là những người tham gia trực tiếp vào quá trình giao tiếp. Nhân vật giao tiếp
giúp chúng có thể xác định các câu hỏi: Ai nói, ai viết, nói với ai, viết cho ai?
Một hoạt động giao tiếp có thể thực hiện bởi hai người hoặc nhiều người.
Nhân vật giao tiếp đóng vai trò quan trọng, đó là nhân tố để lại dấu ấn đậm
nét nhất trong việc lựa chọn nội dung và cách thức trình bày một văn bản.
1.2.2.2. Nội dung giao tiếp
Nội dung giao tiếp ở đây là hiện thực được nói đến trong cuộc giao
tiếp. Nó là toàn bộ những thông tin mà các nhân vật giao tiếp thực hiện truyền
đạt khi tiến hành giao tiếp. Nhờ có nhân tố này, chúng ta có thể xác định
rõ: Nói, viết cái gì, về cái gì? Để có thể thực hiện giao tiếp, các nhân vật giao
tiếp phải nắm rõ nội dung giao tiếp và đều hướng tới việc thể hiện rõ nội dung
giao tiếp. Nói một cách khác, nội dung giao tiếp chính là phần cốt lõi, là nhân
tố không thể thiếu được trong hoạt động giao tiếp.
1.2.2.3. Mục đích giao tiếp
B.Tômsasepxki đã nói “Mục đích của giao tiếp thông thường là diễn đạt.
Chỉ cần thoả mãn sự biểu đạt, con người có thể sử dụng bất cứ phương tiện,
cách thức nào: Từ ngữ, ánh mắt, nụ cười, bàn tay…
SVTH: Trần Văn Giáp


Trang 14


[Type the document title]

[Trần Đình Sử. 2005, tr. 135]. Như vậy, có thể nói mục đích cơ bản của
cuộc giao tiếp là nhằm truyền đạt thông tin, bộc lộ tư tưởng, tình cảm, cảm xúc
của mình. Qua đó còn phải tác động đến người tiếp nhận một tình cảm nào đó.
Mục đích giao tiếp là kết quả cuối cùng mà cuộc giao tiếp mong muốn đạt được.
Có thể nói một cuộc giao tiếp đực gọi là thành công khi cuộc giao tiếp đạt được
mục đích đã đề ra. Mục đích giao tiếp là động lực giúp con người hướng đến và
thực hiện hoạt động giao tiếp.
1.2.2.4. Phương tiện và cách thức giao tiếp
Phương tiện giao tiếp ở đây là ngôn ngữ. Điều đầu tiên để cả người phát
và người nhận có thể hiểu thông điệp của nhau là ngôn ngữ trong giao tiếp phải
có tính chất chung đối với cả hai và ngôn ngữ trong văn bản viết phải khác với
ngôn ngữ trong văn bản nói. Để đạt được điều này người giao tiếp phải biết cách
sử dụng phương tiện ngôn ngữ sao cho phù hợp với đối tượng giao tiếp, nội
dung giao tiếp, sử dụng vốn ngôn ngữ mang tính chất cộng đồng… để người
nhận có thể tiếp thu, có thể hiểu được nội dung mà người nói muốn truyền đạt.
Cách thức giao tiếp là cánh sử dụng ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp. Trong
hoàn cảnh giao tiếp khác nhau ta có cách thức giao tiếp khác nhau.
1.2.2.5. Hoàn cảnh giao tiếp
Hoàn cảnh giao tiếp là không gian, thời gian và những đặc điểm của nơi
diễn ra cuộc giao tiếp. Hoàn cảnh giao tiếp có thể chia làm hai loại: hoàn cảnh
giao tiếp rộng và hoà cảnh giao tiếp hẹp. Hoàn cảnh giao tiếp rộng là những hiểu
biết về chính trị, văn hoá, xã hội… tại thời điểm diễn ra cuộc giao tiếp. Tất cả
những hiểu biết này tạo ra tiền giả định để các nhân vật giao tiếp huy động theo
những cách khác nhau vào cuộc giao tiếp. Khi tiến hành cuộc giao tiếp thì các
nhân vật giao tiếp phải có chung tiền giả định. Hoàn cảnh giao tiếp hẹp là không

gian, thời gian cụ thể đang diễn ra cuộc giao tiếp. Hoàn cảnh giao tiếp hẹp đòi
hỏi nhân vật tham gia giao tiếp phải có những ứng sử phù hợp. Hoàn cảnh giao
SVTH: Trần Văn Giáp

Trang 15


[Type the document title]

tiếp cũng ảnh hưởng rất nhiều đến cuộc giao tiếp, mỗi hoàn cảnh ta phải có sự
lựa chọn những cách giao tiếp cho phù hợp.
Trên đây là những nhân tố giao tiếp cơ bản của hoạt động giao tiếp bằng
ngôn ngữ. Các nhân tố này có mối liên hệ mật thiết với nhau trong khi tiến hành
hoạt động giao tiếp.
1.2.3. Ngữ cảnh
Ngữ cảnh là yếu tố giúp cho câu nói trở nên cụ thể, khiến người nghe,
người đọc có thể dễ dàng xác định được nhân vật giao tiếp, nội dung giao
tiếp, thời gian và không gian giao tiếp. Là một yếu tố trong hoạt động giao
tiếp, ngữ cảnh được cấu thành bởi các nhân tố:
Thứ nhất là nhân vật giao tiếp. Gồm tất cả các nhân vật tham gia giao
tiếp: người nói (viết), người nghe (đọc). Người nói và nghe đều có một “vai”
nhất định, đều có đặc điểm khác nhau về lứa tuổi, nghề nghiệp, cá tính, địa vị
xã hội, …-> chi phối việc lĩnh hội lời nói.
Tiếp theo là bối cảnh giao tiếp rộng (hay còn gọi là bối cảnh văn hóa):
được thể hiện qua các yếu tố về bối cảnh xã hội, lịch sử, địa lý, phong tục tập
quán, chính trị… ở bên ngoài ngôn ngữ.
Một nhân tố khác là bối cảnh giao tiếp hẹp (bối cảnh tình huống): Đó
là thời gian, địa điểm cụ thể, tình huống cụ thể.
Tiếp theo là hiện thực được nói tới (gồm hiện thực bên ngoài và hiện
thực bên trong của các nhân vật giao tiếp): Gồm các sự kiện, biến cố, sự việc,

hoạt động… diễn ra trong thực tế và các trạng thái, tâm trạng, tình cảm của
con người.
Nhân tố cuối cùng là văn cảnh. Theo các nhà ngôn ngữ thì nhân tố này
bao gồm tất cả các yếu tố ngôn ngữ cùng có mặt trong văn bản, đi trước hoặc
sau một yếu tố ngôn ngữ nào đó. Văn cảnh có ở dạng ngôn ngữ viết và ngôn
ngữ nói.
SVTH: Trần Văn Giáp

Trang 16


[Type the document title]

Ngữ cảnh có vai trò quan trọng trong hoạt động giao tiếp. Đó chính là
môi trường để tạo lập, sản sinh lời nói, câu văn. Do đó ngữ cảnh luôn luôn
ảnh hưởng và tri phối nội dung và hình thức của câu. Câu nói cần được sản
sinh ra sao cho thích hợp với ngữ cảnh (với các nhân vật giao tiếp, với bối
cảnh rộng và hẹp, với hiện thực được đề cập đến, với văn cảnh…). Hơn nữa,
chính ngữ cảnh để lại dấu ấn trong câu. Đây chính là mối quan hệ giữa môi
trường và sản phẩm tạo ra trong môi trường ấy.
1.3. Kỹ năng giao tiếp của học sinh THPT
1.3.1. Kỹ năng giao tiếp tiếng Việt
Giao tiếp là hoạt động trao đổi thông tin giữa người nói và người nghe,
nhằm đạt được một mục đích nào đó. Việc trao đổi thông tin được thực hiện
bằng nhiều phương tiện, tuy nhiên, phương tiện sử dụng quan trọng nhất trong
giao tiếp là ngôn ngữ. Kỹ năng giao tiếp do đó được hiểu là khả năng sử dụng
các quy tắc của hệ thống ngôn ngữ để chuyển tải, trao đổi thông tin về các
phương diện của đời sống xã hội, trong từng bối cảnh, ngữ cảnh cụ thể, nhằm
đạt đến một mục đích nhất định trong việc thiết lập mối quan hệ giữa những
con người với nhau trong xã hội. Kỹ năng giao tiếp bao gồm các thành tố: sự

hiểu biết về các đơn vị ngôn ngữ và khả năng sử dụng ngôn ngữ vào biểu đạt
các nội dung giao tiếp, sự hiểu biết về các tri thức của đời sống xã hội, sự vận
dụng phù hợp những hiểu biết trên vào các tình huống giao tiếp cụ thể để tạo
ra những lời nói phù hợp, đạt hiệu quả giao tiếp cao.
Trong môn học Ngữ văn, việc hình thành và phát triển cho HS kỹ năng
giao tiếp bằng ngôn ngữ là một mục tiêu quan trọng, cũng là mục tiêu thế
mạnh mang tính đặc thù của môn học. Thông qua những bài học về sử dụng
tiếng Việt, HS được hiểu về các quy tắc của hệ thống ngôn ngữ và cách sử
dụng phù hợp, hiệu quả trong các tình huống giao tiếp cụ thể, HS được luyện
tập những tình huống hội thoại theo nghi thức và không nghi thức, các
SVTH: Trần Văn Giáp

Trang 17


×