Tải bản đầy đủ (.doc) (23 trang)

Xây dựng một số bài tập rèn luyện kỹ năng trong dạy học địa lý lớp 10, phần địa lý tự nhiên đại cương

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (826.76 KB, 23 trang )

PHẦN I. MỞ ĐẦU
1.1.Lý do chọn đề tài
Địa lý là môn khoa học tổng hợp, các kiến thức Địa lý trong chương trình
THPT đều có liên hệ với thực tiễn cuộc sống và có quan hệ với nhiều lĩnh vực
khác nhau trong đời sống xã hội.
Bản thân là một giáo viên Địa Lí tôi nhận thấy một trong những lí do để
HS hứng thú với môn học vì Địa Lí vừa có kiến thức tự nhiên, vùa có kiến thức
kinh tế - xã hội, trong dạy học – đánh giá có cả lí thuyết và kĩ năng. Tuy vậy
hiện nay có thể thấy việc dạy và học Địa lý ở trường phổ thông còn nhiều hạn
chế, phương pháp học tập của học sinh còn thụ động, khả năng vận dụng kiến
thức vào thực tiễn thực sự còn yếu kém. Từ thực tế đó, muốn nâng cao hiệu quả
dạy học chúng ta phải đi sâu nghiên cứu các biện pháp phù hợp để tổ chức học
sinh hoạt động tích cực, tự lực. Trong đó sử dụng bài tập (BT) trong dạy học là
biện pháp được nhiều người quan tâm. Bởi nó có khả năng áp dụng ở hầu hết
các chương, bài ở nhiều môn học khác nhau và mang lại hiệu quả dạy học cao.
BT không chỉ là mục đích của dạy học mà còn là công cụ đắc lực, là phương tiện
sư phạm hữu hiệu để thúc đẩy hoạt động nhận thức và rèn luyện kỹ năng cho
học sinh. Vì vậy cải thiện, nâng cao khả năng sử dụng BT là việc làm thường
xuyên và cần thiết đối với mỗi giáo viên.
Nội dung phần “Địa lý tự nhiên Đại cương” của chương trình Địa lý lớp
10 tương đối trừu tượng, HS phải tư duy và rèn luyện nhiều loại kỹ năng. Các
bài tập ở phần này đòi hỏi học sinh phải huy động nhiều kiến thức ở lĩnh vực
khoa học tự nhiên. Không chỉ học sinh mà nhiều giáo viên còn lúng túng khi tiếp
cận với các dạng bài tập này. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó
có nguyên nhân chủ yếu là chưa xác định được phương pháp giải bài tập và học
sinh còn yếu về các kỹ năng Địa lý.
Chính vì những lí do trên tôi chọn đề tài: “Xây dựng một số bài tập rèn
luyện kỹ năng trong dạy học Địa lý lớp 10, phần địa lí tự nhiên đại cương”
1



nhằm góp phần giải quyết một số vấn đề thực tiễn hiện nay ở trường, qua đó
nâng cao hiệu quả học tập của bộ môn.
1.2. Mục đích nghiên cứu
- Nêu rõ vai trò của bài tập trong dạy – học Địa Lí
- Đưa ra những dạng bài tập cơ bản và cách giải các bài tập phần địa lí đại
cương lớp 10.
- Một số định hướng trong việc sử dụng bài tập trong dạy – học Địa Lí
1.3. Đối tượng nghiên cứu
- Vai trò của bài tập trong dạy học Địa Lí
- Các dạng bài tập trong phần Địa Lí tự nhiên đại cương lớp 10.
1.4.Phương pháp ( PP) nghiên cứu
- PP nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết: Dựa trên kinh nghiệm dạy học của bản
thân và tổng hợp các tài liệu có liên quan đến đề tài.
- PP điều tra khảo sát thực tế: lấy ý kiến của HS về việc sử dụng bài tập trong
quá trình dạy – học; kết quả học tập của HS qua các bài kiểm tra có sử dụng bài
tập rèn luyện kĩ năng.
- PP thống kê, xử lí số liệu: thống kê kết quả bài kiểm tra gần nhất trong phạm vi
phần địa lí tự nhiên đại cương lớp 10. So sánh với kết quả đạt được năm trước
đó.
PHẦN II. NỘI DUNG
2.1. VAI TRÒ CỦA BÀI TẬP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG ĐỊA LÝ TRONG
QUÁ TRÌNH DẠY HỌC
2.2.1. Vai trò của bài tập rèn luyện kỹ năng
- Bài tập giúp học sinh nắm kiến thức sâu sắc, bền vững hơn
“Việc nắm kĩ năng kĩ xảo có quan hệ chặt chẽ với việc nắm kiến thức và
thường được tiến hành đồng thời với việc nắm kiến thức vào thực tiễn. Kĩ năng

2



bao giờ cũng xuất phát từ kiến thức, dựa trên kiến thức và là kết quả của kiến
thức trong hành động” [1]
Để giải quyết các BT, học sinh phải trải qua một quá trình quan sát, phân
tích, tổng hợp, phán đoán, dựa vào kinh nghiệm thực tiễn và những kiến thức
học sinh đã tích lũy từ trước. Việc giải BT cho phép các em hiểu kiến thức sâu
sắc hơn, nhớ và vận dụng tốt hơn. Qua việc giải BT các em bổ sung thêm được
kiến thức mới.
- Bài tập là một phương tiện giáo dục tốt
Để rèn luyện phẩm chất nhân cách cho học sinh, giáo viên phải sử dụng
nhiều biện pháp, nhiều phương tiện khác nhau, trong đó BT có thể xem là
phương tiện có hiệu quả và thường dùng nhất. Thế mạnh của BT là ở chỗ là rèn
luyện ý chí và niềm tin vào khoa học, vào sức mạnh bản thân. Niềm tin này có
được là do trong quá trình độc lập vận dụng kiến thức, độc lập tìm tòi hướng trả
lời đã giúp các em giải quyết đúng đắn các vấn đề đặt ra.
- Bài tập có khả năng phát triển trí tuệ, tình cảm của học sinh
Khi giải BT, trí tuệ của học sinh phải vận động để đi từ các điều kiện đến
câu trả lời. Hình thức hoạt động trí tuệ rất đa dạng: quan sát, vận dụng trí nhớ,
phân tích, tổng hợp, suy luận, phán đoán…. Như vậy, BT không chỉ có khả năng
rèn luyện năng lực nhận thức, mà còn có khả năng làm cho học sinh hiểu sâu,
nhớ lâu và vận dụng tốt kiến thức.
2.2. THỰC TRẠNG CỦA VIỆC XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP
TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ
- Các BTRLKN chưa được sử dụng tích cực và thường xuyên trong tất cả các
quá trình dạy học.
- Giáo viên chưa cá biệt hóa được học sinh, cùng một BT nhưng lại áp dụng cho
nhiều đối tượng. Các BT mà giáo viên sử dụng chỉ nhằm giúp học sinh áp dụng
các hiện tượng địa lí, công thức tính toán mà chưa chú trọng đến phân tích các
hiện tượng địa lí xảy ra.
3



- Việc cho học sinh làm các BTRLKN cho học sinh không được tiến hành một
cách thường xuyên, ít thực hiện trong các giờ học chính khóa, giao BT cho học
sinh về nhà tự rèn luyện mà không có thời gian sữa chữa, giải đáp thắc mắc của
học sinh hoặc chỉ thông qua các buổi bồi dưỡng học sinh giỏi trước mỗi kỳ thi.
- Trong kiểm tra cuối chương hoặc cuối kỳ giáo viên ít khi sử dụng các dạng
BTRLKN để đánh giá kiến thức và KN của học sinh.
- Khi tiến hành làm BTRLKN, đa số các em cho rằng khi làm BT thì quan trọng
là tìm ra được kết quả, nên sau khi đọc đề là các em tiến hành áp dụng công thức
rồi giải ngay hoặc tham khảo các loại sách BT khác.
- Các em ít quan tâm đến việc phân tích các hiện tượng Địa lí, xác định các mối
liên hệ nhân quả liên quan đến bài tập, do đó các em gặp khó khăn, lúng túng
khi giải BT.
Như vậy, cả giáo viên và học sinh đều đã nhận thức được tầm quan trọng
của việc đổi mới PPDH theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh.
Nhưng khi áp dụng vào thực tế giảng dạy, cụ thể là khi giải BT, thì đa số giáo
viên vẫn chưa chú ý đến việc tổ chức, điều khiển, hướng dẫn học sinh tham gia
vào các hoạt động giải BT, vì thế tính tích cực, tự lực của học sinh chưa được
phát huy, chưa đem lại kết quả cao trong học tập.
2.3. XÂY DỰNG BÀI TẬP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG TRONG DẠY HỌC
ĐỊA LÝ LỚP 10, PHẦN TỰ NHIÊN ĐẠI CƯƠNG
2.3.1. Xây dựng ma trận BTRLKN
Ma trận BTRLKN được xây dựng được phân loại theo từng dạng kỹ năng
cần rèn luyện cho học sinh. Mỗi dạng BTRLKN sắp xếp theo thứ tự bài học trong
SGK và được phân loại theo các mức độ khác nhau của kỹ năng. Trong đó, các
dạng BTRLKN làm việc với bản đồ, lược đồ; kỹ năng liên hệ thực tiễn có số lượng
nhiều hơn các dạng BTRLKN khác do đây là những kỹ năng cơ bản và quan trọng
nhất. Các BT cũng được phân loại theo các mức độ khác nhau của kỹ năng trong
đó kỹ năng ở mức độ hành động phối hợp và hành động tự nhiên chiếm tỉ lệ lớn.
2.3.2. Tiến hành soạn thảo BTRLKN

4


Sau khi đã có đầy đủ tư liệu cần thiết và xây dựng ma trận cho BT,
tiến hành xây dựng hệ thống BTRLKN. Quá trình biên soạn gồm các bước
như sau:
- Soạn riêng rẽ từng BT, với cấu trúc của mỗi BT bao gồm 2 phần: phần giả
thuyết và phần yêu cầu
- Xây dựng các phương án giải BT
- Thử nghiệm và chỉnh sửa các BT.
- Sắp xếp các BT theo từng dạng RLKN
2.3.3. Một số bài tập cụ thể phần Địa lý tự nhiên đại cương
* Các bài tập rèn luyện kỹ năng làm việc với bản đồ, lược đồ Địa lý
A. Bài tập
Bài tập 1: Dựa vào tập bản đồ Địa lý tự nhiên đại cương và kiến thức đã học hãy
nhận xét và giải thích về sự phân bố lượng mưa trên thế giới.
- Ý nghĩa: BT này rèn luyện cho học sinh kỹ năng làm việc với bản đồ để nhận
xét về sự phân bố lượng mưa trên thế giới. Để giải thích sự phân bố lượng mưa
trên thế giới HS phải nắm được các nhân tố ảnh hưởng đến lượng mưa.
Bài tập 2: Dựa vào tập bản đồ Địa lý tự nhiên đại cương và kiến thức đã học hãy
nêu quy luật hoạt động của các dòng biển trên thế giới.
- Ý nghĩa: BT này rèn luyện cho học sinh kỹ năng làm việc với bản đồ lưu vực
sông theo các đại dương và các dòng biển chính. Khi quan sát bản đồ, học sinh
rút ra quy luật hoạt động của dòng biển trên cơ sở vận dụng kiến thức về lực
Côriôlit , địa hình, khí hậu..
Bài tập 3: Dựa vào tập bản đồ Địa lý tự nhiên đại cương và kiến thức đã học hãy
nhận xét và giải thích về sự phân bố của thảm thực vật trên 2 sườn Đông và Tây
của dãy núi Anđet (thuộc Pêru).
- Ý nghĩa: BT này rèn luyện cho học sinh kỹ năng làm việc với bản đồ ở mức độ
mô tả và giải thích về sự phân bố của thảm thực vật trên dãy Anđet. Để làm BT


5


này, ngoài kỹ năng sử dụng bản đồ cần vận dụng kiến thức về thổ nhưỡng, khí
hậu, địa hình, sinh vật tác động đến sự phân bố thực vật.
B. Hướng dẫn thực hiện các bài tập
Bài tập 1:
- Lượng mưa phân bố không đều từ Xích đạo về 2 cực:
+ Khu vực nhiệt đới và Xích đạo: mưa nhiều nhất.
Nguyên nhân: do nhiệt độ cao, không khí và hơi nước bốc lên mạnh; do
áp thấp mang hơi ẩm từ nơi khác đến; do có dải hội tụ nhiệt đới.
+ Khu vực chí tuyến: mưa ít
Nguyên nhân: do áp cao, mưa chủ yếu là do bốc hơi tại chỗ.
+ Khu vực ôn đới: Mưa tương đối nhiều.
Nguyên nhân: do áp thấp, có gió tây ôn đới.
+ Khu vực cực đới: Mưa ít nhất
Nguyên nhân: do áp cao, nhiệt độ thấp nước không bốc hơi được.
- Giữa hai bán cầu, lượng mưa theo độ vĩ cũng khác nhau:
+ Khu vực Xích đạo, Khu vực chí tuyến, Khu vực ôn đới ở Bắc bán cầu mưa ít
hơn do có diện tích lục địa lớn hơn.
+ Khu vực cực Bắc bán cầu mưa nhiều hơn do có diện tích đại dương lớn hơn
Bài tập 2:
+ Các dòng biển nóng thường phát sinh ở hai bên đường Xích đạo, chạy về
hướng tây, khi gặp lục địa chuyển hướng chảy về phía cực.
Giữa hai dòng nóng ở hai bên đường Xích đạo có dòng phản lưu chảy
theo chiều ngược lại.
+ Các dòng biển lạnh xuất phát từ khoảng vĩ tuyến 30 - 40 0 gần bờ phía đông của
các đại dương chảy về phía Xích đạo hợp với dòng biển nóng tạo thành các hoàn
lưu trên các đại dương theo chiều kim đồng hồ ở Bắc bán cầu và ngược chiều

kim đồng hồ ở Nam bán cầu.

6


+ Ở bán cầu Bắc có những dòng biển lạnh xuất phát từ cực men bờ tây các đại
dương chảy về phía Xích đạo.
+ Ở vùng gió mùa thường xuất hiện các dòng biển đổi chiều theo mùa.
+ Các dòng biển nóng và lạnh chảy đối xứng nhau ở 2 bờ các đại dương theo
quy luật ở Bắc bán cầu khu vực ôn đới và cực có sự đối xứng ngược với sự đối
xứng ở khu vực nhiệt đới và cận nhiệt.
Bài tập 3:
- Sự khác nhau của thảm thực vật giữa sườn Đông và sườn Tây do ảnh hưởng
của quy luật địa ô.
- Sườn Tây do ảnh hưởng của dòng , biển lạnh Pêru
- Sườn Đông do địa hình thấp, rừng rậm và hệ thống sông Amadôn.
- Từ chân núi lên đỉnh núi, thảm thực vật có sự thay đổi theo đai cao. Do:
+ Sự thay đổi về nhiệt độ
+ Sự thay đổi về độ ẩm và lượng mưa.
* Các bài tập rèn luyện kỹ năng làm việc với số liệu thống kê và biểu đồ
A. Bài tập
Bài tập 1: Cho bảng số liệu về nhiệt độ và lượng mưa tại một địa điểm:
Tháng
Nhiệt độ
(0C)
Lượng

I

II


III

IV

V

VI

VII

VIII

9

11

13

15 19 21

23

20

IX

X

XI XII


17 15 12

11

10 12 10 9 14 30 40
30 20 15 15 10
mưa (mm)
Hãy vẽ biểu đồ thể hiện nhiệt độ và lượng mưa tại địa điểm trên. Cho biết
đây là kiểu khí hậu nào, vì sao?
- Ý nghĩa: BT này rèn luyện cho học sinh kỹ năng biểu đồ và làm việc với bảng
số liệu thống kê. Học sinh dựa trên số liệu về nhiệt độ và lượng mưa để nhận xét
đặc điểm khí hậu và chỉ ra địa điểm này thuộc kiểu khí hậu nào.
Bài tập 2: Cho các biểu đồ khí hậu sau:

7


A

C

B

D

Cho biết mỗi biểu đồ thuộc kiểu khí hậu nào?
- Ý nghĩa: Từ biểu đồ đã cho, học sinh quan sát số liệu về nhiệt độ và lượng
mưa để xác định kiểu khí hậu. BT này rèn luyện cho học sinh kỹ năng khái quát
hóa từ bản đồ, đồng thời nâng cao kiến thức về các kiểu khí hậu trên Trái Đất.

B. Hướng dẫn thực hiện bài tập
Bài tập 1:
- Vẽ biểu đồ: Biểu đồ cột kết hợp với đường. (Cột thể hiện cho lượng mưa và
đường thể hiện cho nhiệt độ).
- Xác định kiểu khí hậu: Địa Trung Hải (bán cầu Bắc).
- Giải thích: nhiệt độ dao động từ 10 0C – 200C; nhiệt độ cao ở các tháng mùa hạ,
mùa đông có nhiệt độ xuống thấp hơn; biên độ nhiệt các mùa có sự chênh lệch
khá rõ nhưng không quá lớn. Lượng mưa tập trung vào các tháng cuối năm đến
8


các tháng đầu năm (mùa đông và mùa xuân), mùa hạ mưa ít, lượng mưa trung
bình năm vào khoảng 500 – 1000mm.
Bài tập 2:
Xác định kiểu khí hậu:
+ Biểu đồ A: Kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa
+ Biểu đồ B: Kiểu khí hậu ôn đới lục địa
+ Biểu đồ C: Kiếu khí hậu ôn đới hải dương
+ Biểu đồ D: Kiểu khí hậu Địa Trung Hải
* Các bài tập rèn luyện kĩ năng làm việc với các hình vẽ, tranh ảnh địa lý
A. Bài tập
Bài tập 1: Dựa vào các hình ảnh sau hãy trình bày đặc điểm của phép chiếu
phương vị ngang và ứng dụng của nó:

Phép chiếu phương vị ngang

Lưới kinh vĩ tuyến của bản đồ theo phép

chiếu phương vị ngang
- Ý nghĩa: Từ hình ảnh về phép chiếu và lưới chiếu phương vị ngang, HS khái

quát về đặc điểm của phép chiếu này. Yêu cầu HS phải nghiên cứu kết hợp trên
cả 2 hình ảnh để đưa ra những đặc điểm của phép chiếu một cách chính xác
nhất.
Bài tập 2: Dựa vào hình vẽ sau và kiến thức đã học, hãy cho biết

9


a. Hình vẽ thể hiện hiện tượng địa lý nào, giải thích hiện tượng này?
b. Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng các mùa trong năm. Sự chênh lệch độ
dài ngày đêm trong năm diễn ra như thế nào?
- Ý nghĩa: BT này rèn luyện cho học sinh kỹ năng làm việc với hình vẽ. Để làm
bài tập này học sinh phải vận dụng kiến thức về hệ quả sự chuyển động xung
quanh Mặt Trời của Trái Đất (chuyển động biểu kiến của Mặt Trời, hiện tượng
mùa và ngày đêm dài ngắn theo mùa).
Bài tập 3: Dựa vào hình vẽ sau và kiến thức đã học, cho biết hình ảnh thể hiện
hiện tượng địa lý gì, giải thích?

- Ý nghĩa: Từ kiến thức đã học và quan sát hình ảnh học sinh trình bày được
hiện tượng ngày đêm dài ngắn khác nhau theo mùa và theo vĩ độ.
Bài tập 4: Dựa vào hình vẽ sau hãy nhận xét và giải thích sự phân bố của các
vành đai khí áp và gió trên Trái Đất.

10


Các đai khí áp và gió trên Trái Đất
- Ý nghĩa: Bài tập rèn luyện cho học sinh kỹ năng làm việc với hình ảnh địa lý,
từ hình ảnh đã cho và kiến thức đã học về khí áp để giải thích sự phân bố khí áp
và gió trên Trái Đất.

Bài tập 5: Quan sát hình vẽ sau, hãy trình bày vòng tuần hoàn của nước trên Trái
Đất:

Sơ đồ tuần hoàn của nước
- Ý nghĩa: BT nhằm rèn luyện cho HS khái quát hóa kiến thức về các vòng tuần
hoàn của nước trên Trái Đất từ sơ đồ đã cho. Để giải quyết BT, học sinh phải có kỹ
năng làm việc với kênh hình đồng thời vận dụng các mối liên hệ nhân quả trong
Địa lý.
B. Hướng dẫn thực hiện các bài tập
Bài tập 1:
- Đặc điểm của phép chiếu phương vị ngang:
+ Mặt chiếu tiếp xúc với mặt địa cầu ở xích đạo, song song với trục của Địa cầu.

11


+ Nguồn chiếu nằm trên đường xích đạo (T) ở vị trí đối diện với điểm tiếp xúc
của mặt chiếu (Đ).
+ Lưới chiếu: Xích đạo là các đường thẳng, các vĩ tuyến còn lại là những cung
đối xứng nhau qua xích đạo, khoảng cách giữa các vĩ tuyến càng tăng dần khi
càng xa xích đọa về 2 cực. Kinh tuyến giữa là đường thẳng các kinh tuyến khác
là đường cong đối xứng qua kinh tuyến giữa, khoảng cách giữa các kinh tuyến
càng tăng dần khai càng xa kinh tuyến giữa.
- Ứng dụng: Vẽ bản đồ bán cầu Đông và Tây.
Bài tập 2:
a. Hình vẽ thể hiện hiện tượng chuyển động biểu kiến của Mặt Trời giữa 2
chí tuyến.
+ Ngày 21/3: Mặt Trời ở xích đạo, tia sáng Mặt Trời chiếu vuông góc với tiếp
tuyến của bề mặt đất ở Xích đạo
+ Sau ngày 21/3, Mặt Trời chuyển động dần lên chí tuyến Bắc và lên thiên đỉnh

ở chí tuyến Bắc ngày 22/6.
+ Sau ngày 22/6, Mặt Trời chuyển động dần về xích đạo và lên thiên đỉnh ở xích
đạo vào ngày 23/9.
+ Sau ngày 23/9, Mặt Trời từ xích đạo chuyển động dần xuống chí tuyến Nam
và lên thiên đỉnh ở chí tuyến Nam vào ngày 22/12.
+ Sau ngày 22/12, Mặt Trời lại chuyển động dần về xích đạo, rồi lại lên chí
tuyến Bắc...
b. Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng các mùa trong năm:
+ Do trục Trái Đất nghiêng và không đổi phương trong khi chuyển động trên
quỹ đạo quanh Mặt Trời, nên Trái Đất có lúc ngã về nửa cầu Bắc, có lúc ngã về
nửa cầu Nam.
+ Nửa cầu nào ngã về phía Mặt Trời sẽ nhận được nhiều ánh sáng và nhiệt. Như
vậy góc chiếu và thời gian chiếu sáng lớn, thu nhận lượng bức xạ Mặt Trời ở

12


mỗi bán cầu có sự thay đổi luân phiên trong năm, gây nên những đặc điểm thời
tiết và khí hậu trong từng thời kỳ của năm, tạo nên các mùa.
Bài tập 3:
- Hiện tượng ngày đêm dài ngắn khác nhau theo mùa, theo vĩ độ.
- Trong khi chuyển động quanh Mặt Trời, do trục Trái Đất nghiêng và không đổi
phương nên tùy theo vị trí Trái Đất trên quỹ đạo mà ngày đêm dài ngắn khác
nhau theo mùa và theo vĩ độ.
+ Bắc bán cầu: Mùa xuân vào hạ (21/3 đến 23/9): Ngày dài hơn đêm. Mùa thu
và đông (23/9 đến 22/12): Ngày ngắn hơn đêm.
+ Nam bán cầu: Ngược lại.
+ Ngày 21/3 và 23/9: Ngày dài bằng đêm ở tất cả mọi nơi. Ở Xích đạo,
quanh năm ngày dài bằng đêm. Từ vòng cực đến cực: Có hiện tượng ngày
đêm dài 24h. Tại cực có 6 tháng là ngày và 6 tháng là đêm.

Bài tập 4:
- Sự phân bố các đai khí áp trên trái đất: Các đai áp cao và áp thấp phân bố xen
kẽ và đối xứng nhau qua áp thấp xích đạo.
- Giải thích: Các đai áp khác nhau do bức xạ mặt trời chủ yếu là do nhiệt độ và
hoàn lưu khí quyển
+ Áp thấp xích đạo do có nhiệt độ cao quanh năm.
+ Áp cáo chí tuyến: do không khí từ xích đạo bốc hơi lên cao, gặp lạnh giáng
xuống chí tuyến tạo nên sức nén hình thành cao áp.
+ Áp thấp ôn đới: do động lực hoặc do hoàn lưu khí quyển.
+ Áp cao cực: do nhiệt độ thấp quanh năm.
- Phân bố gió:
+ Gió là sự chuyển động của không khí từ khu áp cao đến khu khí áp thấp. Do
lực Cooriolix mà ở BBC gió lệch về phái tay phải, NBC lệch về tay trái.
+ Gió mậu dịch: thổi từ áp cao chí tuyến về áp thấp xích đạo, ở BBC gió thổi
hướng Đông Bắc, ở NBC gió thổi hướng Đông Nam.
13


+ Gió Tây ôn đới: thổi từ áp cao chí tuyến về áp thấp ôn đới, ở BBC gió thổi
hướng Tây Nam, ở NBC gió thổi hướng Tây Bắc.
+ Gió Đông cực: từ áp cao địa cực về áp thấp ôn đới, ở BBC gió thổi hướng
Đông Bắc, ở NBC gió thổi hướng Đông Nam.
Bài tập 5:
- Vòng tuần hoàn nhỏ: Dưới tác động của Mặt Trời, nước bốc hơi, ngưng tụ
thành mây, gặp điều kiện thuận lợi gây mưa.
- Vòng tuần hoàn lớn: Dưới tác động của Mặt Trời, nước ở đại dương bốc hơi,
hình thành mây, gió đưa mây vào đất liền, gây mưa, hay tuyết rơi ở vùng núi
cao, tạo thành dòng chảy mặt và ngầm, cuối cùng trở về đại dương.
*Các bài tập rèn luyện kỹ năng liên hệ thực tế
A. Bài tập

Bài tập 1: Hãy tính ngày Mặt Trời lên thiên đỉnh tại điểm có tọa độ:17028’
- Ý nghĩa: BT này rèn luyện cho học sinh kỹ năng liên hệ thực tế và kỹ năng làm
việc với các số liệu. Để làm được bài tập này học sinh phải vận dụng kiến thức
về sự chuyển động biểu kiến của Mặt Trời trong vùng nội chí tuyến để tính ngày
Mặt Trời lên thiên đỉnh tại địa điểm nhất định, đồng thời phải có kỹ năng làm
việc với các số liệu cụ thể.
Bài tập 2: Giải thích câu ca dao:
“Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng
Ngày tháng mười chưa cười đã tối”
- Ý nghĩa: Bài tập rèn luyện cho học sinh kỹ năng vận dụng kiến thức đã học về
hệ quả của chuyển động của Trái Đất xung quanh Mặt Trời để giải thích hiện
tượng thực tế: độ dài ngày đêm khác nhau theo mùa.
B. Hướng dẫn thực hiện các bài tập
Bài tập 1:
+ Thời gian Mặt Trời di chuyển biểu kiến từ xích đạo (0 0) lên chí tuyến bắc
(23027’) hết 93 ngày, di chuyển được một cung 23027’
14


+ Vậy khi di chuyển từ xích đạo lên 17028’ hết 68 ngày.
+ Ngày Mặt Trời lên thiên đỉnh tại 17028’ lần thứ nhất là: 21/3 + 68 (ngày): 29/5
+ Ngày Mặt Trời lên thiên đỉnh tại 17028’ lần thứ hai là 23/9 – 68 (ngày): 15/7
Bài tập 2:
- Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng: nghĩa là ngày dài đêm ngắn.
- Ngày tháng mười chưa cười đã tối: nghĩa là ngày ngắn đêm dài. (Ông bà ta
thường dùng âm lịch, nên tháng năm âm lịch trùng với tháng 6, 7 và tháng 10
trùng với tháng 11,12 dương lịch).
- Nơi đúng: Bắc bán cầu.
- Những nơi không đúng:
+ Xích đạo: luôn có ngày và đêm dài bằng nhau.

+ Nam bán cầu: hiện tượng ngược lại.
Nguyên nhân:
- Trong khi chuyển động quanh mặt trời, do trục trái đất nghiêng và không đổi
phương, nên tùy vị trí của Trái đât trên quỹ đạo mà ngày đêm dài ngắn theo mùa.
- Mùa hè: ngày dài đêm ngắn
- Mùa đông: ngày ngắn đêm dài
- Tháng 6 rơi vào mùa hè ở BBC và mùa hè ở NBC, tháng 12 rơi vào mùa đông
ở BBC và mùa hè ở NBC
Việt Nam ở BBC trong vùng nội chí tuyến
Câu nói trên đúng ở Việt Nam và BBC; còn ở NBC không đúng. Riêng
xích đạo ngày và đêm luôn dài bằng nhau trong suốt năm.
2.4. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.4.1. Trong công tác dạy đại trà
- Bản thân tôi đã lựa chọn và giao cho HS một số bài tập phù hợp với chất lượng
đại trà. Những bài tập này là những bài tập liên quan đến đời sống thực tiễn nên
học sinh rất hứng thú trong quá trình tìm đáp án. Các giờ học vì vậy thu hút
được học sinh và trở nên rất nhẹ nhàng. Ví dụ khi dạy bài “Hệ quả chuyển động
15


xung quyanh Mặt Trời của Trái Đất” mục III “ Ngày, đêm dài ngắn theo mùa và
theo vĩ độ” tại lớp 10B2(thực nghiệm) tôi cho HS đọc câu ca dao
“Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng
Ngày tháng mười chưa cười đã tối”
Và yêu cầu các em nắm kiến thức thông qua việc lí giải hiện tượng địa lí trong
câu ca dao này. Các lớp 10B3, 10B4 (đối chứng) tôi dạy theo phương pháp
thông thường. Sau giờ học tôi lấy phiếu khảo sát mức dộ hứng thú học tập của
HS. Kết quả đạt được:
Bảng kiểm về tinh thần học tập của học sinh trên lớp
TT


1

Lớp

10 B3
(đối
chứng)

3

Phát biểu xây dựng bài
Tích Bình thường Chưa tích cực
cực
(%)
(%)
(%)

10B2
(thực
nghiệm
)

2

Mức độ chăm chú nghe
giảng
Rất
Bình
Chưa

chăm thường chăm chú
chú
(%)
(%) (%)

10B4
(đối
chứng)

87,5

10

2,5

80

12,5

7,5

28,6

37,1

34,3

17,1

37,1


45,8

12,5

50

37,5

10

37,5

52,5

- Qua bảng kiểm về tinh thần học tập trên lớp, ta thấy đa số học sinh lớp thực
nghiệm rất chăm chú nghe giảng (87,5%), tích cực phát biểu xây dựng bài
(80%), tích cực làm việc nhóm và hiệu quả(77,5). Còn mức độ này ở các lớp đối
chứng rất ít (<25%).
- Trong công tác kiểm tra đánh giá, tôi có giao cho HS một số bài tập vận dụng
để đánh giá mức độ nhận thức của HS.
- Những bài tập này đặc biệt phù hợp cho công tác lựa chọn và bồi dưỡng học
sinh giỏi. Trong kì thi chọn HGS cấp trường với việc áp dụng một số bài tập

16


trong phần đề thi tôi đã chọn ra cho mình được nguồn đội tuyển tương đối tốt
cho năm học sau.
2.5. ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG BÀI TẬP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG ĐỂ

HƯỚNG DẪN HS HỌC TẬP TRONG GIỜ LÊN LỚP
2.5.1. Định hướng chung
Trong toàn bộ quá trình học tập môn Địa lí của học sinh thì khâu học tập ở
trên lớp là vô cùng quan trọng, giữ vai trò chủ yếu. Việc sử dụng bài tập trong
giờ lên lớp để khắc sâu kiến thức, phát huy tính sáng tạo và rèn luyện được kỹ
năng cho học sinh là một yêu cầu quan trọng đối với người giáo viên.
Để làm được điều đó, giáo viên cần phải dự kiến chi tiết kế hoạch sử dụng
BT (được thể hiện trong giáo án lên lớp của giáo viên) mà mình đã tuyển chọn. Cụ
thể là:
- Từ hệ thống BT lớn trong phần Địa lý tự nhiên đại cương đã xây dựng, giáo
viên cần tuyển chọn ra thành nhiều BT nhỏ hơn cho từng bài học. Những BT
nhỏ này phải thỏa mãn một số yêu cầu sau:
+ Đảm bảo tính hệ thống: Các BT phải có quan hệ chặt chẽ với nhau và gắn
chặt với mục đích, yêu cầu của giờ lên lớp, phục vụ nội dung mỗi bước của quá
trình dạy học
+ Góp phần tăng cường tư duy tích cực, sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành
cho HS
+ Đảm bảo tính đa dạng: có BT lí thuyết, có BT vận dụng, có BT cơ bản, có BT
sáng tạo.
+ Số lượng BT cho mỗi giờ lên lớp cần vừa phải, có trọng tâm; phù hợp với
logic của bài học, xác định được mục tiêu rèn luyện được những loại kỹ năng
nào, đảm bảo để học sinh có điều kiện học tập tập trung và có và hiệu quả.
+ Sau khi đã lựa chọn được một số BT nhỏ cho một bài học, giáo viên cần sắp
đặt những bài tập đó cho phù hợp với từng khâu của quá trình dạy học.

17


2.5.2. Định hướng sử dụng bài tập trong quá trình bồi dưỡng học sinh
giỏi

Trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi, việc sử dụng các BTRLKN phần
Địa lý tự nhiên đại cương đóng một vai trò hết sức quan trọng.
Để phát huy khả năng và tính sáng tạo của HS trong quá trình ôn tập, chuẩn
bị cho các kỳ thi học sinh giỏi các cấp, cần sử dụng BTRLKN theo các hướng
sau:
- Tập dượt cho học sinh thói quen dự đoán và khả năng phân tích, tổng hợp, khái
quát hóa khi đứng trước một tri thức địa lý.
- Rèn luyện cho học sinh khả năng vận dụng khái niệm, quy luật địa lý, các mối
liên hệ nhân quả vào việc giải quyết các bài tập, tìm tòi nhiều cách giải, phát
triển bài tập theo nhiều hướng, đề xuất các bài tập mới từ các dữ liệu đã cho.
- Tập luyện cho học sinh biết hệ thống hóa kiến thức, hệ thống hóa phương
pháp, tự kiểm tra đánh giá và tự khắc phục các sai lầm trong học tập và trong
quá trình làm bài tập.
- Rèn luyện cho học sinh phương pháp tự học, tự nghiên cứu tài liệu, khuyến
khích học sinh tự bài tập theo từng chuyên đề.

PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết quả đạt được của đề tài
- Xây dựng được một số BTRLKN sử dụng trong dạy học Địa lý tự nhiên đại
cương sử dụng trong giảng dạy trên lớp, tự học ở nhà và bồi dưỡng học sinh
giỏi.
- Đề tài này dã được tác giả áp dụng vào giảng dạy các lớp 10 được phân công
và dạy bồi dưỡng học sinh giỏi. Qua quá trình áp dụng, đề tài đạt được một số
kết quả sau:
+ Quá trình làm các BT giúp các em rèn luyện được nhiều kỹ năng Địa lý: Làm
18


việc với bản đồ, lược đồ, vận dụng kiến thức môn học khác vào giải thích các
hiện tượng Địa lý, kỹ năng liên hệ thực tế. Đây là những kỹ năng quan trọng

trong quá trình học tập môn Địa lý. Đồng thời giúp các em khắc sâu và nâng
cao kiến thức.
+ Các em rất hào hứng và thích thú với việc giải các dạng BT này, sau khi làm
xong BT các em cảm thấy rất phấn khởi, tự tin hơn vào chính bản thân mình, tự
hình thành cho mình phương pháp giải các BT ở các dạng khác nhau. Khi giải
các BT các em có cơ hội bộc lộ khả năng sáng tạo, khả năng đưa ra ý kiến của
chính bản thân mình, đồng thời các kỹ năng Địa lý được nâng lên ở mức độ cao.
+ Các dạng BT này đã rèn luyện cho các em khả năng lập luận, dự đoán, lập giả
thuyết và biết cách giải quyết vấn đề trong từng tình huống khác nhau. Khi giải các
BT các em có cơ hội được bộc lộ chính kiến của mình, được tranh luận và hợp tác
với bạn bè trong giải quyết vấn đề. Qua đó tư duy và kỹ năng được nâng lên ở mức
cao hơn.
+ Đây là những dạng BT phù hợp với trình độ của học sinh, chuẩn bị tốt cho các
em trong các kì thi HS giỏi. Nếu không xác định được kiến thức cơ bản và không
có những kỹ năng quan trọng thì rất khó để giải các BT này. Sau khi được giáo
viên trang bị cho các em phương pháp giải các dạng BT khác nhau, các em rất tự
tin để giải quyết các BT ở bất cứ hình thức nào, các em có thêm nhiều kinh nghiệm
hơn trong học tập.
+ Những nghiên cứu của đề tài trước hết giúp bản thân áp dụng vào thực tế dạy
học của mình, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học bộ môn Địa lí. Đồng thời, có
thể dùng làm tài liệu tham khảo cho giáo viên giảng dạy bộ môn Địa lí ở các
trường THPT.
3.2. Một số kiến nghị, đề xuất
Việc xây dựng BTRLKN phần Địa lý tự nhiên đại cương được vận dụng
vào giảng dạy, bồi dưỡng HS giỏi ở trường THPT Đinh Chương Dương đã bước
đầu thể hiện tính hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng học tập và bồi dưỡng
19


học sinh giỏi. Để nâng cao hơn nữa hiệu quả đề tài, tôi xin kiến nghị một số vấn

đề sau:
- Sở Giáo dục Đào tạo nên thường xuyên tổ chức các đợt tập huấn bồi dưỡng
nâng cao năng lực cho giáo viên nói chung và việc phương pháp xây dựng BT
cho giáo viên trong các khâu của quá trình dạy học.
- Mặt khác, Sở Giáo dục nên khuyến khích giáo viên các trường THPT biên soạn
và tuyển chĐọn hệ thống BT sử dụng trong giảng dạy nhằm khuyến khích học
sinh tự học, tự nghiên cứu, chủ động trong học tập và chiếm lĩnh tri thức, nâng
cao năng lực tư duy sáng tạo. Đồng thời xây dựng được ngân hàng BT để sử
dụng trong quá trình giảng dạy.
- Giáo viên nên tăng cường sử dụng BTRLKN ở tất cả các khâu của quá trình
dạy học nhằm rèn luyện kỹ năng Địa lý và phát triển năng lực tư duy sáng tạo cho
học sinh.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Thanh Hóa, ngày 20. tháng 5 năm 2017.
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người
khác.

Hà Thị Thanh

MỤC LỤC
20


Trang
PHẦN I. PHẦN MỞ ĐẦU………………………………………………...1
PHẦN II. NỘI DUNG
2.1. Vai trò của bài tập rèn luyện kĩ năng trong quá trình dạy học …...2
2.2. Thực trạng của việc xây dựng và sử dụng bài tập kĩ năng trong dạy học

Địa Lí………………………………………….………………………….. 3
2.3. Xây dựng bài tập rèn luyện kĩ năng trong dạy học địa lí lớp 10, phần
địa lí đại cương …………………………………………………………..4
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm ………………………………15
2.5. Định hướng sử dụng bài tập rèn luyện kĩ năng để hướng dẫn học sinh
học tập trong giờ lên lớp ………………………………………………..17
PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ………………………………18

TÀI LIỆU THAM KHẢO
21


1. Đặng Văn Đức – Lí luận dạy học Địa Lí – Phần đại cương – NXB Đại học sư
phạm.
2. Lê Thông – hướng dẫn ôn thi học sinh giỏi môn Địa Lí – NXB Giáo Dục.
3. Lê thông – SGK Địa Lí Lớp 10 – NXB GD

22


SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRƯỜNG THPT ĐINH CHƯƠNG DƯƠNG

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

XÂY DỰNG MỘT SỐ BÀI TẬP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG
TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÝ LỚP 10, PHẦN ĐỊA LÝ TỰ
NHIÊN ĐẠI CƯƠNG


Người thực hiện: Hà Thị Thanh
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc môn: Địa Lý

THANH HOÁ NĂM 2017
23



×