Tải bản đầy đủ (.doc) (21 trang)

Một số biện pháp giáo dục học sinh cá biệt ở trường THCS

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (172.1 KB, 21 trang )

MỤC LỤC:
1.1. Lí do chọn đề tài. (Sách giáo dục thời đại)..........................................................................2
1.2 Mục đích nghiên cứu. (Sách giáo dục thời đại).....................................................................2
1.3.Đối tượng nghiên cứu.( thực tế lớp chủ nhiệm)....................................................................3
1.4. Phương pháp nghiên cứu.( tự đúc rút kinh nghiệm bản thân).............................................3
2. NỘI DUNG ...................................................................................................................................3
2.1. Cơ sở lí luận. ( Tìm hiểu qua internet, tự nghiên cứu)........................................................3
2.2 . Thực trạng...........................................................................................................................4
2.2.1. Tình hình học sinh cá biệt ở trường Trung học cơ sở.(Tìm hiểu qua báo hoa học
trò,học hỏi đồng nghiệp, thực tế ở trường)..............................................................................4
2.2.2. Nguyên nhân khách quan.( Sách giáo dục thời đại).....................................................6
2.2.3. Nguyên nhân chủ quan về phía bản thân các em. ( Tự tìm hiểu)................................8
2.3. Các biện pháp giáo dục........................................................................................................8
2.3.1 . Biện pháp giáo dục học sinh thông qua giờ sinh hoạt trường( sinh hoạt tập thể).
Tham khảo tài liệu hoa học trò, tự nghiên cứu.......................................................................10
2.3.2.Biện pháp giáo dục học sinh thông qua giờ sinh hoạt lớp và sinh hoạt 15 phút đầu
giờ. ( Tự nghiên cứu)..............................................................................................................10
2.3.3. Biện pháp giáo dục học sinh bằng tâm lý. (Tham khảo qua internet,báo giáo dục thời
đại, học hỏi đồng nghiệp,khảo sát thực tế, tự nghiên cứu)....................................................11
2.3.4. Biện pháp giáo dục học sinh bằng tập thể.( Tự nghiên cứu)......................................13
2.3.5. Biện pháp giáo dục học sinh kết hợp với phụ huynh học sinh.( Tự đúc rút kinh
nghiệm)....................................................................................................................................14
2.3.6. Biện pháp giáo dục học sinh kết hợp giáo dục qua giáo viên bộ môn. (học hỏi đồng
nghiệp, tựu nghiên cứu)..........................................................................................................15
2.3.7. Biện pháp giáo dục học sinh kết hợp với các ban ngành, các bộ phận trong và ngoài
nhà trường.( Tự nghiên cứu)..................................................................................................15
2.4. Hiệu quả nghiên cứu...........................................................................................................16
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ.............................................................................................................17
3.1.Kết luận. (Tự rút kinh nghiệm)................................................................................................17
3.2. Kiến nghị. ( Tự nghiên cứu)................................................................................................19
TÀI LIỆU THAM KHẢO:..................................................................................................................20



1.MỞ ĐẦU:

1


1.1. Lí do chọn đề tài. (Sách giáo dục thời đại).
“Trẻ em hôm nay
Thế giới ngày mai.”
Trẻ em là công dân tương lai của đất nước , do đó trẻ em phải được giáo dục
tốt để sau này trở thành công dân tốt. Như chúc thư Bác Hồ đã khảng định : “Bồi
dưỡng thế hệ trẻ cho cách mạng đời sau là một việc làm rất quan trọng và cần
thiết.” Và đó cũng là trọng trách mà Đảng và Nhà nước giao cho ngành giáo dục
nước ta.
Là một giáo viên đang trực tiếp đứng lớp và làm công tác chủ nhiệm bản thân
không ngừng trau dồi nghiệp vụ để đem đến cho các em những tri thức quý báu, tôi
luôn trăn trở và suy nghĩ rằng làm thế nào để nâng cao việc giáo dục đạo đức cho
học sinh nói chung và học sinh cá biệt nói riêng , nhằm góp phần giáo dục thế hệ
trẻ phát triển toàn diện .
Giáo dục đạo đức cho học sinh cá biệt là một trong những nhiệm vụ thiết yếu
trong nhà trường Trung học cơ sở, hạn chế được những đối tượng học sinh yếu về
mặt đạo đức là góp phần vào chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường. Thế
nhưng thực tế trong các trường Trung học cơ sở hiện nay một bộ phận học sinh cá
biệt dường như trường nào cũng có, lớp nào cũng có và năm nào cũng có.
Sau nhiều năm làm công tác chủ nhiệm lớp và quan sát một cách có hệ thống
về học sinh cá biệt ở các lớp ở bậc Trung học cơ sở, bản thân tôi gặp không ít đối
tượng học sinh cá biệt nhưng mỗi em một vẻ cá biệt khác nhau, đòi hỏi trong quá
trình giáo dục phải phối hợp các biện pháp phù hợp thì mới có hiệu quả .
Qua tìm tòi học hỏi ở đồng nghiệp, tham khảo phương pháp giáo dục trên
các tạp chí giáo dục, trên truyền hình, vận dụng vào quá trình công tác chủ nhiệm

lớp bản thân tôi cũng rút ra được một số kinh nghiệm. Trong phạm vi đề tài này tôi
xin được trao đổi với các bạn đồng nghiệp, mong muốn được góp một phần nhỏ bé
của mình tạo nguồn dồi dào về biện pháp giáo dục học sinh góp phần nâng cao hơn
nữa thực chất chất lượng giáo dục hiện nay. Đó là lí do tôi chọn đề tài để viết sáng
kiến kinh nghiệm năm học này : “Một số biện pháp giáo dục học sinh cá biệt ở
trường trường Trung học cơ sở ”.
Với phạm vi bài viết này, bản thân tôi đề xuất một số biện pháp để giáo dục học
sinh cá biệt, mong tìm ra giải pháp tháo gỡ tình hình học sinh cá biệt trong trường
học hiện nay.
1.2 Mục đích nghiên cứu. (Sách giáo dục thời đại).
Mục tiêu giáo dục của bậc Trung học cơ sở là “ … Tiếp tục phát triển toàn diện
về đạo đức, trí tuệ , thể chất , thẫm mỹ và các kỹ năng cơ bản của nhân cách con
người Việt Nam Xã hội chủ nghĩa có trình độ học vấn Trung học cơ sở và những
hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học Trung học phổ thông,
Trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống ”.
2


Vấn đề đặt ra là trường Trung học cơ sở có nhiệm vụ giáo dục học sinh phát
triển trở thành con người có ích cho xã hội và trước tiên là phát triển về mặt nhân
cách .
Về mặt nhân cách, hay nói cụ thể hơn là đạo đức, hạnh kiểm học sinh phải được
hình thành trên cơ sở tự rèn luyện của bản thân học sinh ngay trên ghế nhà trường
Trung học cơ sở. Đó là ý thức học tập nghiêm túc, chấp hành đúng nội quy lớp học,
trường học, chấp hành đúng pháp luật.
1.3.Đối tượng nghiên cứu.( thực tế lớp chủ nhiệm).
- Nhóm học sinh cá biệt:
+ Em: Nguyễn Hữu Tuấn.
+ Em: Nguyễn Phi Hùng.
+ Em: Đỗ Hữu Trường.

- Học sinh lớp 9A. Trường Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Quan
hóa.
1.4. Phương pháp nghiên cứu.( tự đúc rút kinh nghiệm bản thân).
- Phương pháp đọc tài liệu.
- Phương pháp quan sát thực tế.
- Phương pháp điều tra.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
2. NỘI DUNG .
2.1. Cơ sở lí luận. ( Tìm hiểu qua internet, tự nghiên cứu).
Học sinh cá biệt là những học sinh hay nghịch ngợm , thường gây gổ đánh
nhau, bỏ giờ, trốn học … , không chấp hành nội quy nhà trường, của lớp … thêm
vào đó là sự lôi kéo bạn bè về phía mình nhằm thỏa mản cá tính hoặc thỏa mản nhu
cầu giải tỏa tâm lý bị ức chế về hoàn cảnh của bản thân mình .
Học sinh cá biệt là hiện tượng tâm lý ở lứa tuổi thanh thiếu niên, nó dễ bị
lôi cuốn làm cho học sinh dễ bị nhiễm những thói hư tật xấu dẫn đến tình trạng bỏ
học giữa chừng và có nguy cơ phạm tội đây là nỗi day dứt của nhà trường, gia đình
và xã hội .
Ở lứa tuổi các em, lứa tuổi đang có sự mất cân bằng về mặt tâm sinh lý, việc
các em mong muốn trở thành người lớn trong khi các em chưa có sự hiểu biết đúng
đắn cộng với hoàn cảnh sống mỗi em khác nhau, có em may mắn nhận được sự
quan tâm kịp thời của cha mẹ khi các em ở trạng thái thiếu cân bằng , có em không
được sự quan tâm đúng mức, có em thì lại được quá nương chiều... Từ sự khác biệt
trên nảy sinh ra những hiện tượng học sinh cá biệt và chính một bộ phận học sinh
này đã gây không ít khó khăn cho giáo viên chủ nhiệm lớp. Những biểu hiện cá biệt
3


của học sinh lại rất khác nhau về mặt hình thức cũng như mức độ nên giáo viên chủ
nhiệm lớp cũng rất khó trong việc phát hiện và có biện pháp xử lý thích hợp.
Thông thường trong khi làm công tác chủ nhiệm lớp, giáo viên chủ nhiệm

thường quan tâm đến những đối tượng học sinh cá biệt nổi trội mà ai cũng nhìn
thấy được, từ đó giáo viên chủ nhiệm tìm hiểu tính cách cá biệt của các em do
những nguyên nhân nào để có hướng giáo dục thích hợp. Có những trường hợp học
sinh cá biệt nhưng không có biểu hiện rõ, khó phát hiện nhiều khi giáo viên chủ
nhiệm cũng lầm tưởng nên chưa có được phương pháp giáo dục thích hợp.
Không ít giáo viên chủ nhiệm lớp cho rằng việc giáo dục học sinh cá biệt quả
là một việc vô cùng khó. Sinh thời Bác Hồ đã từng nói:
“ Hiền dữ phải đâu là tính sẵn
Phần nhiều do giáo dục mà nên".
Bản chất con người - học sinh là lương thiện, nhưng do những yếu tố khác
nhau làm ảnh hưởng đến đời sống, tâm lý của học sinh nên các em có những biểu
hiện khác nhau như vậy. Ở lứa tuổi các em cần có sự hỗ trợ, tư vấn của người lớn
hay nói cách khác các em cần có sự giáo dục và các em rất cần đến chúng ta, muốn
đạt được hiệu quả cao chúng ta cần có tâm huyết, năng động sáng tạo đồng thời có
sự kiên trì, nhất định chúng ta sẽ thành công.
2.2 . Thực trạng.
So với học sinh Tiểu học, ở bậc Trung học cơ sở môi trường sống và sự hoạt
động của các em có sự thay đổi. Tất cả sự thay đổi đó là điều kiện rất quan trọng
làm cho hoạt động nhận thức và nhân cách của học sinh Trung học cơ sở có sự thay
đổi về chất so với các lứa tuổi trước . Đây là lứa tuổi mà diễn biến hết sức phức tạp
và đầy mâu thuẩn. Do đó nắm vững đối tượng này sẽ có ý nghĩa quyết định đến
thành công của nhà giáo dục.
2.2.1. Tình hình học sinh cá biệt ở trường Trung học cơ sở.(Tìm hiểu qua báo
hoa học trò,học hỏi đồng nghiệp, thực tế ở trường).
Qua theo dõi đã phát hiện những năm gần đây, hiện tượng học sinh cá biệt có
phần gia tăng và ở nhiều cấp độ khác nhau. Nó đã để lại hậu quả như một “ di
chứng” sau những vụ việc xảy ra ở các trường Trung học cơ sở và Trung học phổ
thông như : đánh nhau, chơi gama, đánh bi a …và những hành vi khác của thanh
thiếu niên, học sinh tác động trực tiếp đến học sinh đang học trong nhà trường .
Học sinh cá biệt tăng theo cấp học,lớp học: Ở lớp 6,7 chưa bộc phát nhiều,

nhưng đến lớp 8,9 học sinh có biểu hiện những thái độ thiếu nghiêm túc trong học
tập, sinh hoạt , nếu không kịp thời giáo dục sẽ sớm trở thành học sinh cá biệt .
Học sinh cá biệt tăng theo xu thế phát triển của xã hội theo “ cơ chế thị trường”
ở khía cạnh tiêu cực .
4


Học sinh cá biệt biểu hiện ở nhiều khía cạnh, trạng thái khác nhau, tạm chia làm
4 nhóm :
- Bỏ giờ trốn học dẫn đến học tập sa sút hơn .
- Quậy phá, thiếu nghiêm túc trong học tập .
- Gây gổ đánh nhau , kết bè thành băng nhóm .
- Ươn ngạnh, học đòi, không nghe lời thầy cô giáo, ý thức tổ chức kỷ luật kém.
Ở tất cả các nhóm học sinh cá biệt trên đều ảnh hưởng đến sự hình thành nhân
cách và năng lực học tập của học sinh .
Dù ở nhóm học sinh cá biệt nào nếu chúng ta không kịp thời uốn nắn giáo dục
các em kịp thời thì làm cho các em từ những vi phạm nhỏ dần dần dẫn đến việc làm
không có ý thức , rồi bỏ học và có nguy cơ trở thành tội phạm .
Nhưng thực trạng hiện nay, ở hầu hết các trường Trung học cơ sở và Trung học
phổ thông đều xuất hiện một bộ phận học sinh không chấp hành tốt nội quy nhà
trường, học tập không nghiêm túc …làm ảnh hưởng không nhỏ đến nền nếp chung
của nhà trường và chất lượng học tập giảm sút . Số học sinh này thường được gọi là
học sinh cá biệt có xu hướng phát triển. Nhà trường, giáo viên cũng đã có nhiều
biện pháp uốn nắn, giáo dục nhưng chưa có hiệu quả.
Trước tình hình vậy, là giáo viên chủ nhiệm bản thân trăn trở và cố tìm ra biện
pháp tối ưu nhằm giáo dục học sinh cá biệt trở thành con ngoan trò giỏi.
Theo tôi việc giáo dục học sinh cá biệt có thành công hay không thì phụ thuộc
vào người thầy cô, người thầy cô phải là người có “Tâm”. Chữ “Tâm” tôi muốn nói
ở đây không phải chỉ là sự yêu thương đối với học trò như một người con, người
em ruột thịt của mình mà còn là cái tâm huyết tha thiết yêu nghề, chú ý từng hành

động của mình như : lời ăn tiếng nói, ăn mặc, từng tiết giảng, từng cử chỉ của
mình .Vì trong mắt các em, người thầy cô đặc biệt là giáo viên chủ nhiệm là một
tấm gương để cho các em noi theo.
Hầu hết học sinh cá biệt không ý thức được nhiệm vụ học tập của mình, không
ý thức được vai trò của việc học tập đối với cuộc đời của mình, vì vậy các em
không có thói quen tự giác, việc đi học với các em chỉ là để vừa lòng cha mẹ, thầy
cô, để được găp bạn bè, để không phải làm việc nhà. Các em chỉ học cho có học,
chứ không biết học để làm gì, học có tác dụng như thế nào đến cuộc sống của mình
sau này. Do đó người giáo viên chủ nhiệm phải chỉ ra cho các em thấy tác dụng
của việc học bằng những ví dụ cụ thể những tấm gương rất gần gũi với các em của
sự thành công và thất bại trong cuộc sống do sự học mang lại.
Trong quḠtrình làm công tác giáo dục chúng ta đã từng buồn phiền biết bao
bao khi gặp phải những học sinh chậm tiến. Biểu hiện của những học sinh này rất
đa dạng có thể xếp vào hai nhóm hành vi sau:
- Ở trong trường : thiếu ý thức tổ chức kỉ luật như chây lười trong học tập, lao
động và sinh hoạt tập thể. Học bài, không đầy đủ, trốn giờ học - giờ sinh hoạt.
Quay cóp khi thi , kiểm tra. Ăn mặc lố lăng không tuân thủ quy định chung của
5


trường,của lớp. Thiếu lễ phép, lừa dối, xúc phạm thầy cô giáo …, phá phách tài sản
của trường, của bạn; Gây gổ đánh nhau với bạn bè trong lớp trong trường, dọa nạt
cán bộ lớp, cán bộ cờ đỏ, nói tục, chởi bậy ….
- Ở ngoài trường: thiếu lẽ phép với cha mẹ người lớn, nói dối gia đình, xúc
phạm phụ nữ, trẻ em , gây mất trật tự ở đường phố, thôn xóm…; La cà hàng quán
ăn uống bê tha, cắm đồ để ăn tiêu, đánh bạc; Ngông nghênh, tham gia vào các vụ
mất trật tự, tập hợp để đánh nhau. .
Tình trạng học sinh yếu kém về mặt đạo đức làm cho cha mẹ ,thầy cô hết sức lo
âu trăn trở. Nếu xóa bỏ được tình trạng học sinh yếu kém trong lớp là cơ sở thành
công đối với mọi công tác khác.

Quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh, không phải là ngày một ngày hai mà là
cả một quá trình lâu dài và phức tạp, phải vận dụng nhiều hình thức và biện pháp
khác nhau.
Theo quan điểm triết học của chủ nghĩa Mác- Lê nin: "Bản chất con người là
sự tổng hoà các mối quan hệ xã hội", như vậy những hiện tượng học sinh cá biệt
được nêu trên đây không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên hoặc tình cờ mà có, tất
cả đều có những nguyên nhân của nó. Sau đây là một số nguyên nhân dẫn đến phát
sinh học sinh cá biệt:
2.2.2. Nguyên nhân khách quan.( Sách giáo dục thời đại).
Rất nhiều yếu tố làm cho học sinh trở thành học sinh cá biệt, nhưng ở đây chỉ
nêu một số nguyên nhân tác động trực tiếp đến học sinh làm nảy sinh những tư
tưởng, tình cảm không lành mạnh làm ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách và
làm hạn chế đến năng lực học tập của các em .
a. Ảnh hưởng của môi trường giáo dục gia đình :
Thời gian học sinh học tập, sinh hoạt ở nhà trường chỉ từ 4-5 giờ trong ngày,
việc sinh hoạt học tập đều có sự quản lí hướng dẫn của giáo viên chủ nhiệm, giáo
viên bộ môn, cán bộ lớp, nhà trường, đó là điều kiện để các em học tập tốt và rèn
luyện nhân cách. Nhưng phần lớn thời gian các em sinh hoạt ở gia đình : tự học, lao
động, vui chơi. Với thời gian đó đối với hầu hết học sinh đều có thời khóa biểu học
tập ở nhà, ý thức được việc học tập ở nhà là thời gian giúp các em ghi nhớ lại bài
cũ, luyện tập và nghiên cứu bài mới, chuẩn bị cho ngày học hôm sau, đồng thời
tham gia giúp đỡ công việc gia đình. Đó là những học sinh thực sự tự giác trong
học tập và được sự quản lí giáo dục của gia đình .
Nếu các em chưa ý thức được việc học tập, đồng thời gia đình không quan
tâm và không tạo điều kiện cho các em học tập thì việc học tập các em không đến
nơi đến chốn, chất lượng học tập bị ảnh hưởng, các em học tập yếu, thua sút bạn bè
dẫn đến chán học, bỏ học .
Như vậy, học sinh cá biệt phát sinh từ những ảnh hưởng không tốt của môi
trường giáo dục gia đình, đó là :
6



* Gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn :
Từ những khó khăn về đời sống kinh tế, cha mẹ phải lao động vất vả, không
quan tâm đến việc học tập của con em, phó mặc cho nhà trường, có gia đình buộc
con cái phải lao động, làm cho các em không có thời gian học tập ở nhà như soạn
bài, học bài cũ, do đó khi đến lớp việc tiếp thu bài mới rất khó khăn, không làm
được bài kiểm tra, lo lắng sợ sệt khi thầy cô giáo kiểm tra bài cũ .. từ đó thua sút
bạn bè và phát sinh tâm lí chán học dẫn đến bỏ giờ trốn học, bỏ học ( nhóm 2 ) .
* Gia đình chỉ lo làm ăn, không quan tâm đến việc học của con cái :
Nhiều gia đình vì kế sinh nhai, cả bố mẹ đều đi làm ăn xa, phó mặc con cái
cho ông bà hoặc chị em chăm sóc lẫn nhau, một số học sinh chưa tự giác và thiếu
sự quản lí chặt chẽ của người lớn nên nảy sinh những tư tưởng không lành mạnh, từ
đó ham chơi mà trốn học, bỏ học .
Có gia đình tuy không khó khăn về kinh tế nhưng có tham vọng làm giàu, bỏ
mặc con cái, không quan tâm đến việc học tập của con cái kể cả những thói hư tật
xấu của con cái, cha mẹ cũng không biết để răn đe, do đó từ những vi phạm nhỏ
dần dần đến vi phạm lớn .
* Gia đình có cha mẹ bất hòa, không có hạnh phúc :
Lứa tuổi các em rất nhạy cảm, những cuộc cải vả của cha mẹ, sự to tiếng
quát nạt, bạo lực của người cha làm cho các em dần dần bị ảnh hưởng, từ đó nẩy
sinh những việc làm không lành mạnh các em bị ức chế, bỏ nhà đi chơi không thíêt
tha đến việc học, từ đó lực học giảm sút dẫn đến chán học, bỏ học. Ngoài ra, gặp
hoàn cảnh gia đình có người cha nát rượu, cũng ảnh hưởng rất lớn đến học sinh làm
các em trở thành học sinh cá biệt.
Với môi trường giáo dục của gia đình như vậy, học sinh khó có thể trở thành
con ngoan trò giỏi, nếu không có sự động viên kịp thời của bạn bè, nhà trường và
thầy cô giáo .
b. Ảnh hưởng về phía nhà trường :
Đây là ngôi nhà thứ hai của các em, nơi để phụ huynh gửi gắm niềm tin vào

việc giáo dục con em của họ, từ đây các em được học tập, được hiểu biết, được lớn
lên về mọi mặt. Nhưng để đạt được những điều vừa nêu trên cũng không phải là dễ,
trong thực tế cũng có một vài trường chưa thực hiện được chức năng là ngôi nhà
thứ hai của các em, bởi vẫn còn đâu đó có những thầy cô giáo chưa nhiệt tình, chưa
thật sự yêu nghề, chưa có tâm huyết với sự nghiệp giáo dục nên chưa nhiệt tình với
các em, chưa thật sự là nơi đáng tin cậy. Cũng có một vài thầy cô giáo do cách cư
xử chưa phù hợp nên cũng xúc phạm học sinh, đối xử thiếu công bằng với các em,
ngại khó khi phải giáo dục những em cá biệt, cáu giận, sĩ nhục học sinh... đã làm
mất lòng tin ở các em, tạo ra một khoảng cách không đáng có giữa thầy và trò và
chính điều này đã dẫn đến biểu hiện chống đối lại từ phía học sinh.
c. Ảnh hưởng của sự phát triển xã hội theo cơ chế thị trường :
7


Xã hội phát triển là điêù đáng mừng, nhưng khi phát triển theo cơ chế thị
trường nó kéo theo một bộ phận không lành mạnh khác như dịch vụ giải trí không
lành mạnh, phim ảnh ảnh bạo lực, tình cảm lứa đôi quá trớn …
Hiện nay, do sự quản lí không chặt chẽ của nhà nước, các dịch vụ bida,
internet, ka raokê … được tổ chức gần trường học, lôi cuốn, hấp dẫn các em vào
các trò chơi vô bổ. Các em lao vào các trò chơi đó dẫn đến bỏ giờ trốn học và
những vi phạm khác. Đồng thời các kênh truyền hình chiếu một số bộ phim mang
những hình ảnh bạo lực làm cho các em dễ dàng bắt chước. Ngoài ra những tụ điểm
ăn chơi hàng ngày nhan nhãn, đập vào mắt các em làm cho các em không tự chủ,
tham gia không có ý thức dần dần tiêm nhiễm và trở thành học sinh hư .
2.2.3. Nguyên nhân chủ quan về phía bản thân các em. ( Tự tìm hiểu).
Do đặc điểm tâm sinh lý của học sinh, lứa tuổi mà nhiều người cho rằng
"Ăn chưa no, lo chưa đến", suy nghĩ còn non nớt, nhận thức chưa chín chắn chính
vì thế các em có những hành vi thiếu chuẩn xác là điều không thể tránh khỏi.
Những học sinh cá biệt ta thường gặp phần lớn là những em có năng lực học
tập yếu kém, điều đó cũng hoàn toàn dễ hiểu bởi nhận thức của các em kém thì làm

sao có hành động tốt được. Việc hạn chế trong tiếp thu kiến thức của các em cũng
dẫn đến sự lười biếng, chán nản, muốn phá phách, nhất là đối với học sinh nam.
Xét ở một khía cạnh khác thì cũng có thể các em vì tự ái về sự chê cười của thầy cô
và bè bạn, các em muốn chứng minh cho mọi người thấy rằng mình học không tốt
nhưng mình có thể nổi trội hơn về mặt khác , chính vì thế mà các em có những
hành động vượt ra khỏi những quy định chung.
Thấy rõ được những nguyên nhân trên và từ những phân tích sự hình thành các
nhóm học sinh cá biệt, tôi tìm ra những phương pháp tối ưu để từng bước cảm hoá
giáo dục các em. Sau đây là một vài kinh nghiệm của bản thân trong việc giáo dục
học sinh cá biệt mà tôi muốn trao đổi cùng đồng nghiệp nhằm hạn chế sự phát triển
và giáo dục học sinh cá biệt.
2.3. Các biện pháp giáo dục.
* Danh sách học sinh cá biệt:
STT
Họ và tên
Những biểu hiện
- Không chú ý học.
- Lười học bài cũ,nói chuyện riêng .
1 Nguyễn Hữu Tuấn
- Nói tục, chởi bậy.
- Gây gổ đánh nhau .
- Chơi điện tử.
- Kết bè thành nhóm, gây gổ đánh nhau .
- Thầy cô nhắc nhở có biểu hiện chống chế, nói dối bố
2 Nguyễn Phi Hùng
mẹ, thầy cô giáo.
8


3


Đỗ Hữu Trường.

- Nghỉ học vô lí do.
- Thương xuyên không ghi bài, nói chuyện riêng .
- Chơi điện tử.
- Ăn cắp vặt, ăn quà vặt, đầu tóc để theo kiểu rẽ đôi.
-Thường xuyên đi học muộn, không ghi bài trong
lớp,quay cóp trong giờ học, khi thầy cô nhắc nhở thì
có biểu hiện chống chế.
- Nói leo, nói tự do trong giờ học.
- Thường xuyên nghỉ học không có lí do chính đáng.
- Ăn mặc lố lăng.
- Chơi điện tử.

* Giáo viên cần giáo dục học sinh cá biệt theo kiểu: “ Lạt mềm buộc chặt.”
Giáo dục học sinh cá biệt là cả một quá trình đòi hỏi sự kiên trì, sáng tạo của
người giáo viên chủ nhiệm.
Mỗi trường hợp học sinh cá biệt người giáo viên chủ nhiệm sẽ có những cách
giải quyết riêng cụ thể.
Đối với học sinh cá biệt có nên xử phạt hay không ? Có mắng học sinh đó
trước tập thể không ? Đó là những câu hỏi tôi luôn đặt ra trong quá trình làm công
tác chủ nhiệm của mình.
Có câu nói của ông cha truyền dạy là “Yêu cho roi, cho vọt. Ghét cho ngọt, cho
bùi”, rồi khi bàn về vấn đề giáo dục học sinh cá biệt nhiều người nói phải xử phạt
thật nghiêm.
Tôi cũng luôn tự đặt cho mình câu hỏi: Có nên xử phạt học sinh cá biệt thật
nghiêm không? Câu hỏi này là vô cùng khó trả lời trong công tác giáo dục đặc biệt
ở giai đoạn hiện nay, xã hội, phim ảnh...xử phạt của thầy cô ảnh hưởng khá nhiều
tới học sinh nhất là học sinh cá biệt.

Với tôi việc học sinh có vi phạm tất nhiên sẽ phải bị xử lí, người giáo viên chủ
nhiệm không thể nhắm mắt làm ngơ trước những vi phạm của học sinh đó được,
nhưng xử lý như thế nào cho thoả đáng, có tính giáo dục cao nhất.
Tôi rất tâm đắc câu nói “Lạt mềm buộc chặt”. Chính vì thế để giáo dục học
sinh cá biệt tôi đã làm theo một số bước sau:
Bước 1: Phân loại học sinh cá biệt.
Bước 2: Tìm hiểu nguyên nhân dẫn học sinh trở thành học sinh cá biệt.
Sau khi đã phân loại được học sinh cá biệt, biết em đó thuộc loại “cá biệt” nào
người thầy cô phải tìm hiểu nguyên nhân nào làm cho học sinh của mình trở thành
học sinh cá biệt như vậy.
Đây là một công việc không hề đơn giản nó đòi hỏi rất nhiều công phu và hơn
hết là cần đến cái “Tâm” rất lớn của người thầy cô giáo. Người giáo viên chủ
9


nhiệm phải điều tra tỉ mỉ, gặp gỡ nhiều người để tìm ra nguyên nhân sâu xa bên
trong và có biện pháp hữu hiệu nhất để giáo dục.
Khi đã tìm ra nguyên nhân rồi người giáo viên sẽ tìm ra biện pháp hữu hiệu nhất
để giáo dục.
Việc giáo dục học sinh cá biệt có thể mỗi người có một cách khác nhau nhưng
việc giáo dục học sinh cá biệt bằng sự gần gũi yêu thương là biện pháp hữu hiệu
nhất.
Theo tôi việc giáo dục học sinh cá biệt hoàn toàn không phải là ảo tưởng, không
phải là không thể nhưng đó là việc làm cực kì khó khăn đòi hỏi sự kiên trì, sự tâm
huyết với nghề “trồng người” của người giáo viên chủ nhiệm.
Người giáo viên chủ nhiệm phải thật sự nhẫn nại, tỉ mỉ, yêu học sinh và rất cần
một phương pháp đúng đắn. Hãy coi học sinh cá biệt như một “thử thách” cần phải
vượt qua .
Như đẩy mạnh các hoạt động giáo dục thông qua các tiết sinh hoạt tập thể, sinh
hoạt lớp, 15 phút đầu buổi, sinh họat Đội , các hoạt động ngoại khoá ...để giáo dục

hạnh kiểm học sinh. Tuy vậy đối với học sinh cá biệt ngoài những biện pháp giáo
dục chung, giáo viên chủ nhiệm cũng cần có biện pháp giáo dục đặc thù.
Việc giáo dục các đối tượng học sinh cá biệt không đơn thuần là nhìn nhận
những biểu hiện bên ngoài của các em mà cần phải tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến
các hành động thiếu chuẩn xác, khi đã xác định được nguyên nhân chúng ta mới
tìm ra biện pháp giáo dục phù hợp, các biện pháp giáo dục của tôi cụ thể như sau:
2.3.1 . Biện pháp giáo dục học sinh thông qua giờ sinh hoạt trường( sinh
hoạt tập thể). Tham khảo tài liệu hoa học trò, tự nghiên cứu.
Tổ chức cho học sinh thảo luận nội quy nhà trường và hướng dẫn cho các
em thực hiện nội quy, có chế độ khen chê công bằng, khách quan .
Trong buổi chào cờ đầu tuần, cần phải đánh giá nhận xét chu đáo, nêu gương
người tốt, việc tốt để các em noi theo, hạn chế những vi phạm nội quy lớp học ,
trường học ( em nào vi phạm nặng như đánh nhau ,những em tái phạm nhiều lần thì
mới cho đứng dưới cờ) .
2.3.2.Biện pháp giáo dục học sinh thông qua giờ sinh hoạt lớp và sinh hoạt
15 phút đầu giờ. ( Tự nghiên cứu).
Ngoài việc giáo dục học sinh thông qua giờ sinh hoạt trường, giờ sinh hoạt
lớp và sinh hoạt 15 phút đầu giờ rất quan trọng . Bởi vì thông qua các giờ sinh hoạt
này, giáo viên chủ nhiệm nắm bắt được cụ thể việc làm tốt của những thành viên
trong lớp và những sai phạm của học sinh ngay trong các buổi học, tuần học. Từ
đó giáo viên chủ nhiệm kết hợp với cán bộ lớp biểu dương những gương mặt tốt về
nề nếp, học tập của các thành viên trong lớp , đồng thời uốn nắn những sai lệch
khuyết điểm của học sinh khi bị vi phạm, lấy tình nghĩa thầy trò ,tình cảm bạn bè,
10


làm cho các em thấy được khuyết điểm của mình các em sẽ sớm nhận ra lỗi lầm
của mình mà sửa chữa .
Trong khi giáo dục các em, giáo viên chủ nhiệm không nên nặng về kiểm điểm,
phê bình, mà phải tìm ra và xác định đúng nguyên nhân đã tác động đến các em

làm cho các em mắc sai lầm, vi phạm, vận dụng những điều khoản trong nội quy,
trong quy định xếp loại của Thông Tư 40 làm cho các em thấy được phạm vi vi
phạm ở mức độ nào và nêu ra hướng cho các em khắc phục. giáo viên chủ nhiệm
nêu những việc làm tốt, những cố gắng nổ lực của các thành viên trong lớp để xây
dựng tập thể lớp thành lớp tiên tiến … với thành tích như vậy thì các em sẽ có ý
thức vươn lên.
2.3.3. Biện pháp giáo dục học sinh bằng tâm lý. (Tham khảo qua internet,báo
giáo dục thời đại, học hỏi đồng nghiệp,khảo sát thực tế, tự nghiên cứu).
Quan hệ thầy trò ngày nay so với trước đây có sự thân mật gắn bó hơn, có như
vậy thì chúng ta mới thực hiện tốt được nhiệm vụ giáo dục toàn diện được. Bởi có
quan hệ gần gũi thì mới biết được những tâm tư nguyện vọng của các em chúng ta
mới có những biện pháp giáo dục thích hợp .
Đối với học sinh cá biệt việc gần gũi với các em quả là một vần đề không
đơn giản, nếu giáo viên chủ nhiệm thiếu tế nhị một chút thì khó mà có thể gần gũi
với các em được, chẳng hạn thường xuyên phê bình, dùng nhiều lời xúc phạm đến
các em ... đều có thể làm tổn thương đến mối quan hệ này. Hơn nữa vì các em
thường xuyên vi phạm nên các em càng lẩn tránh tiếp xúc với giáo viên nhất là giáo
viên chủ nhiệm lớp.
Để thấy được hết cá tính của học sinh, giáo viên chủ nhiệm cần tạo đựơc mối
quan hệ gần gũi với các em, thật sự là chỗ dựa đáng tin cậy sau cha mẹ của các em.
Chú ý khi giao tiếp với các em ta phải luôn cởi mở, chân tình, vui vẻ dễ cảm hóa
được các em, khi có được mối quan hệ tốt các em sẽ thổ lộ những tâm tư tình cảm
với giáo viên chủ nhiệm mà không một chút ngần ngại. Những lời khuyên răn dạy
bảo của chúng ta sẽ có tác dụng lớn đối với các em.
Ví dụ: Em Nguyễn Hữu Tuấn- học sinh lớp 9A do tôi chủ nhiệm là một học
sinh học “cá biệt ” rất yếu về mọi mặt lại hay gây gỗ đánh nhau . Theo tôi biết em
đã học ở Hà Nội bị nhà trường đình chỉ nhiều lần và cuối cùng em bị đuổi học . Gia
đình đã xin cho em lên trên trường này để tiếp tục được đi học , Ban giám hiệu đã
phân em Tuấn vào lớp 9A do tôi chủ nhiệm, em thường xuyên hay nói tục, chởi
bậy, không thuộc bài cũ và điểm rất kém ở các bài kiểm tra. Em tỏ ra lầm lì ít nói,

mặc cảm với bạn bè, với thầy cô, xa lánh mọi người .
Thấy vậy tôi tìm cách gần gũi em bằng cách: Trong tuần học thứ 5 em
không thuộc bài đều bị điểm kém và giáo viên bộ môn ghi tên vào sổ đầu bài. Như
các tuần trước, những em không thuộc bài thì bị phê bình trước lớp, viết bản cam
kết, nhưng để có thể gần gũi em tôi không phê bình việc không thuộc bài cũ mà
11


trong tiết sinh hoạt này tôi chỉ chú ý đến việc phê bình các em còn mất trật tự trong
tiết học, tôi tìm cách tuyên dương em: (bạn Tuấn là một học sinh học rất yếu, tuy
vậy bạn đã có tinh thần tập thể, trong các tiết học tuần này bạn đã không gây ảnh
hưởng đến các bạn khác...). Sau lần tuyên dương ấy em Tuấn có một thái độ khác,
tôi nhận thấy em có mong muốn gần gũi với mọi người hơn. Thế là trong buổi vẽ
tranh phong chống HIV/AIDS tôi tìm cách tâm sự cùng em, dần dần mối quan hệ
giữa tôi và em ngày thêm gần gũi, lúc đó em mới thật sự bộc lộ hết tâm tư của
mình. Em tâm sự với tôi rằng: Bố mẹ em đi làm cả ngày, buổi tối nào về bố em
cũng cho em chơi giải trí một tiếng về công nghệ thông tin như chơi điện tử, xem
các trang mạng… Em bị đuổi học là do tính em thấy việc làm sai trái của bạn mình
em phân xử nhưng bạn ấy lại hành hung với em, thế là em đánh luôn bạn ấy.
Biết được tâm tư, nguyện vọng của em, tôi động viên em học, trong các giờ
học tôi thường xuyên quan tâm em nhiều hơn, trao đổi với giáo viên bộ môn tạo
điều kiện tốt hơn để em tự tin trong học tập, giúp đỡ em. Ở lớp , tôi cho em ngồi
ngay bàn đầu, phân cán bộ lớp là học sinh giỏi ( em Xuyên) nhiệt tình ngồi cạnh để
quan tâm nhiều đến em hơn. Dần dần em tự tin hơn, em được các bạn trong lớp
quan tâm và em đã có những tiến bộ dần dần, nếu tiếp tục rèn luyện chắc chắn em
sẽ đạt được kết quả cao hơn ở cuối năm học này.
Hai trường hợp khác, như em Hùng, em Trường, gia đình kinh tế khá giả,
cha mẹ buôn bán, lo việc kinh doanh không quan tâm đến việc học tập của con em,
như em Hùng một học sinh học khá từ những năm Tiểu học, lên Trung học cơ sở
Hùng với Trường hai em này theo bạn bè chơi điện tử, thường xuyên bỏ học lại gặp

em Tuấn học sinh cá biệt chuyển về các em kết nhóm với nhau trong việc bỏ học
,nói dối bố mẹ, thầy cô giáo... em Trường và em Hùng tôi dùng biện pháp khác tôi
theo dõi các em nhiều hơn, hễ em có vi phạm gì là tôi biết ngay ,vì tôi tìm hiểu các
luồng thông tin từ học sinh các lớp khác trong trường và các luồng thông tin ở
ngoài trường, mỗi lần trao đổi với các em tôi đều đưa ra những chi tiết rất chính
xác, ví dụ chiều nay em nghỉ học đi chơi điện tử ở quán.... với em..., chiều thứ ba
em xin nghỉ học với lý do nhà em bận việc nhưng cô biết em chơi điện tử với
bạn...lớp ....Tất cả việc làm của em cô đều biết, em biết vì sao cô biết nhiều về em
như vậy không ? em biết vì sao cô quan tâm tới em nhiều không ? Cha, mẹ bận
công việc cốt tạo sự nghiệp và cũng là tạo điều kiện để em ăn học, lo cho tương lai
của em, nhiều bạn gia đình vất vả mà các bạn vẫn cố gắng học tốt như bạn Hằng,
bạn Linh còn em có điều kiện tốt mà không lo học tập. Đến cuối năm cứ đà này liệu
các em có được xét tốt nghiệp không? em có thể chơi cả đời được không ? nếu bây
giờ không lo học thì sau này em có thể làm được gì ? rồi cha mẹ em sẽ ra sao? có
xấu hổ với mọi người vì đã có một đứa con như em không ? Dần dần Hùng và
Trường thấy được cái sai của mình và hai em cũng đã sửa đổi.

12


2.3.4. Biện pháp giáo dục học sinh bằng tập thể.( Tự nghiên cứu).
Ở tuổi các em, bạn bè có một vị trí rất lớn trong mối quan hệ xã hội của các
em, thường ở lứa tuổi này các em chưa ý thức được việc nào là cần thiết hơn, chính
vì thế đa phần trong quan hệ với thầy cô giáo các em thường có biểu hiện bao che
cho nhau, nhất là những khi đề cập tới các đối tượng học sinh cá biệt, mặc dù biết
việc làm của bạn là sai, tuy vậy khi hỏi đến phần lớn các em đều trả lời một câu
chung nhất đó là không biết , đối với những em có quan hệ gần gũi với học sinh cá
biệt, cũng có thể các em ngại không dám nói ra sự thật vì sợ sự đe doạ của các
bạn... Nhưng phải nói rằng tất cả những suy nghĩ, những việc làm của các em cá
biệt thì chính các em học sinh cùng lớp, cùng khối là biết rõ nhất.

Về vấn đề này giáo viên chu nhiệm cần khéo léo trong cách điều tra, có thể
là điều tra bằng cách giao nhiệm vụ cho ban cán sự lớp theo dõi hoặc giao cho một
đối tượng học sinh đáng tin cậy nhất và sẽ trao đổi với giáo viên bằng cách bảo
mật thông tin. Thường thì những em này sẽ cung cấp cho chúng ta nguồn tin chính
xác nhất.
Sau khi nắm được thông tin, phân tích tình hình, tôi hướng dẫn các em gần
gũi và giúp đỡ bạn, nên tạo được quan hệ tốt và nhất là tạo cho những em cá biệt có
niềm tin với mình. Phải nói rằng trong quan hệ bạn bè các em sẽ bộc lộ rõ cá tính
không e ngại. Tôi thường xuyên giữ mối quan hệ với các em này tìm hiểu những
khó khăn khi phải thuyết phục học sinh cá biệt để tháo gỡ khó khăn cho các em,
thường xuyên cung cấp biện pháp xử lý kịp thời những biến động của các đối tượng
và động viên các em, tạo cho các em có niềm tin thuyết phục, giúp đỡ học sinh cá
biệt tiến bộ.
Trong biện pháp này cũng có thể dùng cách đó là lấy độc trị độc. Qua các
hoạt động của lớp, giáo viên chủ nhiệm cần theo dõi kỹ, qua từng hoạt động các em
có những biểu hiện như thế nào: say mê, hứng thú, nhiệt tình, tích cực hay qua loa
chiếu lệ, đùn đẩy, ...Hoạt động nào mà em thích thì nhiệt tình, hoạt động kia không
thích thì em sẽ né tránh. Giáo viên chủ nhiệm có biện pháp phát huy sở trường của
từng em lấy đó làm đòn bẩy để tiến hành ngăn chặn những biểu hiện tiêu cực khác
nảy sinh ở các em.
Ví dụ: Em Nguyễn Hữu Tuấn là học sinh thường xuyên nói chuyện riêng trong
lớp, nói tục , chởi bậy, khi ban cán sự lớp phê bình là em hăm doạ đánh bạn. Để
vừa ngăn chặn được sự mất đoàn kết trong lớp đồng thời xây dựng nề nếp tiết học
tốt, tôi phân em làm lớp phó kỷ luật - giao nhiệm vụ theo dõi các bạn đồng thời
trước lớp tôi quy định những em cán sự lớp phải luôn gương mẫu đi đầu trong mọi
hoạt động, nếu vi phạm thì hình thức kỷ luật sẽ nặng hơn. Khi nhận chức danh lớp
phó Tuấn rất thích, tuần đầu tiên Tuấn có tiến bộ nhưng vẫn còn một vài lần bị phê
bình là nói chuyện riêng, cuối tuần nhận xét tình hình chung của lớp tôi cho các em
phát biểu phê bình vai trò trách nhiệm của Tuấn. Sau đó tôi nhận xét chung :Tuy
rằng trong tuần qua bạn Tuấn vẫn còn sai sót - có vi phạm kỷ luật, nhưng so với

13


các tuần trước nề nếp của lớp ta tuần này tiến bộ hơn và bản thân Tuấn cũng có tiến
bộ, vì sự tiến bộ của lớp ta mà cho bạn cơ hội để khẳng định vai trò của mình ở
tuần học tiếp theo. Về sau Tuấn đã ý thức được trách nhiệm của mình và không còn
vô kỷ luật như trước nữa.
Đối với những đối tượng, nghịch ngợm . Đối với đối tượng này tôi dùng cách
đẩy mạnh các hoạt động thi đua của tổ, đến giờ sinh hoạt lớp tự các em nhận xét
với nhau giữa các tổ ,để các em thấy được những việc làm của mình những hành
động nghịch ngợm của các em, các em tự khắc thấy mình như bị hụt hẫng, xấu hỗ.
Từ đó các em có mong muốn được sống chung trong một tập thể đoàn kết. Khi các
đối tượng này thấy được những lỗi lầm của mình, giáo viên chủ nhiệm lớp cần
động viên học sinh trong lớp gần gũi khích lệ để các em hoà nhập với tập thể.
Thường lứa tuổi học sinh dễ bị ảnh hưởng những thói hư tật xấu nhưng cũng
dễ tiếp thu những điều hay lẽ phải, dễ hòa mình vào những trò chơi có tính tập thể,
tính giáo dục cao . Do đó giáo viên chủ nhiệm nên phân công một nhóm bạn tốt,
cùng hoàn cảnh, cùng sở thích, uớc mơ ... sinh hoạt, học tập với đối tượng này dần
dần lôi kéo các em hòa nhập vào các cuộc chơi bổ ích, từ đó xóa bỏ các mặc cảm là
HS hư để rồi cùng với các thành viên trong lớp xây dựng tập thể vững mạnh .
Mặt khác, thông qua nhóm bạn tốt, giáo viên chủ nhiệm giao cho học sinh cá
biệt thực hiện một số công việc, tạo những điều kiện để những học sinh này hoàn
thành và động viên khích lệ các em để các em xóa những tự ti, mặc cảm là học sinh
cá biệt để hòa mình với bạn bè.
2.3.5. Biện pháp giáo dục học sinh kết hợp với phụ huynh học sinh.( Tự đúc rút
kinh nghiệm).
Đây là một biện pháp hết sức quan trọng giúp cho giáo viên chủ nhiệm đạt
đến sự thành công trong việc giáo dục học sinh cá biệt. Đầu năm họp phụ huynh
tôi yêu cầu phụ huynh ghi đầy đủ thông tin số điện thoại , địa chỉ của gia đình, để
thuận tiện cho việc liên hệ với phụ huynh. Cách làm này giúp tôi thường xuyên

trao đổi với phụ huynh và kịp thời giáo dục, chấn chỉnh những sai phạm của các
em.
Giáo viên chủ nhiệm cần thường xuyên liên hệ, phối hợp chặt chẽ với phụ
huynh học sinh để quản lí học sinh cá biệt về mặt thời gian những hoạt động ở
trường và những hoạt động ở nhà, từ đó có biện pháp uốn nắn giáo dục các em kịp
thời.
Giáo viên chủ nhiệm trao đổi qua các cuộc họp phụ huynh học sinh chung của
lớp, báo cáo kết quả rèn luyện của từng em và có thể mời phụ huynh các đối tượng
này ở lại để trao đổi riêng, tránh sự mặc cảm của phụ huynh.
Như đối với em Tuấn tôi thường xuyên trao đổi với bố mẹ em qua điện thoại và
kết hợp phụ huynh nơi gửi em ở trọ.
14


Tôi đã đến thăm ba lần gia đình phụ huynh em Hùng và em Trường để trò
chuyện trao đổi xem phụ huynh có quan tâm đến việc học của con em mình hay
không, tìm hiểu điều kiện sinh hoạt của gia đình và nắm được tình hình của các
em ở nhà .Tôi tổng hợp những điểm tốt mà các em có được trước khi đi thăm gia
đình phụ huynh dù đó chỉ là một việc không đáng kể để khen ngợi các em, sau đó
tôi lồng một vài khuyết điểm của các em để phụ huynh biết; tránh nêu hoàn toàn
hoặc đưa ra hang loạt khuyết điểm thì phụ huynh sẽ có sự mặc cảm và nảy sinh sự
tiêu cực, buông xuôi, ngại nói ra những điều mà ta cần tìm hiểu, trao đổi.
2.3.6. Biện pháp giáo dục học sinh kết hợp giáo dục qua giáo viên bộ
môn. (học hỏi đồng nghiệp, tựu nghiên cứu).
Như phần trình bày nguyên nhân trên, một phần biểu hiện cá biệt của các em
là do quan hệ giữa giáo viên và học sinh chưa tốt, có em có những phản kháng đối
với những hành động quá đáng của một vài giáo viên. ví dụ như có giáo viên dùng
những lời quá nặng nề trong việc nhận xét học sinh không thuộc bài cũ, không
hiểu được bài hay có những biểu hiện áp đặt, thiếu công bằng ... Để xác định chính
xác cá biệt của học sinh từ nguyên nhân này hay không, tôi thăm dò hỏi tất cả giáo

viên dạy bộ môn của lớp để có biện pháp giáo dục thích hợp và cũng từ đó tôi có
thể góp ý ngay với giáo viên trong việc cần phải tôn trọng và công bằng trong đối
xử với học sinh .
Cũng có thể do tính cách cá biệt của các em, ở mỗi môn học em có một biểu
hiện cá biệt khác nhau, tôi tổng hợp các ý kiến để xác định nguyên nhân cơ bản.
Từ việc trao đổi trên tôi tìm ra những ưu điểm của các em để động viên,
đồng thời lồng vào những khuyết điểm của các em để nhắc nhở khắc phục.
2.3.7. Biện pháp giáo dục học sinh kết hợp với các ban ngành, các bộ phận
trong và ngoài nhà trường.( Tự nghiên cứu).
* Kết hợp với tổ chức Đội thiếu niên:
Đây là tổ chức chuyên về mảng giáo dục hạnh kiểm học sinh. Tổ chức này
có ban chỉ huy liên Chi đội, có đội Cờ Đỏ thường xuyên theo dõi các hoạt động của
toàn trường và từng lớp học, có một tổng phụ trách Đội chuyên trách tổ chức các
hoạt động Đội và kịp thời xử lý những vi phạm của học sinh, hơn thế nữa có phong
trào thi đua làm đòn bẩy nên thường các biện pháp luôn đạt hiệu quả giáo dục cao.
Đối với đội Cờ Đỏ: tôi yêu cầu các em ghi lại tên của tất cả những em vi
phạm , có như vậy thì tôi mới kịp thời có được thông tin và xử lý dứt điểm những
vi phạm đựơc.
Với tổng phụ trách Đội: Tôi thường xuyên giữ mối quan hệ chặt chẽ, đối với
những đối tượng học sinh cá biệt tôi sử dụng biện pháp cứng ở những lúc này thì
mềm ở những lúc khác, chúng tôi kết hợp chặt chẽ hơn về khâu theo dõi và các
luồng thông tin về đối tượng học sinh cá biệt.
15


* Đối với hội phụ nữ xã:
Giáo viên chủ nhiệm cũng cần phối hợp với tổ chức phụ nữ ở cơ sở để vận
động các phụ huynh có con em trong diện này quan tâm nhiều hơn đến con mình ,
đồng thời các chi hội phụ nữ thôn - bản cũng có thể giúp chúng ta trong việc thu
nhận những thông tin mới về các em để chúng ta có biện pháp kết hợp giáo dục tốt.

2.4. Hiệu quả nghiên cứu.
Bằng sự cố gắng nỗ lực của bản thân, nhiều năm qua trong công tác chủ
nhiệm tôi luôn vận dụng linh hoạt các biện pháp trên và cũng đã thu được kết quả
rất khả quan :
- Các lớp được tôi chủ nhiệm các em đều tham gia tốt các hoạt động của
trường của Liên đội và luôn được đánh giá cao, nhiều năm lớp đạt danh hiệu xuất
sắc và bản thân tôi được hội đồng thi đua nhà trường công nhận là giáo viên chủ
nhiệm giỏi.
- Không có hiện tượng học sinh phải đưa ra hội đồng kỷ luật nhà trường.
- Quan hệ thầy trò, bạn bè ngày càng được thắt chặt.
- Uy tín nhà giáo được nâng cao, tạo được niềm tin trong phụ huynh học
sinh.
Trong năm học: 2016-2017 này, đầu năm khi nhận lớp chủ nhiệm, lớp tôi có
2 em trong đối tượng học sinh cá biệt (em Hùng và em Trường), đến tháng 11 nhận
thêm em Nguyễn Hữu Tuấn .Qua áp dụng các biện pháp giáo dục trên, cho đến thời
điểm này tôi thấy em Tuấn , em Hùng và em Trường đã có những tiến bộ có thể
thống kê kết quả số học sinh lớp 9A (17 em) như sau:
Hạnh kiểm
Học lực
Ghi chú
Tốt Khá TB Yếu Giỏỉ Khá TB Yêú
Khảo
sát đầu
16
2
0
1
4
13
0

năm
Học kì I

Cuối
HKII

15

2

1

0

7

9

1

17

0

0

0

5


12

0

- Em Nguyễn Gia
Khiêm
chuyển
trường về xuôi.
- Em Nguyễn Hữu
Tuấn chuyển đến.
- Em Vi Văn Bình
nghỉ học, do hoàn
cảnh gia đình khó
khăn.

16


3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ.
3.1.Kết luận. (Tự rút kinh nghiệm)
* Qua quá trình thực hiện tôi rút ra được một số kinh nghiệm như sau:
Muốn giáo dục được học sinh cá biệt thành công thì việc làm đầu tiên của giáo viên
chủ nhiệm cần phải:
- Điều tra để nắm rõ nguyên nhân dẫn đến học sinh cá biệt.
- Nắm rõ tâm lý của từng đối tượng để đề ra biện pháp thích hợp.
- Khi tiến hành các biện pháp giáo dục cần tránh việc nêu tất cả những khuyết
điểm ra cùng một lúc hay non nóng muốn giải quyết được tất cả những sai phạm
của các em cùng một lúc mà nên phân thời gian và chọn ra những sai phạm mang
tính cấp bách hay cơ bản thì giải quyết trước.
- Không yêu cầu quá cao , nên có sự thông cảm chia xẻ với các em.

- Luôn tạo mối quan hệ gần gũi, cảm hoá các em.
- Giáo viên chủ nhiệm cần biết kết hợp được nhiều tác nhân phối hợp giáo dục.
Khi tìm hiểu được nguyên nhân thì sẽ có biện pháp giáo dục phù hợp với từng đối
tượng học sinh và kết hợp với những điều giáo viên chủ nhiệm nên làm:
- Không gọi các em là học sinh cá biệt trước lớp, trước mặt người khác.Các em
chỉ là những “học sinh chưa ngoan”, những “học sinh có hoàn cảnh đặc biệt”.
Chúng ta gọi các em là “học sinh cá biệt” tức là chúng ta đã cố tách học sinh đó ra
khỏi lớp, cô lập các em trước lớp. Nhiệm vụ của chúng ta là giáo dục các em học
sinh “chưa ngoan” này trở thành học sinh ngoan.
- Đa số các em học sinh cá biệt rất cần một điểm tựa tinh thần để có thể được chia
sẻ tâm sự, để được bộc bạch những khó khăn những nỗi niềm riêng tư của mình,
thầy cô sẽ trở thành một người đáng tin cậy của các em.Tìm cách cho các em thể
hiện cái “tôi” cá nhân của mình trước tập thể, không thẳng tay trừng trị các em,
đừng làm mất đi điểm tựa cuối cùng của các em. Hãy nhìn các em bằng sự bao
dung của người cha, sự nhân từ của người mẹ, sự gần gũi, cảm thông của người anh
người chị, sự thân thiết của người bạn.
- Thầy cô hãy phân tích những ưu khuyết điểm những đúng sai trong nhận thức
và hành động của các em, cố gắng giúp các em tự nhận ra sai lầm của mình, tạo cho
các em có thiện chí sửa chữa và không tái phạm. Không la mắng chửi bới các em
trước lớp học ,trước đám đông , trước mặt mọi người, đừng để học sinh nghĩ cứ gặp
thầy cô lại bị la mắng.
- Học sinh cá biệt dù cho có khó giáo dục đến đâu đi chăng nữa thì bên trong các
em vẫn luôn tiềm ẩn những nhân tố, những phẩm chất tích cực nếu có phương pháp
đúng chúng ta vẫn khơi gợi để làm thức tỉnh các em. Để từ đó phát huy làm điểm
tựa cho các em, khôi phục lại niềm tin để các em thấy rằng mình không hề kém
17


cỏi ,từ đó có thể vứt bỏ được sự tự ti, mặc cảm mà tự giác, chủ động hội nhập với
các bạn. Hãy tìm ra điểm mạnh của các em để có thể “ khích lệ” vì đa số học sinh

sự sĩ diện là rất lớn.
- Thầy cô hãy nhìn nhận vấn đề theo chiều hướng tích cực, hãy tạo cho các em
một lối thoát, một cơ hội để sửa chữa . Hãy tin tưởng chờ đợi sự chuyển biến của
các em, không nên nóng vội, vì thầy cô càng nóng vội càng tạo áp lực lên các em,
các em càng bối rối, càng sa vào đối phó.
- Thầy cô hãy cố gắng nhìn nhận sự tiến bộ của các em không quá khắt khe, nên
có cái nhìn bao dung, độ lượng, chân tình, vị tha. Trân trọng từng sự tiến bộ của các
em dù là nhỏ nhất vì đó là cả một sự nỗ lực, cố gắng rất lớn của các em, mạnh dạn
biểu dương các em trước tập thể. Đừng tiết kiệm lời khen với các em vì một lời
động viên khen ngợi còn có giá trị hơn rất nhiều những bản kiểm điểm.
- Hãy tôn trọng quyền lựa chọn, sự quyết định của học sinh trong phạm vi cho
phép, cùng nhau xây dựng nội quy của lớp, các em sẽ tự giác thực hiện vì nội quy
đó do chính các em đưa ra.
Tôn trọng cả sự “cá biệt” của các em vì mỗi cá nhân là một nhân cách độc đáo
cần phải được tôn trọng. Xin đừng áp đặt thô bạo với các em, không xúc phạm làm
tổn thương danh dự của các em trước tập thể, cố gắng thận trọng khi phát ngôn vì
học sinh cá biệt hết sức nhạy cảm.
- Thầy cô hãy cố gắng điềm tĩnh, biết tự kiềm chế vì “học sinh cá biệt” là một sự
“thử thách” rất lớn đối với đức tính điềm tĩnh, tự kiềm chế của mỗi giáo viên, nếu
nóng vội là công sức mà chúng ta cố gắng sẽ đổ xuống sông, xuống biển.
Không nên quá khắt khe xử lí mạnh tay bằng những hình thức kỉ luật nặng nề,
không nên đe doạ, thành kiến với các em. Đừng nhắc đi nhắc lại nhiều lần lỗi vi
phạm của các em sẽ tạo nên sự xấu hổ dần dần dẫn đến sự chai lì.
- Phải kiên quyết cứng rắn, lời nói phải đi đôi với việc làm. Đừng hứa suông. Đã
nói thì phải kiên quyết thực hiện, biết không thực hiện được thì kiên quyết không
nói.
Vận dụng linh hoạt “lạt mềm buộc chặt”, “mềm nắn rắn buông”. Dù rất gần gũi
với các em nhưng luôn phải giữ một khoảng cách nhất định của thầy trò.
Từ những việc làm trên qua một thời gian thực hiện tôi thấy các em đã có sự
tiến bộ rõ rệt như em Nguyễn Hữu Tuấn không còn vi phạm nội quy của trường

của lớp, không đánh nhau, em Nguyễn Phi Hùng không còn kết nhóm rủ đánh
nhau,không còn nghỉ học vô lí do ,đầu tóc cắt theo đúng quy định , em Đỗ Hữu
Trường không nghỉ học không có lí do chính đáng, không còn nói leo, nói tự do
trong lớp... Nhìn chung các em đã có sự tiến bộ dần dần.
Trong lớp các em đoàn kết, lễ phép với mọi người và cuối tháng ba khi xếp loại
hạnh kiểm lớp tôi không còn học sinh nào xếp hạnh kiểm loại khá ,yếu nữa.
Đến nay lớp 9A do tôi chủ nhiệm là một trong nhũng lớp có nề nếp tương đối tốt,
thường xuyên được nhà trường tuyên dương là lớp có tinh thần học tập tốt, chi đội
18


mạnh. Từ đó, học sinh cá biệt cũng thấy rõ sự tiến bộ của mình góp phần vào sự
tiến bộ chung của cả lớp. các em đang cố gắng thi đua học tốt để hướng tới kì thi
cuối năm - cuối cấp.
Giáo dục học sinh cá biệt là một việc làm khó khăn và phức tạp, đòi hỏi người
giáo viên luôn có sự nhiệt tình, năng động, sáng tạo. Tất cả sự cố gắng và nỗ lực
của chúng ta sẽ là cái chìa khoá cho các em bước sang một cuộc đời mới với sự
nhìn nhận tích cực về thực tế và có ý thực rèn luyện để đạt tiêu chuẩn của con
người mới xã hội chủ nghĩa.
Trong quá trình thực hiện để có được kết quả như trên tôi rút ra một số ý kiến
sau:
Người thầy cô phải là người cha, mẹ, người lớn tuổi, phải là tấm gương sáng
cho các em noi theo.
Hết lòng thương yêu và tôn trọng các em, biết tìm ra nguyên nhân và phán xét
một cách khách quan để các em có cơ hội tiến bộ.
Người thầy cô phải có sự kiên trì trong giáo dục . Việc đề ra phải có sự khen
chê đúng mực, khách quan để các em có lòng tin và ý thức vươn lên.
Người thầy cô nên đề ra các chủ đề thi đua, phương hướng thi đua để rồi cùng
nhau thực hiện.
Gia đình cần thấy rõ vai trò và nghĩa vụ của họ đối với sự chăm sóc giáo dục

con em.
Luôn có sự phối kết hợp đồng bộ giữa gia đình, nhà trường, địa phương .
3.2. Kiến nghị. ( Tự nghiên cứu)
Lãnh đạo các cấp chính quyền có hướng tích cực hơn về mặt giáo dục học sinh
cá biệt .
Cần tăng cường tiết ngoại khóa về giáo dục đạo đức cho học sinh .
Nhà trường phối kết hợp với chính quyền để giáo dục học sinh cá biệt.
Ban giám hiệu ,Tổng phụ trách đội, , phụ huynh cần tăng cường phối kết hợp với
giáo viên chủ nhiệm để cùng giáo dục các em .
Trên đây là một số kinh nghiệm của bản thân để giáo dục học sinh cá biệt trong
quá trình làm công tác chủ nhiệm lớp . Tuy nhiên đã đạt được một số kết quả nhất
định, song không thể tránh khỏi những thiếu xót và biện pháp tối ưu.Tôi rất mong
được sự quan tâm giúp đỡ , ý kiến đóng góp của Ban Giám Khảo - Hội đồng khoa
học , các đồng nghiệp bổ sung thêm để kinh nghiệm này được ứng dụng rộng rãi
hơn và đạt kết quả cao hơn.
Xin chân thành cảm ơn!

19


XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ Thanh Hóa, ngày 19 tháng 04 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
Người viết

Lê Thị Thúy

TÀI LIỆU THAM KHẢO:
-


Sách giáo dục thời đại.
Báo hoa học trò.
Tài liệu từ internet.
Học hỏi đồng nghiệp.

20


21



×