Tải bản đầy đủ (.pdf) (90 trang)

Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân trong giải quyết vụ án hình sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình (LV thạc sĩ)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (825.77 KB, 90 trang )

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN HỮU SỸ

MỐI QUAN HỆ GIỮA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
VÀ TÒA ÁN NHÂN DÂN TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2017
1


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN HỮU SỸ

MỐI QUAN HỆ GIỮA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
VÀ TÒA ÁN NHÂN DÂN TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG BÌNH

Chuyên ngành : Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự
Mã số

: 60.38.01.04


LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. ĐẶNG QUANG PHƯƠNG

HÀ NỘI, năm 2017


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu ghi trong luận văn là trung thực.
Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác.

Tác giả luận văn

Trần Hữu Sỹ


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ
GIỮA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN VÀ TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÌNH SỰ ................................................... 7
1.1. Tổng quan về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân
dân và Toà án nhân dân trong giải quyết vụ án hình sự ................................... 7
1.2. Khái niệm, đặc trưng, mục đích, yêu cầu và ý nghĩa của mối quan hệ
giữa Viện kiểm sát nhân dân và Toà án nhân dân trong giải quyết vụ án
hình sự ............................................................................................................. 20

1.3. Nội dung, hình thức thực hiện mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân
dân và Toà án nhân dân trong giải quyết vụ án hình sự ................................. 35
CHƯƠNG 2. CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ THỰC TRẠNG MỐI QUAN HỆ
GIỮA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN VÀ TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÌNH SỰ TẠI TỈNH QUẢNG BÌNH .... 47
2.1. Cơ sở pháp lý về mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân và Toà án
nhân dân trong giải quyết vụ án hình sự ......................................................... 47
2.2. Đặc điểm có liên quan và thực trạng mối quan hệ giữa Viện kiểm sát
nhân dân và Toà án nhân dân trong giải quyết vụ án hình sự tại tỉnh Quảng
Bình ................................................................................................................. 49
CHƯƠNG 3. CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU
QUẢ QUAN HỆ GIỮA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN VÀ TOÀ ÁN
NHÂN DÂN TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÌNH SỰ .......................... 66
3.1. Các yêu cầu nâng cao hiệu quả quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân
và Toà án nhân dân trong giải quyết vụ án hình sự ........................................ 66


3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân
và Toà án nhân dân trong giải quyết vụ án hình sự ........................................ 72
KẾT LUẬN .................................................................................................... 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, trong đó có mối quan hệ
giữa Viện kiểm sát nhân dân và Toà án nhân dân được quy định trong Bộ luật
tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật như: Luật tổ chức Viện kiểm sát
nhân dân, Luật tổ chức Tòa án nhân dân, các thông tư liên ngành... Đặc biệt
mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân và Toà án nhân dân được đề cập

trong Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị “về một số
nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” đã nhấn mạnh: “tăng
cường sự phối hợp giữa các cơ quan tư pháp trong hoạt động tố tụng trên cơ
sở thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan, không
hữu khuynh hoặc đùn đẩy trách nhiệm. Các cơ quan điều tra, kiểm sát, xét xử
cần thực hiện đúng thời hạn tố tụng như luật định”. Trong thực tế mối quan hệ
giữa Viện kiểm sát nhân dân và Toà án nhân dân đã phát huy được sức mạnh
tổng hợp về lực lượng, về biện pháp và trí tuệ trong quá trình đấu tranh chống
tội phạm và theo đúng quy định của pháp luật, góp phần to lớn trong bảo vệ
công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ
nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá
nhân, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật.
Trong từng vụ án hình sự cụ thể còn có sự chưa thống nhất, có những
quan điểm khác nhau trong quá trình giải quyết vụ án. Những quan điểm chưa
thống nhất thường thể hiện qua việc đánh giá tính chất mức độ của hành vi,
dấu hiệu tội phạm, từ đó dẫn đến việc chưa thống nhất trong việc đánh giá
chứng cứ, trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, trong việc xác định tội
danh và đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của vụ án hình sự. Một trong
những nguyên nhân cơ bản của việc chưa thống nhất trên là do hai cơ quan
này chưa thấy hết ý nghĩa và tầm quan trọng của mối quan hệ, cho rằng quá
1


trình giải quyết vụ án hình sự, trong từng giai đoạn cụ thể, mỗi cơ quan tiến
hành tố tụng thực hiện nhiệm vụ của mình có tính độc lập riêng biệt, chưa
nhận thức rõ về sự cần thiết phải giám sát, chế ước lẫn nhau để đảm bảo tính
khách quan, chính xác và toàn diện trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
Về phương diện lý luận, làm sáng tỏ quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân
dân với Tòa án nhân dân trong giải quyết các vụ án hình sự là quan hệ theo
việc thực hiện chức năng và nhiệm vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng. Đây

không phải là vấn đề mới, đã có nhiều đề tài của các nhà nghiên cứu, nhìn
chung các đề tài này đã đề cập đến mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan
tiến hành tố tụng ở nhiều góc độ khác nhau. Bên cạnh những vấn đề đạt được,
các đề tài đó vẫn còn một số hạn chế nhất định về phạm vi, đối tượng nghiên
cứu, khảo sát thực tế và kết quả nghiên cứu… Ngoài ra trong thực tiễn công
tác từng nơi, từng lúc mối quan hệ giữa Viện kiểm sát và Tòa án diễn biến hết
sức tế nhị, thu hút sự chú ý và quan tâm của nhiều cán bộ nghiên cứu cũng
như những người trực tiếp tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Từ những điều đã phân tích trên đây cho thấy việc nghiên cứu về mối
quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân với Toà án nhân dân có ý nghĩa rất quan
trọng trong việc hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự và nâng cao hiệu quả áp
dụng các qui định đó trong thực tiễn.
Để góp phần nâng cao hiệu quả mối quan hệ giữa Viện kiểm sát với
Toà án trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, tác giả đã chọn đề tài “Mối
quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân trong giải quyết vụ
án hình sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình” làm luận văn Thạc sĩ luật học với
mong muốn nghiên cứu góp phần bổ sung lý luận khoa học cho việc củng cố
và hoàn thiện mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân với Toà án nhân dân
trong giai đoạn hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm qua đã có nhiều công trình khoa học, bài viết, luận
2


văn, luận án nghiên cứu về Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân với Tòa
án nhân dân trong giải quyết vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt
Nam trên các góc độ khác nhau. Trong đó có một số công trình như:
- GS. TS Đỗ Ngọc Quang về “Mối quan hệ giữa cơ quan điều tra với
các cơ quan tham gia tố tụng hình sự” (sách tham khảo) đề cập mối quan hệ
giữa cơ quan điều tra với các cơ quan tiến hành tố tụng khác và các cơ quan

bổ trợ tư pháp trong Tố tụng hình sự. Quan hệ phối hợp giữa Cơ quan cảnh
sát điều tra với Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân trong điều tra, truy
tố, xét xử các vụ án hình sự ở cấp huyện, tỉnh Hải Dương của ThS. Vũ Văn
Sơn, đã phân tích lý luận về quan hệ phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố
tụng và đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả quan hệ phối hợp giữa các
cơ quan tiến hành tố tụng ở cấp huyện. Mối quan hệ giữa các cơ quan tiến
hành tố tụng trong giải quyết vụ án hình sự của ThS. Nguyễn Trung Kiên.
Mối quan hệ giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra với Viện kiểm sát và Tòa án
trong tố tụng hình sự của ThS. Đào Hữu Dân…
- Ngoài ra còn nhiều bài báo, báo cáo khoa học viết về quan hệ phối
hợp giữa Viện kiểm sát, Tòa án với Lực lượng Cảnh sát điều tra trong điều
tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự của các tác giã đăng trên tạp chí của
ngành Công an, tạp chí Viện kiểm sát, tạp chí Tòa án, tạp chí Nhà nước và
Pháp luật…
Do cách tiếp cận và phạm vi nghiên cứu khác nhau, chưa có công trình
nào nghiên cứu đầy đủ, toàn diện, phân tích sâu các giải pháp để nâng cao
hiệu quả quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân trong một
địa bàn cụ thể, nhất là trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các vấn đề lý luận, và tìm hiểu hệ thống những
quan điểm của Đảng, quy định pháp luật của Nhà nước về quan hệ giữa Viện
3


kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân trong giải quyết các vụ án hình sự
nhằm góp phần hoàn thiện lý luận, đồng thời trên cơ sở khảo sát thực tế về
mối quan hệ này trên địa bàn tỉnh Quảng Bình trong những năm gần đây. Từ
lý luận và thực tiển để rút ra được những kết luận cần thiết có cơ sở khoa học,
để đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân

dân với Tòa án nhân dân trong giải quyết các vụ án hình sự nói chung và trên
địa bàn tỉnh Quảng Bình nói riêng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa Viện
kiểm sát nhân dân với Tòa án nhân dân trong giải quyết các vụ án hình sự,
góp phần hoàn thiện lý luận về mối quan hệ trên.
+ Làm rõ cơ sở pháp lý và thực trạng quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân
dân với Tòa án nhân dân trong giải quyết các vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh
Quảng Bình từ năm 2012 đến hết năm 2016.
+ Làm rõ các yêu cầu nâng cao hiệu quả mối quan hệ giữa Viện kiểm
sát nhân dân và Toà án nhân dân, từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu
quả mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân với Tòa án nhân dân trong giải
quyết các vụ án hình sự.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân với Tòa án nhân
dân trong giải quyết các vụ án hình sự, thông qua hệ thống pháp luật, các văn
bản quy phạm pháp luật khác quy định về hoạt động trong tố tụng của các cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, quy định về trách nhiệm phải
quan hệ của các cơ quan này trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự;
nghiên cứu các báo cáo tổng kết, sơ kết, hồ sơ các vụ án hình sự xét xử đã có
hiệu lực pháp luật để làm rõ cơ sở thực tiễn và mối quan hệ này.

4


4.2. Phạm vi nghiên cứu
Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân với Tòa án nhân dân bao
gồm quan hệ phối hợp và quan hệ chế ước giữa Viện kiểm sát nhân dân và
Tòa án nhân dân trong giai đoạn truy tố, xét xử các vụ án hình sự trên địa bàn

tỉnh Quảng Bình từ năm 2012 đến hết năm 2016. Từ đó đưa ra những quan
điểm, kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả của mối quan hệ giữa Viện kiểm
sát nhân dân và Tòa án nhân dân.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lê Nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và Nhà
nước ta về đấu tranh phòng chống tội phạm về cải cách tư pháp và xây dựng
Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu được sữ dụng
là: Thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh; phương pháp lịch sử; phương pháp
đàm thoại; khảo sát thực tiễn,…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Làm sáng tỏ cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân
và Toà án nhân dân trong giải quyết vụ án hình sự. Các lý luận trên có thể
được sử dụng để vận dụng vào việc xây dựng quy chế phối hợp giữa Viện
kiểm sát nhân dân với Tòa án nhân dân trong đấu tranh phòng, chống tội
phạm. Bên cạnh đó có thể được sử dụng trong công tác nghiên cứu, biên soạn
tài liệu phục vụ cho công tác bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên ngành thuộc các cơ
quan tiến hành tố tụng tại địa phương.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được vận dụng trong quá trình
5


thực hiện mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng ở địa phương. Các
giải pháp đưa ra trong luận văn để các Kiểm sát viên, Thẩm phán có thể tham
khảo, vận dụng để nâng cao hiệu quả của mối quan hệ giữa Viện kiểm sát

nhân dân và Toà án nhân dân trong giải quyết vụ án hình sự.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được cơ cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa Viện kiểm sát
nhân dân và Toà án nhân dân trong giải quyết vụ án hình sự.
Chương 2: Cơ sở pháp lý và thực trạng mối quan hệ giữa Viện kiểm sát
nhân dân và Toà án nhân dân trong giải quyết vụ án hình sự tại tỉnh Quảng
Bình.
Chương 3: Các yêu cầu và giải pháp nâng cao hiệu quả quan hệ giữa
Viện kiểm sát nhân dân và Toà án nhân dân trong giải quyết vụ án hình sự.

6


CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VIỆN
KIỂM SÁT NHÂN DÂN VÀ TOÀ ÁN NHÂN DÂN TRONG GIẢI
QUYẾT VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1. Tổng quan về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm
sát nhân dân và Toà án nhân dân trong giải quyết vụ án hình sự
1.1.1. Tổng quan về nhiệm vụ chung của Viện kiểm sát nhân dân và
Toà án nhân dân
Điều 2 Hiến pháp 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
quy định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực
Nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công
nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Quyền lực nhà nước là thống
nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong

việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” [26].
Theo nguyên tắc tổ chức quyền lực Nhà nước ta thì: Quốc hội là cơ
quan quyền lực Nhà nước cao nhất. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền
lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao
đối với hoạt động của Nhà nước (Điều 69); Chính phủ là cơ quan hành chính
nhà nước cao nhất, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của
Quốc hội. Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác
trước Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước (Điều 94); Toà án
nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
thực hiện quyền tư pháp (Điều 102); Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền
công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp (Điều 107) [26].
7


Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân và Toà án nhân dân là những cơ quan
trong bộ máy Nhà nước. Tuy mỗi cơ quan có chức năng, nhiệm vụ và quyền
hạn khác nhau do pháp luật quy định, song trong phạm vi chức năng của mình
thì Viện kiểm sát nhân dân và Toà án nhân dân có nhiệm vụ chung là:
Phòng ngừa và đấu tranh chống các loại tội phạm và các vi phạm pháp
luật khác; góp phần bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội; đảm bảo
cho pháp luật được thực hiện nghiêm minh; bảo vệ công lý, bảo vệ Đảng cộng
sản Việt nam, bảo vệ Nhà nước, bảo vệ quyền con người, quyền công dân,
bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích
hợp pháp của tổ chức, cá nhân; bảo đảm trật tự ổn định chính trị xã hội tạo
môi trường thuận lợi để thực thi quá trình đổi mới và phát triển đất nước.
1.1.2. Tổng quan về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm
sát nhân dân trong giải quyết vụ án hình sự
Viện kiểm sát nhân dân gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các
Viện kiểm sát khác do luật định có chức năng thực hành quyền công tố, kiểm
sát các hoạt động tư pháp theo quy định của pháp luật [26].

Để đảm bảo cho Viện kiểm sát thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ
được Nhà nước giao, đảm bảo việc thực hiện thống nhất trong phạm vi toàn
quốc và trong từng giai đoạn giải quyết các vụ án hình sự, Nhà nước ban hành
pháp luật quy định chi tiết hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong quá
trình thực hiện quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các
hoạt động tư pháp nói chung và các hoạt động tố tụng hình sự trong việc điều
tra, truy tố, xét xử các vụ án nói riêng. Điều 107 của Hiến pháp nước Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Điều 2 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân
dân năm 2014 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền
công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật,
bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo
8


vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp
phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”.
Điều 109 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
quy định: “Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo. Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân cấp trên. Viện trưởng các Viện kiểm sát cấp dưới chịu sự lãnh
đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Khi thực
hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, kiểm sát viên tuân theo
pháp luật và chịu sự chỉ đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân” [26].
Để thực hiện chức năng Nhà nước giao, Viện kiểm sát có trách nhiệm
thu thập đầy đủ chứng cứ để xác định tội phạm và người có hành vi phạm tội.
Căn cứ các quy định của pháp luật Viện kiểm sát quyết định truy tố bị can ra
Tòa án và bảo vệ việc truy tố đó tại phiên tòa theo quy định của pháp luật.
Điều 3 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 quy định: “Thực hành
quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự

để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực
hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và
trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự” [28].
Thực hiện quyền công tố là sử dụng các quyền năng pháp lý để thực
hiện việc buộc tội đối với người có hành vi phạm tội trong giai đoạn điều tra,
truy tố và xét xử. Thực hành quyền công tố là chức năng duy nhất của Viện
kiểm sát. Khoản 2 Điều 3 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014
quy định Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố nhằm bảo đảm:
+ Mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện, khởi tố,
điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng
pháp luật, không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm
tội;
+ Không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế
9


quyền con người, quyền công dân trái luật.
Khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố (trong giai đoạn truy
tố, xét xử”, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ, quyền hạn sau:
+ Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hửu quan cung cấp tài liệu để làm
rõ tội phạm, người phạm tội;
+ Trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;
tiến hành một số hoạt động điều tra để làm rõ căn cứ quyết định việc buộc tội
đối với người phạm tội;
+ Điều tra các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, các tội phạm về
tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp theo quy định của luật;
+ Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn trong giai đoạn điều tra, truy tố;
+ Quyết định việc truy tố, buộc tội bị cáo tại phiên toà;
+ Kháng nghị bản án, quyết định của Toà án trong trường hợp Viện
kiểm sát nhân dân phát hiện oan, sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội;

+ Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc buộc tội đối với
người phạm tội theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát
nhân dân có những quyền hạn, nhiệm vụ (quy định tại Điều 16 Luật tổ chức
Viện kiểm sát nhân dân năm 2014):
+ Quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm
giam, các biện pháp khác hạn chế quyền con người, quyền công dân theo quy
định của luật; yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can;
+ Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu liên quan đến vụ
án trong trường hợp cần thiết;
+ Trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra nhằm kiểm tra, bổ sung
tài liệu, chứng cứ để quyết định việc truy tố hoặc khi Toà án yêu cầu điều tra
bổ sung mà xét thấy không cần phải trả hồ sơ cho cơ quan điều tra;
+ Quyết định khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án, khởi
10


tố bị can trong trường hợp phát hiện vụ án còn có hành vi phạm tội, người
phạm tội khác chưa được khởi tố, điều tra và trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra
để điều tra bổ sung;
+ Quyết định việc tách, nhập vụ án, chuyển vụ án để truy tố theo thẩm
quyền, áp dụng thủ tục rút gọn, áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh;
+ Quyết định gia hạn, không gia hạn thời hạn truy tố, thời hạn áp dụng
các biện pháp ngăn chặn;
+ Quyết định truy tố, không truy tố bị can;
+ Quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án, bị can; quyết định phục hồi
vụ án, bị can;
+ Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác để quyết định việc truy tố theo
quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Ngoài chức năng thực hành quyền công thì Viện kiểm sát còn có chức

năng kiểm sát hoạt động tư pháp. Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động
của Viện kiểm sát để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của
cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi
tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong
suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm
sát nhân dân khi kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn truy tố được quy
định tại Điều 17 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 như sau:
+ Kiểm sát hoạt động tố tụng hình sự của người tham gia tố tụng; yêu
cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý nghiêm minh
người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật;
+ Kiến nghị cơ quan, tổ chức hửu quan áp dụng biện pháp phòng ngừa
tội phạm và vi phạm pháp luật;
+ Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong kiểm sát hoạt động tư
pháp theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Viện kiểm sát có quyền truy tố tội danh mà người phạm tội đã có hành
11


vi vi phạm pháp luật vào trong bản cáo trạng và quyết định truy tố (Điều 167
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003) [24].
Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án
hình sự nhằm đảm bảo việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật,
không để lọt tội phạm và người phạm tội củng như không làm oan người vô
tội; Việc xét xử các vụ án hình sự phải được tiến hành đúng pháp luật, nghiêm
minh, kịp thời.
Điều 206, 207 và Điều 217 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và
Điều 18 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 quy định nhiệm vụ,
quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi thực hiện quyền công tố trong giai
đoạn xét xử các vụ án hình sự:
+ Công bố (đọc) cáo trạng và trình bày ý kiến bổ sung, quyết định khác

về việc buộc tội đối với bị cáo tại phiên toà nếu có;
+ Xét hỏi, luận tội, tranh luận, phát biểu quan điểm về việc giải quyết
vụ án tại phiên toà;
+ Kháng nghị bản án, quyết định của Toà án trong trường hợp phát hiện
oan, sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội;
+ Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc buộc tội theo quy
định của Bộ luật tố tụng hình sự .
Điều 19 Luật Tổ chức Viện kiểm sát năm 2014 quy định nhiệm vụ,
quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hiện kiểm sát xét xử các vụ án hình sự
như sau:
+ Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử các vụ án hình sự
của Toà án;
+ Kiểm sát bản án, quyết định của Toà án;
+ Kiểm sát hoạt động tố tụng hình sự của người tham gia tố tụng; yêu
cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham
gia tố tụng vi phạm pháp luật;
12


+ Yêu cầu Toà án nhân dân cùng cấp, cấp dưới chuyển hồ sơ vụ án
hình sự để xem xét, quyết định việc kháng nghị;
+ Kháng nghị bản án, quyết định của Toà án có vi phạm nghiêm trọng
về thủ tục tố tụng;
+ Thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị và nhiệm vụ, quyền hạn khác
trong kiểm sát xét xử vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Theo quy định tại Điều 40 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm
2014 thì Hệ thống Viện kiểm sát nhân dân gồm:
+ Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
+ Viện kiểm sát nhân dân cấp cao;
+ Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau

đây gọi là Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh);
+ Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và
tương đương (sau đây gọi là Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện).
Điều 41 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 quy định:
+ Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công tố, kiểm sát
hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh
và thống nhất;
+ Viện kiểm sát nhân dân cấp cao thực hành quyền công tố, kiểm sát
hoạt động tư pháp đối với các vụ án, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của
Toà án nhân dân cấp cao;
+ Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện
thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp trong phạm vi địa
phương mình.
1.1.3. Tổng quan về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Toà án
nhân dân trong giải quyết vụ án hình sự
Điều 102 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm
2013 quy định: “Toà án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã
13


hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”, “Toà án nhân dân có
nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ
chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp
pháp của tổ chức, cá nhân” [26]; Điều 9 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
quy định: “không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án
kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật”. Điều 20 Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định: “ Không ai bị bắt nếu
không có quyết định của Toà án nhân dân,…, trừ trường hợp phạm tội quả
tang. Việc bắt, giam, giữ người do luật định”.
Điều 2 Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2014 quy định Toà án có

những chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
+ Toà án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp. Toà án nhân dân có nhiệm vụ bảo
vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội
chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ
chức, cá nhân. Bằng hoạt động của mình, Toà án góp phần giáo dục công dân
trung thành với Tổ quốc, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tôn trọng những
quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh phòng, chống tội phạm, các vi
phạm pháp luật khác.
+ Toà án nhân danh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam xét xử
các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao
động, hành chính và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật;
xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập
trong quá trình tố tụng; căn cứ vào kết quả tranh tụng ra bản án, quyết định
việc có tội hoặc không có tội, áp dụng hoặc không áp dụng hình phạt, biện
pháp tư pháp, quyết định về quyền và nghĩa vụ về tài sản, quyền nhân thân.
Bản án, quyết định của Toà án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ
quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hửu quan phải
14


nghiêm chỉnh chấp hành.
+ Khi thực hiện nhiệm vụ xét xử vụ án hình sự, Toà án có quyền:
Xem xét, kết luận về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng
của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Luật sư trong quá trình điều tra, truy tố, xét
xử; xem xét việc áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn; đình
chỉ, tạm đình chỉ vụ án. Xem xét, kết luận về tính hợp pháp của các chứng cứ,
tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu
thập; do Luật sư, bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác cung
cấp. Khi xét thấy cần thiết, trả hồ sơ yêu cầu Viện kiểm sát điều tra bổ sung;

yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặc Toà án kiểm tra, xác
minh, thu thập, bổ sung chứng cứ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Yêu cầu Điều tra viên, Kiểm sát viên và những người khác trình bày về các
vấn đề có liên quan đến vụ án tại phiên toà; khởi tố vụ án hình sự nếu phát
hiện có việc bỏ lọt tội phạm. Ra quyết định để thực hiện các quyền hạn khác
theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
+ Trong quá trình xét xử vụ án, Toà án phát hiện và kiến nghị với các
cơ quan có thẩm quyền xem xét và sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ văn bản
pháp luật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị
quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp
của cá nhân, cơ quan, tổ chức; cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm trả lời
Toà án kết quả xử lý văn bản pháp luật bị kiến nghị theo quy định của pháp
luật làm cơ sở để Toà án giải quyết vụ án;
+ Bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử;
+ Thực hiện quyền hạn khác theo quy định của luật.
Điều 3 Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2014 quy định Tổ chức Tòa
án nhân dân như sau:
+ Toà án nhân dân tối cao;
+ Toà án nhân dân cấp cao;
15


+ Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
+ Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương
đương;
+ Toà án quân sự;
Điều 5 Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2014 quy định về nguyên
tắc tổ chức của Toà án nhân dân như sau: “Các Toà án nhân dân được tổ chức
độc lập theo thẩm quyền xét xử”.
Điều 6 Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2014 quy định về bảo đảm

chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm như sau: “Bản án, quyết định sơ thẩm của
Toà án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của luật tố tụng. Bản
án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn do luật
định thì có hiệu lực pháp luật. Bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo,
kháng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm. Bản án, quyết định phúc
thẩm của Toà án có hiệu lực pháp luật. Bản án, quyết định của Toà án đã có
hiệu lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới
theo quy định của luật tố tụng thì được xem lại theo trình tự giám đốc thẩm
hoặc tái thẩm”.
Điều 8 Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2014 quy định: “Việc xét
xử sơ thẩm của Toà án có Hội thẩm tham gia theo quy định của luật tố tụng,
trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn.
Điều 9 Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2014 quy định: “Thẩm
phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ
quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm
dưới bất kỳ hình thức nào. Cá nhân, cơ quan tổ chức có hành vi can thiệp vào
việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm
mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự
theo quy định của pháp luật.
Điều 10 Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2014 quy định: “Toà án
16


nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử theo
thủ tục rút gọn. Thành phần Hội đồng xét xử ở mỗi cấp xét xử do luật tố tụng
quy định”.
Điều 20 Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2014 quy định Toà án
nhân dân tối cao có nhiệm vụ, quyền hạn:
+ Toà án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Toà án nhân dân tối cao giám đốc thẩm, tái

thẩm bản án, quyết định của các Toà án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng
nghị theo quy định của luật tố tụng.
+ Giám đốc việc xét xử của các Toà án khác, trừ trường hợp luật định.
+ Tổng kết thực tiễn xét xử của các Toà án, bảo đảm áp dụng thống
nhất pháp luật trong xét xử.
+ Đào tao; bồi dưỡng Thẩm phán, Hội thẩm, các chức danh khác của
Toà án nhân dân.
+ Quản lý các Toà án nhân dân và Toà án quân sự về tổ chức theo quy
định của Luật này và các luật có liên quan, bảo đảm độc lập giữa các Toà án.
+ Trình Quốc hội dự án luật, dự thảo nghị quyết; trình Uỷ ban thường
vụ Quốc hội dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết theo quy định của luật.
Điều 29 Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2014 quy định nhiệm vụ,
quyền hạn của Toà án nhân dân cấp cao như sau:
+ Phúc thẩm vụ việc mà bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án nhân
dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thuộc phạm vi thẩm quyền theo
lãnh thổ chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định
của luật tố tụng.
+ Giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
của Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Toà án nhân dân
huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương thuộc phạm vi thẩm
quyền theo lãnh thổ bị kháng nghị theo quy định của luật tố tụng.
17


Điều 37 Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2014 quy định nhiệm vụ,
quyền hạn của Toà án tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương như sau:
+ Sơ thẩm vụ việc theo quy định của pháp luật.
+ Phúc thẩm vụ việc mà bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án nhân
dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương chưa có hiệu
lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.

+ Kiểm tra bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân
dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương, khi phát hiện
có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới theo quy định của luật tố tụng thì
kiến nghị với Chánh án Toà án nhân dân cấp cao, Chánh án Toà án nhân dân
tối cao xem xét, kháng nghị.
+ Giải quyết việc khác theo quy định của pháp luật.
Điều 44 của Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2014 quy định về
nhiệm vụ, quyền hạn của Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố
thuộc tỉnh và tương đương như sau:
+ Sơ thẩm vụ việc án theo quy định của pháp luật.
+ Giải quyết việc khác theo quy định của pháp luật.
Trong hệ thống Toà án nhân dân, có Toà án quân sự. Điều 49 của Luật
Tổ chức Toà án nhân dân năm 2014 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của
Toà án quân sự như sau: “Các Toà án quân sự được tổ chức trong Quân đội
nhân dân Việt Nam để xét xử những vụ án mà bị cáo là quân nhân tại ngũ và
những vụ án khác theo quy định của luật [20].
Điều 170 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định thẩm quyền
xét xử của toà án các cấp:
+ Toà án nhân dân cấp huyện và Toà án quân sự khu vực xét xử sơ
thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm
nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng trừ những tội phạm: Các tội xâm
phạm an ninh quốc gia; các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội
18


phạm chiến tranh; các tội quy định tại các điều 93, 95, 96, 172, 216, 217,
218, 219, 221, 222, 223, 224, 225, 226, 263, 293, 294, 295, 296, 322 và Điều
323 của Bộ luật hình sự.
+ Toà án nhân dân cấp tỉnh và Toà án quân sự cấp quân khu xét xử sơ
thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm không thuộc thẩm quyền của

Toà án nhân dân cấp huyện và Toà án quân sự khu vực hoặc những vụ án
thuộc thẩm quyền của Toà án cấp dưới mà mình lấy lên để xét xử.
Ngoài ra Điều 171 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định
thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ:
+ Toà án có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự là Toà án nơi tội phạm
được thực hiện. Trong trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác
nhau hoặc không xác định được nơi thực hiện tội phạm thì Toà án có thẩm
quyền xét xử là Toà án nơi kết thúc việc điều tra.
+ Bị cáo phạm tội ở nước ngoài nếu xét xử ở Việt Nam thì do Toà án
nhân dân cấp tỉnh nơi cư trú cuối cùng của bị cáo ở trong nước xét xử. Nếu
không xác định được nơi cư trú cuối cùng ở trong nước của bị cáo thì tuỳ
trường hợp, Chánh án Toà án nhân dân tối cao ra quyết định giao cho Toà án
nhân dân thành phố Hà Nội hoặc Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét
xử. Bị cáo phạm tội ở nước ngoài, nếu thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án
quân sự thì do Toà án quân sự cấp quân khu trở lên xét xử theo quyết định của
Chánh án Toà án quân sự trung ương.
Điều 172 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định thẩm quyền
xét xử những tội phạm xảy ra trên tàu bay hoặc tàu biển của nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang hoạt động ngoài không phận hoặc lãnh hải
của Việt Nam thì thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án Việt Nam, nơi có sân
bay hoặc bến cảng trở về đầu tiên hoặc nơi tàu bay, tàu biển đó được đăng ký.
Điều 173 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định: Khi bị cáo
phạm nhiều tội, trong đó có tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án
19


cấp trên, thì Toà án cấp trên xét xử toàn bộ vụ án.
Điều 174 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định: Khi thấy vụ
án không thuộc thẩm quyền của mình thì Toà án chuyển vụ án cho Toà án có
thẩm quyền xét xử. Việc chuyển vụ án cho Toà án ngoài phạm vi tỉnh, thành

phố trực thuộc trung ương hoặc ngoài phạm vi quân khu do Toà án nhân dân
cấp tỉnh, Toà án quân sự cấp quân khu quyết định. Chỉ được chuyển vụ án cho
Toà án khác khi vụ án chưa được xét xử. Trong trường hợp này, việc chuyển
vụ án do Chánh án Toà án quyết định. Nếu vụ án thuộc thẩm quyền của Toà
án quân sự hoặc Toà án cấp trên thì vụ án đã được đưa ra xét xử vẫn phải
chuyển cho Toà án có thẩm quyền. Trong trường hợp này việc chuyển vụ án
do Hội đồng xét xử quyết định.
Qua những quy định của pháp luật về vị trí, chức năng và nhiệm vụ của
Viện kiểm sát nhân dân và Toà án nhân dân như đã trình bày ở trên, đó chính
là cơ sở pháp lý của mối quan hệ, đồng thời cũng là những căn cứ chứng minh
cho những đặc trưng cơ bản của mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân với
Toà án nhân dân trong giải quyết các vụ án hình sự.
1.2. Khái niệm, đặc trưng, mục đích, yêu cầu và ý nghĩa của mối
quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân và Toà án nhân dân trong giải
quyết vụ án hình sự
1.2.1. Khái niệm
Theo Từ điển Tiếng Việt thì: “ Quan hệ là sự gắn liền về mặt nào đó
giữa hai hay nhiều sự vật khác nhau, khiến sự vật này có biến đổi, thay đổi thì
có thể tác động đến sự vật kia” [59, tr.827]. Như vậy, xét về ngôn ngữ học,
quan hệ là hành động mang tính chất chủ động, hỗ trợ lẫn nhau, cùng một
mục đích và có sự quyết tâm thực hiện mục đích đó của một nhóm người nhất
định, trong đó hành động của mổi thành viên có sự tác động ảnh hưởng đến
hành động của các thành viên khác. Theo quan điểm của triết học Mác - Lênin
thì mọi sự vật hiện tượng trong xã hội không tồn tại một cách biệt lập mà có
20


×