Tải bản đầy đủ (.pdf) (89 trang)

Tổ chức hành nghề công chứng theo pháp luật Việt Nam hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (966.31 KB, 89 trang )

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ KIM THƯ

TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: LUẬT KINH TẾ
Mã số: 603801.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS NGUYỄN TRUNG TÍN

HÀ NỘI, 2017


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu ghi trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận
văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

NGUYỄN THỊ KIM THƯ


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ TỔ CHỨC


HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG… ..................................................................... ….5
1.1. Khái niệm và đặc điểm công chứng ................................................................. ..5
1.2. Tổ chức hành nghề công chứng .................................................................... …10
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TỔ CHỨC
HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG…… .................................................................... 19
2.1 Nguyên tắc chuyển đổi, thành lập, giải thể phòng công chứng… ..................... 19
2.2 Nguyên tắc thành lập, chuyển nhượng và chấm dứt hoạt động của Văn
phòng công chứng… ........................................................................................... …..27
2.3 Về hợp nhất, sáp nhập Văn phòng công chứng…… ......................................... .38
2.4 Chuyển đổi văn phòng công chứng ................................................................... .40
2.5 Thực trạng pháp luật về hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng… ........ 43
2.6 Quản lý nhà nước về tổ chức hành nghề công chứng ................................... ….55
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ
TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG .................................................... …63
3.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về thành lập và giải thể tổ chức hành nghề
công chứng……...................................................................................................... ..63
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoạt động của tổ chức hành nghề công
chứng… ................................................................................................................... .69
KẾT LUẬN…......................................................................................................... .75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO… ........................................................ ..77


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khó XIII, kỳ họp
thứ 7 ngày 19 tháng 06 năm 2014 đã thông qua Luật công chứng 2014, có
hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2015. Đây là một bước tiến quan trọng
trong việc xã hội hóa hoạt động công chứng của nước ta hiện nay. Từ ngày
1/5/2015, Nghị định số 29/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng năm 2014 có hiệu

lực thi hành. Nghị định được ban hành với mục tiêu tiếp tục thực hiện chủ
trương xã hội hóa hoạt động công chứng; thực hiện công khai, minh bạch,
dân chủ, khách quan hoạt động công chứng theo lộ trình quy hoạch tổng
thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng đã được Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt. Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều
của Luật Công chứng về chuyển đổi Phòng công chứng thành Văn phòng
công chứng; chính sách ưu đãi đối với Văn phòng công chứng thành lập tại
các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn…
Trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vai trò
của nhà nước trong việc cung ứng dịch vụ công là điều quan trọng của sự
nghiệp đổi mới toàn diện đất nước. Vai trò của nhà nước trong việc cung
ứng dịch vụ công được nâng lên một tầm cao mới, không chỉ phát huy dân
chủ tăng cường pháp chế mà còn nâng cao sức cạnh tranh khi đất nước
đang tiến tới toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Yêu cầu xã hội hóa dịch vụ
công, trong đó có xã hội hóa công chứng một ngành dịch vụ pháp lý là hết
sức cần thiết. Song song với xã hội hóa các hoạt động như luật sư, giám
định tư pháp... thì xã hội hóa công chứng là chủ trương lớn của đảng và
nhà nước trong chiến lược caỉ cách tư pháp đến năm 2020. Bước ngoặt lớn
đó là khi luật công chứng 2006 ra đời và cho đến nay là Luật công chứng

1


2014 đã cho phép thành lập nên các tổ chức hành nghề công chứng, một
mô hình mới nhằm đáp ứng được những nhu cầu của xã hội và xu hướng
chung của thế giới. Tuy nhiên việc ra đời của tổ chức hành nghề công
chứng vẫn còn nhiều hạn chế mà luật công chứng chưa tiên liệu hết những
vướng mắc, khó khăn và nhiều biến động, thêm vào đó là nhân thức của
một số cán bộ và người dân về tổ chức này vẫn còn mơ hồ chưa hiểu rõ.
Chính vì vậy tôi chọn đề tài Tổ chức hành nghề công chứng theo pháp luật

Việt Nam hiện nay làm đề tài luận văn kinh tế của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay ở nước ta đã có một số đề tài nghiên cứu về công chứng
dưới góc độ như quản lý nhà nước về công chứng, xã hội hóa công chứng,
thực trạng pháp luật về công chứng, hoạt dộng của công chứng, chứng
thực... Tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu nào nói về tổ chức hành
nghề công chứng, là một tổ chức rất được quan tâm trong thời gian gần đây
khi mà luật công chứng sửa đổi năm 2014 đã đi vào thực tế và đang còn
gặp nhiều vướng mắc.
Tổ chức hành nghề công chứng theo pháp luật Việt Nam hiện nay là đề
tài nghiên cứu tương đối hệ thống về tổ chức hành nghề công chứng thông
qua những kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện hơn tổ chức hành nghề
công chứng cũng như nâng cao hiệu quả thực hiện của Luật công chứng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
- Mục đích của luận văn là từ những lý luận thực tiễn về công chứng
làm sáng tỏ và phân tích rõ về tổ chức hành nghề công chứng, trên
cơ sở đó đưa ra những kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện hơn
nữa quy định của pháp luật về tổ chức này.
3.2 Nhiệm vụ
2


- Phân tích những vẫn đề lý luận về cơ bản về tổ chức hành nghề công
chứng
- Phân tích thực trạng pháp luật về Tổ chức hành nghề công chứng
- Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về tổ chức hành nghề
công chứng
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các quan hệ về tổ chức hành nghề công chứng

- Phạm vi nghiên cứu: Tổ chức hành nghề công chứng ra đời từ yêu cầu
tất yếu của xã hội là hoạt động xã hội hóa công chứng từ khi nghị định của
chính phủ về công chứng, chứng thực có hiệu lực và khi có Luật công
chứng ra đời năm 2006 và cho đến này là Luật công chứng sửa đổi năm
2014.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận được sử dụng là phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác-Lênin;
- Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài gồm:
+ Phương pháp tìm hiểu tư liệu: Là nghiên cứu về lý luận thông qua
những tài liệu có liên quan đến tổ chức và hoạt động của tổ chức hành
nghề công chứng. Qua đó xây dựng lý thuyết của đề tài.
+ Phương pháp so sánh: Làm rõ sự giống và khác nhau, những điểm
tiến bộ và phát triển của Luật công chứng 2014 so với Luật công chứng
2006 và các văn bản pháp luật quy định về công chứng từ trước tới này. Từ
đó đánh giá những thuận lợi và hạn chế trong thực tế thi hành Luật công
chứng 2014, đề ra những giải pháp phù hợp giải quyết những khúc mắc
còn tồn đọng.
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp: Đây là một phương pháp quan
trọng trong quá trình nghiên cứu. Trên cơ sở các tài liệu, thông tin và dữ
liệu thu thập được, tác giả sẽ phân tích, đánh giá, xem xét trên các khía
3


cạnh. Qua đó tổng hợp lại để có những kết luận, những đề xuất mang tính
khoa học, phù hợp với lý luận và thực tiễn công tác quản lý nhà nước về
hoạt động công chứng;
6.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về lý luận, luận văn đã hệ thống, phân tích, bổ sung những vấn đề có
tính lý luận về công chứng và tổ chức hành nghề công chứng; chỉ ra những

điểm khác trong tổ chức giữa phòng công chứng và văn phòng công
chứng; những bất cập còn tồn tại trong Luật công chứng 2014 và đề xuất
đưa ra những giải pháp phù hợp;
Về thực tiễn, các luận cứ và giải pháp của đề tài có thể sử dụng được
cho việc hoàn thiện các chế định pháp luật có liên quan đến tổ chức hành
nghề công chứng trên thực tế; luận văn còn là tài liệu tham khảo phục vụ
cho nghiên cứu, đào tạo về luật học.
7.Kết cấu của luân văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu
Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp lý về tổ chức hành nghề
công chứng;
Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về tổ chức hành nghề
công chứng;
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về tổ chức
hành nghề công chứng

4


CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ TỔ CHỨC HÀNH
NGHỀ CÔNG CHỨNG
1.1 Khái niệm và đặc điểm công chứng
1.1.1 Khái niệm về công chứng
Trong những năm qua, hoạt động công chứng, chứng thực ở nước ta đã
có những bước phát triển, đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, khẳng định ngày càng rõ hơn vị trí, vai trò của công
chứng trong đời sống xã hội, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của cá
nhân, tổ chức trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
đồng thời là công cụ đắc lực phục vụ quản lý nhà nước có hiệu quả trong

việc bảo đảm trật tự an toàn xã hội. Bằng hoạt động, Công chứng nhà
nước tạo ra những bảo đảm pháp lư để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của công dân, các cơ quan, tổ chức phù hợp với Hiến pháp và pháp luật
của nước Cộng hoà xă hội chủ nghĩa Việt Nam, ngăn ngừa vi phạm pháp
luật, giúp cho việc giải quyết các tranh chấp được thuận lợi, góp phần tăng
cường pháp chế xă hội chủ nghĩa.[1,tr77]
Hoạt động công chứng ở nước ta xuất hiện từ rất sớm. Từ năm 1858 đến
1954, đã tồn tại thể chế công chứng Pháp tại Đông Dương, trong đó có
Việt Nam và tập trung ở Sài Gòn. Các công chứng viên là công chức người
Pháp ở nhiều cơ quan khác nhau, với nhiệm vụ chủ yếu là công chứng hợp
đồng mua bán bất động sản ở Pháp.
Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công và thiết lập nước Việt Nam
Dân chủ cộng hòa năm 1945, bằng việc Hồ Chủ tịch ban hành Sắc lệnh số
59/SL ngày 15/11/1945 về việc ấn định thể lệ thị thực các giấy tờ và Sắc
lệnh số 85/SL ngày 29/02/1952 quy định thể lệ trước bạ về việc mua, bán,
cho, đổi nhà cửa, ruộng đất đã chính thức đặt nền móng cho hoạt động
công chứng, chứng thực ở nước ta.
5


Công chứng với tư cách là một thể chế pháp lý đa hình thành ở nước ta
khá sớm, nhưng mãi đến năm 1987 thuật ngữ “ công chứng “ mới được sử
dụng một cách rộng rãi. Trong thời kỳ đầu đất nước bước vào giai đoạn đổi
mới, hoạt động công chứng, chứng thực của nước ta được kiện toàn và
phát triển với sự ra đời của các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến
hoạt động công chứng, chứng thực như: Thông tư số 574/QLTPK ngày
10/10/1987 của Bộ Tư pháp hướng dẫn công tác công chứng nhà nước,
Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/2/1991 về công chứng Nhà nước của Hội
đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), sau đó là Nghị định số 31/CP ngày
18/5/1996 về tổ chức và hoạt động công chứng Nhà nước; Nghị định số

75/2000/NĐ-CP ngày 8/12/2000 về công chứng, chứng thực. Thời kỳ này,
hai hoạt động công chứng và chứng thực luôn gắn liền với nhau và cùng
được điều chỉnh chung trong cùng một văn bản quy phạm pháp luật.
Thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược
Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định
hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về
Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị, ngày
29/11/2006, xây dựng mô hình quản lý nhà nước về công chứng theo
hướng Nhà nước chỉ tổ chức cơ quan công chứng thích hợp; có bước đi
phù hợp để từng bước xã hội hóa công việc này [2,tr77], Quốc Hội đã
thông qua Luật công chứng và sáu 6 năm triển khai thực hiện, ngày quốc
hội lại thông qua luật công chứng sửa đổi nhằm hoàn thiện pháp luật về
công chứng, đưa hoạt động công chứng phát triển theo hướng chuyên
nghiệp, phù hợp với thông lệ quốc tế.
Việc xác định khái niệm công chứng là vấn đề quan trọng có vai trò lý
luận cũng như thực tiễn ảnh hưởng đến mô hình tổ chức cơ chế hoạt động
của các phòng công chứng cũng như văn phòng công chứng. Chúng ta có

6


những khái niệm khác nhau về công chứng trong các văn bản quy phạm
pháp luật như:
- Nghị định số 31/CP ngày 18 tháng 5 năm 1996 của Chính phủ
về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước quy định: “ Công chứng là
việc chứng nhân xác thực các hợp đồng và giấy tờ theo quy định của pháp
luật, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà
nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi là các tổ chức) góp phần
phòng ngừa vi phạm pháp luật tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Các
hợp đồng, giấy tờ đã được công chứng nhà nước chứng nhận hoặc UBND

cấp có thẩm quyền chứng thực có giá trị chứng cứ, trường hợp bị TAND
tuyên bố là vô hiệu”[9, tr.77]. Khái niệm này bước đầu đã có sự phân biệt
hành vi công chứng và hành vi chứng thực. Tuy nhiên, ý nghĩa pháp lý
của hành vi công chứng và hành vi chứng thực chưa được phân biệt.
-

Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 8 tháng 12 năm 2000 của

chính phủ về công chứng chứng thực tại điều 2 quy định: “Công chứng là
việc Phòng công chứng chứng nhận tính xác thực của hợp đồng được giao
kết hoạc giao dịch khác được xác lập trong quan hệ dân sự, thương mại và
quan hệ xã hội khác (sau đây gọi là hợp đồng giao dịch) và thực hiện các
việc khác theo quy định của nghị định này”. [15, tr.78]Theo đó, chủ thể
của hoạt động công chứng được xác định ở đây là Phòng công chứng,
trong khi thực tiễn hoạt động công chứng cho thấy, công chứng là hoạt
động của công chứng viên, công chứng viên phải chịu trách nhiệm cá nhân
về hành vi công chứng của mình.
- Luật công chứng năm 2006 quy định: “ Công chứng là việc công
chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng giao
dịch khác (sau đây gọi là hợp đồng giao dịch) bằng văn bản mà theo qui
định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân tổ chức tự nguyện yêu
cầu công chứng”.[25, tr.79] Khái niệm này về cơ bản đã giải quyết được
7


những thiếu sót của Nghị định 31/CP và nghị định 75/2000/NĐ-CP về
khái niệm công chứng.
-

Điều 2 khoản 1 Luật công chứng ngày 20 tháng 6 năm 2014 quy


định: “ Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề
công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch
dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính
xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ
tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt
(sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng
hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng”[26,tr79] Đây có thể
coi là khái niệm cơ bản và đầy đủ nhất về công chứng cho đến thời điểm
hiện tại.
Khái niệm này của Luật công chứng 2014 đã mở rộng phạm vi hoạt
động của các tổ chức hành nghề công chứng, của công chứng viên. Cụ
thể,công chứng viên thực hiện việc chứng nhận bản dịch giấy tờ nhằm tạo
thuận tiện cho người dân cũng như giảm áp lực công việc cho các cơ quan
hành chính. Tuy nhiên, để bảo đảm tính chuyên môn hóa, chất lượng trong
hoạt động công chứng, dịch thuật, phù hợp với năng lực và điều kiện thực tế
của các tổ chức hành nghề công chứng, đồng thời bảo đảm tốt hơn cho người
dân trong việc lựa chọn và tiếp cận dịch vụ chứng nhận bản dịch, Luật công
chứng 2014 quy định công chứng viên cũng phải chịu trách nhiệm về nội
dung bản dịch và việc chứng nhận nội dung bản dịch không vi phạm pháp
luật, không trái đạo đức xã hội (khoản 3 Điều 61) nhằm đề cao trách nhiệm
của công chứng viên trong hoạt động này.
Những khái niệm về công chứng nêu trên đều gắn với sự thay đổi
của xã hội qua từng giai đoạn phát triển khác nhau có sự thay đổi nhất
định. Song xét về bản chất và mục đích của hành vi thì không thay đổi, qua
đó thấy được các đặc điểm rõ rệt của hoạt động công chứng.
8


1.1.2 Đặc điểm của công chứng

Thứ nhất, công chứng là hành vi do công chứng viên thực hiện.
Điều này phân biệt với chứng thực là hành vi do người đại diện của cơ
quan hành chính công quyền thực hiện. Công chứng viên do Bộ trưởng Bộ
Tư pháp bổ nhiệm, miễn nhiệm, chịu trách nhiệm tiếp nhận hoặc lập các
hợp đồng, giao dịch theo yêu cầu của người yêu cầu công chứng đảm bảo
cho các hợp đồng giao dịch sau khi được chứng nhận có giá trị chứng cứ.
Điều đó cho thấy, hoạt động công chứng là hoạt động cung cấp dịch vụ
pháp lý mang tính chất đặc biệt, tức là vừa mang tính dịch vụ, vừa là một
trong những hoạt động bổ trợ tư pháp. Xét về khía cạnh lý luận chung, đó
là dịch vụ pháp lý cho cá nhân, tổ chức trong giao dịch của xã hội mà
người công chứng viên phải chịu trách nhiệm cá nhân. Hoạt động công
chứng là hoạt dộng dịch vụ pháp lý chứ không phải là tư nhân hóa hoạt
động công chứng, nhằm để tổ chức hành nghề công chứng góp phần chia
sẻ gành nặng với nhà nước, tránh việc độc quyền và góp phần quan trọng
trong việc bảo vệ pháp luật bảo vệ quyền lợi chính đáng của công dân, tăng
cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Thứ hai, nội dung cơ bản của công chứng là xác nhận tính đúng đắn,
hợp pháp của các giao dịch, hợp đồng; tính chính xác, hợp pháp, không trái
đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước
ngoài, hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt theo yêu cầu của công dân,
tổ chức và chứng nhận các hợp đồng, giao dịch theo quy định của pháp
luật. Đây là đặc điểm quan trọng của hoạt động công chứng để phân biệt
với hoạt động mang tính chất hành chính khác của cơ quan công quyền.
Các hợp đồng, giao dịch , bản dịch được công chứng viên xác nhận theo
quy định của pháp luật chính là văn bản công chứng.
Thứ ba, văn bản công chứng có giá trị chứng cứ và có hiệu lực thi
hành với các bên, những tình tiết, sự kiện trong văn bản công chứng có giá
9



trị chứng cứ không phải chứng minh đã được Luật công chứng (Khoản 3Điều 5) và Bộ luật tố tụng dân sự (Điều 80, 83) quy định, trừ trường hợp
văn bản công chứng bị Tòa án tuyên vô hiệu.
Văn bản công chứng phải được công chứng viên xác nhận theo trình tự,
thủ tục do pháp luật về công chứng quy định và chủ thể tham gia giao dịch
có đủ năng lực dân sự, nội dung thỏa thuận là hoàn toàn tự nguyện thì văn
bản công chứng có hiệu lực thi hành với các bên có liên quan, buộc các
bên phải thực hiện đúng các cam kết đã xác lập. Trong pháp luật về tố tụng
tài liệu, văn bản, giấy tờ được coi là chứng cứ khi hình thức và nội dung
của các tài liệu, giấy tờ đó phản ảnh đúng nội dung thực tế cà phù hợp với
quy định của pháp luât. Vì vậy văn bản được công chứng viên xác nhận
thông qua lời chứng của mình và nội dung của hợp đồng, giao dịch không
trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định của pháp luật thì được coi
làchứng cứ và không phải chứng minh, trừ trường hợp bị tòa án tuyên bố
vô hiệu.
Từ những căn cứ phân tích nêu trên, có thể thấy công chứng là hoạt
động không thể thiếu trong đời sống xã hội, là tài liệu chứng cứ khi có
tranh chấp tại tòa án, là công cụ hữu hiệu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của các bên tham gia giao dịch, góp phần phòng ngừa rủi ro đảm bảo
an toàn pháp lý cho các giao dịch dân sự kinh tế, thương mại phát triển,
tránh việc tranh chấp và vi phạm pháp luật tạo sự ổn định cho xã hội. Hoạt
động của các công chứng viên thông qua tổ chức hành nghề công chứng
của mình đã góp phần quan trọng trong việc tạo cho người dân ý thức trách
nhiệm tốt hơn khi sử dụng các công cụ pháp lý để bảo vệ mình..
1.2

Tổ chức hành nghề công chứng

1.2.1

Định nghĩa


Tổ chức hành nghề công chứng là: phòng công chứng và văn phòng
công chứng (Điều 23, Luật công chứng 2006).
10


Theo quy định tại Điều 19 Luật công chứng 2014, Phòng công chứng
do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập, là đơn vị sự nghiệp
công lập thuộc Sở Tư pháp, có trụ sở, con dấu và tài khoản riêng. Người
đại diện theo pháp luật của Phòng công chứng là Trưởng phòng, trưởng
phòng công chứng phải là công chứng viên, do Chủ tịch Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức. Tên gọi của Phòng công chứng
bao gồm cụm từ “Phòng công chứng” kèm theo số thứ tự thành lập và tên
của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi Phòng công chứng được
thành lập. Phòng công chứng sử dụng con dấu không có hình quốc huy.
Phòng công chứng được khắc và sử dụng con dấu sau khi có quyết định
thành lập. Thủ tục, hồ sơ xin khắc dấu, việc quản lý, sử dụng con dấu của
Phòng công chứng được thực hiện theo quy định của pháp luật về con dấu.
Phòng công chứng là đơn vị sự nghiệp có thu thuộc Sở tư pháp nên
kinh phí được nhà nước cấp và một phần kinh phí từ hoạt động công chứng
được sử dụng tại đơn vị. Phòng công chứng phải nộp 100% phí thu được
cho nhà nước và được nhà nước trích lại 50% phí thu được để chi trả cho
hoạt động của phòng.
Theo quy định tại Điều 22 của luật công chứng 2014, Văn phòng công
chứng là tổ chức dịch vụ công được tổ chức và hoạt động theo loại hình
công ty hợp danh; phải có từ hai công chứng viên hợp danh trở lên, không
có thành viên góp vốn. Tên của Văn phòng công chứng được lấy theo tên
của Trưởng văn phòng. Các quyền và nghĩa vụ của văn phòng công chứng
được quy định trong Luật công chứng và các văn bản quy phạm pháp luật
có liên quan. Ở đây có thể thấy được rằng nghề công chứng là nghề đòi hỏi

có đạo đức nghề nghiệp và sự tin tưởng rất cao vì vậy Luật công chứng
mới có quy định rằng phải là loại hình công ty hợp danh chứ không theo
loại hình góp vốn.
1.2.2

Đặc điểm của tổ chức hành nghề công chứng
11


*Sự giống nhau giữa phòng công chứng và văn phòng công chứng
- Là tổ chức mang tính dịch vụ pháp lý. Xét về bản chất, tổ chức hành
nghề công chứng, là một loại hình doanh nghiệp cung cấp “dịch vụ công
chứng”. Hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng hướng đến 3 lợi ích:
+ Lợi ích của nhà nước: Hoạt động công chứng là hoạt động bổ trợ tư
pháp và chịu sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước do hoạt động công
chứng gắn liền với việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ
chức khi tham gia các hợp đồng, giao dịch; hỗ trợ, bổ sung cho các hoạt
động quản lý nhà nước và hoạt động tư pháp nên được xếp vào hoạt động
bổ trợ tư pháp. Hoạt động công chứng là hoạt động mang tính dịch vụ pháp
lý đặc biệt. Công chứng viên là “công lại” được nhà nước uỷ quyền, thay
mặt cho nhà nước chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng,
giao dịch nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên khi giao kết
hợp đồng, phòng ngừa rủi ro, tranh chấp nên các tổ chức hành nghề công
chứng chịu sự quản lý, điều tiết chặt chẽ của nhà nước.
+ Lợi ích của các bên tham gia giao dịch: Việc xã hội hóa công chứng
đã tạo điều kiện thuận tiện cho người dân trong việc thực hiện các yêu cầu
công chứng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cá nhân, tổ chức, góp phần
phòng ngừa vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Đặc biệt, hoạt
động công chứng đã góp phần quan trọng vào việc phòng ngừa các tranh
chấp, khiếu nại trong lĩnh vực đất đai, nhà ở - lĩnh vực vốn phức tạp và

tiềm ẩn nhiều nguy cơ tranh chấp. Không thể phủ nhận công chứng là “lá
chắn” phòng ngừa hữu hiệu, đảm bảo an toàn pháp lý cho các hợp đồng,
giao dịch, tiết kiệm thời gian, chi phí cho xã hội, giảm thiểu công việc cho
Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp dân sự.
+ Lợi ích của phòng, văn phòng công chứng: được thu phí và thù lao
công chứng theo quy định khi thực hiện các hoạt động công chứng, nhưng

12


chủ yếu không vì lợi nhuận mà là đảm bảo cho các giao dịch tuân thủ đúng
pháp luật, đảm bảo an toàn cho các bên tham gia.
*Sự khác nhau giưa phòng công chứng và văn phòng công chứng
- Công chứng viên thuộc Phòng công chứng là công chức, viên chức
nhà nước được hưởng lương từ ngân sách
- Công chứng viên văn phòng công chứng không phải là công chức,
viên chức nhà nước vì vậy lương và các khoản thu nhập khác được trích từ
nguồn thu phí công chứng, thù lao công chứng và nguồn thu hợp pháp
khác từ hợp đồng công chứng. Nguồn tài chính của tổ chức hành nghề
công chứng:
Đối với Phòng công chứng là đơn vị sự nghiệp có thu, tự chủ về tài
chính
+ Kinh phí do nhà nước cấp
+ Kinh phí được trích lại từ hoạt động công chứng
+ Thù lao công chứng
Đối với văn phòng công chứng hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về
tài chính, tự chịu trách nhiệm về bồi thường thiệt hại cho khách hàng bằng
nguồn thu bao gồm:
+ Kinh phí đóng góp của công chứng viên
+ Phí công chứng

+ Thù lao công chứng
+ Các nguồn thu khác: là các khoản tiền mà văn phòng công chứng thu
từ việc người yêu cầu công chứng muốn ký ngoài trụ sở, xác minh hoặc
giám định...
Nếu như trước đây chỉ có một hình thức tổ chức hành nghề công
chứng duy nhất là Phòng công chứng nhà nước thì từ Luật công chứng
2006, có hai hình thức tổ chức hành nghề công chứng song hành hoạt động
dưới sự quản lý, giám sát của Sở Tư pháp là Phòng Công chứng do Ủy ban
13


nhân dân cấp tỉnh thành lập và Văn phòng công chứng do các công chứng
viên đứng ra thành lập, được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cho phép thành lập.
Hai tổ chức hành nghề công chứng này bình đẳng về chức năng, nhiệm vụ,
thẩm quyền ký văn bản công chứng. Quan hệ giữa người yêu cầu công
chứng với cả hai tổ chức hành nghề công chứng trên là quan hệ dân sự
mang tính chất dịch vụ có thu phí theo quy định của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền. Nhà nước quy định mức phí chung cho cả hai mô hình tổ chức
hành nghề công chứng. Việc làm và thu nhập của công chứng viên phụ
thuộc vào số lượng và chất lượng dịch vụ công chứng mà họ cung cấp cho
người yêu cầu công chứng. Nếu gây thiệt hại cho khách hàng thì công
chứng viên phải bồi thường thông qua tổ chức hành nghề công chứng.
Do đặc thù là tổ chức dịch vụ pháp lý nên cơ cấu tổ chức, hoạt động của tổ
chức hành nghề công chứng được quy định theo Luật công chứng; ngoài ra
với hình thức hoạt động Văn phòng công chứng còn được quy định trong
cả Luật doanh nghiệp. Điều này ứng với loại hình văn phòng công chứng.
Văn phòng công chứng hoạt động theo loại hình Công ty hợp danh, hoạt
động trên cơ sở tự chủ tài chính, hạch toán độc lập, tuy nhiên lại chịu sự
quản lý khắt khe và chặt chẽ hơn so với các công ty hợp danh thông
thường khác. Chẳng hạn như việc thành lập phải phù hợp với Quy hoạch

tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng do Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt hay việc xác định thuế, thuê lao động, kế toán… Theo quy định
của Luật Doanh nghiệp 2014, công ty hợp danh ngoài thành viên hợp danh
còn có thể có thêm thành viên góp vốn. Tuy nhiên, với quy định của Luật
công chứng 2014, Văn phòng công chứng được thành lập ít nhất phải có 2
công chứng viên hợp danh trở lên và không có thành viên góp vốn. Ở đây
có thể thấy được rằng nghề công chứng là nghề đòi hỏi có đạo đức nghề
nghiệp và sự tin tưởng lẫn nhau giữa các thành viên rất cao vì vậy Luật
Công chứng mới có quy định rằng phải là loại hình công ty hợp danh chứ
14


không có thành viên góp vốn. Văn phòng công chứng thành lập và hoạt
động theo quy định của Luật Doanh nghiệp ( từ Điều 172, 173, 174, 175,
176, 177, 178, 179, 180, 181):
a) Phải có ít nhất 02 thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng
nhau kinh doanh dưới một tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh).
Ngoài các thành viên hợp danh, công ty có thể có thêm thành viên góp
vốn;
b) Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài
sản của mình về các nghĩa vụ của công ty;
c) Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty
trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty.
– Về thành viên công ty hợp danh:
Công ty hợp danh có ít nhất hai thành viên là cá nhân thỏa thuận góp vốn
với nhau, cùng chịu trách nhiệm vô hạn và liên đới (gọi là thành viên hợp
danh).
– Về chế độ chịu trách nhiệm tài sản của các loại thành viên:
Thành viên hợp danh chịu trách nhiệm vô hạn và liên đới. các thành viên
hợp danh phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt

động kinh doanh của công ty. Trách nhiệm này không bị giới hạn đối với
bất kỳ thành viên nào. Nếu họ có thỏa thuận khác, lập tức công ty sẽ
chuyển sang thành công ty hợp vốn đơn giản.
- Về quyền quản lý, đại diện của công ty hợp danh
Về cơ bản, các thành viên hợp danh có quyền thỏa thuận về việc quản lý,
điều hành công ty. Trong quá trình hoạt động công ty, các thành viên hợp
danh đều có quyền đại diện theo pháp luật và tổ chức điều hành hoạt động
kinh doanh hàng ngày của công ty. Mọi hạn chế đối với thành viên hợp

15


danh trong thực hiện công việc kinh doanh hàng ngày của công ty chỉ có
hiệu lực đối với bên thứ ba khi người đó biết hết về hạn chế đó.
Theo quy định tại Điều 175 Luật doanh nghiệp 2014 thành viên hợp danh
bị hạn chế một số quyền đó là: Thành viên hợp danh không được làm chủ
doanh nghiệp tư nhân hoặc thành viên hợp danh của công ty hợp danh
khác, trừ trường hợp được sự nhất trí của các thành viên hợp danh còn
lại; Thành viên hợp danh không được quyền nhân danh cá nhân hoặc nhân
danh người khác thực hiện kinh doanh cùng ngành, nghề kinh doanh của
công ty đó để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác
– Về tư cách pháp lý: văn phòng công chứng có tư cách pháp nhân, có sự
tách bạch rõ ràng giữa tài sản của văn phòng và tài sản của các thành viên
trong văn phòng. Các thành viên phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài
sản góp vốn sang văn phòng và tài sản hình thành trong quá trình văn
phòng hoạt động là tài sản của văn phòng.
Tổ chức hành nghề công chứng thực hiện một số hoạt động có tính
chịu trách nhiệm cao hơn. Theo quy định của Luật công chứng 2014, công
chứng viên có quyền công chứng các hợp đồng, giao dịch về bất động sản
trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi tổ chức hành nghề

công chứng đặt trụ sở, trừ trường hợp công chứng di chúc, văn bản từ chối
nhận di sản là bất động sản và văn bản liên quan đến việc thực hiện đối với
bất động sản (Điều 42-Luật công chứng 2014); công chứng bản dịch (Điều
62-Luật công chứng 2014); các loại hợp đồng, giao dịch khác bằng văn
bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức
tự nguyện yêu cầu công chứng. Theo đó, mục đích của công chứng là đảm
bảo tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự; tính chính
xác, hợp pháp, không trái đạo đức, xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ
tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt.

16


Nội dung xác thực bao gồm: thời gian, địa điểm, tư cách chủ thể, mục đích,
nội dung thỏa thuận, ý chí tự nguyện. Đồng thời, trình tự, thủ tục công
chứng cũng được quy định chặt chẽ hơn, được thể hiện qua việc quá trình
công chứng được thực hiện qua nhiều công đoạn, mỗi công đoạn được thực
hiện qua nhiều bước nhỏ một cách tuần tự, không thêm bớt.
Ngoài ra công chứng viên của các tổ chức hành nghề công chứng được
chứng thực chữ ký, bản sao, bản dịch, cấp bản sao từ sổ gốc theo căn cứ
pháp lý như:
+ Luật Công chứng năm 2014 (có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm
2015);
+ Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16 tháng 02 năm 2015 của Chính
phủ về cấp bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp
đồng, giao dịch (có hiệu lực kể từ ngày 10 tháng 4 năm 2015);
+ Thông tư số 20/2015/TT-BTP ngày 29 tháng 12 năm 2015 của Bộ
trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều
của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16 tháng 02 năm 2015 của Chính
phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực

chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch (có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng
02 năm 2016);
+ Thông tư liên tịch số 115/2015/TTLT-BTC-BTP ngày 11 tháng 8
năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính và Bộ trưởng Bộ Tư pháp sửa đổi,
bổ sung một số điều của Thông tư liên tịch số 08/2012/TTLT-BTCBTC ngày 19 tháng 01 năm 2012 hướng dẫn về mức thu, chế độ thu, nộp,
quản lý và sử dụng phí công chứng (có hiệu lực kể từ ngày 29 tháng 9 năm
2015).

17


Kết luận chương 1
Thông qua chương 1 tác giả đã chỉ ra được sự hình thành của nghề
công chứng và sự phát triển theo từng giai đoạn lịch sử.Tiếp theo đó tác
giả giới thiệu những khái niệm về công chứng và tổ chức hành nghề công
chứng, ở đây có thể hiểu là hai mô hình phòng công chứng và văn phòng
công chứng. Cùng với những đặc điểm cụ thể trong việc hình thành, giải
thể, chuyển nhượng…giúp người đọc hiểu về tổ chức này.
Qua những cơ sở pháp lý đã nêu trong chương 1 cho thấy rằng ngành
công chứng rất được Đảng và nhà nước quan tâm, với những quy định của
Luật công chứng, của những nghị định hướng dẫn càng cho thấy vai trò
rộng lớn của công chứng trong điều kiện kinh tế hiện nay.Từ những luận
điểm trên có thể thấy rằng công chứng và tổ chức hành nghề công chứng
đã có những qui định cụ thể phù hợp với hoàn cảnh lịch sử hiện thời. Điều
đó cho thấy một nền tảng vững chắc của công chứng được xây dựng và
đến nay là tổ chức hành nghề công chứng đều có những qui định phù hợp
với xu thế chung của toàn xã hội và trên thế giới

18



CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TỔ CHỨC HÀNH
NGHỀ CÔNG CHỨNG
Theo quy định của Luật công chứng, tổ chức hành nghề công chứng
gồm có phòng công chứng và văn phòng công chứng.
Phòng công chứng là đơn vị sự nghiệp công lập được ủy ban nhân dân
cấp tỉnh thành lập, văn phòng công chứng được phép hoạt động sau khi
được ủy ban nhân dân cấp tỉnh cho phép và đăng ký hoạt động tại sở tư
pháp nơi dự kiến đặt trụ sở. Cả hai loại hình của tổ chức hành nghề công
chứng đều do sở tư pháp nơi có tổ chức hành nghề công chứng đặt trụ sở
quản lý. Việc thành lập các tổ chức nêu trên đều phải tuân thủ các nguyên
tắc chung đó là việc thành lập các tổ chức hành nghề công chứng phải phù
hợp với quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng do
thủ tướng phê duyệt ( điều 18 luật công chứng 2014)
Tuy nhiên nguyên tắc thành lập áp dụng cho mỗi loại hình của phòng
công chứng và văn phòng công chứng lại có những quy định riêng nhằm
đảm bảo phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội, phù hợp với cac quy định
khác của pháp luật, phù hợp với thực tiễn đáp ứng nhu cầu xã hội hóa hoạt
động công chứng đảm bảo phát huy tối đa yêu cầu cải cách hành chính,
đáp ứng kịp thời yêu cầu công chứng của tổ chức, cá nhân trong cac giao
dịch dân sự, kinh tế...trong tình hình hội nhập quốc tế.
2.1.Nguyên tắc thành lập, chuyển đổi, giải thể phòng công chứng
2.1.1 Nguyễn tắc thành lập
Trong xu thế hội nhập quốc tế, khắc phục những bất cập trước đây của
hoạt động công chứng, chứng thực theo tinh thần các cơ quan nhà nước
phải là người phục vụ nhân dân nhưng không có nghĩa là mọi việc đều phải
do cơ quan nhà nước thực hiện. Thực tế đã chứng minh việc xã hội hóa
hoạt động công chứng được thực hiện từ năm 2006 đã phát huy tác dụng
19



và đạt hiệu quả rất cao, thu hút được số đông lực lượng công chứng viên
tham gia, các văn phòng công chứng tăng lên đáng kể và chứng tỏ được vị
thế của mình trong hoạt động này ( phụ lục 01 kèm theo).Các tổ chức này
đã đáp ứng kịp thời yêu cầu công chứng của người dân, không còn cảnh xô
đẩy, chen chúc, xếp hàng đi coogn chứng như những năm trước đây khi
chưa có quy định về xã hội hóa hoạt động công chứng.
Tuy nhiên xét trên phương diện toàn cục thì các phòng công chứng do
nhà nước thành lập vẫn phát huy tính tích cực của nó trong bối cảnh điều
kiện kinh tế hiện nay, nhất là những nơi có điều kiện kinh tế xã hội khó
khăn, khi mà những nơi này kinh tế chưa phát triển thì các giao dịch dân sự
kinh tế còn rất hạn chế. Ở những nơi này việc phát triển các văn phòng
công chứng là rất khó khăn, có nơi không có văn phòng công chứng việc
xã hội hóa công chứng ở những địa bàn này còn nhiều bất cập. Nếu không
có giải pháp phù hợp về tổ chức hành nghề công chứng thì công chứng hợp
đồng, giao dịch dân sự, kinh tế ở những nơi này sẽ gặp nhiều khó khăn
trong việc ký kết hợp đồng giao dịch, việc phòng ngửa rủi ro trong giao
dịch dân sự ở nơi đây sẽ không thực hiện được. Vì vậy, việc duy trì và
thành lập phòng công chứng ở những nơi này là cần thiết. Mặt khác trong
bối cảnh cần giảm bớt gánh nặng cho nhà nước về biên chế, kinh phí trong
việc thành lập phòng công chứng tràn lan mà hoạt động công chứng vẫn
đáp ứng được yêu cầu của người dân ở vùng kinh tế khó khăn. Vì vậy luật
quy định “ phòng công chứng chỉ được thành lập mới tại những địa bàn
chưa có điều kiện phát triển văn phòng công chứng” ( điều 18). Quy định
này thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đới với hoạt động công
chứng, quan tâm đén vùng có điềukiện kinh tế khó khăn, phù hợp với ý chí
nguyện vọng của người dân nơi đó.
Để đảm bảo cho phòng công chứng hoạt động có hiệu quả sau khi
thành lập, luật quy định Nhà nước sẽ cấp trụ sở, con dấu và tài khoản riêng

20


cho phòng công chứng đó ( Điều 19). Đối với những vùng có kinh tế, xã
hội phát triển đủ điều kiện để xã hội hóa công chứng thì lúc này nhà nước
và chính phủ xem xét xem có thể thực hiện được chủ trương xã hội hóa
hay chưa, từ đó chuyển đổi mô hình phòng công chứng sang một hướng
khác vừa có lợi cho nhà nước vừa có lợi cho phòng công chứng.
Theo điều 25 luật công chứng 2006 để thành lập được phòng công
chứng thì cần có: Đề án nêu rõ về sự cần thiết thành lập, dự kiến về tổ
chức, tên gọi, nhân sự, địa điểm đặt trụ sở, các điều kiện vật chất và kế
hoạch triển khai thực hiện để trình Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét. Quết
định bổ nhiệm công chứng viên. Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày
có quyết định thành lập Phòng công chứng, Sở Tư pháp phải đăng báo
trung ương hoặc báo địa phương nơi quyết định thành lập trong ba số liên
tiếp.
2.1.2 Chuyển đổi phòng công chứng
Theo quy định của Luật công chứng 2014, Phòng công chứng chỉ dược
thành lập thại những địa bàn chưa có đủ điều kiện phát triển được Văn
phòng công chứng . Điều này được hiểu là các địa bản không thuộc vùng
có điều kiện kinh tế khó khăn thì không được phép thành lập phòng công
chứng. Đây là chính sách ưu tiên cho việc xã hội hóa hoạt động công
chứng, từng bước chuyển đổi hoạt động công chứng từ nhà nước cho xã
hội đảm nhận. Đây là một trong những điểm mới của Luật công chứng
2014 do với Luật công chứng 2006.
Điều 21 Luật công chứng 2014 quy định trong trường hợp không cần
thiết duy trì Phòng công chứng thì Sở Tư pháp lập đề án chuyển đổi Phòng
công chứng thành Văn phòng công chứng. “Trường hợp không cần thiết” ở
đây được hiểu là các trường hợp được quy định tại Điều 5, Mục 1, Chương
II, Nghị định 29/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một

số điều của Luật công chứng, cụ thể:
21


- Các địa bản cấp huyện đã thành lập đủ số tổ chức hành nghề
công chứng theo Quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề
công chứng đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và số lượng
Văn phòng công chứng nhiều hơn số lượng Phòng công chứng.
- Các địa bàn cấp huyện chưa thành lập đủ số tổ chức hành
nghề công chứng theo Quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành
nghề công chứng đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, nhưng có
ít nhất 02 Văn phòng công chứng đã hoạt động ổn định từ 02 năm trở
lên, kể ngày đăng ký hoạt động.
Sở tư pháp nơi có phòng công chứng đang dặt trụ sở sẽ lập đề án để
trình ủy ban nhân dân xem xét xem có thể chuyển đổi phòng sang mô hình
khác không. Đây cũng là một hướng đi mới trong quá trình xã hội hóa hoạt
động công chứng. Tuy nhiên, với định hướng tăng cường xã hội hóa các tổ
chức hành nghề công chứng, tiến tới chỉ còn một hình thức tổ chức hành
nghề công chứng là Văn phòng công chứng, đồng thời tránh lãng phí ngân
sách, chi phí, thời gian của cả cơ quan quản lý nhà nước và cá nhân trong
việc thành lập mới các tổ chức hành nghề công chứng, khoản 1- Điều 21
Luật công chứng 2014 quy định về vấn đề chuyển đổi Phòng công chứng
thành Văn phòng công chứng.
Điều 21. Chuyển đổi, giải thể Phòng công chứng
1. Trong trường hợp không cần thiết duy trì Phòng công chứng thì Sở Tư
pháp lập đề án chuyển đổi Phòng công chứng thành Văn phòng công
chứng trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định.
Chính phủ quy định chi tiết việc chuyển đổi Phòng công chứng thành Văn
phòng công chứng.
“Chuyển đổi” - đây là một cách xã hội hóa hoạt động công chứng trển

cơ sở tổ chức công chứng của nhà nước, vừa giúp nhà nước trút bớt gánh
nặng về tài chính và nhân sự, tất cả được có trong Chương II, Mục 1, Điều
22


×