Tải bản đầy đủ (.pdf) (26 trang)

Thực hiện chính sách phảt triển đô thị bền vững từ thực tiễn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (tt)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (340.01 KB, 26 trang )

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN TIẾN VINH

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
ĐÔ THỊ BỀN VỮNG TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 60 34 04 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2017


Công trình được hoàn thành tại
Học viện Khoa học Xã hội

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. TRẦN MINH ĐỨC

Phản biện 1: .............................................................
Phản biện 2: ..............................................................

Luận văn sẽ được bảo vệ trước hội đồng chấm luận văn
thạc sĩ họp tại Học viện khoa học xã hội ....... giờ ...... ngày ......
tháng ..... năm 2017.

Có thể tìm hiểu luận văn tại


Thư viện Học viện Khoa học Xã hội


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển đô thị là qui luật của tất cả các nước muốn phát triển
nhằm tiến tới một xã hội văn minh và hiện đại. Đặc biệt trong thời
gian qua, tốc độ đô thị hóa trên toàn cầu đã tăng lên đáng kể theo số
liệu thống kê là 35%. Hệ thống đô thị là kết quả tất yếu của quá trình
phát triển kinh tế-xã hội, đặc biệt gắn bó hữu cơ với các cuộc cách
mạng phát triển công nghiệp, cách mạng khoa học và kỹ thuật. Vì
vậy,vai trò của hệ thống đô thị trong quá trình phát triển lãnh thổ thể
hiện khác nhau theo từng giai đoạn lịch sử. Tại Việt Nam, từ 450 đô
thị lớn nhỏ đến nay đã phát triển thành gần 800 đô thị. Trong đó, có 2
đô thị loại đặc biệt (Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh), 13 đô thị loại
1 trong đó có 03 thành phố trực thuộc Trung ương (Hải Phòng, Đà
Nang, Cần Thơ) và 10 thành phố trực thuộc tỉnh, 10 đô thị loại II còn
lại là các đô thị loại III, IV và V. Tuy vậy, việc xếp loại đô thị vẫn
còn nhiều tiêu chí chưa đáp ứng như quy mô đô thị, kinh tế - xã hội,
cơ cấu kinh tế, hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật...
Thành phố Tam Kỳ là một đô thị trực thuộc tỉnh Quảng Nam.
Tam Kỳ trong những năm qua đã thực hiện chủ trương gắn phát triển
kinh tế với phát triển quy hoạch đô thị, giải quyết các vấn đề xã hội,
thực hiện chính sách an sinh xã hội, quan tâm nhân tố con người.., và
đã đạt được những kết quả tích cực. Lãnh đạo thành phố Tam Kỳ
luôn coi trọng công tác quản lý, phát triển quy hoạch đô thị. Thành
phố Tam Kỳ đang xây dựng thành phố môi trường nhằm hướng tới
phát triển đô thị bền vững, thành phố đang ra sức thực hiện xây dựng
thành phố xanh, có nếp sống văn minh đô thị- đạt được một số kết
quả bước đầu...đã góp phần vào việc hiện thực hóa mục tiêu phấn đấu

xây dựng Tam Kỳ trở thành “một thành phố xanh và đáng sống”[7],
1


một thành phố có môi trường đô thị văn minh và giàu tính nhân văn,
có thiên nhiên trong lành và đời sống văn hóa cao, làm giàu bằng
kinh tế tri thức; một trong những thành phố hài hòa, thân thiện, ...
Thành phố Tam Kỳ nằm cách thành phố Đà Nẵng 70 Km về
phía Nam, cách sân bay Chu Lai, cảng Kỳ Hà 25Km và cách khu
công nghiệp lọc dầu Dung Quất khoảng 40 Km về phía Bắc. Thành
phố Tam Kỳ có vị trí đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Nam. Với tiềm năng địa thế đặc thù,
gần các vùng kinh tế trọng điểm và sân bay Chu Lai, Tam Kỳ có
được điều kiện thuận lợi để phát triển một đô thị lớn với vai trò là
thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Nam.
Do chuyển dịch cơ cấu kinh tế, Quảng Nam định hướng "đô thị
hướng ra biển, kéo dài bờ sông và bờ biển”, thành phố Tam Kỳ có
địa thế 03 núi, 03 sông và giáp biển nên định hướng phát triển đô thị
bền vững thành phố Tam Kỳ rất quan trọng vì nó có tính bao trùm và
quyết định tính bền vững đô thị trong phát triển. Mặc dù đô thị ngày
càng xuất hiện nhiều hơn trong xã hội văn minh, nhưng sự hiểu biết
của con người về đô thị và đô thị hóa vẫn còn ít ỏi. Và trong bối cảnh
đó, vấn đề phát triển đô thị bền vững vẫn còn nằm ở phía trước, đặt
ra những vấn đề cần giải quyết với thế giới quan khoa học.Và thực tế
vẫn còn rất nhiều vấn đề đang tồn tại trong các khu đô thị. Đó là tình
trạng hệ thống hạ tầng cơ sở thiếu đồng bộ, mật độ xây dựng quá dày,
thiếu các tiện ích xã hội như siêu thị, trung tâm chăm sóc sức khỏe,
công viên, trường học, hệ thống giao thông công cộng, ô nhiễm môi
trường nước, không khí, thu gom và xử lý rác thải... và nhiều vấn đề
khác liên quan đến công tác quản lý.

Xuất phát từ thực tế phát triển các đô thị hiện nay, còn rất
nhiều vần đề bất cập như đã nêu. Chỉ có con đường duy nhất để cải
thiện tình trạng trên là phát triển đô thị bền vững. Phát triển đô thị
2


bền vững là mục tiêu mà các quốc gia đang hướng tới trong đó có
Việt Nam.
Để các đô thị thực sự phát triển bền vững, cần có những nghiên
cứu, đánh giá hiện trạng phát triển, từ đó tìm ra các vấn đề còn bất
cập để có hướng phát triển trong tương lai. Do đó, việc nghiên cứu
thực trạng phát triển bền vững các đô thị để từ đó đề xuất các giải
pháp, biện pháp phát triển đô thị bền vững trên địa bàn thành phố
Tam Kỳ là hết sức cần thiết. Với mong muốn đóng góp vào việc giải
quyết một vấn đề cấp bách của thực tiễn hiện nay về phát triển đô thị
bền vững mà tác giả lựa chọn đề tài “ Thực hiện chính sách phảt triển
đô thị bền vững từ thực tiễn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam” để
nghiên cứu làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành Chính sách công trải
qua quá trình học tập tại Học viện Khoa học xã hội.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Chính sách phát triển đô thị bền vững không phải là một vấn
đề mới mẻ mà được nhắc đến nhiều đề tài nghiên cứu, đặc biệt là
trong những năm gần đây việc đô thị hoá trên cả nước ngày càng mở
rộng. Diện tích độ thị của thành phố Tam Kỳ liên tục mở rộng với tốc
độ đô thị hóa cao, diện mạo đô thị ngày một khang trang với hệ thống
kết cấu hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạ tầng xã hội được đầu tư cả về số
lượng lẫn chất lượng, đem lại cho Tam Kỳ một tầm vóc mới cả về
không gian lẫn chất lượng đô thị, thay da đổi thịt nhờ tốc độ đô thị
hóa trong những năm qua và hiện nay vẫn còn tiếp tục thay đổi để
phát triển vươn lên.

Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu một
cách có hệ thống, sâu sát, đầy đủ về cơ chế, chính sách về quản lý quy
hoạch phát triển đô thị trong quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá ở
thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Xuất phát từ lý do trên tôi chọn
đề tài này làm luận văn thạc sĩ của minh. Đề tài luận văn thực hiện có
3


sự kế thừa, phát triển những thành quả của các tài liệu liên quan trước
đó để đánh giá, phân tích, từ đó đề xuất ra các giải pháp phù hợp với
tình hình thực tế và chủ trương phát triển kỉnh tế - xã hội của Thành
phố trong những năm đến.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về thực hiện chính
sách phát triển đô thị và chính sách phát triển đô thị bền vững ở Việt
Nam, ở tỉnh Quảng Nam, luận văn phân tích thực trạng thực hiện
chính sách phát triển đô thị bền vững tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh
Quảng Nam, chỉ ra nhu cầu và xu hướng phát triển đô thị bền vững ở
thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam hiện nay. Trên cơ sở đó, đề xuất
các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách phát triển đô thị bền
vững tại thành phố Tam Kỳ trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về thực hiện chính sách phát triển
đô thị bền vững, tổng quan và nhận xét chính sách hiện hành về phát
triển đô thị ở Việt Nam.
- Vận dụng lý thuyết về chính sách công để nghiên cứu chính
sách phát triển đô thị bền vững qua thực tiễn thành phố Tam Kỳ, tỉnh
Quảng Nam.
- Nghiên cứu đưa ra giải pháp nhằm tăng cường thực hiện

chính sách phát triển đô thị bền vững tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh
Quảng Nam phù hợp với điều kiện thực tế đáp ứng nhu cầu phát
triển, cũng như yêu cầu và vị trí, vai trò của thành phố đối với tỉnh,
đối với vùng và quốc gia.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Thực hiện chính sách phát triển đô thị, cụ thể là nghiên cứu
4


giải pháp tăng cường thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam về tình
hình thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững kể từ năm 2006
đến năm 2016.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn nghiên cứu và vận dụng cách tiếp cận đa ngành, liên
ngành xã hội học, quản lý học và đô thị học; vận dụng phương pháp
luận và lý thuyết về chính sách công. Đó là cách tiếp cận quy phạm
chính sách công về chu trình chính sách từ hoạch định đến xây dựng,
thực hiện và đánh giá chính sách công có sự tham gia của các chủ thể
chính sách. Lý thuyết chính sách công được soi sáng qua thực tiễn
của chính sách công giúp hình thành lý luận về chính sách chuyên
ngành.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập thông tin: Phương pháp phân tích và
tổng hợp, thống kê và so sánh... được sử dụng để thu thập, phân tích
và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên
cứu, bao gồm các văn kiện, Nghị quyết, quyết định của Đảng, Nhà

nước, bộ ngành ở Trung ương và địa phương; các tài liệu, công trình
nghiên cứu, các báo cáo, thống kê của chính quyền, ban ngành đoàn
thể, tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề
chính sách phát triển đô thị bền vững ở nước ta nói chung và thực tế
thành phố Tam Kỳ nói riêng. Đồng thời, thu thập các tài liệu của các
tổ chức và học giả quốc tế liên quan đến đề tài trong thời gian qua.
- Phương pháp phỏng vấn sâu, điều tra bằng bảng hỏi (nếu có):
Phỏng vấn sâu là là phương pháp đối thoại với một đối tượng nhằm
thu thập thông tin. Sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (nếu
5


có) đối với đối tượng là nhà quản lý, giới chức, cán bộ, doanh nghiệp,
người dân sở tại...
- Phương pháp thực địa: Khảo sát tình hình thực tế hoạt động
đô thị tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
6. Ý nghĩa của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Góp phần nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận về thực
hiện chính sách phát triển đô thị bền vững làm cơ sở định hình cho
việc đề xuất các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách phát triển
đô thị bền vững nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả chính sách đã
ban hành.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Cung cấp những vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc vận
dụng các lý thuyết về chính sách công để xem xét giữa lý thuyết và
thực tiễn về thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững tại thành
phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam để từ đó nâng cao hiệu quả chất lượng
của chính sách phát triển đô thị trong thực tiễn những năm tiếp theo.
7. Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và
phụ lục, luận văn có kết cấu bao gồm 3 chương, 10 tiết.
Chương 1. Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách phát
triển đô thị bền vững.
Chương 2. Thực trạng thực hiện chính sách phát triển đô thị
bền vững tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
Chương 3. Một số giải pháp tăng cường thực hiện chính sách
phát triển đô thị bền vững từ thực tiễn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng
Nam.

6


CHƢƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH
SÁCH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN VỮNG
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thực hiện chính sách
phát triển đô thị bền vững
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm thực hiện chính sách PTĐTBV
Đô thị được hiểu “Nơi dân cư đông đúc, là trung tâm thương
nghiệp và có thể cả công nghiệp; thành phố hoặc thị trấn”.
Ngày nay, đô thị đã trở thành một không gian cư trú của dân
cư, là kết quả tất yếu của một quá trình phát triển kinh tế - xã hội,
đóng vai trò là trung tâm tổng hợp hoặc về một số mặt : hành chính,
kinh tế - xã hội...của một vùng hoặc quốc gia, biểu hiện của nó là sự
tập trung dân cư với mật độ cao với lối sống đô thị và các hoạt động
phi nông nghiệp chiếm ưu thế, có cơ sở hạ tầng phát triển ngày càng
hiện đại,...
Phát triển là khái niệm dùng để sự tăng lên về quy mô, sự thay
đổi tích cực về cơ cấu, tạo ra các khả năng khai thác nguồn lực cho

phát triển và qua đó cải thiện cuộc sống của con người
Theo Liên hợp quốc, "phát triển bền vững" được định
nghĩa "là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại,
nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ
mai sau"; là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài
hoà giữa 3 mặt của sự phát triển.
Quan niệm đầy đủ về đô thị bền vững trong quá trình phát triển
là : khi nó đạt được sự thống nhất trong một khuôn khổ bền vững cả
ba mặt kinh tế, xã hội và môi trường nhằm nâng cao chất lượng sống
của thế hệ hiện tại mà không làm ảnh hưởng tới các nhu cầu phát
triển của thế hệ lương lai.
7


Chính sách phát triển đô thị bền vững được hiểu là tập hợp các
quyết định chính trị có liên quan của Nhà nước về PTĐTBV nhằm
lưạ chọn các mục tiêu cụ thể, giải pháp và công cụ chính sách để giải
quyết vấn đề về PTĐTBV theo mục tiêu tổng thể của Đảng và Nhà
nước đã xác định.
Tổ chức thực hiện chính sách là toàn bộ quá trình hoạt động
của các chủ thể theo các cách thức khác nhau nhằm hiện thực hóa nội
dung chính sách công một cách hiệu quả.
Từ cách tiếp cận về đô thị, phát triển, phát triển đô thị bền
vững, chính sách PTĐTBV và tổ chức thực hiện PTĐTBV ở Việt
nam như nêu trên, có thể hiểu khái niệm về thực hiện CSPTĐTBV ở
Việt Nam như sau:
Thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững là toàn bộ quá
trình hoạt động của các chủ thể bằng các cách thức khác nhau nhằm
hiện thực hóa các quyết định chính trị có liên quan của Nhà nước về
PTĐTBV, với các mục tiêu cụ thể, giải pháp và công cụ chính sách

để giải quyết vấn đề về PTĐTBV theo mục tiêu tổng thể của Đảng và
Nhà nước đã xác định thành hiện thực trong đời sống xã hội.
* Thực hiện chính sách PTĐTBV có những đặc điểm sau:
Tổ chức thực hiện chính sách công nói chung, chính sách phát
triển đô thị bền vững nói riêng là khâu hợp thành chu trình chính
sách, nếu thiếu vắng công đoạn này thì chu trình chính sách không
thể tồn tại. Tổ chức thực hiện chính sách công là trung tâm kết nối
các bước trong chu trình chính sách công thành một hệ thống, nhất là
với hoạch định chính sách. So với các khâu khác trong chu trình
chính sách, tổ chức thực hiện có vị trí đặc biệt quan trọng, vì đây là
bước hiện thực hóa chính sách trong đời sống xã hội.
1.1.2. Vai trò của thực hiện chính sách PTĐTBV
Nếu đưa vào thực hiện một chính sách PTĐTBV tốt không
8


những mang lại lợi ích to lớn cho các nhóm đối tượng thụ hưởng, mà
còn góp phần làm tăng uy tín của nhà nước trong quá trình quản lý xã
hội cũng như phát triển đô thị một cách bền vững. Tuy nhiên, để có
được một chính sách PTĐTBV tốt, các nhà hoạch định phải trải qua
một quá trình nghiên cứu, tìm kiếm rất công phu. Nhưng dù tốt đến
đâu thì chính sách cũng trở thành vô nghĩa nếu nó không được đưa
vào thực hiện. Tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền
vững phải đáp ứng các yêu cầu sau:
-Bảo đảm thực hiện mục tiêu chính sách PTĐTBV.
-Bảo đảm tính hệ thống trong thực hiện CSPTĐTBV.
-Bảo đảm tính khoa học và pháp lý trong tổ chức thực hiện
chính sách PTĐTBV.
-Bảo đảm hài hòa lợi ích cho các đối tượng thụ hưởng.
1.2.Nội dung thực hiện chính sách PTĐTBV

1.2.1. Vấn đề CSPTĐTBV ở nước ta hiện nay
Sự phát triển đô thị nhanh tại Việt Nam đang bộc lộ những hạn
chế, đặc biệt là thiếu đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật, vấn đề giao thông,
nhà ở và tình trạng ô nhiễm môi trường đô thị. Quy hoạch đô thị hiện
vẫn chưa đạt được vai trò quan trọng trong dẫn đường cho phát triển,
bởi các đô thị có xu hướng phát triển tự phát nhiều hơn là dựa theo
đúng quy hoạch. Tình trạng PTĐT và ĐT hoá hiện nay chưa thể hiện
rõ bản sắc địa phương của vùng, miền và đặc điểm khí hậu và ít
nhiều tạo sự cách biệt giữa đô thị và nông thôn.
1.2.2. Mục tiêu thực hiện chính sách PTĐTBV
Quan điểm phát triển bền vững đã được khẳng định trong Chỉ
thị số 36-CT/TW ngày 25 tháng 6 năm 1998 của Bộ Chính trị về tăng
cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước, trong đó nhấn mạnh: "Bảo vệ môi trường là
một nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối, chủ trương
9


và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của tất cả các cấp, các ngành, là
cơ sở quan trọng bảo đảm phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước".
Theo hệ tiêu chí Phát triển đô thị bền vững thuộc Chương trình
Thiên niên kỷ 21 do UNPD tài trợ, đã đề xuất 10 nhóm tiêu chí bền
vững trong quá trình đô thị hóa:
1-Phân bố và quy hoạch đô thị phù hợp với các vùng địa lý và
điều kiện sinh thái tự nhiên, bảo vệ môi trường;
2-Nền kinh tế đô thị phát triển ổn định và bền vững nhằm tạo
sự phát triển đô thị bền vững, ổn định cho mọi thành phần kinh tế và
mọi người dân đô thị;
3-Trình độ dân trí đô thị và nguồn lực PT đủ mạnh;

4-Trình độ quản lý PTĐT đủ mạnh và bền vững;
5-DVĐT đáp ứng yêu cầu cuộc sống ĐT ngày càng cao;
6-Cơ sở hạ tầng xã hội đô thị đầy đủ, ổn định và PTBV
7-Cơ sở hạ tầng kỹ thuật ĐT đầy đủ, ổn định và PTBV;
8-Lồng ghép quy hoạch môi trường trong quy hoạch ĐT;
9-Huy động sự tham gia của cộng đồng người dân đô thị trong
công tác qui hoạch, phát triển và quản lý đô thị;
10-Hợp tác, phối hợp điều hành vùng hợp lý, hiệu quả, cùng có
lợi và phát triển.
1.2.3. Chủ thể thực hiện chính sách phát triển đô thị bền
vững
Chủ thể tổ chức thực hiện chính sách PTĐTBV ở nước ta bao
gồm : Quốc hội, Chính phủ, các tổ chức kinh tế, xã hội, chính trị và
các tầng lớp nhân dân.
1.2.4.Môi trường thể chế chính sách PTĐTBV
Thể chế giúp cho mọi hoạt động của đời sống xã hội diễn ra có
trật tự theo một hệ thống nhất định, Vì vậy, hệ thống thể chế thống
10


nhất từ Trung ương đến địa phương là nền tảng tạo lập môi trường
thể chế chính sách PTĐTBV.
1.3. Các bƣớc tổ chức thực hiện chính sách PTĐTBV
1.3.1. Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách
PTĐTBV
Tổ chức thực hiện chính sách PTĐTBV là quá trình phức tạp,
diễn ra trong thời gian dài, vì thế chúng cần được lập kế hoạch,
chương trình để các cơ quan nhà nước triển khai thực hiện chính sách
một cách chủ động hoàn toàn.
1.3.2. Phổ biến, tuyên truyền chính sách PTĐTBV

Phổ biến, tuyên truyền chính sách tốt giúp cho các đối tượng
chính sách và người dân tham gia thực hiện hiểu rõ về mục đích, yêu
cầu của chính sách; về tính đúng đắn của chính sách trong điều kiện
hoàn cảnh nhất định và về tính khả thi của chính sách...để họ tự giác
thực hiện theo yêu cầu quản lý của nhà nước.
1.3.3. Phân công, phối hợp thực hiện CSPTĐTBV
Chính sách PTĐTBV được thực hiện trên phạm vi rộng lớn, tối
thiểu cũng là một địa phương...Vì vậy, để tổ chức thực hiện chính
sách có hiệu quả cần phải tiến hành phân công, phối hợp giữa các cơ
quan quản lý ngành, các cấp chính quyền địa phương.
1.3.4. Duy trì chính sách PTĐTBV
Duy trì chính sách PTĐTBV là hoạt động bảo đảm cho chính
sách tồn tại và phát huy được tác dụng trong môi trường thực tế.
1.3.5.Điều chỉnh chính sách PTĐTBV
Điều chỉnh để chính sách phù hợp với yêu cầu quản lý và tình
hình thực tế. Việc điều chỉnh, bổ sung chính sách PTĐTBV phải
được cơ quan có thẩm quyền ban hành chính sách xem xét, quyết
định; có thể điều chỉnh biện pháp, cơ chế thực hiện và các nội dung
khác, nhưng không được làm thay đổi mục tiêu chính sách, nếu thay
11


đổi mục tiêu coi như chính sách thất bại.
1.3.6. Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách
PTĐTBV
Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách giúp kịp
thời bổ sung hoàn thiện chính sách; là hoạt động của cơ quan, cán bộ,
công chức có thẩm quyền thực hiện thông qua các công cụ hữu ích
nhằm làm cho các chủ thể thực thi nêu cao ý thức trách nhiệm trong
thực hiện các biện pháp theo định hướng chính sách.

1.3.7.Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm thực hiện chính
sách PTĐTBV
Tổ chức thực hiện chính sách công nói chung cũng như chính
sách PTĐTBV phải được tiến hành liên tục trong thời gian duy trì
chính sách. Trong quá trình đó người ta có thể đánh giá từng phần
hay toàn bộ kết quả thực hiện chính sách, trong đó đánh giá toàn bộ
được thực hiện sau khi kết thúc chính sách.
1.4. Những yếu tố ảnh hƣởng đến thực hiện CSPTĐTBV
1.4.1. Tính chất của vấn đề chính sách PTĐTBV
1.4.2. Môi trường thực hiện chính sách PTĐTBV
1.4.3. Mối quan hệ giữa các đối tượng thực hiện
1.4.4.Tiềm lực của các nhóm đối tượng CSPTĐTBV
1.4.5.Đặc tính của đối tượng CSPTĐTBV
1.4.6. Năng lực thực hiện CSPTĐTBV của CB,CC
1.4.7.Mức độ tuân thủ các bước trong quy trình TCTH
1.4.8. Các điều kiện vật chất để thực hiện CSPTĐTBV
1.4.9. Sự đồng tình, ủng hộ của người dân

12


CHƢƠNG 2
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
ĐÔ THỊ BỀN VỮNG TẠI THÀNH PHỐ TAM KỲ,
TỈNH QUẢNG NAM
2.1. Các đặc điểm tự nhiên của thành phố Tam Kỳ, tỉnh
Quảng Nam ảnh hƣởng đến thực hiện chính sách PTĐTBV
Tam Kỳ là thành phố trực thuộc tỉnh, nằm về phía nam của
tỉnh Quảng Nam cách thành phố Đà Nẵng 70 km, cách sân bay Chu
Lai, cảng Kỳ Hà 25 Km và cách khu công nghiệp và nhà máy lọc dầu

Dung Quất khoảng 40 km về phía Bắc, có địa hình thiên nhiên khá
phong phú vừa có sông, vừa có núi, vừa giáp biển và có vị trí khá
thuận lợi cho giao lưu kinh tế và phát triển văn hóa theo hướng mở.
-Tài nguyên đất: theo thống kê đất đai đến năm 2015, tổng
diện tích thành phố Tam Kỳ là 9.281,9 ha.
-Tài nguyên biển:Tam Kỳ có bờ biển dài khoảng 8 km, có
nhiều bãi tắm đẹp nước trong xanh với đặc điểm của biển ngang kết
hợp cảnh quan thiên nhiên kỳ thú và giá trị được nâng lên nhiều lần
bởi các bãi tắm không xa trung tâm thành phố, có vai trò rất lớn cho
phát triển du lịch và nghỉ dưỡng.
- Tài nguyên du lịch:Điều kiện tự nhiên, thiên nhiên cũng ưu
đãi đặc biệt cho thành phố Tam Kỳ với hệ sinh thái khá đa dạng,
phong phú; các sông, hồ, đầm, đồi núi, rừng cây tự nhiên xanh tươi
bao quanh như: sông Đầm, Bàn Thạch, Tam Kỳ, Trường Giang; núi
Trà Cai, An Hà, núi Cấm và các dãy đồi nằm ở phía đông...Công
trình văn hóa, di sản quốc gia cấp tỉnh như: Văn thánh Khổng miếu,
địa đạo Kỳ Anh, tượng đài Mẹ Việt Nam anh hùng...
-Dân số:Đến năm 2015, dân số trung bình thành phố có
112.801 người, bao gồm 9 phường và 4 xã. Thành thị có 84.600
người chiếm 75,5% tổng dân số thành phố; nông thôn có 28.201%
13


chiếm 24,5% tổng dân số thành phố. Mật độ dân số thành phố năm
2006 là 1.150 người/km2, đến năm 2015 tăng lên là 1.215
người/km2.
2.2. Hệ thống chính sách phát triển đô thị bền vững tại
thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam
Trên nền tảng cơ bản đường lối của Đảng và chính sách, pháp
luật của Nhà nước, đặc biệt là Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt

Nam năm 1992 và 2013 cùng với hệ thống pháp luật nước ta đã đặt
cơ sở pháp lý cho thể chế chính sách phát triển đô thị tại tỉnh Quảng
Nam và thành phố Tam Kỳ được thiết lập. Nghị quyết Trung ương
4(khóa XI) của Đảng về “ Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng
bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng
hiện đại vào năm 2020”, Chương trình hành động số 15-CTr/TU
ngày 24/8/2012 của Tỉnh ủy Quảng Nam thực hiện Nghị quyết Trung
ương 4 (khóa XI).
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã thấy được tầm
quan trọng của vấn đề phát triển đô thị nên đã ban hành khung pháp
luật liên quan như Luật Xây Dựng- 2003, Luật Đất đai 2003; Luật
Bảo Vệ Môi Trường - 2005; Luật Đầu tư - 2005; Luật Quỵ hoạch đô
thị -2009... Các nghị định, thông tư đã hoàn thiện khung pháp lý góp
phần phát triển đô thị ngày càng đi vào khuôn khổ. Trên cơ sở thể
chế hóa và cụ thể hóa hệ thống chính sách, pháp luật về phát triển đô
thị nói chung, tỉnh Quảng Nam, đặc biệt là thành phố Tam Kỳ đã ban
hành và triển khai chính sách liên quan phát triển đô thị bền vững.
2.3. Thực trạng thực hiện CSPTĐTBV tại thành phố Tam
Kỳ, tỉnh Quảng Nam
2.3.1.Kết quả thực hiện mục tiêu chính sách phát triển đô thị
bền vững tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam
Trong những năm qua, Tam Kỳ đã được đầu tư nâng cấp, mở
14


rộng cả về quy mô, tính chất, chất lượng đô thị đáp ứng yêu cầu phát
triển. Kết cấu hạ tầng được quan tâm đúng mức, nhiều công trình
trọng điểm xây dựng hoàn thành và đưa vào sử dụng, đã có những
công trình tạo điểm nhấn về kiến trúc và cảnh quan. Hệ thống giao
thông đô thị không ngừng được mở rộng, hoàn thiện.

*Về phát triển kinh tế:
Trong giai đoạn 2010 -2015, kinh tế thành phố có tốc độ tăng
trưởng khá năm 2010 tổng GTSX (giá 2010) đạt 7.171 tỷ đồng; năm
2015 đạt 13.947, 8 tỷ đồng, tăng 1,94 lần so với năm 2010); hoạt
động xúc tiến đầu tư có nhiều chuyển biến tích cực, thu hút được
nhiều doanh nghiệp lớn đầu tư. Thu nhập bình quân đầu người năm
2015 đạt: 31,497 triệu đồng/người; GRDP/người đạt 2.557 USD,
tăng gấp 2,59 lần so với năm 2010.
Hạ tầng các khu, cụm công nghiệp được quan tâm đầu tư như:
đường trục chính và vệt công nghiệp dọc 2 bên đường khu công
nghiệp Thuận Yên bước đầu thu hút được 12 doanh nghiệp vào hoạt
động. Cụm công nghiệp Trường Xuân có 18 doanh nghiệp hoạt động
và đang xúc tiến sắp xếp lại một số doanh nghiệp.
* Về phát triển xã hội:
Hạ tầng cơ sở của thành phố ngày càng hiện đại, văn minh.
Văn hóa – xã hội được chú trọng, triển khai thực hiện tốt, có nhiều
tiến bộ, an sinh xã hội được đảm bảo, đời sống vật chất, tinh thần của
người dân ngày càng được cải thiện; sự nghiệp giáo dục-đào tạo và
khoa học-công nghệ ngày càng phát triển.
Công tác quản lý quy hoạch: thành phố tập trung thực hiện
đồng bộ các quy hoạch đô thị và sử dụng đất. Đặc biệt năm 2014 đã
hoàn thành và công bố đồ án Quy hoạch chung thành phố Tam Kỳ
đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 với chất lượng cao, làm nền
tảng cơ bản để tiếp tục xây dựng thành phố Tam Kỳ theo hướng đô
15


thị xanh.
* Về bảo vệ môi trường:
Trong những năm qua, công tác vệ sinh môi trường được duy

trì thường xuyên trên địa bàn thành phố, thường xuyên tổ chức các
đợt ra quân vì một đô thị Xanh - Sạch - Đẹp. Đến nay, tỷ lệ người
dân được cung cấp nước sạch, sử dụng cho nhu cầu sinh hoạt hằng
ngày của nhân dân đạt 100%, tỷ lệ thu gom rác thải sinh hoạt đạt
98%, tỷ lệ thu gom rác thải sinh hoạt, rác thải y tế và nguy hại đạt
trên 90%, vấn đề ô nhiễm môi trường được các ngành, các cấp thành
phố và phường quan tâm giải quyết triệt để.
2.3.2. Thực trạng năng lực quản lý tổ chức thực hiện
CSPTĐTBV
UBND thành phố với chức năng quản lý nhà nước mọi mặt của
đời sống KT-XH trên toàn địa bàn thành phố, trong đó bao hàm cả
lĩnh vực phát triển đô thị bền vững, đảm bảo tính thống nhất của pháp
luật, tạo điều kiện thuận lợi khuyến khích các thành phần kinh tế phát
triển và thu hút đầu tư nước ngoài.Các phòng, ban căn cứ chức năng
và nhiệm vụ của mình được quy định tại Nghị định 37/2014/NĐ-CP
ngày 05 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ về quy định các cơ quan
chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.
Phối hợp thực hiện chính sách PTĐTBV trên địa bàn thành phố.
Công tác quản lý, điều hành của chính quyền ngày càng hiệu
lực, hiệu quả, tạo được niềm tin trong nhân dân; cải cách hành chính
được tập trung chỉ đạo quyết liệt và đạt được nhiều kết quả, mức độ
hài lòng của người dân ngày càng được nâng lên, chỉ số hài lòng đạt
trên 85%.
Công tác đào tạo được chú trọng cả về chính trị, chuyên môn,
nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học. Đến năm 2015, tỷ lệ cán bộ, công chức
xã, phường đạt 03 chuẩn tỷ lệ 93%, tăng 45% so với năm 2010; 98%
16


cấp trưởng, cấp phó phòng và tương đương ở thành phố có trình độ

chuyên môn đại học trở lên và có trên 80% có trình độ cao cấp, cử
nhân chính trị.
2.3.3. Tình hình các nguồn lực thực hiện chính sách phát
triển đô thị bền vững tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam
*Về phát triển hạ tầng kỹ thuật đô thị :
Hệ thống giao thông đã được đầu tư triển khai theo đúng quy
hoạch được duyệt, đến năm 2016 tổng chiều dài đường khu vực nội
thị với hơn 122 km và 05 tuyến đường giao thông đối ngoại ( Quốc lộ
1A, 40B; tỉnh lộ 615, đường cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi; đường
cứu hộ, cứu nạn ven biển Đà Nẵng-Quảng Ngài)...với tổng giá trị
triển khai đầu tư gần 2.000.000 triệu đồng.
*Về đầu tư xây dựng cơ bản và hạ tầng xã hội:
Công tác triển khai các công trình theo kế hoạch giai đoạn 5 năm
(2011- 2015) bao gồm các nguồn vốn do UBND thành phố quản lý và
làm chủ đầu tư: nguồn ngân sách tập trung, nguồn khai thác quỹ đất,
nguồn chương trình mục tiêu và Trung ương, Tỉnh hỗ trợ và nguồn vốn
do nhân dân tự nguyện đóng góp với tổng nguồn vốn thực hiện trong 5
năm qua là 1.371.149 triệu đồng cho 353 công trình đã đầu tư.
2.3.4. Về giáo dục và nâng cao nhận thức cho mọi người dân
về phát triển đô thị bền vững:
Công tác thông tin tuyên truyền, cổ động trực quan được đầu
tư đổi mới, nâng cao hiệu quả. Đài Truyền thanh - Truyền hình của
thành phố được đầu tư nâng cấp quy mô hoạt động; chương trình
truyền thanh - truyền hình tăng cả về số lượng và chất lượng. Phong
trào thi đua “Dân vận khéo”, nhiều mô hình, nhân tố điển hình ngày
được phát huy và nhân rộng. Công tác đối thoại với nhân dân được
tăng cường, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở ngày được phát huy
hiệu quả.
17



Các đoàn thể chính trị-xã hội và đoàn thể quần chúng tích cực
tham gia các hoạt động cộng đồng, tổ chức tuyên truyền, giáo dục,
nâng cao nhận thức của nhân dân về phát triển bền vững; vận động
hội, đoàn viên tham gia vào các phong trào, các chương trình mục
tiêu việc làm và giảm nghèo, giúp nhau kinh nghiệm làm ăn, xóa đói
giảm nghèo, giữ gìn vệ sinh môi trường sống, bảo vệ các nguồn tài
nguyên, môi trường tại địa phương và nâng cao ý thức của nhân dân
về các vấn đề phát triển bền vững.
2.3.5. Về hợp tác quốc tế để thực hiện CSPTĐTBV tại thành
phố Tam Kỳ
Thành phố đã thiết lập quan hệ hợp tác đối ngoại chính thức
với quận Dalseo, Daegu, Hàn Quốc; huyện Lạ Màm, tỉnh Sekong,
Lào và mở rộng quan hệ với một số đối tác khác, nhất là tổ chức
Làng Hoa Sen quốc tế Hàn Quốc, UN-Habitat, trung tâm Đào tạo đô
thị Quốc tế Hàn Quốc (IUTC) trên các lĩnh vực đầu tư, kinh tế, giáo
dục - đào tạo, văn hóa, xã hội và đã đem lại những kết quả bước đầu.
2.3.6.Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện CSPTTĐTBV của
Tam Kỳ
Thứ nhất, tính chất của vấn đề chính sách PTĐTBV
Thứ hai, môi trường thực hiện chính sách PTĐTBV
Thứ ba, mối quan hệ giữa các đối tượng thực hiện chính sách
phát triển đô thị bền vững
Thứ tư, đặc tính của đối tượng chính sách chính sách PTĐTBV
Thứ năm, năng lực thực hiện chính sách PTĐTBV của cán bộ,
công chức
Thứ sáu, mức độ tuân thủ các bước trong quy trình tổ chức
thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững và sự đồng thuận của
người dân
2.4.Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách phát triển đô

18


thị bền vững tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam
2.4.1. Những mặt đạt được
Nhìn chung, việc tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị
bền vững trên địa bàn thành phố được triển khai khá đồng bộ trên ba
lĩnh vực Kinh tế - Xã hội - Môi trường, huy động được các nguồn lực
cho đầu tư phát triển đô thị, sự tham gia tích cực của các tầng lớp
nhân dân; các cấp chính quyền từ thành phố đến xã, phường hoạt
động ngày càng hiệu quả, các vấn đề xã hội, môi trường được quan
tâm giải quyết. Thành phố Tam Kỳ được Chính phủ công nhận đạt đô
thị loại II vào đầu năm 2016.
2.4.2.Hạn chế, bất cập
Các chính sách hiện hành trên địa bàn thành phố chủ yếu thiên
về chính sách phát triển kinh tế - xã hội, chưa đi sâu vào lĩnh vực
chính sách PTĐTBV. Một số bất cập trong nhận thức và thực hiện
chính sách phát triển đô thị theo khuynh hướng đơn giản hóa, từ đó
dẫn đến đô thị phát triển lộn xộn không như mong đợi. Trình độ dân
trí của một bộ phận người dân còn thấp, nếp sống văn minh đô thị
của đại bộ phận người dân còn hạn chế chưa hình thành được lối
sống đô thị.
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý quy hoạch,
xây dựng và phát triển đô thị nhìn chung đang còn thiếu và yếu.Việc
tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật đã ban hành chưa hiệu quả.

19


CHƢƠNG 3

MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG THỰC HIỆN CHÍNH
SÁCH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN VỮNG TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM
3.1. Mục tiêu tăng cƣờng thực hiện chính sách phát triển
đô thị bền vững
Đến năm 2020: "từng bước xây dựng hoàn chỉnh hệ thống đô
thị cả nước, có cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội và kỹ thuật hiện đại,
môi trường đô thị trong sạch, được phân bố và phát triển hợp lý trên
địa bàn cả nước, đảm bảo cho mỗi đô thị theo vị trí và chức năng của
mình, phát huy được đầy đủ thế mạnh để phát triển bền vững, góp
phần thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng xã hội chủ
nghĩa và bảo vệ tổ quốc".
Đến năm 2025 và 2050:"Phát triển đô thị phải tạo ra nguồn
lực để phát triển kinh tế - xã hội; phải phù hợp với phân bố và trình
độ phát triển lực lượng sản xuất cả nước, phù hợp với yêu cầu của
quá trình CNH-HĐH và xu hướng hội nhập khu vực và quốc tế của
Việt Nam".
*Mục tiêu tăng cường thực hiện chính sách phát triển đô thị
bền vững ở thành phố Tam Kỳ , tỉnh Quảng Nam
* Mục tiêu tổng quát
Huy động mọi nguồn lực, xây dựng phát triển nhanh kết cấu hạ
tầng. Không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân
dân, đảm bảo an sinh xã hội. Giữ vững an ninh chính trị, đảm bảo trật
tự an toàn xã hội, xây dựng thành phố Tam Kỳ phát triển nhanh, bền
vững theo hướng đô thị xanh.
* Mục tiêu phát triển đô thị
- Giai đoạn đến năm 2020: Tốc độ tăng trưởng kinh tế hằng
20



năm công nghiệp- xây dựng trên 18%, thương mại dịch vụ 16%,
nông nghiệp trên 6%; cơ cấu kinh tế: Thương mại dịch vụ 71,0%,
Công nghiệp xây dựng 27,5%, Nông nghiệp 1,5%; thu nhập bình
quân trên 60 triệu đồng/người/năm.
- Không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của
nhân dân, đảm bảo an sinh xã hội, giữ vững an ninh chính trị, đảm
bảo trật tự an toàn xã hội, phát triển nhanh kết cấu hạ tầng. Huy động
mọi nguồn lực xây dựng thành phố Tam Kỳ phát triển nhanh, bền
vững theo hướng đô thị xanh. Phấn đấu đạt một số chỉ tiêu của đô thị
loại I trực thuộc Tỉnh giai đoạn sau 2020.
3.2. Giải pháp tăng cƣờng thực hiện chính sách phát triển
đô thị bền vững ở thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam
Thứ nhất, tập trung mọi nguồn lực đẩy nhanh tốc độ tăng
trưởng kinh tế theo hướng bền vững; chuyển dịch cơ cấu theo hướng
phát triển nhanh thương mại dịch vụ, công nghiệp, tạo bước chuyển
biến mạnh mẽ về phát triển nông nghiệp đô thị và xây dựng nông
thôn mới. Thực hiện công tác quản lý, điều hành ngân sách chủ động
linh hoạt, tiết kiệm và hiệu quả, giữ vững cân đối ngân sách hàng
năm. Coi trọng công tác xúc tiến đầu tư, thực hiện đồng bộ các giải
pháp nhằm xây dựng môi trường đầu tư thông thoáng, thuận lợi, giải
quyết nhanh thủ tục đầu tư, tạo mặt bằng sạch, vị trí thuận lợi... để
kêu gọi các doanh nghiệp vào đầu tư.
Thứ hai, tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị, thực hiện
tốt công tác quy hoạch, tăng cường quản lý đô thị, tài nguyên và môi
trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, xây dựng phát triển
đô thị theo hướng đô thị xanh.Thực hiện tốt công tác quản lý quy
hoạch và lập kế hoạch theo Đồ án Quy hoạch chung thành phố Tam
Kỳ đến năm 2030, tầm nhìn 2050 và Quy hoạch sử dụng đất đến năm
2020 nhằm phát triển đô thị theo định hướng đô thị xanh. Tăng
21



cường công tác quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường. Chủ
động xây dựng các dự án ứng phó biến đổi khí hậu và nước biển
dâng, hạn chế thấp nhất hậu quả thiệt hại do thiên tai gây ra.
Thứ ba, xây dựng và phát triển văn hóa - xã hội, đảm bảo an
sinh xã hội, phát huy vai trò của người dân trong phát triển đô thị
bền vững.Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết 33-NQ/TW (khóa
XI) về “xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp
ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” và triển khai thực hiện đề
án phát triển sự nghiệp văn hóa- thông tin, thể dục - thể thao thành
phố Tam Kỳ, giai đoạn 2015-2020 đạt hiệu quả.Triển khai thực hiện
có hiệu quả đề án “nâng cao công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân
trên địa bàn thành phố, giai đoạn 2015-2020”. Tiếp tục triển khai
đồng bộ, có hiệu quả các giải pháp nhằm thực hiện giảm nghèo; ưu
tiên hỗ trợ đào tạo nghề, giải quyết việc làm, tăng thu nhập để các hộ
nghèo, cận nghèo thoát nghèo bền vững.
Thứ tư, đảm bảo trật tự an toàn xã hội, tăng cường công tác
nội chính và quan hệ đối ngoại.Triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu
quả các chương trình mục tiêu quốc gia trên lĩnh vực AN-TT, xây
dựng Tam Kỳ trở thành thành phố bình yên. Mở rộng quan hệ đối
ngoại, hợp tác với các địa phương trong và ngoài nước trong các lĩnh
vực đầu tư, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.
Thứ năm, huy động các nguồn lực cho phát triển đô thị. Đẩy
mạnh huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển, tranh thủ các
nguồn vốn ODA, FDI để tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị,
các nguồn vốn hỗ trợ của Trung ương, tỉnh, các nguồn vốn tín dụng,
xã hội hóa. Tích cực huy động các doanh nghiệp đầu tư hạ tầng theo
hình thức BT, BOT, PPP.
Thứ sáu, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, phát triển

nguồn nhân lực, tăng cường năng lực quản lý phát triển đô thị bền
22


vững.Đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết 29-NQ/TW (khóa XI) về “đổi
mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo, đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định
hướng XHCN và hội nhập quốc tế”. Có chính sách, cơ chế ưu đãi,
thu hút cán bộ quản lý, khoa học kỹ thuật, các chuyên gia giỏi, công
nhân lành nghề về làm việc tại thành phố Tam Kỳ. Xây dựng và phát
triển các cơ sở đào tạo phù hợp với điều kiện và yêu cầu thực tế, đáp
ứng về nguồn nhân lực của thành phố.
Thứ bảy, áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ, bảo vệ môi
trường, xây dựng phát triển thành phố theo định hướng đô thị xanh.
Đẩy mạnh thực hiện phát triển sự nghiệp khoa học và công nghệ đáp
ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Tuyên truyền và vận động các
tổ chức và cá nhân tham gia bảo vệ môi trường đô thị.
KẾT LUẬN
Phát triển đô thị là qui luật của tất cả các nước muốn phát triển
nhằm tiến tới một xã hội văn minh và hiện đại. Do đó, việc phát triển
đô thị bền vững gắn liền với hệ thống cơ sở hạ tầng đồng bộ là một
xu hướng tất yếu của các đô thị hiện đại, góp phần vào sự phát triển
bền vững của cả đất nước trong hiện tại và tương lai.
Để tiếp tục phát triển đô thị bền vững trong thời gian đến.
Luận văn đã đánh giá việc thực hiện chính sách phát triển đô thị bền
vững từ thực tiễn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, là một trong
những đô thị trẻ đang cùng với đô thị cả nước triển khai thực hiện
chính sách phát triển bền vững theo Chương trình Nghị sự 21 và nay
là Chương trình Nghị sự 2030. Đóng góp của Luận văn là phần đánh
giá thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững từ thực tiễn thành

phố Tam Kỳ từ năm 2006 đến năm 2016; đánh giá những mặt được
và chưa được trong thực hiện từng giải pháp, công cụ chính sách phát
23


×