BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
********************
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƢỜNG
KINH TẾ HỌC PHÁP LUẬT VÀ KHẢ
NĂNG ĐƢA KINH TẾ HỌC PHÁP
LUẬT VÀO GIẢNG DẠY TẠI TRƢỜNG
ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
MÃ SỐ: LH – 2011 - 11/ĐHL
HÀ NỘI - 2012
NHỮNG NGƢỜI THAM GIA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Chủ nhiệm đề tài: 1. TS. Nguyễn Văn Tuyến
2. ThS. Nguyễn Đức Ngọc
Các tác giả chuyên đề khoa học:
SỐ
TT
HỌ VÀ TÊN
CƠ QUAN CÔNG TÁC
TÁC GIẢ
1
ThS. Vũ Ngọc Anh
Viện Kinh tế TP. Hồ Chí Minh
Chuyên đề 1
2
TS. Nguyễn Văn Cƣơng
ThS. Hồ Ngọc Hiển
Viện KHPL, Bộ Tƣ pháp
Chuyên đề 2
3
TS. Nguyễn Văn Cƣơng
Viện KHPL, Bộ Tƣ pháp
Chuyên đề 3
Chuyên đề 4
4
ThS. Nguyễn Đức Ngọc
Trƣờng ĐH Luật Hà Nội
Chuyên đề 5
Chuyên đề 8
5
ThS. Trần Văn Hai
Văn phòng Chính Phủ
Chuyên đề 6
6
TS. Nguyễn Văn Tuyến
Trƣờng ĐH Luật Hà Nội
Chuyên đề 7
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
Chữ viết tắt
Xin đọc là
1
VINASTAS
Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ Ngƣời tiêu dùng Việt
Nam
2
NTD
Ngƣời tiêu dùng
3
Hội
Hội bảo vệ ngƣời tiêu dùng
4
Thƣơng nhân
Tổ chức và cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
5
LHQ
Liên hiệp quốc
6
CI
Tổ chức Quốc tế ngƣời tiêu dùng
7
VPTVKN
Văn phòng tƣ vấn khiếu nại
8
NKN
Ngƣời khiếu nại
9
NBKN
Ngƣời bị khiếu nại
MỤC LỤC
Trang
Phần thứ nhất: BÁO CÁO TỔNG THUẬT
1
Phần thứ hai:
CÁC CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU
35
Chuyên đề 1:
Một số vấn đề về kinh tế học pháp luật và đặc
trƣng của nó trong khoa học xã hội
35
Chuyên đề 2:
Sự hình thành và phát triển của trƣờng phái kinh
tế học pháp luật
50
Chuyên đề 3:
Đối tƣợng và phƣơng pháp nghiên cứu của kinh
tế học pháp luật
69
Chuyên đề 4:
Cách nhìn của kinh tế học pháp luật về bản chất
của hành vi con ngƣời
82
Chuyên đề 5:
Sự cần thiết của việc giảng dạy kinh tế học pháp
luật trong đào tạo luật ở Việt Nam
91
Chuyên đề 6:
Kinh nghiệm đào tạo kinh tế học pháp luật ở một
số quốc gia và khu vực
106
Chuyên đề 7:
Đề xuất mô hình giảng dạy kinh tế học pháp luật
tại Trƣờng Đại học Luật Hà Nội
119
Chuyên đề 8:
Một số nguyên tắc ban đầu để xác định nội dung
giảng dạy kinh tế học pháp luật ở Trƣờng Đại học
Luật Hà Nội
142
TÀI LIỆU THAM KHẢO
153
A. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Kinh tế học pháp luật, cũng thƣờng đƣợc gọi là “kinh tế học pháp luật”,
“phân tích kinh tế các quy định pháp luật”, “những khía cạnh kinh tế của luật
pháp”, “luật và kinh tế” là một bộ môn khoa học đƣợc chính thức ra đời
khoảng giữa thế kỷ XX, và ngày nay đã đƣợc giảng dạy tƣơng đối phổ biến ở
các chƣơng trình đào tạo luật trên thế giới.
Nghiên cứu kinh tế học pháp luật và áp dụng kinh tế học pháp luật trong
chƣơng trình giảng dạy luật ở Việt Nam là vấn đề có tính cấp thiết, xuất phát
từ các lý do sau đây:
Thứ nhất, kinh tế học pháp luật là thành tựu nổi bật nhất của khoa học
pháp lý trong giai đoạn vừa qua. Sở dĩ khẳng định nhƣ vậy là bởi kinh tế học
pháp luật đã đề xuất những phƣơng pháp mới và hƣớng tiếp cận mới đối với
đối tƣợng nghiên cứu là pháp luật. Thật vậy, xuất phát từ cách tiếp cận liên
ngành- giữa khoa học kinh tế và khoa học pháp lý, kinh tế học pháp luật đã
hình thành nên hệ thống các phƣơng pháp nghiên cứu có giá trị khách quan,
thực tiễn trong việc xem xét các vấn đề pháp luật. Bên cạnh đó, kinh tế học
pháp luật tiếp cận pháp luật theo hƣớng coi pháp luật là một nguồn lực, một
yếu tố cơ bản của thể chế, là đối tƣợng mà các chủ thể trong một cấu trúc xã
hội phải sử dụng một cách có hiệu quả nhất. Nhƣ một hệ quả, cách tiếp cận
pháp luật nhƣ vậy cũng có tác dụng lan tỏa khuyến khích sự phát triển của các
trƣờng phái nghiên cứu pháp luật khác, chẳng hạn: triết học pháp luật hình
thành nên cặp khái niệm: hiệu quả hay công bằng trong các qui định pháp lý.
Để đổi mới và hội nhập nền khoa học pháp lý Việt Nam, yêu cầu cấp
bách hiện nay là phải cập nhật và tiếp thu những thành tựu của khoa học pháp
lý trên thế giới. Chúng ta có thể thấy quá trình du nhập này đã ghi nhận những
thành quả bƣớc đầu ở các phân môn nhƣ luật học so sánh hay xã hội học pháp
1
luật. Vì vậy, đặt vấn đề nghiên cứu, tìm hiểu và giảng dạy các tri thức của
kinh tế học pháp luật là phù hợp với xu thế hiện nay.
Thứ hai, kinh tế học pháp luật đã đƣợc ứng dụng khá thƣờng xuyên
trong thực tiễn của đời sống pháp lý ở Việt Nam hiện nay.
Trái ngƣợc lại với những hoài nghi, d dặt về mặt lí thuyết của kinh tế
học pháp luật, thực tiễn đời sống pháp lý ở Việt Nam đã có những bƣớc đi rất
cụ thể trong việc áp dụng các phƣơng pháp và công cụ của kinh tế học pháp
luật. Chẳng hạn, trong quá trình xây dựng pháp luật, một số dự án luật hiện
nay đã sử dụng việc đánh giá lợi ích - chi phí của qui phạm pháp luật, mà thực
chất là áp dụng việc đánh giá tác động của các qui phạm pháp luật RIA một nội dung của kinh tế học pháp luật. Mặc dù vậy, sự ứng dụng này còn
chƣa mang tính hệ thống, đòi hỏi phải có sự tổng kết về mặt lý luận trong điều
kiện Việt Nam và cũng đòi hỏi ngƣời thực hiện phải đƣợc đào tạo và trang bị
những k năng nhất định. Do đó, việc triển khai nghiên cứu đề tài góp phần
nhất định đáp ứng những nhu cầu của thực tiễn.
Thứ ba, trong quá trình đổi mới chung của trƣờng Đại học Luật Hà Nội,
nghiên cứu và giảng dạy các trƣờng phái pháp lí chính trên thế giới là một xu
thế tất yếu, nhằm tăng cƣờng khả năng hội nhập với môi trƣờng học thuật
chung của thế giới, mở rộng và tiến tới làm chủ các kiến thức khoa học hiện
đại. Thật vậy, mặc dù là thành tựu nổi bật nhất của khoa học pháp lý thế kỷ
XX nhƣng kinh tế học pháp luật ở Việt Nam mới ch đƣợc biết đến trong một
vài năm gần đây, chủ yếu dƣới dạng cung cấp thông tin và cũng còn nhiều
cách hiểu, quan niệm khác nhau về bản chất thật sự của kinh tế học pháp luật
là gì, liệu những tiền đề nghiên cứu của kinh tế học pháp luật có thực sự phù
hợp với các chủ thể của một quan hệ pháp luật, khả năng ứng dụng vào giảng
dạy luật học của kinh tế học pháp luật nhƣ thế nào... Thực tế đó cho thấy nhu
cầu cần có những nghiên cứu về nội dung cũng nhƣ những vấn đề sƣ phạm
đối với kinh tế học pháp luật, dù ch bƣớc đầu, nhằm tìm ra câu trả lời cho
2
những câu hỏi vừa nêu và tƣơng tự.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu về kinh tế học pháp luật là một lĩnh vực nghiên cứu còn mới
mẻ, ngay cả đối với những quốc gia phát triển, nhƣng việc triển khai nghiên
cứu kinh tế học pháp luật diễn ra rất nhanh chóng, phong phú với rất nhiều
nội dung. So với nhiều lĩnh vực nghiên cứu pháp luật khác, các sản phẩm
nghiên cứu về kinh tế học pháp luật đƣợc tiếp cận dễ dàng và hệ thống. Các
công trình nổi tiếng và cô đọng nhất về kinh tế học pháp luật là 2 cuốn của
Richard Posner Economic analysis of law; Cooter va Ulen, Law and
Economics. Đây đƣợc coi là sách giáo khoa cơ bản cho mọi chƣơng trình
kinh tế học pháp luật trên thế giới. Dƣờng nhƣ, các công trình về kinh tế học
pháp luật trong thời gian qua đã cho thấy khả năng ứng dụng rất rộng rãi của
kinh tế học pháp luật trong tất cả các lĩnh vực của pháp luật, từ luật cạnh
tranh, luật thuế cho tới luật hình sự, luật hiến pháp.
Nghiên cứu về ứng dụng kinh tế học pháp luật trong giảng dạy cũng
đƣợc triển khai khá phong phú. Claus Ott và Tina Neuling với phần viết về Tổ
chức việc nghiên cứu và giảng dạy kinh tế học pháp luật (Organation of
research and teaching trong Bách khoa thƣ về kinh tế học pháp luật
Encyclopedia of law & economics, chủ biên: Boudewijn Bouckaert và Gerrit
De Greest đã phân tích khái quát về xu hƣớngcũng nhƣ cách thức thực hiện
môn học kinh tế học pháp luật tại các trƣờng luật. Cũng ngay tại chính cuốn
Bách khoa thƣ này, tình hình giảng dạy môn học kinh tế học pháp luật tại 19
quốc gia và vùng lãnh thổ đã đƣợc giới thiệu, có thể kể ra đây một số ví dụ
tiêu biểu: Law & Economics in Belgium by Gerrit De Geest; Law &
Economics in Denmark by Henrik Lando; Law & Economics in Finland by
Risto Nuolimaa and Pekka Timonen; Law & Economics in France by Lionel
Montagné; Law & Economics in Germany by Roland Kirstein; Law &
Economics in Greece by Aristides N. Hatzis; Law & Economics in Hungary
3
by András Sajó and Kinga Pétervári; Law & Economics in Italy by Roberto
Pardolesi and Giuseppe Bellantuono; Law & Economics in Mexico by
Andrès Roemer and José Diego Valadés; Law & Economics in The
Netherlands by Rudi W. Holzhauer and Rob Teijl; Law & Economics in
Norway by Erling Eide; Law & Economics in Portugal by Miguel Moura e
Silva; Law & Economics in Quebec by Frédérick Charette; Law &
Economics in Taiwan by Steven S. Kan; Law & Economics in Serbia by
Zelkjo Sevic ; Law & Economics in Spain by Santos Pastor and Jesœs Pintos;
Law & Economics in Sweden by Göran Skogh.
Tại Việt Nam, trong khoảng 5 năm gần đây đã bắt đầu xuất hiện các
nghiên cứu, các chƣơng trình về kinh tế học pháp luật. Khởi động bằng Khoá
học Luật và Kinh tế học cho chính sách công vào tháng giêng năm 2005 tại
Chƣơng trình Kinh tế Fulbright. Tiếp theo, một loạt các công trình của Lê Nết
đã giới thiệu trực tiếp các nội dung của kinh tế học pháp luật: Đấu trí và Luật
(Nxb Đại học quốc gia Tp Hồ Chí Minh, 2005), Kinh tế luật (Nxb Tri thức,
2006). Bên cạnh đó, nhiều tác giả trong các nghiên cứu chuyên ngành của
mình đã bƣớc đầu sử dụng kinh tế học pháp luật nhƣ một phƣơng pháp phân
tích: Chuyên khảo Luật kinh tế của Phạm Duy Nghĩa Nxb Đại học quốc gia
Hà Nội, 2004 , Bàn về tính hiệu quả của Luật Chứng khoán dưới góc độ Kinh
tế học pháp luật của Nguyễn Văn Tuyến Tạp chí Luật học năm 2006 .
Nhìn lại tình hình nghiên cứu nêu trên có thể rút ra các nhận xét sau:
Tính đa dạng của chủ đề nghiên cứu trong kinh tế học pháp luật. Vì
vậy, nó làm xuất hiện nhu cầu rất lớn cần có những nghiên cứu tóm lƣợc lại
và phân tích về cốt lõi của các phƣơng pháp mà kinh tế học pháp luật sử dụng.
Các nghiên cứu ở Việt Nam nhìn chung không đề cập tới cách thức
áp dụng kinh tế học pháp luật trong giảng dậy luật với các điều kiện riêng của
Việt Nam.
3. Mục đích nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
4
Đề tài đƣợc triển khai nghiên cứu nhằm đạt đƣợc các mục tiêu sau đây:
Tổng hợp một số vấn đề lý luận cơ bản về kinh tế học pháp luật.
Đƣa ra các mô hình cho việc giảng dậy kinh tế học pháp luật tại
trƣờng Đại học Luật, nêu đƣợc các ƣu điểm và nhƣợc điểm của từng mô hình.
Xác định các điều kiện cho việc áp dụng kinh tế học pháp luật trong
giảng dạy tại trƣờng Đại học luật Hà Nội.
Với mục tiêu nhƣ vậy, phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung chủ yếu
vào việc giảng dạy kinh tế học pháp luật trong các điều kiện của Trƣờng Đại
học Luật Hà Nội.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
Bên cạnh việc sử dụng xuyên suốt phƣơng pháp luận biện chứng,
phƣơng pháp phân tích, tổng hợp, để đảm bảo các kết quả nghiên cứu đƣợc
kiểm định một cách chắc chắn, đề tài áp dụng một số thủ pháp nghiên cứu xã
hội học và mô hình phân tích SWOT.
5. Những đóng góp mới của đề tài nghiên cứu
Về mặt lý luận, bên cạnh việc đóng góp làm rõ thêm những vấn đề lý
luận chung của kinh tế học pháp luật, đề tài đã trực tiếp làm sáng tỏ những cơ
sở lý luận cho việc giảng dạy kinh tế học pháp luật tại Trƣờng đại học Luật
Hà Nội.
Về mặt thực tiễn, đề tài đã đƣa ra các mô hình cho việc giảng dạy kinh tế
học pháp luật ở Trƣờng đại học Luật Hà Nội. Dựa vào các mô hình đó, đề tài
đƣa ra những đề cƣơng nội dung tƣơng ứng. Bên cạnh đó, đề tài cũng phác
họa các bƣớc đi để thực hiện chƣơng trình giảng dạy trong ngắn hạn và dài
hạn tại Trƣờng Đại học Luật Hà Nội.
B. TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
I. KHÁI QUÁT MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ HỌC
5
PHÁP LUẬT
1. Khái niệm về kinh tế học pháp luật
1.1. Về thuật ngữ
Thuật ngữ kinh tế học pháp luật, hay ngắn gọn hơn là kinh tế luật, đƣợc
sử dụng để ch ít nhất 2 khái niệm: i) kinh tế học pháp luật là một ngành khoa
học liên ngành nghiên cứu về ứng dụng phân tích kinh tế đối với pháp luật, và
(ii là tên gọi cho một chƣơng trình giảng dạy về các nội dung nhất định của
kinh tế học pháp luật trong các trƣờng đại học.
Trong điều kiện Việt Nam, việc sử dụng các thuật ngữ này cần lƣu ý một
số điểm. Về thuật ngữ kinh tế học pháp luật, nó đƣợc sử dụng nhƣ tên gọi về
một nội dung còn rất mới. Điều này có nghĩa là bản thân thuật ngữ không có
một độ phủ cần thiết đối với những nội dung hàm chứa để đảm bảo tính
chuyên biệt của từ ngữ đƣợc sử dụng. Trong các trƣờng đại học chuyên về
kinh tế, có rất nhiều bộ môn kinh tế chuyên ngành nhƣ kinh tế học công cộng,
kinh tế phát triển, kinh tế y tế, kinh tế xây dựng… Cách dùng từ kinh tế học
pháp luật với cách đặt kinh tế ở trƣớc dễ khiến chúng ta liên tƣởng đến một
bộ môn kinh tế chuyên ngành, không nổi lên ý tƣởng về sử dụng phƣơng
pháp, cách tiếp cận của kinh tế học trong phân tích các vấn đề pháp lý. Từ
nguyên gốc Law and Economics với luật pháp đặt phía trƣớc đã mang hàm ý
chính pháp luật mới là vấn đề cần nghiên cứu, còn chiến lƣợc tiếp cận và
phƣơng pháp nghiên cứu mới thuộc về kinh tế học. Kinh tế học pháp luật vì
vậy không phải là một chuyển tải hoàn hảo của thuật ngữ Law and
Economics. Tuy nhiên, nếu dùng luật – kinh tế hay luật và kinh tế lại càng
không ổn vì dễ lẫn lộn với bộ môn Luật Kinh tế hiện đang đƣợc giảng dạy tại
các trƣờng đại học luật.
Về thuật ngữ kinh tế học pháp luật, xét về việc chuyển ngữ là sát nhất
với cụm từ tƣơng đƣơng trong tiếng Anh law and economics). Tuy nhiên,
nghĩa của từ kinh tế học ở Việt Nam lại ch đƣợc quan niệm gắn với 2 bộ môn
6
kinh tế cơ sở là kinh tế học vĩ mô và kinh tế học vi mô. Trong khi đó, ngoại
diên của khái niệm “kinh tế học pháp luật” lại bao gồm nhiều bộ môn kinh tế
nhƣ tài chính học, kinh tế công cộng, quản trị doanh nghiệp... Do vậy, xét về
nghĩa từ vựng, thuật ngữ “kinh tế học pháp luật” có nhiều nét nghĩa nhấn
mạnh tới phƣơng pháp sử dụng trong phân tích, nhƣ “độ thỏa dụng”, “cận
biên”, “lựa chọn khan hiếm”...
Mặc dù vậy, khi một ngành khoa học bắt đầu đi vào định hình mô thức
phát triển, các nội dung và khái niệm cơ bản sẽ bắt gốc rễ và mở rộng phạm vi
ảnh hƣởng, rào cản về từ ngữ và cách dịch thuật dần dần trở nên không còn ý
nghĩa.
1.2. Định nghĩa kinh tế học pháp luật
Về khái niệm Kinh tế học pháp luật, theo định nghĩa của Từ điển Black‟s
Law Dictionary “Kinh tế học pháp luật” law and economics là “một bộ môn
khoa học chủ trương thực hiện phân tích pháp luật dưới góc độ kinh tế theo
đó các quy tắc pháp lý được đánh giá chi phí/lợi ích để xem liệu một sự thay
đổi pháp luật từ trạng thái này sang trạng thái khác sẽ làm tăng hay giảm
hiệu quả sử dụng và phân bổ nguồn lực, tăng hay giảm sự giàu có của xã
hội”.
Một cách kinh điển, pháp luật là các quy tắc xử sự chung, hình thành từ
các quy phạm xã hội hoặc từ việc thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, đƣợc
Nhà nƣớc thừa nhận và đảm bảo bằng sức mạnh cƣỡng chế, nhằm mục đích
đảm bảo trật tự xã hội. Pháp luật, vì vậy, mang bản chất giai cấp và giá trị xã
hội. Các quy phạm pháp luật là chuẩn mực của hành vi xử sự. Thông qua các
chuẩn mực, con ngƣời kiểm nghiệm, nhận thức và điều ch nh các quá trình xã
hội. Nhƣ vậy, vấn đề hay câu hỏi cơ bản của pháp luật là con ngƣời nên hành
xử nhƣ thế nào để đảm bảo xã hội trật tự, và phát triển xã hội? Pháp luật đƣợc
thiết lập để điều ch nh các quan hệ xã hội. Mặt khác, pháp luật tác động đến ý
thức của con ngƣời để tạo ra các mô thức hành xử phù hợp. Từ đây, một vấn
7
đề cơ bản khác của pháp luật là làm thế nào hay cần tác động ra sao để tạo ra
các chuẩn mực về xử sự.
Pháp luật phải làm thế nào để phục vụ phát triển kinh tế xã hội, câu hỏi
đó thật không dễ trả lời. Lúc này, những giải thích dựa vào luật tự nhiên hay
bản chất giai cấp của pháp luật tỏ ra không thích hợp. Đặt nặng mối quan tâm
này, sự tƣơng quan giữa pháp luật và kinh tế luôn đƣợc khẳng định. Tuy
nhiên, có những bí ẩn gì trong các hệ thống pháp lý đem đến thành tựu rực rỡ
mang lại sự phồn thịnh ở một số quốc gia trong khi lại thất bại ở một số quốc
gia khác. Không hiếm gặp trên thực tế, đặc biệt tại những quốc gia phát triển,
những đạo luật bị lãng quên, rất ít phát huy tác dụng trên thực tế. Không phải
chúng không đƣợc thiết kế công phu với bao tâm huyết của các nhà làm luật.
Cũng không phải chúng đƣợc xây dựng với k thuật và tƣ duy lạc hậu phần
nhiều đều có tham khảo, học tập kinh nghiệm từ các nƣớc tiên tiến . Vấn đề
nằm ở chỗ linh hồn của các quy phạm pháp luật không đơn giản ch ở trong
câu chữ chặt chẽ của một đạo luật dù đƣợc thiết kế hoàn hảo đến đâu .
Chúng phụ thuộc vào môi trƣờng hệ thống, nơi các quy phạm pháp luật tƣơng
tác với nhau để tạo ra các tác động chung. Quan trọng hơn, chúng phải đƣợc
đặt trong môi trƣờng tƣơng tác giữa các chủ thể, trong những yếu tố cấu thành
cuộc chơi rộng lớn trong xã hội. Để phục vụ mục tiêu phát triển, pháp luật
không thể ch là các khuôn mẫu bị đóng rêu. Vì phát triển hƣớng tới hiệu quả,
cơ chế và các tác động, nên pháp luật phải bắt đầu tiếp cận từ hệ thống và các
thể chế pháp lý. Nó phải là sự vận hành khuôn mẫu, không phải là việc đƣa ra
tuyên bố hay giả định về khuôn mẫu.
Kinh tế học pháp luật tiếp cận các vấn đề luật pháp trên nền tảng triết lý
của khoa học kinh tế: phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực. Pháp
luật là các quy tắc điều ch nh hành vi xử sự, tạo nên các chuẩn mực về ứng
xử. Các chuẩn mực ấy đƣợc đặt trong một thế giới khan hiếm về nguồn lực,
phản ánh phần nào thế giới này. Tuy nhiên, do con ngƣời tạo ra các chuẩn
8
mực nên thế giới về khan hiếm và hiệu quả bị chồng lấn trong thế giới của ý
chí con ngƣời. Các phản ánh méo mó về thế giới tài nguyên khan hiếm dẫn
đến việc phân bổ và sử dụng không hiệu quả nguồn lực. Kinh tế học pháp luật
nhìn pháp luật trong sự tích hợp của hai thế giới, xem pháp luật nhƣ một công
cụ để đạt đƣợc việc phân bổ và sử dụng hiệu quả. Có thể nói, mục tiêu tiếp
cận chủ yếu của kinh tế học pháp luật chính là hiệu quả của pháp luật.
2. Đối tƣợng và phƣơng pháp nghiên cứu của kinh tế học pháp luật
2.1. Đối tượng nghiên cứu của kinh tế học pháp luật
Pháp luật và các hiện tƣợng liên quan đến pháp luật là đối tƣợng nghiên
cứu của nhiều môn khoa học khác nhau. Mỗi môn khoa học đều tiếp cận,
nghiên cứu pháp luật và các hiện tƣợng liên quan tới pháp luật từ nhiều một
góc độ riêng. Chính vì thế, nói pháp luật và các hiện tƣợng pháp luật là đối
tƣợng nghiên cứu của Kinh tế học pháp luật là đúng nhƣng chƣa hoàn toàn lột
tả đƣợc khía cạnh mà Kinh tế học pháp luật muốn đề cập tới.
Theo giáo sƣ D. Friedman Đại học Santa Clara – Hoa Kỳ , Kinh tế học
pháp luật quan tâm trả lời 3 vấn đề chính: 1 đánh giá hệ quả tác động của
các quy phạm pháp luật khi có sự thay đổi trong quy định của pháp luật, các
cá nhân, tổ chức trong xã hội sẽ phản ứng nhƣ thế nào đối với sự thay đổi ấy ;
2 dự báo sự vận động của các quy phạm pháp luật theo hƣớng: các quy
phạm không có lợi cho sự phát triển sẽ bị bãi bỏ bởi lôgic tự nhiên của pháp
luật là thúc đẩy sự phát triển của xã hội thông qua việc cải thiện tính hiệu quả
trong phân bổ và sử dụng nguồn lực trong xã hội ; 3 đánh giá tính hiệu quả
của các quy phạm pháp luật hiện hành lấy tiêu chí thúc đẩy tính hiệu quả
trong phân bổ và sử dụng nguồn lực, các nhà kinh tế học pháp luật sẽ đánh giá
xem các quy phạm hiện hành hợp lý hay không hợp lý .
Theo một số nhà nghiên cứu về Kinh tế học pháp luật, nhìn chung, Kinh
tế học pháp luật muốn tập trung làm rõ 2 vấn đề chính: Thứ nhất, làm cách
nào để dự đoán, đo lƣờng đƣợc tác động thực tế của mỗi quy phạm pháp
9
luật? Việc ban hành một quy phạm pháp luật mới sẽ có khả năng thay đổi,
tác động đến xã hội nhƣ thế nào? Hệ quả kinh tế của các quy phạm pháp luật
ấy ra sao? . Thứ hai, mối quan hệ giữa các quy phạm pháp luật và mức độ
hiệu quả trong việc phân bổ, sử dụng các nguồn lực khan hiếm trong xã hội
nhƣ thế nào? Quy phạm pháp luật tác động đến tình trạng hiệu quả của xã hội
nhƣ thế nào? . Nhƣ vậy, có thể thấy, kinh tế học pháp luật nghiên cứu pháp
luật quy phạm hoặc nhóm quy phạm pháp luật và thiết chế pháp luật trong
trạng thái động và tập trung vào các khía cạnh cơ bản sau:
- Kinh tế học pháp luật nghiên cứu tƣơng tác giữa pháp luật với hành vi
của con ngƣời trong xã hội: khi ban hành một quy phạm pháp luật mới, thiết
lập một thiết chế pháp luật mới, quy phạm ấy, thiết chế ấy sẽ tác động nhƣ thế
nào đối với xã hội và dự báo ứng xử của con ngƣời trƣớc sự thay đổi đó dự
báo theo hƣớng, nếu quy phạm mang tính chất thưởng thì sẽ khuyến khích
hành vi, và nếu quy phạm mang tính chất phạt thì sẽ ngăn ngừa những hành vi
đƣợc coi là không mong muốn nhƣ thế nào? Cách thức mà các cá nhân, tổ
chức trong xã hội đối phó với những biến động của pháp luật ra sao? .
- Kinh tế học pháp luật không ch dự báo tác động đã đƣợc dự kiến của
quy phạm bởi nhà lập pháp khi ban hành mà còn dự báo cả những tác động
ngoài mong muốn (tác dụng phụ , ngoài dự định của nhà lập pháp. Nói cách
khác, kinh tế học pháp luật nghiên cứu “hiệu lực tác động thực tế” real
effect của các quy phạm pháp luật.
- Kinh tế học pháp luật cũng nghiên cứu quy luật hình thành, phát sinh,
phát triển của các quy phạm, nhóm quy phạm pháp luật nhƣng đƣợc nhìn từ
góc độ lôgic kinh tế của những sự thay đổi đó. Nói cách khác, Kinh tế học
pháp luật sẽ nghiên cứu vấn đề quy phạm pháp luật làm ảnh hƣởng tới hiệu
quả phân bổ nguồn lực trong xã hội nhƣ thế nào. Kinh tế học pháp luật cố
gắng đƣa ra những tiêu chí đánh giá thế nào là một quy phạm tốt và thế nào là
một quy phạm tồi nhìn từ góc độ đóng góp của chúng đối với việc cải thiện
10
hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xã hội.
2.2. Phương pháp nghiên cứu của kinh tế học pháp luật
Kinh tế học pháp luật, với tƣ cách là khoa học phái sinh từ khoa kinh tế
học nên đã kế thừa và sử dụng các phƣơng pháp của kinh tế học để giải quyết
các vấn đề pháp luật. Hầu hết các phƣơng pháp tiếp cận để giải thích và giải
quyết các vấn đề kinh tế đều đƣợc sử dụng trong Kinh tế học pháp luật.
Chẳng hạn, đó là các phƣơng pháp trong các lý thuyết về sự chọn lựa hợp lý
(rational choice theory), lý thuyết trò chơi game theory ... Khi nghiên cứu,
dự đoán về hành vi ứng xử của con ngƣời, kinh tế học dựa vào giả định cho
rằng, con ngƣời trong hiện thực giải quyết các tình huống của mình là con
ngƣời duy lý. Đó là con ngƣời biết cân nhắc, tính toán lợi/hại trong từng
quyết định của mình. Chính vì thế, kinh tế học sử dụng phƣơng pháp phân
tích có tên là “phân tích chi phí/lợi ích” cost/benefit analysis , điều mà trong
ngôn ngữ hàng ngày vẫn gọi là phân tích lợi/hại, phân tích thiệt/hơn khi ra
quyết định.
Phƣơng pháp phân tích “chi phí/lợi ích” phƣơng pháp phân tích,
nghiên cứu cơ bản của kinh tế học pháp luật. Theo đó, mọi quy phạm pháp
luật, mọi hành vi pháp lý, giải pháp pháp lý đều đƣợc đánh giá từ góc độ so
sánh “chi phí” cost và “lợi ích” benefit . Cách tiếp cận ấy gợi mở nhiều vấn
đề về cách tƣ duy cho các chủ thể tham gia vào quá trình xây dựng và thực thi
pháp luật. Chẳng hạn, đối với nhà lập pháp, việc ban hành một quy phạm
pháp luật mới cần phải trả lời các câu hỏi sau đây: 1 Khi ban hành thêm một
quy phạm mới đó một sự khuyến khích, trao một quyền năng hoặc một sự
cấm đoán... , quy phạm ấy sẽ gây ra những thiệt hại gì cho xã hội thiệt hại đó
đƣợc phân bổ cho ai... , và sẽ mang lại đƣợc những lợi ích nào? Phần thặng
dƣ lợi ích từ việc thực thi quy phạm đó là bao nhiêu? 2 Liệu có giải pháp
nào thay thế cho việc ban hành quy phạm pháp luật đó không? Có nhất thiết
phải ban hành hay có giải pháp điều ch nh khác có hiệu quả hơn?... . Đối với
11
ngƣời thực thi pháp luật, về nguyên tắc, khi pháp luật đã đƣợc ban hành thì
cần thực thi nghiêm ch nh, tuy nhiên, để thực thi nghiêm ch nh và đầy đủ, yếu
tố các nguồn lực và điều kiện bảo đảm cần phải tính đến. Kinh tế học pháp
luật sẽ hƣớng dẫn ngƣời thực thi pháp luật cân nhắc xác định các vấn đề, các
ƣu tiên trong chƣơng trình nghị sự, chƣơng trình công tác của mình để làm
sao hiệu quả thực thi pháp luật mang lại đƣợc tối ƣu nhất.
Trên đây là phƣơng pháp nghiên cứu đặc thù của kinh tế học pháp luật.
Ngoài ra, các phƣơng pháp nghiên cứu truyền thống nhƣ mô hình hóa, thống
kê, khảo sát xã hội học, kinh tế lƣợng cũng đƣợc sử dụng phổ biến.
3. Các xu hƣớng và nội dung nghiên cứu chính của kinh tế học pháp luật
Các công trình nghiên cứu kinh tế học pháp luật ngày nay trở nên cực kỳ
phong phú và đa dạng. Dƣới đây là một số hƣớng nghiên cứu chính của trƣờng
phái này trong thời gian hiện tại:
- Hƣớng nghiên cứu nhấn mạnh tới vai trò của thể chế: Những ngƣời
thuộc phái này tập trung vào việc ứng dụng cách tiếp cận của trƣờng phái
kinh tế học thể chế mới new institutional economics để phân tích các
phƣơng thức ứng xử của các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Những ngƣời theo
phái này mà đại diện hàng đầu chính là giáo sƣ Douglass North – nhà kinh tế
đạt giải Nobel năm 1993 cho rằng: việc các nhà kinh tế học thảo luận về quá
trình trao đổi mà không đề cập tới môi trƣờng thể chế diễn ra sự trao đổi ấy là
một khiếm khuyết lớn. Chính các quy tắc ứng xử đã có sẵn hay nói cách khác,
chính các quy tắc chi phối hành vi ứng xử của con ngƣời cũng là yếu tố bên
trong, yếu tố nội sinh của các quá trình trao đổi, tƣơng tác kinh tế-xã hội chứ
không phải là lực lƣợng bên ngoài của những tƣơng tác này. Ngoài ra, những
ngƣời thuộc phái này cũng cho rằng, sự tồn tại các thể chế và thiết chế với tƣ
cách là những sáng tạo của con ngƣời là cách thức để con ngƣời huy động nỗ
lực tập thể, nỗ lực của xã hội để giải quyết các vấn đề mà tự bản thân không
giải quyết đƣợc. Douglass North đã từng nhận định: “Khi việc thực hiện giao
12
dịch trở nên tốn kém, các thể chế thể hiện vai trò của mình. Các thể chế trở
thành những nhân tố định dạng cấu trúc ứng xử cho các chủ thể. Chúng có thể
là những ràng buộc mang tính chính thức luật lệ, hiến pháp... hay không
chính thức tiêu chuẩn ứng xử, các hiệp định, các quy tắc ứng xử tự vận
dụng... và các quy tắc tự nguyện khác.” Các thể chế có vai trò đơn giản hóa
vấn đề trong cơ chế ra quyết định của các cá nhân, tổ chức. Bằng cách tuân
theo những hành vi đã đƣợc quy định hay thể chế hóa, các cá nhân riêng lẻ sẽ
có thể có kế hoạch phối hợp hành động một cách hoàn hảo hơn. Nói cách
khác, tuy thể chế có vai trò giới hạn khả năng chọn lựa của mỗi cá nhân, tổ
chức nhƣng nó lại có vai trò giúp cho các chủ thể khác dự đoán tốt hơn cách
ứng xử của mỗi chủ thể. Điều này cũng có nghĩa rằng, sự hiện diện của thể
chế sẽ làm giảm tính không chắc chắn về những hành vi mà ngƣời khác sẽ
thực hiện. Thể chế, vì vậy, là yếu tố quan trọng tạo nên sự minh bạch và niềm
tin giữa các thành viên trong xã hội. Thông qua đó, thể chế làm tăng hiệu quả
phân bổ nguồn lực trong xã hội và làm tăng năng lực giải quyết vấn đề của xã
hội. Từ góc độ này, thể chế, trong chừng mực nhất định đƣợc coi là một dạng
vốn xã hội. Hiện nay, những ngƣời theo đuổi hƣớng nghiên cứu này chủ yếu
tập trung vào giải mã vai trò của thể chế kinh tế và xã hội trong việc thúc đẩy
tăng trƣởng và phát triển kinh tế, nhất là sự tăng trƣởng, phát triển kinh tế ở
các nƣớc đang phát triển.
- Hƣớng nghiên cứu nhấn mạnh tới khía cạnh lịch sử: những ngƣời
theo đuổi hƣớng nghiên cứu này thƣờng quan tâm tới lịch sử quá trình phát
sinh, phát triển của các quy phạm và thiết chế pháp luật; lý do đích thực của
những đổi thay đó trong lịch sử và liệu những bằng chứng lịch sử có thực sự
ủng hộ quan điểm mà trƣờng phái kinh tế học pháp luật trong thời kỳ đầu đã
nêu ra là: logic của pháp luật là logic về tính hiệu quả, quy phạm và thiết chế
có tính hiệu quả cho xã hội có khả năng tồn tại lâu dài hơn so với các quy
phạm và thiết chế không khuyến khích việc sử dụng có hiệu quả các nguồn
lực trong xã hội.
13
- Hƣớng nghiên cứu tích hợp phân tích kinh tế vào luật so sánh: đây là
hƣớng nghiên cứu mới diễn ra vào những năm cuối của thập niên 1990 nhất là
trong bối cảnh các cuộc cải cách kinh tế, chính trị ở các nƣớc trƣớc đây từng
theo chế độ xã hội chủ nghĩa nay đồng loạt chuyển sang mô hình phát triển
kinh tế thị trƣờng bằng cách nhập khẩu ồ ạt các quy chuẩn pháp luật và các
thiết chế dân chủ mô phỏng của phƣơng Tây. Đại diện tiêu biểu của hƣớng
nghiên cứu này là giáo sƣ Ugo Mattei – Đại học California Hoa Kỳ , tác giả
của 2 cuốn sách nổi tiếng: “Kinh tế học luật so sánh” và “Luật so sánh”. Các
nhà nghiên cứu thuộc phái này tập trung vào tìm hiểu xem trƣờng hợp nào hoặc
điều kiện nào thì việc nhập khẩu luật pháp của phƣơng Tây vào môi trƣờng xã
hội khác có thể thành công và trƣờng hợp nào sẽ thất bại. Liệu một quy tắc
hoặc thiết chế đƣợc coi là tối ƣu ở quốc gia này có thể mang nhập khẩu vào
quốc gia khác mà vẫn mang lại lợi ích thiết thực hay không?
- Hƣớng nghiên cứu về hành vi chiến lƣợc: nếu nhƣ giả định cơ bản sử
dụng trong phân tích kinh tế học pháp luật truyền thống mà Richard Posner
là đại diện tiêu biểu cho rằng con ngƣời là những thực thể độc lập, ứng xử
theo hƣớng xác định là tối đa hóa lợi ích của bản thân, không để ý tới phản
ứng của ngƣời xung quanh thì những ngƣời theo hƣớng nghiên cứu về hành vi
chiến lƣợc đã không chấp nhận mô hình này. Dựa trên cơ sở lý thuyết trò chơi
game theory , theo đó, trong những tình huống xã hội nhất định chẳng hạn,
trong bối cảnh có sự cạnh tranh trên một thị trƣờng , việc ch quan tâm tới lợi
ích của mình mà không quan tâm tới phản ứng của ngƣời xung quanh nhất là
các đối thủ cạnh tranh không chắc đã là cách thức ứng xử tối ƣu, những
ngƣời đi theo hƣớng nghiên cứu này cho rằng, cần hiệu ch nh lại những lý
thuyết truyền thống của kinh tế học pháp luật để áp dụng tốt hơn với trƣờng
hợp các tƣơng tác mang tính chiến lƣợc. Hiện nay, những ngƣời theo hƣớng
nghiên cứu này thƣờng tập trung vào việc áp dụng các nguyên lý của lý thuyết
trò chơi để giải thích các quy định pháp luật điều ch nh các loại thị trƣờng
mang tính độc quyền nhóm hoặc các quy định ràng buộc các cuộc chay đua
14
chính trị trong các cuộc tranh cử, các quy định về cách ứng xử của các chủ thể
trong quan hệ quốc tế...
Ngoài các hƣớng nghiên cứu cơ bản kể trên, những ngƣời thuộc phái
kinh tế học pháp luật hiện nay còn tập trung nghiên cứu về tính xác thực của
các giả định kinh tế giả định về tính duy lý và tính vị lợi của con ngƣời kinh
tế , ứng dụng kinh tế học hành vi behavioral economics cho các phân tích
pháp luật của mình. Bên cạnh đó, việc ứng dụng lý thuyết về lựa chọn công
cộng public choice theory vào giải thích sự vận hành của các thiết chế chính
trị Đảng phái và Nhà nƣớc cũng là một hƣớng nghiên cứu quan trọng.
II. XU THẾ ĐÀO TẠO KINH TẾ HỌC PHÁP LUẬT TRÊN THẾ GIỚI
VÀ SỰ CẦN THIẾT GIẢNG DẠY KINH TẾ HỌC PHÁP LUẬT TẠI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
1. Khái quát xu thế đào tạo kinh tế học pháp luật trên thế giới
Trong nhiều năm trở lại đây, các nghiên cứu về kinh tế học pháp luật đã
góp phần đƣa kinh tế học pháp luật phát triển thành một môn học rất mới mẻ
và đƣợc đƣa vào giảng dạy ở nhiều Trƣờng Luật trên thế giới, đặc biệt là ở
Hoa kỳ, châu Âu và một số nƣớc ở châu Á nhƣ Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn
Quốc, Singapore… Việc giảng dạy về kinh tế học pháp luật đƣợc thiết kế cho
cả các Chƣơng trình đào tạo liên ngành ngành kinh tế và ngành luật , đặc biệt
là cho các Chƣơng trình đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ luật học.
- Tại Hoa Kỳ, môn kinh tế học pháp luật không ch đƣợc giảng dạy chính
thức tại các Trƣờng Luật thuộc Đại học Havard, Đại học Chicago, Đại học
Yale, Đại học Berkely, George Mason… mà còn đƣợc thiết kế thành chuyên
ngành kinh tế học pháp luật, với mục tiêu đào tạo các chuyên gia về chuyên
ngành kinh tế học pháp luật.
- Tại Châu Âu, môn kinh tế học pháp luật mới đƣợc đƣa vào giảng dạy
tại các Trƣờng Đại học lớn ở các nƣớc Âu châu từ những năm 90 của thế kỷ
15
20. Các quốc gia nhƣ Anh, Đức, Hà Lan, Áo… đều có những khóa học
chuyên biệt về kinh tế học pháp luật, hoặc đƣợc đƣa vào nhƣ một môn học bắt
buộc hay tự chọn của Chƣơng trình đào tạo thạc s , tiến sĩ ngành luật.
- Tại Châu Á, theo xu hƣớng cải cách giáo dục đại học và sau đại học,
một số nƣớc đã bắt đầu đƣa môn kinh tế học pháp luật vào giảng dạy tại các
trƣờng đại học, trong đó có trƣờng Luật. Tuy nhiên, tùy theo nhận thức ở mỗi
quốc gia mà kiến thức về Kinh tế học pháp luật có thể đƣợc thiết kế nhƣ một
môn học chính thức trong chƣơng trình đào tạo cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ, hoặc
đƣợc thiết kế thành một Chuyên ngành đào tạo riêng về kinh tế học pháp luật.
Ví dụ, gần đây tại Ấn Độ, trƣờng đại học về khoa học tƣ pháp NUJS đã có
hai khóa học về kinh tế học pháp luật dành cho các sinh viên đại học và học
viên cao học. Còn ở Singapore, Trƣờng Đại học Quốc gia Singapore đã sáng
lập một khóa học “bằng kép” về kinh tế học pháp luật vào năm 2005.
Khảo sát kinh nghiệm trên thế giới cho phép rút ra một số khuynh hƣớng
cơ bản trong đào tạo kinh tế học pháp luật nhƣ sau:
Một là, chƣơng trình đào tạo kinh tế học pháp luật đƣợc thực hiện rất đa
dạng về hình thức, với các cấp độ đào tạo khác nhau từ cử nhân cho tới thạc
sĩ, tiến s .
Hai là, việc tổ chức đào tạo kinh tế học pháp luật không có công thức
duy nhất, nó hoàn toàn phụ thuộc vào môi trƣờng văn hóa và giáo dục của
từng quốc gia cụ thể.
- Ở M , thông thƣờng các sinh viên thƣờng học tại một khoá học khác
trƣớc khi bứơc chân vào giảng đƣờng học luật. Các chƣơng trình học luật
thƣờng kéo dài 03 năm, chủ yếu tập trung vào đào tạo thực hành luật JD . Do
đó, không có lý do nào để xây dựng một chƣơng trình cử nhân kinh tế học
pháp luật, mà thông thƣờng các trƣờng này sẽ có các chƣơng trình đào tạo
kinh tế học pháp luật hoặc là trong trƣờng luật, hoặc thạc s hoặc tiến s luật.
16
- Ở các nƣớc Châu Âu, chủ yếu các trƣờng có chƣơng trình thạc s kinh
tế học pháp luật. Đây là chƣơng trình thích hợp nhất để các sinh viên đã từng
tốt nghiệp từ các chuyên ngành kinh tế, luật có thể cùng tham gia, nghiên cứu,
trao đổi và phát triển.
- Ở các nƣớc châu Á, một số nƣớc nhƣ Ấn Độ, Singapore đã có các
chƣơng trình đào tạo kinh tế học pháp luật nhƣng do mới bắt đầu nên chủ yếu
là nằm trong chƣơng trình đại học.
Ba là, đào tạo kinh tế học pháp luật có những yêu cầu nhất đặc thù cho
đối tƣợng theo học. Lý do có thể giải thích là: kinh tế học pháp luật là một
chƣơng trình liên ngành. Muốn học đƣợc chƣơng trình này, yêu cầu các sinh
viên phải có đƣợc sự hiểu biết tƣơng đối cả hai ngành kinh tế, luật. Đây là yêu
cầu tƣơng đối cao so với mức độ trung bình của các sinh viên.
2. Sự cần thiết giảng dạy kinh tế học pháp luật tại Trƣờng đại học
luật Hà Nội
Nhu cầu đào tạo kinh tế học pháp luật ở Trƣờng đại học luật Hà Nội
không ch xuất phát từ xu thế phát triển phù hợp với đào tạo luật trên thế giới,
mà điều quan trọng hơn là phải xuất phát từ chính những nhu cầu nội tại của
đào tạo luật hiện nay. Cho nên, xác định sự cần thiết giảng dạy kinh tế học
pháp luật phải trả lời cho các câu hỏi chính yếu sau đây:
- Kinh tế học pháp luật có cung cấp những tri thức pháp lý có giá trị
cho việc giảng dạy và nhận thức pháp luật?
- Việc trang bị kiến thức về kinh tế học pháp luật có đáp ứng nhu cầu
gì trong thực tiễn pháp lý hiện nay?
1.1. Việc giảng dạy kinh tế học pháp luật sẽ cung cấp những kiến thức
khoa học mới về chất cho quá trình đào tạo pháp luật
Trong giai đoạn hiện nay, có 4 xu hƣớng nghiên cứu chính của khoa học
pháp lý: triết học pháp luật, xã hội học pháp luật, so sánh luật, kinh tế học
17
pháp luật; trong đó, nổi bật là kinh tế học pháp luật.
Các phƣơng pháp nghiên cứu sử dụng trong phần lý thuyết của các môn
học luật ở Việt Nam chủ yếu là sử dụng cách thức triển khai của triết học
pháp luật. Cách thức này thƣờng dựa trên những phân tích nội tại, logic bên
trong của pháp luật. Bên cạnh xu hƣớng này, các xu hƣớng còn lại trong khoa
học pháp lý nhìn nhận pháp luật nhƣ một yếu tố trong mối liên hệ đa dạng
hơn với các yếu tố bên ngoài nhƣ kinh tế, tập quán, văn hoá, xã hội. Cách tiếp
cận này cho thấy tính sống động hơn, thực tế hơn của đối tƣợng nghiên cứu là
pháp luật. Việc bổ sung và ứng dụng các thành tựu của khoa học pháp lý sẽ
giúp cho đào tạo luật tránh đƣợc những lối mòn giáo điều và qua đó có những
phƣơng tiện để phân tích luật và sử dụng chúng gần gũi hơn với thực tế. Điều
này đƣợc lý giải bởi một số lí do sau:
- Làm tăng tính khách quan trong nội dung đào tạo luật. Không hiếm
trƣờng hợp hiện nay việc phân tích các qui định mang tính tƣ biện, nhiều khi
mang nặng xảo thuật ngôn từ và câu chữ. Chẳng hạn, cho rằng công ty là dựa
vào sự hợp tác để kinh doanh nên ít nhất phải có hai thực thể thành lập, cho
nên lập luận đó bỗng trở nên lúng túng khi chính bản thân luật thực định thay
đổi cho phép tồn tại loại hình công ty một thành viên. Hoặc, ví dụ khác, giải
thích câu chữ trên bề mặt nên dẫn đến những quan niệm hời hợt và sai lầm,
nhƣ Sở giao dịch hàng hoá đƣợc ghi trong Luật thƣơng mại ch là một nơi tập
trung để mua bán hàng hoá trong khi thực chất đấy là một dạng thức đầu tƣ
nhằm phòng chống rủi ro và phần lớn trƣờng hợp là không có hàng hoá nào
thực sự đƣợc trao nhận ở Sở giao dịch hàng hoá ấy cả. Cố gắng đoạn tuyệt với
lối phân tích chủ quan, khoa học pháp lý hiện đại tìm kiếm những cơ sở khách
quan hơn cho lập luận bằng việc sử dụng các phƣơng pháp mang tính định
lƣợng nhiều hơn. Ví dụ, ta có một mệnh đề định tính sau: ngoài hành vi của
tôi ra, tôi không tồn tại với pháp luật. Xã hội học pháp luật hoặc Kinh tế học
pháp luật thao tác mệnh đề đó dƣới góc nhìn thực chứng hơn. Nhƣ trong kinh
18
tế học pháp luật, ngƣời ta dựa vào lý thuyết hành vi để có thể mô hình hoá các
hành vi của con ngƣời dựa trên giả định con ngƣời là có lý trí và phải quyết
định hành vi trên cơ sở lựa chọn chi phí - lợi ích.
- Làm tăng tính đa dạng và nhiều chiều của việc đào tạo luật. Nhƣ đã
nói, không ai có thể biết một ngƣời sinh viên sẽ thực sự phải đối mặt với công
việc cụ thể nào. Do đó, một chƣơng trình dạy luật phải bao hàm tính đa dạng
về nội dung và đa chiều về cách tiếp cận. Việc cập nhật các nghiên cứu mới
trong khoa học pháp lý cung cấp cho chúng ta cơ hội để đạt đƣợc mục tiêu
này. Giả sử chúng ta xác định địa ch sử dụng lao động của các cử nhân luật
đã đƣợc học luật thuế là cơ quan quản lý và doanh nghiệp. Ta có thể thấy, bên
cạnh việc nhìn nhận thuế nhƣ một nghĩa vụ pháp lý luôn đòi hỏi có sự tham
gia của nhà nƣớc, là một quan hệ hành chính thuần tuý vốn rất phù hợp với
góc nhìn của nhà nƣớc, thì quan niệm thuế nhƣ một chi phí giao dịch lại rất
thích hợp cho những tri thức và k năng để tƣ vấn cho doanh nghiệp về tính
hiệu quả của việc thực hiện nghĩa vụ thuế đôi khi, ngƣời ta còn hay gọi là sự
tiết kiệm thuế- vừa phù hợp với pháp luật, vừa hiệu quả tài chính đối với
doanh nghiệp . Nhƣ vậy, khi chúng ta thấy, một môn học cập nhật những
thành tựu khoa học pháp lý thì không ch mang lại chiều sâu tri thức cho môn
học mà còn làm cho môn học đó đƣợc linh hoạt về k năng.
- Việc cập nhật các thành tựu khoa học pháp lý có thể cho phép hình
dung ra những môn học mới hoặc những nội dung cần phải bổ sung trong
chƣơng trình đào tạo. Sự phát triển của khoa học pháp lý cung cấp cho chúng
ta những tri thức mới về pháp luật. Các tri thức mới này, trong những điều
kiện và thời điểm thích hợp, có thể giúp hình thành nên những môn học mới.
Chẳng hạn, tại nhiều nƣớc tiên tiến, ngƣời ta đã tiến hành nghiên cứu mối
quan hệ giữa luật pháp và kinh tế, mà cụ thể là sử dụng những phƣơng pháp
của kinh tế học để phân tích các qui định pháp luật, và gần đây, trong nhiều
chƣơng trình đào tạo luật cũng đã thấy xuất hiện môn học kinh tế học pháp
19
luật.
1.2. Kinh tế học pháp luật chưa được đưa vào giảng dạy trong chương
trình đào tạo luật ở những cấp độ khác nhau
Một cách chung nhất, có thể thấy, hiện nay nội dung giảng dạy của các
chƣơng trình luật chƣa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của thực tiễn pháp lý.
Điều đó thể hiện ở một số điểm chính sau đây:
- Nhiều nội dung công việc của ngƣời làm công tác pháp luật không
đƣợc giảng dạy tại các trƣờng luật. Nội dung giảng dạy đƣợc thiết kế dựa trên
sự phân tích logic nội tại hệ thống luật thực định. Những tác động, ảnh hƣởng
của qui phạm pháp luật tới các hoạt động thực tế không đƣợc giảng dạy một
cách hệ thống.
- Thiếu các tri thức để vận dụng pháp luật trong thực tế. Việc giảng dạy
hiện nay chủ yếu nhấn mạnh đến các tri thức về nội dung của các văn bản qui
phạm pháp luật cụ thể. Tuy nhiên, các tri thức này ch là một yếu tố dù có
thể là quan trọng nhất trong rất nhiều yếu tố của quá trình điều ch nh pháp
luật. Sự hiểu biết về luật thuế không thể thay thế cho những kiến thức về kế
toán, sự nắm chắc ý nghĩa của khái niệm trách nhiệm hữu hạn hay bản chất
của cổ phần, cổ đông không bù đắp đƣợc cho sự thiếu hiểu biết về quản trị
doanh nghiệp, báo cáo tài chính. Tất nhiên, không có chƣơng trình giảng dạy
nào có thể dạy đƣợc tất cả mọi điều, nhƣng những định hƣớng cơ bản về
những tri thức cần phải có để vận dụng pháp luật hiệu quả thì rất cần giới
thiệu cho học viên. Nói nhƣ Oliver Wendell Holmes: Một luật gia hiện tại có
thể ch cần nắm vững những logic của bản thân các qui định pháp luật, nhƣng
luật gia của tƣơng lai cần phải biết về kinh tế... Thời điểm mà câu nói trên
đƣợc đƣa ra là vào những năm cuối thế kỷ 19.
Từ bối cảnh chung đó, xin bàn cụ thể về trƣờng hợp của kinh tế học pháp
luật. Khảo sát đời sống pháp lý trong giai đoạn 10 năm trở lại đây, chúng ta
thấy có 2 ứng dụng của kinh tế học pháp luật đƣợc đề cập tới rất nhiều trong
20
quá trình soạn thảo hoặc áp dụng văn bản qui phạm pháp luật, đó là:
- Qui trình đánh giá tác động của các văn bản qui phạm pháp luật với sự
viết tắt quen thuộc theo tiếng Anh: RIA . Qui trình này đã trở thành bắt buộc
cho các dự thảo luật. Mục đích của qui trình này là đo lƣờng những ảnh
hƣởng mà một qui định sắp ban hành tới các đối tƣợng áp dụng. Nội dung của
những ảnh hƣởng này là mối quan hệ về chi phí - lợi ích mà qui định mang
lại. Mục đích và nội dung của qui trình này, nhƣ vậy, chính là một sản phẩm
ứng dụng của khoa học kinh tế học pháp luật.
- Chi phí giao dịch. Trong lĩnh vực pháp luật kinh tế, nhất là trong quá
trình thi hành Luật doanh nghiệp, khái niệm chi phí giao dịch đƣợc sử dụng
rất phổ biến để nhằm luận giải cho những nội dung của Luật này. Chi phí giao
dịch chính là nội dung cơ bản nhất của kinh tế học pháp luật. Nó đƣợc sử
dụng để giải thích hành vi ứng xử của các bên trong quan hệ kinh tế: tại sao
ngƣời ta lại thành lập doanh nghiệp, tại sao công khai thông tin lại quan trọng
cho sự phát triển kinh tế, và những câu hỏi tƣơng tự.
Mặc dù 2 nội dung trên đây đƣợc đề cập và sử dụng khá nhiều trong thực
tế pháp lý, nhƣng có thể khẳng định, chƣa có một chƣơng trình đào tạo luật
nào ở Việt Nam đề cập tới các nội dung này.
Trƣớc hiện trạng đó, việc nghiên cứu và thực hiện việc giảng dạy kinh tế
học pháp luật sẽ có tác dụng thực tế sau đây:
Thứ nhất, trang bị cho các luật gia những kiến thức cơ bản trong việc sử
dụng các công cụ và phƣơng pháp tƣ duy tiên tiến trong các công việc liên
quan đến luật pháp. Chẳng hạn, về mặt ngữ nghĩa khái niệm chi phí giao dịch
rất dễ hình dung, nó có thể diễn nôm là: các chi phí phải bỏ ra để thực hiện giao
dịch. Tuy nhiên, để hiểu đúng khái niệm này thì không phải là câu chuyện của
“từ vựng” mà là phải nắm đƣợc vì sao một giao dịch lại làm phát sinh chi phí,
chi phí giao dịch gồm những cấu thành gì chi phí thông tin, chi phí bảo đảm,
chi phí rủi ro… , và các cấu thành ấy đƣợc đo lƣờng bằng cách nào.
21