Tải bản đầy đủ (.doc) (119 trang)

QUẢN lý CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ nước tại TỈNH hà NAM

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (956.3 KB, 119 trang )

i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, qua
quá trình nghiên cứu thực tế tại địa phương được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa
học của TS. Phan Thế Huynh
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực, các số liệu,
tài liệu trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc. Tôi xin chịu trách nhiệm
về nghiên cứu của mình.
Hà Nội, ngày

tháng 8 năm 2017

Tác giả luận văn

Ma Khánh Bào


ii
LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, bên cạnh sự cố gắng của bản thân tôi đã nhận
được sự động viên, hướng dẫn, giảng dạy và nhiều ý kiến đóng góp quý báu của các
thầy giáo, cô giáo, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp trong suốt quá trình học tập. Tôi
xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành của mình tới Ban lãnh đạo trường Đại học
Thương mại, các thầy giáo, cô giáo Khoa Sau đại học đã nhiệt tình giúp đỡ, hỗ trợ
cho tôi. Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến Thầy giáo - TS. Phan
Thế Huynh là người trực tiếp hướng dẫn khoa học, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình
nghiên cứu và hoàn thiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ về mọi mặt của Ban lãnh đạo
Sở Tài chính Thái Nguyên, gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp đã tạo điều kiện
thuận lợi cho tôi hoàn thành khóa học và thực hiện thành công luận văn này.


Luận văn này là tổng hợp kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu kết hợp
với kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình công tác và sự nỗ lực cố gắng của bản
thân. Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện và nghiên cứu hoàn
thành luận văn, song luận văn vẫn không thể tránh khỏi những khiếm khuyết, tôi rất
mong nhận được sự góp ý chân thành của quý thầy, cô và đồng nghiệp để luận văn
này được hoàn thiện hơn và đề tài có giá trị thực tiễn cao hơn.
Xin trân trọng cám ơn!
Hà Nội, ngày

tháng 8 năm 2017

Tác giả luận văn

Ma Khánh Bào


iii

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN

ii

MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU

vi


vii

1

1. Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài 1
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài
3. Mục tiêu nghiên cứu

2

5

4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu

5

6

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 7
7. Kết cấu của luận văn

7

CHƯƠNG 1:MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ CHI
THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

8


1.1. Các khái niệm cơ bản về ngân sách nhà nước, chi ngân sách nhà nước và
chi thường xuyên ngân sách nhà nước cấp tỉnh
1.1.1. Ngân sách nhà nước

8

1.1.2. Chi ngân sách nhà nước

12

8

1.1.3. Chi thường xuyên ngân sách nhà nước cấp tỉnh

15

1.2. Tổng quan về quản lý và nội dung quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà
nước cấp tỉnh

18

1.2.1. Khái niệm, sự cần thiết quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cấp
tỉnh

18

1.2.2. Mục tiêu và nguyên tắc quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cấp
tỉnh

21


1.2.3. Nội dung và quy trình quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cấp
tỉnh

23


iv
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà
nước cấp tỉnh

31

1.3.1. Cơ chế chính sách, pháp luật về ngân sách nhà nước và quản lý chi ngân
sách nhà nước

31

1.3.2. Nhân tố về tổ chức bộ máy và trình độ cán bộ quản lý chi thường xuyên
ngân sách nhà nước cấp tỉnh

32

1.3.3. Đối tượng quản lý chi thường xuyên
1.3.4. Các nhân tố khác

34

34


CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN
SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA TỈNH HÀ NAM GIAI ĐOẠN 2014-2016

36

2.1. Tổng quát về Sở Tài chính và tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hà Nam
36
2.1.1. Khái quát về Sở Tài chính và ngân sách nhà nước tỉnh Hà Nam
2.1.2. Tổng quan về tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Hà Nam

36

42

2.2. Thực trạng chi và quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước của tỉnh
Hà Nam giai đoạn 2014-2016

45

2.2.1. Khái quát tình hình chi ngân sách nhà nước của tỉnh Hà Nam

45

2.2.2. Thực trạng quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tỉnh giai đoạn
2014-2016

51

2.3. Đánh giá tình hình quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước của tỉnh
Hà Nam


66

2.3.1. Kết quả đạt được
2.3.2. Hạn chế

66

68

2.3.3. Nguyên nhân của hạn chế 72
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ
NƯỚC Ở TỈNH HÀ NAM

77

3.1. Quan điểm, mục tiêu hoàn thiện quản lý chi NSNN ở tỉnh Hà Nam 77
3.1.1. Định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hà Nam đến năm 2020 77


v
3.1.2. Quan điểm, mục tiêu hoàn thiện quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa
bàn Hà Nam 78
3.2. Giải pháp hoàn thiện quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại
tỉnh Hà Nam

82

3.2.1. Hoàn thiện công tác lập dự toán chi thường xuyên NSNN tỉnh Hà Nam
82

3.2.2. Hoàn thiện công tác chấp hành dự toán chi thường xuyên NSNN của tỉnh
Hà Nam

83

3.2.3. Hoàn thiện công tác quyết toán chi thường xuyên NSNN của tỉnh Hà
Nam 86
3.2.4. Tăng cường công tác thanh tra tài chính và thực hiện công khai tài chính
87
3.2.5. Các giải pháp hỗ trợ khác 88
3.3. Kiến nghị

90

3.3.1. Kiến nghị đối với Chính phủ, Bộ Tài chính

90

3.3.2. Kiến nghị đối với chính quyền địa phương

92

3.3.3. Kiến nghị đối với đơn vị sử dụng ngân sách

93

KẾT LUẬN 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

96



vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
BẢNG
Bảng 2.1: Cơ cấu thu – chi NSĐP tỉnh Hà Nam giai đoạn 2014-2016

39

Bảng 2.2: Cơ cấu chi ngân sách địa phương của tỉnh Hà Nam giai đoạn 20142016 46
Bảng 2.3: Cơ cấu phân bổ chi thường xuyên tỉnh Hà Nam giai đoạn 2014-2016
48
Bảng 2.4: Chi đầu tư phát triển từ NSNN theo lĩnh vực tỉnh Hà Nam giai đoạn
2014-2016

50

Bảng 2.5: Định mức chi quản lý hành chính năm 2016

54

Bảng 2.6: Cơ cấu phân bổ chi thường xuyên tỉnh Hà Nam giai đoạn 2014-2016
55
Bảng 2.7. Quyết toán chi trợ giá ngân sách tỉnh Hà Nam giai đoạn 2014-2016
57
Bảng 2.8. Quyết toán chi sự nghiệp kinh tế ngân sách tỉnh Hà Nam giai đoạn
2014-2016

58


Bảng 2.9. Quyết toán chi sự nghiệp giáo dục đào tạo ngân sách tỉnh Hà Nam
giai đoạn 2014-2016

59

Bảng 2.10. Quyết toán chi sự nghiệp y tế ngân sách tỉnh Hà Nam giai đoạn
2014-2016

60

Bảng 2.11. Quyết toán chi quản lý hành chính ngân sách tỉnh Hà Nam giai
đoạn 2014-2016

61

SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của Sở Tài chính

54


vii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BHYT

: Bảo hiểm y tế

GPMB

: Giải phóng mặt bằng


HĐND

: Hội đồng nhân dân

KBNN

: Kho bạc nhà nước

KT-XH

: Kinh tế xã hội

NS

: Ngân sách

NSĐP

: Ngân sách địa phương

NSNN

: Ngân sách nhà nước

TU

: Tỉnh uỷ

UBND


: Uỷ ban nhân dân

XDCB

: Xây dựng cơ bản


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài
Trong hệ thống tài chính quốc gia, ngân sách nhà nước là khâu chủ đạo, là
điều kiện vật chất quan trọng để thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước.
Đồng thời ngân sách nhà nước là công cụ quan trọng của Nhà nước để điều chỉnh vĩ
mô đối với toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh quốc gia, thực hiện
các chính sách kinh tế xã hội, quản lý nhà nước về chi ngân sách là một trong
những công cụ quan trọng để quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Trong những năm qua, cùng với sự đổi mới của nền kinh tế, quản lý NSNN đã
có những đổi mới nhằm phù hợp hơn với nền kinh tế hội nhập trong khu vực và thế
giới, để làm được điều đó đòi hỏi Nhà nước phải sử dụng một cách có hiệu quả các
công cụ, chính sách tài chính tiền tệ, đặc biệt là chính sách quản lý ngân sách nhà
nước. Việc quản lý chi ngân sách nhà nước hiệu quả góp phần khắc phục những hạn
chế của cơ chế thị trường, là công cụ để chính quyền thực hiện quản lý toàn diện
các hoạt động kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng, điều tiết nền kinh tế là
một trong những nội dung cơ bản của công cuộc cải cách tài chính công nói chung,
tỉnh Hà Nam nói riêng.
Thái Nguyên là một tỉnh miền núi, là thủ đô của cuộc kháng chiến chống
Pháp, là địa phương có nhiều di tích lịch sử và địa danh du lịch, nguồn thu ngân
sách so với một số địa phương khác còn hạn chế trong khi nhu cầu chi đòi hỏi cao,
công tác quản lý NSNN càng phải được chú trọng để khơi dậy, khai thác nguồn thu,

phân bổ hợp lý đáp ứng nhiệm vụ chi NSNN nhằm thúc đẩy kinh tế phát triển. Thực
tế thời gian qua, tỉnh Thái Nguyên đã có những chuyển biến tích cực, thể hiện ở
việc: Thành lập các Đoàn kiểm tra chống thất thu ngân sách về thuế, khai thác
khoáng sản trên địa bàn, có chính sách thu hút các doanh nghiệp có vốn nước ngoài
đầu tư vào địa bàn tỉnh, khai thác các nguồn lực tài chính tiềm năng, sẵn có và thực
hiện phân phối các khoản chi hợp lý góp phần tạo động lực kích thích tăng trưởng
kinh tế. Tuy công tác quản lý NSNN đã đạt được những hiệu quả nhất định nhưng


2
bên cạnh đó vẫn còn tồn tại cần được khắc phục, hoàn thiện. Do vậy để tránh tình
trạng thất thu NSNN về các khoản thuế, nợ đọng đầu tư XDCB, phân bổ hợp lý các
khoản chi tránh đầu tư dàn trải, có quan điểm rõ ràng về các khoản chi sai mục đích,
lãng phí NSNN... cùng với quá trình quản lý thu NSNN thì việc quản lý chi NSNN
cũng cần phải được chú trọng, tiếp tục điều chỉnh, bổ sung cơ chế chính sách để góp
phần ổn định kinh tế xã hội, thúc đẩy sản xuất phát triển nhất là trong điều kiện hội
nhập kinh tế thế giới.
Nhiệm vụ chủ yếu của quản lý chi ngân sách nhà nước là duy trì các hoạt động
trên địa bàn để ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội. Công tác chi ngân
sách trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên hiện nay đã có nhiều chuyển biến tích cực, cơ
cấu chi tương đối hợp lý đảm bảo cho sự phát triển đồng bộ, song vẫn còn nhiều
hạn chế, hiệu quả các khoản chi ngân sách còn thấp, trong quá trình lập, chấp hành,
quyết toán còn nhiều vấn đề bất cập. Công tác quản lý còn chưa chặt chẽ, thanh
quyết toán chưa nghiêm dẫn đến tình trạng kém hiệu quả, gây thất thoát, lãng phí…
Điều hành chi ngân sách địa phương còn tình trạng chi theo vụ việc, ngoài dự toán
dẫn đến quá trình thực hiện dự toán còn điều chỉnh, bổ sung nhiều lần. Một số lĩnh
vực chi do không phân định quản lý rõ giữa các ngành các cấp nên giữa các cấp
quản lý ngân sách còn có sự chồng chéo…
Xuất phát từ những lý do trên và trước yêu cầu thực tế, tôi chọn đề tài: “Quản
lý nhà nước về chi ngân sách trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên” làm đề tài nghiên

cứu luận văn thạc sỹ của mình nhằm góp phần phát huy những vấn đề tích cực, đề
xuất giải quyết những vấn đề yếu kém còn tồn tại, xác định nguyên nhân, đề xuất
các giải pháp đổi mới quản lý và rút ra những bài học kinh nghiệm trong công tác
quản lý, điều hành NSNN ở tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới.

2. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài
Trần Thị Hồng (2015), “Kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua kho bạc nhà
nước Nghệ An”, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Quốc Gia Hà Nội. Đề tài đi sâu
nghiên cứu công tác kiểm soát chi NSNN qua kho bạc nhà nước Nghệ An trên cơ sở
đánh giá thực trạng, chỉ rõ các vấn đề tồn tại làm căn cứ để đưa ra những giải pháp


3
cải thiện trong kiểm soát chi NSNN qua Kho bạc nhà nước đối với những khoản chi
thường xuyên và khoản chi đầu tư xây dựng cơ bản. Trên cơ sở lý luận, kinh
nghiệm công tác kiểm soát chi theo yêu cầu đổi mới cải cách tài chính công và kiểm
soát chi tiêu công của các nước tiên tiến để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng dữ liệu làm căn cứ kiểm soát, hoàn thiện công tác kiểm soát chi NSNN qua
Kho bạc nhà nước theo hướng hiệu quả, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính trong
lĩnh vực quản lý ngân sách, những giải pháp đề xuất tương đối phù hợp và có khả
năng áp dụng vào thực tiễn cao, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các đơn vị sử dụng
NSNN phù hợp xu thế hội nhập quốc tế.
Thạc sỹ Lê Toàn Thắng (2013), “Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước ở Việt
Nam hiện nay”, Luận án tiến sỹ, Trường Học viện Hành chính. Bằng các phương
pháp duy vật lịch sử, phân tích, tổng hợp, so sánh, dự báo và lấy ý kiến chuyên gia,
luận án đã hệ thống hoá lý thuyết về phân cấp quản lý NSNN, trong đó nghiên cứu
kinh nghiệm phân cấp quản lý ngân sách của một số quốc gia trên thế giới và rút ra
một số bài học kinh nghiệm có thể áp dụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Luận án cũng đánh giá thực trạng phân cấp quản lý NSNN với bốn nội dung cụ thể
là phân cấp thẩm quyền ban hành luật pháp, chính sách, tiêu chuẩn và định mức

NSNN; Phân cấp quản lý nguồn thu, nhiệm vụ chi NSNN; Phân cấp quản lý thực
hiện chu trình ngân sách nhà nước; Phân cấp trong giám sát, thanh tra, kiểm toán
NSNN và đề xuất giải pháp về phân cấp quản lý NSNN ở Việt Nam và điều kiện để
thực hiện các giải pháp đó.
Vũ Sơn Hà (2012), “Hoàn thiện quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn
tỉnh Quảng Ninh”, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Bách Khoa. Tác giả đã nghiên
cứu cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những
quan điểm đổi mới đường lối của Đảng và Nhà nước về quản lý tài chính – ngân
sách, như khái niệm, hệ thống, quản lý chi ngân sách nhà nước,... Trên cơ sở nghiên
cứu cơ sở lý luận về quản lý ngân sách nhà nước cấp tỉnh và khung nghiên cứu, luận
văn cũng phân tích và làm rõ thực trạng quản lý ngân sách nhà nước nói chung và
quản lý chi ngân sách nhà nước ở tỉnh Quảng Ninh nói riêng, bao gồm thực trạng


4
trong phân cấp lập dự toán, chấp hành, quyết toán, thanh tra, giám sát ngân sách nhà
nước. Từ đó nêu ra điểm mạnh, điểm yếu cùng nguyên nhân của điểm yếu trong quá
trình quản lý ngân sách nhà nước tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2007-2011 và đưa ra
các giải pháp tăng cường quản lý chi ngân sách trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
Đặng Hữu Nghĩa (2014), “Nâng cao hiệu quả quản lý chi thường xuyên ngân
sách nhà nước tỉnh Vĩnh Phúc”, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Kinh tế và Quản
trị kinh doanh Thái Nguyên. Tác giả đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận về chi
thường xuyên ngân sách nhà nước cấp tỉnh và hiệu quả quản lý chi thường xuyên
ngân sách nhà nước cấp tỉnh. Làm rõ vai trò, nội dung, các nhân tố tác động đến
hiệu quả quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tỉnh. Phân tích, đánh giá
thực trạng hiệu quả quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tỉnh Vĩnh
Phúc. Từ đó tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chi
thường xuyên NSNN tỉnh và vai trò, trách nhiệm trong quản lý, sử dụng NSNN
của các cơ quan chuyên môn và các đơn vị thụ hưởng ngân sách trên địa bàn tỉnh
Vĩnh Phúc, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và tăng cường hội nhập

quốc tế của địa phương.
Vũ Thị Thu Trang (2015),“Quản lý chi ngân sách nhà nước tỉnh Bắc Ninh”,
Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc Gia Hà Nội. Đối tượng
nghiên cứu của luận văn là hoạt động quản lý chi ngân sách nhà nước của tỉnh Bắc
Ninh được nghiên cứu thông qua việc kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như
phương pháp luận, phương pháp thu thập thông tin, phương pháp xử lý thông tin,
phương pháp so sánh, phương pháp mô tả thống kê,… Trên cơ sở nghiên cứu, vận
dụng lý luận thực tiễn về quản lý chi NSNN, Tác giả đã hệ thống hóa và làm rõ
thêm được các vấn đề lý luận về khái niệm, nội dung, vai trò, nguyên tắc của chi
ngân sách nhà nước, nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý chi ngân sách
nhà nước. Luận văn cũng đã trình bày một cách khái quát thực trạng chi ngân sách
(bao gồm: chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển) trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, chỉ
ra được những kết quả và hạn chế cần hoàn thiện để phân bổ tối ưu nguồn lực tài
chính địa phương, nâng cao hiệu quả quản lý chi thường xuyên, giải pháp hoàn


5
thiện hệ thống định mức phân bổ, định mức chi ngâ sách nhà nước, áp dụng quy
trình lập dự toán và phân bổ ngân sách trên cơ sở khuôn khổ chi tiêu trung hạn
(MTEF) theo hướng kết quả đầu ra nhằm gắn kết chính sách, kế hoạch với ngân
sách nhằm hạn chế những biểu hiện tham ô, lãng phí, gây thất thoát ngân sách,...
Thân Tùng Lâm (2012), “Hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên
ngân sách nhà nước qua kho bạc nhà nước Gia Lai”, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại
học Đà Nẵng. Đề tài đi sâu nghiên cứu công tác kiểm soát chi NSNN qua kho bạc
nhà nước Gia Lai trên cơ sở tiếp cận công tác kiểm soát chi theo yêu cầu đổi mới
cải cách tài chính công và kiểm soát chi tiêu công của các nước tiên tiến để đưa ra
các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát chi NSNN qua Kho bạc nhà nước
theo hướng hiệu quả, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính trong lĩnh vực quản lý
ngân sách, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các đơn vị sử dụng NSNN, đồng thời
phù hợp xu thế hội nhập quốc tế.

Lý Thu Hương (2013), “Hoàn thiện quản lý chi đầu tư xây dựng cơ bản từ
ngân sách nhà nước cấp tỉnh của tỉnh Thái Nguyên”, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại
học kinh tế và Quản trị kinh doanh - Đại học Thái Nguyên. Đối tượng nghiên cứu
của đề tài là quản lý chi đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước cấp tỉnh
trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Tác giả đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận về
công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản và trình bày một cách khái quát thực
trạng quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản, chỉ ra được những kết quả và hạn chế,
nguyên nhân của điểm yếu để từ đó đề xuất những giải pháp cần hoàn thiện trong
quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi đầu tư
xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước cấp tỉnh của tỉnh Thái Nguyên.
PGS. TS Trần Thị Lan Hương (2015) “Kinh nghiệm quản lý ngân sách của
một số nước”, bài đăng trên Tạp chí Tài chính số 11 kỳ 1-2015. Bài viết đưa ra hai
phương thức quản lý NSNN tiên tiến mà các nước có nền kinh tế phát triển thường
áp dụng, đó là quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra và quản lý ngân sách theo kế
hoạch chi tiêu trung hạn. Trong đó, quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra bằng cách
lượng hoá hiệu quả sử dụng ngân sách thông qua những kết quả đầu ra cụ thể để


6
mọi người dân đều có thể đánh giá, giám sát được. Đối với Việt Nam để đo lường
hiệu quả quản lý ngân sách bằng kết quả đầu ra thì cần có hệ thống khuôn khổ pháp
lý đầy đủ, hạ tầng công nghệ thông tin, đội ngũ cán bộ quản lý với tư duy và trình
độ đủ tiếp cận với phương thức mới. Theo tác giả, trước mắt, cần tăng cường khoán
chi và trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về biên chế, kinh phí và sản phẩm,
dịch vụ cho đơn vị sử dụng ngân sách hướng đến áp dụng thí điểm phương thức
quản lý ngân sách dựa trên kết quả đầu ra ở một số bộ, ngành khi đủ điều kiện.

3. Mục tiêu nghiên cứu
3.1. Mục tiêu tổng quát
Phân tích thực trạng quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Thái

Nguyên giai đoạn 2012-2016, từ đó, đánh giá những kết quả đạt được, những hạn
chế, tồn tại, chỉ rõ các nguyên nhân, nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chi
NSNN từ đó đặt ra những vấn đề cần tiếp tục giải quyết. Trên cơ sở đó, đề xuất một
số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước trên
địa bàn tỉnh Thái Nguyên cho giai đoạn 2017-2020.
3.2. Mục tiêu cụ thể
- Về lý luận: Hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về quản lý ngân sách
nhà nước, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý ngân sách nhà nước và vai
trò của quản lý ngân sách nhà nước, đặc biệt là tầm quan trọng của công tác quản lý
chi ngân sách nhà nước. Qua đó góp phần bổ sung, hoàn thiện, cụ thể hóa phương
pháp luận về quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
- Về thực tiễn: Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý chi ngân sách Nhà nước
trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2012-2016; Đánh giá các yếu tố tác động,
tính đặc thù, những mặt tích cực, yếu kém cần khắc phục, nguyên nhân của những
mặt yếu kém, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho công tác quản lý nhà
nước về chi ngân sách trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
- Về ứng dụng: Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác
quản lý chi ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới.
Kết quả đề tài có giá trị tham khảo cho tỉnh Thái Nguyên và các nhà quản lý cơ


7
quan Nhà nước rút ra những bài học kinh nghiệm, tăng cường hoàn thiện công tác
quản lý nhằm đạt hiệu quả trong quản lý nhà nước đối với NSNN nói chung và quản
lý nhà nước về chi ngân sách nói riêng nhằm tránh được rủi ro ở mức cao nhất góp
phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn.

4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu Quản lý chi ngân sách nhà nước, trên cơ sở lý luận, vận

dụng thực tiễn quản lý của công tác chi ngân sách nhà nước của một địa phương là
tỉnh Thái Nguyên.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Nghiên cứu nội dung tổng quát về quản lý nhà nước đối với
ngân sách nhà nước trong đó có nội dung nghiên cứu cụ thể về quản lý chi ngân
sách nhà nước của địa phương theo chu trình ngân sách: Từ khâu lập kế hoạch (dự
toán chi), chấp hành, thực hiện kế hoạch chi, quyết toán chi ngân sách nhà nước và
công tác kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm trong quản lý thu chi ngân sách nhà
nước ở tỉnh Thái Nguyên.
- Về không gian, đơn vị nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu chỉ giới hạn trong
phạm vi nghiên cứu về quản lý chi ngân sách nhà nước cấp tỉnh. Chủ thể quản lý
chi là Sở Tài chính, bên cạnh đó là Sở Kế hoạch và Đầu tư, Kho bạc nhà nước tỉnh
Thái Nguyên, đối tượng quản lý chi là các đối tượng sử dụng ngân sách trên địa bàn
tỉnh Thái Nguyên.
- Về thời gian nghiên cứu: Thời gian khảo sát phân tích thực trạng quản lý chi
ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2012-2016, đề xuất
cho giai đoạn 2017-2020.

5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp thu thập dữ liệu
Để phân tích thực trạng quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh, luận
văn khai thác, thu thập, tổng quan tư liệu và hệ thống hoá cơ sở lý luận từ các giáo
trình, các luận văn tốt nghiệp, các bài báo, công trình nghiên cứu khác liên quan đến


8
đề tài như: Luật Ngân sách nhà nước, Nghị định của Chính phủ hướng dẫn Luật
Ngân sách nhà nước, Thông tư của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định và
các văn bản quản lý của địa phương; Các dữ liệu thống kê tình hình ngân sách địa
phương như: Thu thập các số liệu liên quan đến các hoạt động thu, chi ngân sách

nhà nước tỉnh Thái Nguyên tại các cơ quan chuyên ngành của tỉnh, như: các quyết
định của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên về giao chỉ tiêu kế hoạch phát triển
kinh tế xã hội, dự toán và quyết toán thu, chi ngân sách nhà nước tỉnh Thái Nguyên;
các báo cáo của Sở Tài chính về tình hình thu, chi ngân sách nhà nước tỉnh Thái
Nguyên. Tổng quan các vấn đề có tính nguyên lý trong các giáo trình Quản lý Ngân
sách Nhà nước, Quản lý chi ngân sách nhà nước.
5.2. Phương pháp phân tích, xử lý dữ liệu
Phương pháp phân tích tương quan: Để thấy được mối liên hệ tương quan giữa
các chỉ tiêu nghiên cứu trong đề tài.
Phương pháp so sánh: Thông qua những số liệu thu thập được qua các năm tác
giả sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu các chỉ tiêu đã được lượng hóa có cùng
một nội dung, tính chất tương tự nhau để so sánh cơ cấu, định mức chi thường
xuyên, từ đó rút ra được các nhận xét đánh giá, tạo cơ sở cho các phương pháp phân
tích, tổng hợp.
Phương pháp thống kê: Mô tả dựa trên các số liệu thống kê để mô tả sự biến
động cũng như xu hướng thay đổi của các số liệu, các tình hình lập, chấp hành,
quyết toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước, các nhân tố ảnh hưởng, mức độ
chấp hành pháp luật của các chủ thể... Phương pháp này sử dụng để mô tả thực
trạng công tác quản lý chi thường xuyên.
Phương pháp phân tích tổng hợp: Nhằm mục đích tổng hợp những chỉ tiêu,
những số liệu liên quan đến công tác quản lý nhà nước đối với ngân sách nhà nước
của chính quyền tỉnh Thái Nguyên. Sau khi thu thập được các tài liệu cần thiết, tiến
hành phân loại tài liệu thu thập được; liên kết các yếu tố, số liệu thu thập được thành
chỉnh thể để tổng hợp phân tích đánh giá, thực trạng quản lý chi ngân sách nhà nước
từ đó chỉ ra được những điểm mạnh, điểm yếu, những tồn tại hạn chế, nhằm đề xuất
những giải pháp có tính khả quan để khắc phục những tồn tại, hạn chế.


9
- Phương pháp phân tích, bảng, hình vẽ để trình bày kết quả nghiên cứu và để

chứng minh cho đề tài thông qua việc phân tích, đánh giá, so sánh sự biến động về
số liệu qua các năm để chứng minh cho kết quả nghiên cứu.
- Các bảng thống kê sử dụng trong đề tài là việc biểu hiện các số liệu thống kê
một cách có hệ thống, logic nhằm mô tả cụ thể, rõ ràng các đặc trưng về mặt lượng
của công tác quản lý nhà nước đối với ngân sách nhà nước của chính quyền tỉnh
Thái Nguyên.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy
vật lịch sử để nghiên cứu những lý luận, chính sách về công tác quản lý nhà nước
đối với ngân sách nhà nước. Sử dụng phương pháp này cho thấy mọi sự vật hiện
tượng không tồn tại một cách độc lập, tách rời mà chúng tồn tại trong mối liên hệ
mật thiết với các hiện tượng sự vật xung quanh. Kết quả của luận văn trước hết góp
phần hệ thống hóa cơ sở khoa học về quản lý tài chính công, trực tiếp là quản lý chi
ngân sách nhà nước. Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các đơn vị
thuộc ngành Tài chính và các đơn vị sử dụng ngân sách trong quản lý chi ngân sách
nhà nước ở tỉnh Thái Nguyên.

7. Kết cấu của luận văn
Kết cấu luận văn: Ngoài phần mở đầu, lời cảm ơn, mục lục, phần kết luận và
các danh mục tài liệu tham khảo luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số lý luận cơ bản về quản lý ngân sách nhà nước và quản lý
chi ngân sách nhà nước
Chương 2: Phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý chi ngân sách
nhà nước trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2012-2016
Chương 3: Giải pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi ngân
sách tại tỉnh Thái Nguyên


10

CHƯƠNG 1:
MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
VÀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1. Các khái niệm cơ bản về ngân sách nhà nước, chi ngân sách nhà nước
và chi thường xuyên ngân sách nhà nước cấp tỉnh
1.1.1. Ngân sách nhà nước
a) Khái niệm ngân sách nhà nước
Khi Nhà nước ra đời đòi hỏi phải có nguồn tài lực để đáp ứng các khoản chi
tiêu của mình, hay nói cách khác đó là điều kiện để xuất hiện NSNN. Ngân sách
nhà nước là một thành phần trong hệ thống tài chính được sử dụng rộng rãi trong
đời sống kinh tế, xã hội ở mọi quốc gia. Ở Việt Nam, theo Điều 4 Luật NSNN 2015
(số 83/2015/QH 13 do Quốc hội thông qua ngày 25/6/2015), “NSNN là toàn bộ các
khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian
nhất định để bảo đảm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước”.
NSNN được hiểu trên các khía cạnh sau:
Xét về mặt hình thức: NSNN là kế hoạch tài chính cơ bản hay rõ hơn là một
bản dự toán thu và chi do Chính phủ lập ra, trình Quốc hội và giao cho Chính phủ
thực hiện.
Xét về mặt nội dung: NSNN bao gồm những nguồn thu cụ thể, những khoản
chi cụ thể và được định lượng.
Xét trong tổng thể một hệ thống tài chính thống nhất: NSNN là khâu chủ đạo
trong hệ thống tài chính quốc gia.
Xét về các nội dung kinh tế chưa đựng trong hoạt động của NSNN: các khoản
thu - luồng nhập quỹ NSNN, các khoản chi - nguồn xuất quỹ NSNN là quá trình
hình thành và sử dụng quỹ tiền tệ của Nhà nước. Trong quá trình đó xuất hiện hàng
loạt các quan hệ tài chính giữa một bên là Nhà nước với một bên là các chủ thể
phân phối trong quá trình phân phối nguồn lực tài chính của một quốc gia.
Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm NSNN như sau: NSNN là một
khâu của hệ thống tài chính quốc gia, nó phản ánh các quan hệ kinh tế trong quá
trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thực



11
hiện các chức năng và nhiệm vụ kinh tế - xã hội của Nhà nước trong
thời kỳ nhất định.
b) Đặc điểm của ngân sách nhà nước
Trong thực tế, hoạt động NSNN nhìn bề ngoài là hoạt động thu, chi tài chính
của Nhà nước. Hoạt động này rất đa dạng, phong phú, được tiến hành trên hầu hết
các lĩnh vực, tác động đến mọi chủ thể kinh tế - xã hội. NSNN vừa là nguồn lực để
nuôi dưỡng bộ máy Nhà nước, vừa là công cụ hữu hiệu để Nhà nước quản lý, điều
tiết nền kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội nên có những đặc điểm chính sau:
Thứ nhất, việc tạo lập và sử dụng quỹ NSNN luôn gắn liền với quyền lực kinh
tế - chính trị của Nhà nước, được Nhà nước tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất
định.
Thứ hai, những hoạt động thu, chi tài chính đó đều chứa đựng nội dung kinh tế
- xã hội nhất định và chứa đựng các quan hệ kinh tế, quan hệ lợi ích nhất định. Nhà
nước là chủ thể duy nhất có quyền quyết định đến các khoản thu - chi của NSNN và
hoạt động thu - chi này nhằm mục tiêu giúp Nhà nước giải quyết các quan hệ lợi ích
trong xã hội khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia giữa
Nhà nước với các tổ chức kinh tế - xã hội, các tầng lớp dân cư...
Thứ ba, NSNN là một bản dự toán thu chi. Thu, chi NSNN là cơ sở để thực
hiện các chính sách của Chính phủ. Các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm lập NSNN
và đề ra các thông số quan trọng có liên quan đến chính sách mà Chính phủ phải
thực hiện trong năm tài khóa tiếp theo. Chính sách nào mà không được dự kiến
trong NSNN thì sẽ không được thực hiện. Chính vì như vậy mà, việc thông qua
NSNN là một sự kiện chính trị quan trọng, nó biểu hiện sự nhất trí trong Quốc hội
về chính sách của Nhà nước.
Thứ tư, NSNN là một bộ phận chủ yếu của hệ thống tài chính quốc gia. Tài
chính nhà nước tác động đến sự hoạt động và phát triển của toàn bộ nền kinh tế - xã
hội. Tài chính nhà nước thực hiện huy động và tập trung một bộ phận nguồn lực tài

chính từ các định chế tài chính khác chủ yếu qua thuế và các khoản thu mang tính
chất thuế. Trên cơ sở nguồn lực huy động được, Chính phủ sử dụng quỹ ngân sách


12
để tiến hành cấp phát kinh phí, tài trợ vốn cho các tổ chức kinh tế, các đơn vị thuộc
khu vực công nhằm thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Thứ năm, mọi hoạt động thu - chi của NSNN đều nhằm tạo lập và sự dụng các
nguồn lực tài chính, nó phản ánh hệ thống các quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và các
chủ thể trong xã hội: Đó là mối quan hệ giữa phần nộp vào NSNN và phần để lại
cho các chủ thể kinh tế. Phần nộp vào ngân sách sẽ tiếp tục được phân phối nhằm
thực hiện các chức năng của Nhà nước và phục vụ các nhu cầu phát triển kinh tế xã hội nói chung và luôn gắn liền với tính giai cấp.
c) Vai trò của ngân sách nhà nước
Vai trò của NSNN được xác lập trên cơ sở chức năng và nhiệm vụ trong từng
giai đoạn cụ thể. Phát huy vai trò của NSNN như thế nào là thước đo đánh giá hiệu
quả điều hành, lãnh đạo của Nhà nước. Trong nền kinh tế thị trường có sự định
hướng XHCN ở nước ta hiện nay, NSNN có các vai trò chủ yếu sau:
Một là, với chức năng phân phối, NSNN có vai trò huy động nguồn tài chính
để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và thực hiện sự cân đối thu chi tài chính
của Nhà nước. Đó là vai trò truyền thống của NSNN trong mọi mô hình kinh tế, gắn
chặt với các chi phí của Nhà nước trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình.
Hai là, NSNN là công cụ tài chính của Nhà nước góp phần thúc đẩy sự tăng
trưởng của nền kinh tế, điều chỉnh kinh tế vĩ mô. Nhà nước sử dụng NSNN như là
công cụ tài chính để kiềm chế lạm phát, ổn định thị trường, giá cả cũng như giải
quyết các nguy cơ tiềm ẩn về bất ổn định KT-XH. Muốn thực hiện tốt vai trò này,
NSNN phải có quy mô đủ lớn để Nhà nước thực hiện các chính sách tài khóa phù
hợp (nới lỏng hay thắt chặt) kích thích sản xuất, kích cầu để góp phần thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế, ổn định xã hội.
Ba là, NSNN là công cụ tài chính góp phần bù đắp những khiếm khuyết của
kinh tế thị trường, đảm bảo công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, thúc đẩy phát

triển bền vững. Kinh tế thị trường phân phối nguồn lực theo phương thức riêng của
nó, vận hành theo những quy luật riêng của nó. Mặt trái của nó là phân hóa giàu
nghèo ngày càng tăng trong xã hội, tạo ra sự bất bình đẳng trong phân phối thu
nhập, tiềm ẩn nguy cơ bất ổn định xã hội. Bên cạnh đó do mục tiêu tối đa hóa lợi
nhuận nên các chủ sở hữu nguồn lực thường khai thác tối đa mọi nguồn tài nguyên,


13
môi trường sinh thái bị hủy hoại, nhiều loại hàng hóa và dịch vụ mà xã hội cần
nhưng khu vực tư nhân không cung cấp như hàng hóa công cộng. Do đó, nếu để
kinh tế thị trường tự điều chỉnh mà không có vai trò của Nhà nước thì sẽ phát triển
thiếu bền vững. Vì vậy Nhà nước sử dụng NSNN thông qua công cụ là chính sách
thuế và chi tiêu công để phân phối lại thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã
hội, cung cấp hàng hóa dịch vụ công cho xã hội, chú ý phát triển cân đối giữa các
vùng, miền đảm bảo công bằng xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái.
Các vai trò trên của Ngân sách nhà nước cho thấy tính chất quan trọng của
Ngân sách nhà nước, với các công cụ của nó có thể quản lý toàn diện và có hiệu quả
đối với toàn bộ nền kinh tế.
d) Tổ chức hệ thống Ngân sách Nhà nước ở Việt Nam
Hệ thống NSNN được hiểu là tổng thể các cấp ngân sách có mối quan hệ hữu
cơ với nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thu, chi của mỗi cấp ngân sách. Việc
xây dựng hệ thống NSNN của nước ta hiện nay dựa trên các nguyên tắc sau:
Một là: Đảm bảo tính thống nhất của nền tài chính quốc gia. Đó là điều kiện
quan trọng để đưa mọi hoạt động thu chi của NSNN ở các cấp đi đúng quỹ đạo quản
lý kinh tế, tài chính của Nhà nước, tạo nên mối liên hệ gắn bó hữu cơ giữa các cấp
ngân sách làm cho hoạt động ngân sách phù hợp với sự vận động của các phạm trù
kinh tế tài chính khác.
Hai là: Quán triệt nguyên tắc tập trung dân chủ trong hệ thống NSNN, vừa
phát huy sức mạnh của cả hệ thống vừa đảm bảo tính năng động sáng tạo của mỗi
cấp cơ sở trong việc xử lý các vấn đề của ngân sách. Trong hệ thống NSNN, ngân

sách Trung ương đóng vai trò chủ đạo trong việc thực hiện các mục tiêu chiến lược
kinh tế - xã hội trên phạm vi toàn quốc. Hoạt động thu chi của NSTW có ảnh hưởng
lớn đến các mặt cân đối lớn trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước. Ngân sách
nhà nước là công cụ tài chính quan trọng giúp chính quyền nhà nước thực hiện các
chức năng kinh tế - xã hội, khai thác tốt các thế mạnh của nhà nước đồng thời là
công cụ góp phần thực hiện sự giám sát của Nhà nước đối với các mặt hoạt động
kinh tế - xã hội trên một vùng lãnh thổ nhất định.
Ở nước ta tổ chức hệ thống NSNN gắn bó chặt chẽ với việc tổ chức bộ máy
nhà nước và vai trò, vị trí của bộ máy đó trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội


14
của đất nước. Hệ thống ngân sách ở nước ta bao gồm 4 cấp: Ngân sách Trung ương,
ngân sách cấp tỉnh, ngân sách cấp huyện và ngân sách cấp xã (Hình 1.1).
HỆ THỐNG NSNN

Ngân sách Trung ương

Ngân sách địaphương
Ngân sách cấptỉnh
Ngân sách cấphuyện
Ngân sách cấpxã

Sơ đồ 1.1. Hệ thống ngân sách nhà nước ở Việt Nam
1.1.2. Chi ngân sách nhà nước
a) Khái niệm chi ngân sách nhà nước
Chi NSNN là quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN theo nguyên tắc
không hoàn trả trực tiếp nhằm trang trải cho chi phí bộ máy Nhà nước và thực hiện
các chức năng kinh tế - xã hội mà Nhà nước đảm nhận theo những nguyên tắc nhất
định. Về mặt bản chất, chi ngân sách nhà nước là hệ thống những quan hệ


phân phối lại các khoản thu nhập nhằm thực hiện tang trưởng kinh tế, phát
triển văn hóa - xã hội, duy trì hoạt động của bộ máy quản lý Nhà nước và bảo
đảm an ninh, quốc phòng.
Theo Khoản 2 Điều 5 Luật NSNN 2015 quy định rõ: “Chi NSNN bao gồm các
khoản chi đầu tư phát triển, dự trữ quốc gia, chi thường xuyên, chi trả nợ lãi, chi
viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật”.
b) Đặc điểm chi ngân sách nhà nước
Đặc điểm nổi bật của chi ngân sách nhà nước là nhằm phục vụ cho lợi ích
chung của cộng đồng dân cư các vùng hay ở phạm vi quốc gia. Điều này xuất phát
từ chức năng quản lý toàn diện nền kinh tế - xã hội của Nhà nước và cũng chính
trong quá trình thực hiện chức năng đó Nhà nước đã cung cấp một lượng lớn hàng


15
hóa công cộng khổng lồ cho nền kinh tế
Thứ nhất: Chi ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với những nhiệm vụ kinh tế,
chính trị, xã hội mà Chính phủ phải đảm nhận trước mỗi quốc gia.
Thứ hai: Cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước là chủ thể duy nhất quyết
định nội dung, cơ cấu, quy mô và mức độ các khoản chi ngân sách nhà nước.
Thứ ba: Tính hiệu quả của các khoản chi NSNN được thể hiện ở tầm vĩ mô và
mang tính toàn diện cả về hiệu quả kinh tế trực tiếp, hiệu quả về mặt xã hội và
chính trị, ngoại giao.
Thứ tư: Xét về mặt tính chất, phần lớn các khoản chi ngân sách đều là các
khoản cấp phát không hoàn trả trực tiếp và mang tính bao cấp. Điều này thể hiện ở
chỗ không phải mọi khoản thu với mức độ và số lượng của những địa chỉ cụ thể đều
được hoàn lại dưới hình thức các khoản chi NSNN .Điều này được quyết định bởi
những chức năng tổng hợp về kinh tế - xã hội của Nhà nước.
Tóm lại, chi NSNN thực hiện vai trò của Nhà nước, là công cụ để nhà nước
điều tiết nền kinh tế theo mục đích của mình, góp phần thúc đẩy kinh tế, giải quyết

những vấn đề xã hội và khắc phục các khiếm khuyết của thị trường. Cơ cấu chi
ngân sách Nhà nước ở Việt Nam bao gồm: chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển,
chi trả nợ gốc do Nhà nước vay và chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính.
c) Nguyên tắc chi ngân sách Nhà nước

Hoạt động chi ngân sách Nhà nước là một mặt hoạt động của ngân sách
Nhà nước. Chính vì vậy chi ngân sách Nhà nước phải tuân thủ nguyên tắc
chung của quản lý ngân sách Nhà nước. Luật ngân sách Nhà nước quy định:
ngân sách Nhà nước được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân
chủ, công khai, có phân công trách nhiệm gắn với quyền hạn, phân cấp quản
lý giữa các ngành, các cấp. Trên cơ sở nguyên tắc chung đó, các quy phạm
pháp luật trong các văn bản pháp luật quy định về chi ngân sách Nhà nước
còn thể hiện những tư tưởng mang tính chất chỉ đạo của Nhà nước đặt ra
phương châm và mục đích của hoạt động chi ngân sách Nhà nước. Các
nguyên tắc đó bao gồm:
- Nguyên tắc cân bằng thu, chi.


16

- Nguyên tắc chi theo kế hoạch và đúng mục đích.
- Nguyên tắc tăng cường thu và tiết kiệm chi
d) Vai trò của chi ngân sách nhà nước
Một là, về mặt kinh tế: Để khắc phục những khuyết tật vốn có của nền kinh tế
thị trường, thông qua chi NSNN, Nhà nước định hướng hình thành cơ cấu kinh tế
phát triển cân đối bền vững, chống độc quyền, nâng cao hiệu quả sử dụng tài
nguyên và các nguồn lực khác, cân bằng môi trường sinh thái; ưu tiên chi NSNN
đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng giao thông, thủy lợi… tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế ra đời và phát triển. Chính phủ sẽ hướng
hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế đi vào quỹ đạo mà Chính phủ đã hoạch

định để hình thành cơ cấu kinh tế tối ưu, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển ổn
định và bền vững. Thông qua hoạt động chi ngân sách, Nhà nước sẽ cung cấp kinh
phí đầu tư cho cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp thuộc các ngành
then chốt trên cơ sở đó tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát
triển các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế.
Bên cạnh đó, việc cấp vốn hình thành các doanh nghiệp Nhà nước là một
trong những biện pháp căn bản để chống độc quyền và giữ cho thị trường khỏi rơi
vào tình trạng cạnh tranh không hoàn hảo. Và trong những điều kiện cụ thể, nguồn
kinh phí trong ngân sách cũng có thể được sử dụng để hỗ trợ cho sự phát triển của
các doanh nghiệp, đảm bảo tính ổn định về cơ cấu hoặc chuẩn bị cho việc chuyển
sang cơ cấu mới hợp lý hơn. Thông qua hoạt động thu, bằng việc huy động nguồn
tài chính thông qua thuế, ngân sách nhà nước đảm bảo thực hiện vai trò định hướng
đầu tư, kích thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh.
Hai là, về mặt xã hội: Thông qua hoạt động chi ngân sách, Nhà nước thực hiện
tái phân phối thu nhập nhằm đảm bảo công bằng xã hội như: thực hiện chính sách
việc làm, chính sách thu nhập, chính sách bảo trợ xã hội, chính sách dân số và môi
trường. Hàng năm, NSNN chi một số lượng khá lớn các nguồn tài chính cho lĩnh
vực không sản xuất để đáp ứng các nhu cầu quản lý kinh tế xã hội chung của nhà
nước và của dân cư trong lĩnh vực phát triển văn hoá, xã hội góp phần đảm bảo thực
hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước và nâng cao mức sống của dân cư.
Ba là, đối với thị trường: Nhà nước sử dụng chính sách chi NSNN như một


17
công cụ để thực hiện mục tiêu bình ổn giá cả, chống lạm phát, thiểu phát; thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế. Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, giá cả chủ yếu phụ
thuộc vào quan hệ cung cầu hàng hoá trên thị trường. Do đó, để ổn định giá cả,
Chính phủ có thể tác động vào cung hoặc cầu hàng hoá trên thị thường thông qua
chính sách thuế quan, các chính sách chi tiêu của NSNN và thực hiện trợ giá cho
những mặt hàng nhất định như trợ giá cho nông nghiệp, điện, xăng dầu,... để điều

hoà quan hệ cung – cầu hàng hoá, vật tư, giúp bình ổn giá cả trên thị trường, bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng và ổn định sản xuất. Chính phủ cũng có thể sử dụng
NSNN nhằm khống chế và đẩy lùi lạm phát một cách có hiệu quả thông qua việc
thực hiện chính sách thắt chặt ngân sách, cắt giảm các khoản chi tiêu ngân sách,
chống tình trạng bao cấp, lãng phí trong chi tiêu, kích thích sản xuất phát triển để
tăng cung. Ngoài ra việc Chính phủ phát hành các công cụ nợ như phát hành trái
phiếu nhằm bù đắp thiếu hụt của NSNN cũng góp phần to lớn vào việc làm giảm
tốc độ lạm phát trong nền kinh tế quốc dân.
Chính vì chi NSNN có vai trò to lớn như vậy đối với nền kinh tế, với xã hội và
thị trường nên đòi hỏi việc quản lý chi NSNN cần phải hết sức chặt chẽ, khoa học,
hợp lý đảm bảo cho NSNN được sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả.
e) Điều kiện thực hiện chi ngân sách Nhà nước
Hoạt động chi ngân sách Nhà nước được thực hiện dựa trên các nguyên tắc
đồng thời để thực hiện chi ngân sách Nhà nước trong các trường hợp cụ thể. Pháp
luật quy định các điều kiện chi ngân sách Nhà nước. Các điều kiện đó bao gồm:
Khoản chi đã được xác định trong dự toán ngân sách được duyệt. Điều kiện
này không áp dụng trong trường hợp vào đầu năm ngân sách dự toán ngân sách và
phân bổ ngân sách chưa được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định cơ quan
tài chính các cấp được phép cấp kinh phí cho các nhu cầu chi không thể trì hoãn
được cho tới khi dự toán ngân sách và phân bổ ngân sách đượ quyết định.
Điều kiện này cũng không được áp dụng trong trường hợp có sự thay đổi về
thu, chi mà sự thay đổi đó được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chấp nhận và
quyết định.
Khoản chi đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền quy định.


18
Khoản chi đã được cơ quan tài chính hoặc thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân
sách hoặc người được ủy quyền chuẩn chi.

Khoản chi được thực hiện trên cơ sở có đầy đủ các chứng từ có liên quan.
Chi NSNN phải cân đối hài hòa giữa các ngành với nhau, giữa trung ương và
địa phương, kết hợp giải quyết ưu tiên chiến lược trong từng thời kỳ.
Tùy theo tính chất từng khoản chi, pháp luật quy định cụ thể những loại hồ sơ,
chứng từ thanh toán bắt buộc phải có là điều kiện thực hiện các khoản chi ngân sách
Nhà nước.
Ngoài các điều kiện trên đây đối với những khoản chi cho công việc cần phải
đấu thầu thì việc chi ngân sách chỉ được thực hiện trên cơ sở kết quả đấu thầu theo
quy định của Chính phủ.
1.1.3. Chi ngân sách nhà nước cấp tỉnh
Theo Luật NSNN năm 2015, NSNN gồm ngân sách trung ương và ngân sách
địa phương. Ngân sách địa phương gồm ngân sách của các cấp chính quyền địa
phương và được chia thành: ngân sách cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
(gọi chung là ngân sách cấp tỉnh); ngân sách cấp huyện, quận, thị xã, thành phố
thuộc tỉnh (gọi chung là ngân sách cấp huyện) và ngân sách cấp xã, phường, thị trấn
(gọi chung là ngân sách cấp xã).
Cũng theo Luật NSNN năm 2015, phân cấp quản lý ngân sách là việc xác định
phạm vi, trách nhiệm, quyền hạn của chính quyền các cấp, các đơn vị dự toán ngân
sách trong việc quản lý NSNN phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội.
Thực chất, phân cấp quản lý NSNN là việc xử lý các mối quan hệ giữa các cấp
chính quyền nhà nước từ trung ương đến địa phương trong hoạt động của NSNN, từ
đó cho phép hình thành một cơ chế phân chia ranh giới quyền lực về quản lý NSNN
giữa các cấp chính quyền, như: HĐND các cấp có quyền hạn, trách nhiệm trong
việc quyết định dự toán ngân sách địa phương; phân bổ ngân sách địa phương; phân
bổ dự toán chi cho các sở, ban, ngành theo từng lĩnh vực cụ thể, quyết định số bổ
sung từ ngân sách cấp mình cho ngân sách cấp dưới, phê chuẩn quyết toán ngân
sách. Đặc biệt, HĐND cấp tỉnh còn có nhiệm vụ:
+ Quyết định tỷ lệ phần trăm (%) phân chia giữa ngân sách các cấp chính
quyền địa phương đối với phần ngân sách địa phương được hưởng từ các khoản thu



×