Tải bản đầy đủ (.pdf) (25 trang)

SKKN Tổ chức trò chơi trong môn Luyện từ và câu lớp 2

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (830.47 KB, 25 trang )

PHẦN I - MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Giáo dục Tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân,
nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn
và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học
sinh tiếp tục học lên Trung học cơ sở.
Mục tiêu của môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học nhằm: Hình thành và
phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt(nghe,nói, đọc, viết) để học
tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi. Thông qua việc
dạy và học tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác tư duy. Cung cấp cho học
sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội,
tự nhiên và con người, văn hoá, văn học của Việt Nam và nước ngoài. Bồi
dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu
đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội
chủ nghĩa.
Các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết Tiếng Việt của học sinh được hình thành
và phát triển thông qua nội dung dạy học các môn : Tập đọc, Kể chuyện, Chính
tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn, Tập viết…Mỗi nội dung đều hướng tới rèn
luyện cho học sinh những kĩ năng nhất định để dần dần các em có được năng lực
sử dụng tiếng Việt tốt nhất phục vụ cho việc học tập và sinh hoạt hàng ngày.
Việc dạy Luyện từ và câu nhằm mở rộng, hệ thống hoá làm phong phú
vốn từ của học sinh, cung cấp cho học sinh những hiểu biết sơ giản về từ và câu,
rèn cho học sinh kĩ năng dùng từ đặt câu và sử dụng các kiểu câu để thể hiện tư
tưởng, tình cảm của mình, đồng thời có khả năng hiểu và sử dụng các kiểu câu
của người khác nói ra trong hoàn cảnh giao tiếp nhất định. Luyện từ và câu có
vai trò hướng dẫn học sinh trong việc nghe, nói, đọc, viết, phát triển ngôn ngữ
và trí tuệ.
Trong những năm học tiểu học các em sẽ lần lượt được làm quen với
những khái niệm cơ bản của Tiếng Việt như: từ đơn, từ phức, từ láy, từ ghép,
nghĩa của từ, từ nhiều nghĩa, từ đồng âm, từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, câu đơn,
câu ghép, câu kể, câu hỏi,…


Không chỉ dừng ở việc hiểu và nắm được các cách sử dụng mà qua đó
các em cần nhận biết, phân tích, tìm được giá trị và cách sử dụng chúng, qua đó
vận dụng vào thực tiễn dùng từ, đặt câu khi dùng Tiếng Việt trong đời sống sao
cho có hiệu quả. Đây là một nhiệm vụ không hề dễ dàng, đòi hỏi các em phải
rèn luyện thường xuyên không chỉ trong các giờ học trên lớp mà cả ở các giờ
ngoại khoá, giờ tự học ở nhà.
Đầu năm học, khi mới nhận lớp, tôi nhận thấy các em học sinh lớp 2 đa số có
vốn sống còn ít, vốn hiểu biết về Tiếng Việt còn rất sơ sài, chưa định rõ trong
giao tiếp, viết câu còn cụt lủn hoặc câu có thể có đủ ý nhưng chưa có hình ảnh.
Các từ ngữ được dùng về nghĩa còn chưa rõ ràng. Việc trình bày, diễn đạt ý của
các em còn ở mức độ rất sơ lược. Mặt khác, do thực tế học sinh mới được làm


Tổ chức trò chơi trong phân môn Luyện từ và câu lớp 2
quen với phân môn Luyện từ và câu ở lớp 2 nên học sinh còn nhiều bỡ ngỡ,
chưa có phương pháp học tập bộ môn một cách khoa học và hợp lý.
Để dạy học luyện từ và câu ở lớp 2 có hiệu quả, không những đòi hỏi người
thầy phải biết cách khai thác từ ngữ qua vốn sống của trẻ nhằm xây dựng hệ
thống kiến thức trên cơ sở khai thác qua các câu có từ thuộc chủ đề nhằm bổ
sung, củng cố, khắc sâu hệ thống kiến thức cho trẻ. Ngoài ra người giáo viên
phải biết phối hợp một cách linh hoạt các phương pháp đặc trưng của môn học
như phương pháp đóng vai, phương pháp thảo luận nhóm, hỏi đáp theo cặp, đặc
biệt là tổ chức trò chơi để học sinh được thực sự tham gia xử lí các tình huống
có vấn đề, lĩnh hội kiến thức một cách nhẹ nhàng, tự nhiên, hiệu quả. Những
điều này thực sự đã giúp học sinh tỏ ra hứng thú và tiếp thu tốt hơn so với cách
dạy truyền thống thông thường.
Đặc biệt, theo Thông tư 30/2014 và TT22/2016 của Bộ giáo dục và Đào
tạo trong việc đánh giá học sinh Tiểu học nhằm giúp giáo viên đổi mới phương
pháp dạy học, thay đổi các hình thức dạy học đã đi theo lối mòn, cùng hoạt động
và trải nghiệm ngay trong quá trình và kết thúc mỗi giai đoạn dạy học để kịp

thời phát hiện những cố gắng của học sinh và động viên khích lệ các em trong
quá trình học tập nhằm thực hiện tốt các mục tiêu giáo dục.
Với nhiệm vụ quan trọng như vậy, tôi mạnh dạn đưa ra một số kinh
nghiệm tích luỹ của bản thân qua gần 20 năm công tác giảng dạy về phân môn
Luyện từ và câu. Đó chính là lí do tôi chọn đề tài sáng kiến kinh nghiệm:
“Tổ chức trò chơi trong môn Luyện từ và câu lớp 2” nhằm chia sẻ những kinh
nghiệm nhỏ của mình với đồng nghiệp.
2. Mục đích nghiên cứu.
- Tổng hợp lại những biện pháp mình đã làm để chọn lọc và đúc kết thành kinh
nghiệm của bản thân.
- Giúp đồng nghiệp tìm ra cách tổ chức các tiết học nhẹ nhàng đạt hiệu quả cao.
- Giúp học sinh nâng cao tính tích cực, tự giác, sáng tạo trong các hoạt động học
tập.
3. Đối tượng nghiên cứu khảo sát, thực nghiệm.
- Học sinh lớp 2
4. Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp hỏi đáp
- Phương pháp đàm thoại
- Phương pháp quan sát…
5. Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu.
- Thời gian nghiên cứu: Bắt đầu từ tháng 9/ 2016, đến tháng 4/2017
- 2/23 -


Tổ chức trò chơi trong phân môn Luyện từ và câu lớp 2

Phần II- NỘI DUNG
I. Cơ sở lí luận
1. Căn cứ vào mục tiêu của môn học, của cấp học.
Tiếng Việt thể hiện mục tiêu giáo dục xuyên suốt của môn học là hình thành

và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt. Cung cấp cho học sinh
những kiến thức sơ giản; bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen
giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt.
Tiếng Việt còn có nhiệm vụ hình thành và phát triển 4 kĩ năng (nghe, đọc,
nói, viết) trang bị kiến thức văn học và nhiều kiến thức kĩ năng khác. Học sinh
được hướng dẫn để bước đầu khám phá vẻ đẹp và ý nghĩa các hình tượng văn
học, đặt nền móng cho sự phát triển năng lực cảm thụ văn học và tư tưởng, tình
cảm, nhân cách của các em.Tiếng Việt còn giúp các em tiếp thu kiến thức ở các
bộ môn khoa học khác.
Thông qua các môn học, giúp các em chủ động được ngôn ngữ trong giao
tiếp một cách mạnh dạn tự tin. Từ đó, vốn từ của các em phong phú hơn và có
nắm chắc được nghĩa của từ thì các em mới trình bày đúng suy nghĩ, ý tưởng, tình
cảm của mình. Vì lẽ đó, ở bậc tiểu học từ ngữ không chỉ có dạy và học ở phân
môn Luyện từ và câu mà còn ở tất cả các phân môn khác của môn Tiếng Việt, các
môn học khác.
2. Căn cứ vào việc dạy Tiếng Việt theo các quan điểm.
a. Quan điểm giao tiếp:
Giao tiếp là hoạt động trao đổi tư tưởng, tình cảm, cảm xúc, ….. nhằm thiết
lập quan hệ, sự hiểu biết hoặc sự cộng tác, …giữa các thành viên trong xã hội.
Người ta giao tiếp với nhau bằng nhiều phương tiện, phương tiện thông thường và
quan trọng nhất là ngôn ngữ.
b. Quan điểm tích cực:
Sách giáo khoa Tiếng Việt 2 biên soạn có nhiệm vụ thể hiện và tạo điều
kiện để thầy và trò thực hiện phương pháp tích cực hóa hoạt động của người học,
trong đó thầy đóng vai trò người tổ chức hoạt động của học sinh; mỗi học sinh
đều được hoạt động, bộc lộ mình và được phát triển.
c. Quan điểm tích hợp
Tích hợp có nghĩa là tổng hợp một tiết học hay một bài tập, nhiều mảng
kiến thức và kĩ năng liên quan với nhau nhằm tăng cường hiệu quả giáo dục và
tiết kiệm thời gian cho người học.

3. Căn cứ vào nội dung và phương pháp dạy môn Tiếng Việt.
Nội dung và phương pháp dạy học bao giờ cũng gắn bó với nhau. Mỗi nội
dung đòi hỏi một phương pháp thích hợp. Các kĩ năng giao tiếp không thể hình
- 3/23 -


Tổ chức trò chơi trong phân môn Luyện từ và câu lớp 2
thành và phát triển bằng con đường thụ động. Muốn phát triển những kĩ năng này
học sinh phải được hoạt động trong môi trường giao tiếp dưới sự hướng dẫn của
thầy. Các kiến thức về ngôn ngữ, văn học, văn hóa, tự nhiên và xã hội có thể tiếp
thu qua lời giảng, nhưng học sinh chỉ làm chủ được những kiến thức này khi các
em chiếm lĩnh chúng bằng chính hoạt động có ý thức của mình. Cũng như vậy,
những tư tưởng, tình cảm và nhân cách tốt đẹp chỉ có thể hình thành chắc chắn
thông qua sự rèn luyện trong thực tế. Đây chính là phương pháp tích cực hóa hoạt
động của người học.
4. Căn cứ vào nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu ở lớp 2.
Nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu ở bậc tiểu học nói chung và lớp 2
nói riêng là làm giàu vốn từ cho học sinh và phát triển năng lực dùng từ đặt câu
cho các em. Ngoài ra phân môn Luyện từ và câu cung cấp cho học sinh một số
kiến thức về từ và câu cơ bản, sơ giản, cần thiết và vừa sức với các em. Luyện từ
và câu trang bị cho học sinh những hiểu biết về cấu trúc của từ, câu, quy luật hành
chức của chúng. Cụ thể đó là các kiến thức về cấu tạo từ, nghĩa của từ, các lớp từ,
từ loại, các kiến thức về câu như cấu tạo câu, các kiểu câu, dấu câu, các quy tắc
dùng từ đặt câu và tạo văn bản để sử dụng trong giao tiếp.
Ngoài các nhiệm vụ chuyên biệt trên Luyện từ và câu còn có nhiệm vụ rèn
luyện tư duy, giáo dục thẩm mĩ và luyện tập sử dụng từ cho học sinh.
5. Căn cứ vào vai trò của việc tổ chức trò chơi trong phân môn Luyện từ và
câu ở lớp 2.
Tổ chức trò chơi học tập vô cùng quan trọng giúp cho tiết học thêm sôi nổi,
học sinh hào hứng học tập. Nhờ trò chơi học tập, các em tiếp thu kiến thức bài

học một cách nhẹ nhàng, thoải mái. Đồng thời trò chơi học tập giúp các em củng
cố, khắc sâu kiến thức bài học một cách bền vững. Để phát huy hết tác dụng của
trò chơi học tập, khắc phục những hạn chế khi tổ chức trò chơi học tập trong tiết
dạy tôi đã vận dụng các hình thức tổ chức trò chơi trong phân môn Luyện từ và
câu lớp 2. Sau đây là bảng khảo sát đầu năm:
Nội dung

Số học sinh đạt

Số học sinh chưa đạt

Mở rộng vốn từ

19

43

Giải nghĩa từ

34

28

Đặt câu

40

22

- 4/23 -



Tổ chức trò chơi trong phân môn Luyện từ và câu lớp 2
II. Thực trạng:
1. Thuận lợi:
- Giáo viên đạt trình độ trên chuẩn, yêu nghề, mến trẻ, nhiệt tình công tác, có
tinh thần trách nhiệm cao với công việc được giao.
- Cơ sở vật chất của trường tương đối đầy đủ và thường xuyên được bổ sung
trang bị thêm.
- Ban giám hiệu luôn quan tâm, tạo điều kiện để chất lượng dạy và học ngày
càng nâng cao.
- Phụ huynh học sinh luôn ủng hộ và phối hợp với nhà trường, giáo viên trong
các hoạt động giáo dục.
- Học sinh đa số ngoan, có nề nếp.
2. Khó khăn:
- Học sinh còn nhỏ, khả năng tập trung chú ý chưa cao.
- Phân môn Luyện từ và câu là phân môn học mới đối với học sinh lớp 2.
- Một số ít phụ huynh do điều kiện gia đình, áp lực công việc nên chưa thực sự
quan tâm đến việc học tập của con.
- Một số học sinh ngại học môn Tiếng Việt.
- Đôi lúc việc sử dụng các thiết bị dạy học hiện đại chưa thường xuyên.
- Giáo viên khó khăn trong việc tổ chức trò chơi học tập cho các em.
- Giáo viên không biết chọn trò chơi nào để bài học đạt hiệu quả tốt nhất.
III. Giải pháp tiến hành
1. Nắm vững nội dung chương trình phân môn Luyện từ và câu:
Chuẩn bị vào năm học mới giáo viên cần nghiên cứu sách giáo khoa, sách
giáo viên để nắm chắc chương trình môn Tiếng Việt, phân môn Luyện từ và câu
lớp 2. Mục đích của việc làm này là giúp giáo viên lại một lần nữa nhớ lại mục
tiêu của môn Tiếng Việt bậc tiểu học, của lớp 2 đặc biệt là của phân môn Luyện
từ và câu. Nội dung phân môn Luyện từ và câu lớp 2 bao gồm:

a. Mở rộng và hệ thống hóa vốn từ.
- Các từ ngữ được mở rộng và hệ thống hóa theo các chủ điểm:
Học kì I
+ Em là học sinh
+ Bạn bè
+ Trường học
+ Thầy cô
+ Ông bà
+ Cha mẹ
+ Anh em
+ Bạn trong nhà

Học kì 2

+ Bốn mùa
+ Chim chóc
+ Muông thú
+ Sông biển
+ Cây cối
+ Bác Hồ
+ Nhân dân

- 5/23 -


Tổ chức trò chơi trong phân môn Luyện từ và câu lớp 2
- Các từ ngữ được mở rộng và hệ thống hóa thông qua các dạng bài tập:
+ Tìm từ ngữ theo chủ đề.
+ Tìm hiểu, nắm nghĩa của từ.
+ Phân loại từ.

+ Tìm hiểu nghĩa của thành ngữ, tục ngữ theo chủ điểm.
+ Luyện cách sử dụng từ.
b. Từ loại:
+ Từ chỉ sự vật
+ Từ chỉ hoạt động, trạng thái
+ Từ chỉ đặc điểm
c. Các kiểu câu:
+ Ai là gì?
+ Ai làm gì?
+ Ai thế nào?
- Ôn tập về dấu câu: Dấu phẩy, dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu chấm than.
2. Tổ chức thực hiện.
Sau khi nắm chắc mục tiêu, nội dung chương trình của phân môn Luyện
từ và câu, qua thực tế kinh nghiệm giảng dạy trên lớp và trao đổi chuyên môn
cùng đồng nghiệp để tìm ra những hoạt động trò chơi cho học sinh phù hợp với
từng kiểu bài, từng tiết dạy, từng đối tượng học sinh trong lớp sao cho giờ học
đạt hiệu quả nhất.
Tôi xin được đi sâu vào việc nghiên cứu tổ chức trò chơi cho học sinh lớp 2
ở một số kiểu bài đặc trưng trong phân môn Luyện từ và câu lớp 2.
Mỗi một mảng kiến thức, tôi chọn cho mình hình thức giảng dạy khác
nhau.
2.1. Trò chơi: Ghép nhanh tên sự vật
A. Mục đích:
- Ghép nhanh được từ với đồ vật hoặc hình vẽ tương ứng.
- Có biểu tượng cụ thể về nghĩa của từ.
B. Chuẩn bị:
- 2 bộ đồ dùng để chơi, mỗi bộ gồm một số đồ vật thật hoặc tranh ảnh đại diện
cho nghĩa của từ được nêu trong sách giáo khoa, các thẻ từ ghi tên các đồ vật
(tranh ảnh).
VD: Tranh bài tập 1 (tuần 3- T26); bài tập 2 (tuần 7- T59)


- 6/23 -


Tổ chức trò chơi trong phân môn Luyện từ và câu lớp 2

Bài tập 3 (tuần 16- T134) trong sách giáo khoa TV2 tập 1;
Bài tập 1 (tuần 22-T35)…Một số mảnh bìa ghi từng từ tương ứng với từng
đồ vật hoặc tranh ảnh để dán hoặc gài.
- Giáo viên (cử 1 học sinh) làm trọng tài để đánh giá kết quả.
C. Cách tiến hành:
- Chơi theo từng cặp 2 học sinh hoặc 2 nhóm học sinh (mỗi nhóm 2- 4 em).
- Các đồ vật hoặc tranh ảnh đã được sắp xếp hoặc treo thành 2 nhóm. Mỗi học
sinh (mỗi nhóm) tham gia trò chơi được phát 1 bộ thẻ từ ghi tên các đồ vật

- 7/23 -


Tổ chức trò chơi trong phân môn Luyện từ và câu lớp 2
(tranh ảnh). Học sinh của nhóm nào dán hoặc gài đúng và nhanh nhất tên các đồ
vật hoặc tranh thích hợp thì thắng cuộc.
* Chú ý:
Trò chơi có thể vận dụng vào các bài:
VD: Dán nhãn cho đồ dùng học tập (tuần 6 – trang 52); Đồ dùng trong nhà
(tuần 11, 13 – trang 90, 108) TV 2 tập 1. Các con vật nuôi (tuần 21, 22 T27, 35);
các loài thú (tuần 23, 24 - trang45, 55); các loài cá (tuần 25, 26 – trang 64, 73);
Các loài cây (tuần 28, 29 – trang 95); những người có nghề nghiệp khác nhau
(tuần 33, 34 – trang 129; 137) sách TV2 tập 2
D. Hiệu quả: Sau khi chơi trò chơi này, học sinh nắm được biểu tượng cụ
thể về nghĩa của các từ, giúp phản ứng nhanh nhạy và phát triển khả năng quan

sát, đánh giá sự việc.
2.2. Trò chơi: Tìm nhanh từ cùng chủ đề
A. Mục đích:
- Mở rộng vốn từ, phát huy khả năng liên tưởng, so sánh.
- Rèn tác phong nhanh nhẹn, luyện trí thông minh và cách ứng xử nhanh.
B. Chuẩn bị:
- Bảng phụ hoặc giấy nháp.
C. Cách tiến hành:
- Trò chơi có từ 2- 4 nhóm, mỗi nhóm có từ 3- 4 học sinh tham gia.
- Sau khi giải nghĩa từ ngữ được dùng để gọi tên chủ đề.
(VD: Đồ dùng học tập là những dụng cụ của cá nhân dùng để học tập; vật
nuôi là những con vật nuôi trong nhà…) Giáo viên (người dẫn trò) nêu yêu cầu:
+ Hãy kể ra những từ gọi tên đồ dùng học tập (hoặc những từ nói về tình cảm
gia đình…).
+ Từng nhóm ghi lại những từ đó vào bảng phụ (đã được chia theo số lượng
nhóm), hoặc ghi vào giấy nháp để đọc lên. Thời gian viết khoảng 2- 3 phút.
+ Mỗi từ viết đúng được tính 1 điểm; mỗi từ viết sai bị trừ 1 điểm; nhóm nào có
số điểm cao nhất sẽ xếp thứ nhất, các nhóm khác dựa theo số điểm để xếp thứ
hai, ba, bốn, ...
Chú ý: Trò chơi này có thể được sử dụng ở các bài Luyện từ và câu:
- Trong sách giáo khoa TV 2, tập 1:
+ Kể tên các môn em học ở lớp 2 (tuần 7, T59)

- 8/23 -


Tổ chức trò chơi trong phân môn Luyện từ và câu lớp 2

- 9/23 -



Tổ chức trò chơi trong phân môn Luyện từ và câu lớp 2
+ Hãy kể tên những việc em đã làm ở nhà giúp cha mẹ (tuần 13, T108)
+ Tìm những từ chỉ đặc điểm của người và vật (tuần 15, T122)
+ Viết tên các con vật trong tranh (tuần 16, T134)
- Trong sách giáo khoa TV 2, tập 2:
+ Nói tên các loài chim trong tranh (tuần 22, T35)
+ Tìm các từ ngữ có tiếng "biển" (tuần 25, T 64)
+ Kể tên các con vật sống ở dưới nước (tuần 26, T74)
+ Kể tên các loài cây (tuần 28, T87)
+ Tìm những từ ngữ chỉ nghề nghiệp (tuần 33, T129)
D. Hiệu quả: Học sinh rất hứng thú khi chơi trò chơi này, các em đều hoạt
bát nhanh nhẹn hơn, phát huy được khả năng liên tưởng, so sánh không chỉ ở
phân môn Luyện từ và câu mà còn ở các phân môn khác của môn Tiếng Việt.
2.3. Trò chơi: Tìm nhanh từ có phụ âm đầu giống nhau
A. Mục đích:
- Mở rộng vốn từ bằng cách tạo từ (1 tiếng) có phụ âm đầu cho trước.
- Rèn kĩ năng huy động vốn từ nhanh, viết nhanh.
B. Chuẩn bị:
- Phấn, bảng hoặc giấy bút.
- Băng dính để dính các tờ giấy đã ghi từ lên bảng lớp.
C. Cách tiến hành:
- Giáo viên nêu yêu cầu: Thi tìm nhanh các từ 1 tiếng có phụ âm đầu cho trước.
- Cá nhân (từ 2 - 4 người) hoặc nhóm (từ 2 - 4 nhóm) tham gia chơi.
- Dựa vào phụ âm đầu đã cho ở đề bài, trong khoảng thời gian quy định
(3 hoặc 5 phút); mỗi người (nhóm) cố gắng tìm thật nhiều từ ghi vào mảnh giấy
(hoặc phần bảng) đã ghi sẵn tên mình (hoặc nhóm mình). Hết thời gian quy
định, cô giáo đánh giá kết quả, học sinh (hoặc nhóm) nào tìm được nhiều từ nhất
sẽ thắng cuộc.
* Chú ý:

+ Giáo viên có thể cho học sinh tự ghi các từ theo sự liên tưởng, không theo các
bước lựa chọn thứ tự kết hợp âm vần.
VD: Với phụ âm đầu b, học sinh có thể đưa ra: bà, bố, bi, bánh, bạn, biết,
bò. bút…; với phụ âm đầu c, học sinh có thể đưa ra: cá, cơm, cò, cỏ, cờ, cấm,
canh, cột…
Cũng có thể tiến hành tìm các từ theo các bước sau:
- Ghép phụ âm đầu đã cho với 1 nguyên âm: a, o, ô, ơ, e, ê… rồi thay đổi lần
lượt các thanh huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng. Xét trong các tiếng đã ghép được,
tiếng nào có nghĩa thì ghi lại:
- 10/23 -


Tổ chức trò chơi trong phân môn Luyện từ và câu lớp 2
VD : b - ba, bà, bá, bả, bạ, bo, bò, bó, bỏ, bõ, bọ…
- Ghép phụ âm đầu đã cho với vần có 2 bộ phận (âm chính và âm cuối, âm đệm,
âm chính) đến vần có 3 bộ phận (âm đệm, âm chính, âm cuối) rồi thay đổi lần
lượt các thanh và chọn ra các tiếng có nghĩa.
VD: ban, bàn, bán, bản, bạn, bần, bấn, bẩn, bận…
+ Có thể kết hợp tìm từ đơn cũng có phụ âm đầu với từ theo chủ đề hoặc kết hợp
với tìm từ theo từ loại (chỉ sự vật, chỉ hành động, chỉ tính chất).
VD:
- Tìm từ chỉ đồ dùng trong nhà có phụ âm đầu ch (chén, chõng, chăn, chiếu,
chạn, chai…).
- Tìm từ chỉ gia đình họ hàng có phụ âm đầu ch (cha, chú, cháu, chắt…).
- Tìm từ chỉ người, vật có phụ âm đầu c (cô, cơm, cá, cò, cỏ…).
- Tìm từ chỉ hoạt động có phụ âm đầu đ (đi, đứng, đo, đếm, đong, đem...)
- Tìm từ chỉ hoạt động có phụ âm đầu b (bám, bò, bán, bắn, bàn, băm...)
D. Hiệu quả: Học sinh đã viết nhanh hơn và mở rộng vốn từ phong phú hơn
cho các em.
2.4. Trò chơi: Tìm nhanh từ có tiếng giống nhau

A. Mục đích:
- Mở rộng vốn từ bằng cách tạo từ một tiếng đã cho.
- Rèn kỹ năng huy động vốn từ nhanh viết nhanh.
B. Chuẩn bị:
- Phấn bảng, (giấy bút) để ghi lại các từ tìm được.
- Băng dính để đính các tờ giấy đã ghi từ lên bảng lớp (nếu có).
C. Cách tiến hành:
- Giáo viên nêu yêu cầu: Thi tìm nhanh các từ có tiếng cho trước.
- Dựa vào tiếng đã cho ở đề bài, cá nhân hoặc nhóm tham gia chơi. Trong
khoảng thời gian nhất định (2 hoặc 3 phút) học sinh cố gắng tìm thật nhiều từ và
ghi vào giấy nháp hoặc bảng lớp. Hết giờ quy định, ai tìm được nhiều từ nhất sẽ
thắng cuộc.
- Trọng tài (giáo viên, học sinh) có thể chấp nhận một số từ ngữ như: học
chăm…
* Chú ý:
Trò chơi tìm nhanh từ có tiếng giống nhau có thể được sử dụng ở các bài
Luyện từ và câu trong SGK TV2 như:
- Tìm từ có tiếng “học”, có tiếng “tập” (tuần 2, T17- SGK TV 2 tập 1).
- Tìm các từ có tiếng "biển" (tuần 25 T 64 – SGK TV 2 tập 2).

- 11/23 -


Tổ chức trò chơi trong phân môn Luyện từ và câu lớp 2
D. Hiệu quả: Học sinh đã viết nhanh hơn và mở rộng thêm vốn từ phong
phú hơn cho các em. Qua trò chơi, các em nắm thêm được nhiều từ mới mà bản
thân chưa biết.
2.5. Trò chơi: Tìm nhanh từ đồng nghĩa
A. Mục đích:
- Nhận biết nhanh các từ ngữ đồng nghĩa, làm giàu vốn từ của học sinh.

- Luyện trí thông minh, nhanh mắt, nhanh tay.
B. Chuẩn bị:
- Từ 2 đến 4 bộ quân bài có nội dung như nhau nhưng khác màu để khỏi bị lẫn
(xanh, đỏ, vàng…) tương tự quân bài trong cỗ tam cúc. Mỗi bộ có 10 hoặc 12
quân bài đã ghi sẵn các từ.
- Một bộ quân bài dành cho người cầm cái (trọng tài) khác màu với các bộ quân
bài của người chơi. Trên mỗi quân bài này có ghi từng từ đồng nghĩa với từ
được ghi trên quân bài của người chơi.
- Mỗi quân bài này đều được ghi từ ở cả hai đầu để người chơi dễ nhìn khi cầm
bài trên tay.
Học tập

Siêng năng

C. Cách tiến hành:
- Từ hai đến 4 người chơi. Mỗi người có 1 bộ quân bài như nhau
(10, 12 quân).
- Trọng tài lật 1 quân trong bộ bài của mình (có từ đồng nghĩa với từ trong bộ
bài của người chơi).
- Những người chơi phải chọn thật nhanh quân bài của mình có từ đồng nghĩa
với quân bài của trọng tài để đánh ra.
- Trọng tài công nhận quân bài đánh ra là từ đồng nghĩa thì người đánh quân bài
đó sẽ được ''ăn''; nếu sai thì người đánh quân bài đúng tiếp theo sẽ được ''ăn''.
- Trường hợp 2, 3 người cùng ra quân bài đúng thì cùng được ''ăn''.
- Đánh hết bộ quân bài, ai có số lượng quân bài được ''ăn'' nhiều nhất sẽ thắng
cuộc. Như vậy, người thắng là người nhận ra nhanh, đúng từ đồng nghĩa.
* Chú ý:
Các cặp từ đồng nghĩa nói về chủ đề học tập dùng làm bộ bài để chơi và bộ
bài để cầm cái: Học hành - học tập; siêng năng - chăm chỉ;
vui vẻ - phấn khởi; bài tập - bài vở; chăm chú - chú ý…

- 12/23 -


Tổ chức trò chơi trong phân môn Luyện từ và câu lớp 2
D. Hiệu quả: Sau trò chơi, học sinh nắm rõ hơn về từ đồng nghĩa, có khả
năng tìm được từ đồng nghĩa chính xác. Các em đều nhanh nhẹn và hoạt bát hơn
trong học tập.
2.6. Trò chơi: Tìm ''Kẻ trú ẩn''
A. Mục đích:
- Mở rộng vốn từ, tìm nhanh và gọi tên được các sự vật ẩn trong tranh.
- Luyện kỹ năng quan sát tinh, óc tưởng tượng, liên tưởng giỏi
B. Chuẩn bị:
- Phóng to tranh có trong hai bài luyện từ và câu ở tuần 6 (T52);
tuần 11(T90) – sách giáo khoa TV 2 tập 1.
- Mỗi nhóm chơi (4; 5 học sinh) cần chuẩn bị giấy, bút (ghi sẵn tên nhóm vào
giấy khổ to đã chuẩn bị.
VD: nhóm Mực tím; nhóm Tuổi thơ…)
- Băng dính hoặc hồ dán.
C. Cách tiến hành:
1. Giáo viên nêu yêu cầu: Tìm số đồ vật được vẽ ẩn trong tranh (gọi là kẻ
trú ẩn) rồi ghi ra giấy đã chuẩn bị. Trong khoảng 3 phút, nhóm nào tìm được đủ
số lượng đồ vật ( tìm hết được những kẻ trú ẩn) là nhóm đạt giải nhất.
3. Tìm các đồ dùng học tập ẩn trong tranh sau.
Cho biết mỗi đồ vật ấy được dùng để làm gì.

2. Các nhóm chơi cùng quan sát bức tranh do giáo viên đưa ra (hoặc trong
sách giáo khoa TV 2) ghi lại các từ gọi tên các đồ vật đã quan sát được và số
lượng mỗi loại đồ vật đó vào giấy khổ to có ghi tên nhóm (thời gian 3 phút).
- 13/23 -



Tổ chức trò chơi trong phân môn Luyện từ và câu lớp 2
3. Hết thời gian, các nhóm lên đính tờ giấy ghi kết quả lên bảng. Giáo viên
hướng dẫn cả lớp hô ''đúng'' (hoặc ''sai'', hoặc ''thiếu'') giáo viên trợ giúp việc
xác nhận kết quả của từng nhóm.
- Khi các nhóm đọc xong kết quả, giáo viên cùng cả lớp dựa vào số lượng đồ vật
tìm được để xếp giải nhất, nhì, ba (có thể xếp đồng giải nhất, nhì, ba hoặc yêu
cầu trả lời thêm câu hỏi phụ để phân rõ thứ hạng).
* Chú ý: Trò chơi này áp dụng cho bài tập 3 tiết Luyện từ và câu tuần 6T52; bài tập 1 tiết Luyện từ và câu tuần 11- T 90.
D. Hiệu quả: Trò chơi giúp các em rèn khả năng quan sát, nhanh tay nhanh
mắt, đồng thời cũng giúp cho các em mở rộng thêm vốn từ của mình.
2.7. Trò chơi: Thi ghép tiếng thành từ
A. Mục đích:
- Mở rộng vốn từ bằng cách ghép tiếng.
- Rèn khả năng nhận ra từ, rèn tác phong nhanh nhẹn.
B. Chuẩn bị:
- Dựa theo bài tập 1, tiết luyện từ và câu tuần 12 ( sách giáo khoa TV 2 tập 1T99) giáo viên làm các bộ quân bài ghi tiếng ( đủ cho số nhóm học sinh tham
gia thi); mỗi bộ quân bài có kích thước khoảng 5cm x 15cm. Mỗi bộ gồm 24
quân ghi các tiếng sau: yêu (8 quân); thương (4 quân); quý (3 quân); mến (6
quân); kính (3 quân).
- Băng dính để ghép 2 quân bài ghi tiếng thành một từ (2 tiếng).
C. Cách tiến hành:
1. Căn cứ vào số bộ quân bài đã chuẩn bị, giáo viên lập các nhóm thi ghép
tiếng thành từ (mỗi nhóm khoảng 4; 5 học sinh), cử nhóm trưởng điều hành và
vào ban giám khảo.
VD: Có 4 bộ quân bài - lập 4 nhóm thi - cử 4 nhóm trưởng tham gia vào
ban giám khảo cùng với giáo viên .
2. Giáo viên nêu yêu cầu:
- Mỗi nhóm có 1 bộ quân bài ghi các tiếng dùng để ghép thành các từ có 2 tiếng,
các nhóm dùng bộ quân bài để ghép từ (xếp lên mặt bàn, hoặc dùng băng dính

để ghép 2 quân bài ghi tiếng lại để thành 1 từ).
- Sau khoảng 5 phút, các nhóm dừng lại; ban giám khảo (giáo viên cùng các
nhóm trưởng) lần lượt đi đến từng nhóm để ghi kết quả và cho điểm (cứ xếp
được 1 từ đúng, được 1 điểm).
3. Giáo viên trao các bộ bài cho các nhóm thi ghép từ; phát lệnh ''bắt đầu''
cho các nhóm làm bài. Ban giám khảo đánh giá kết quả ghép từ theo nội dung
bộ bài đã chuẩn bị (mục B) như sau:
- 14/23 -


Tổ chức trò chơi trong phân môn Luyện từ và câu lớp 2
- Ghép đúng, đủ 10 từ (mỗi từ có 2 tiếng)
VD: yêu thương, thương yêu, yêu mến, mến yêu, kính yêu, yêu quý,
thương mến, mến thương, quý mến, kính mến.
- Ghép đúng mỗi từ được 1 điểm; đúng cả 10 từ được 10 điểm.
- Dựa vào điểm số, ban giám „khảo xếp giải nhất, nhì, ba, (hoặc đồng giải nhất,
nhì, ba).
D. Hiệu quả: Sau trò chơi, học sinh đã mở rộng được vốn từ nói về tình
cảm giữa bạn bè và người thân trong gia đình để chuẩn bị cho phân môn Tập
làm văn.
2.8. Trò chơi: Đoán từ
A. Mục đích:
- Rèn kỹ năng đoán nhanh 1 từ khi biết nghĩa hoặc một số dấu hiệu hình thức
của từ đó.
- Củng cố về nghĩa của từ và mở rộng vốn từ ngữ cho học sinh .
B. Chuẩn bị:
- Một số câu đố về từ, ghi sẵn vào các phiếu.
VD: * Viên màu trắng dùng để viết lên bảng (Là gì?)
*


Có sắc để uống hoặc tiêm
Thay sắc bằng nặng là em nhớ bài (Là từ gì?)

* Nơi em đến học hàng ngày (Là gì?)
*

Còn sắc thì để nấu canh
Đến khi mất sắc theo anh học trò. (Là từ gì?)

Bóng gì treo ở trên cao
Đem bao ánh sáng tràn vào phòng em. (Là gì?)
- Mỗi phiếu ghi 1 câu đó, theo thứ tự 1, 2, 3… làm các bộ phiếu giống nhau đủ
cho số nhóm chơi (mỗi lần chơi chỉ nên 5 phiếu/1 nhóm x 4 nhóm).
- Giấy khổ to (hoặc bảng phụ) viết sẵn kết quả các từ (ghi theo số thứ tự trong
phiếu câu đố).
- Mỗi nhóm có đủ giấy bút để ghi kết quả.
- Giáo viên cùng 2; 3 học sinh (không tham gia chơi) làm trọng tài, ghi điểm của
1 nhóm tham gia chơi.
C. Cách tiến hành:
1. Giáo viên lập 4 nhóm chơi (mỗi nhóm 4; 5 học sinh) nêu yêu cầu:
*

- 15/23 -


Tổ chức trò chơi trong phân môn Luyện từ và câu lớp 2
- Sau khi nhận 1 bộ phiếu ghi các câu đố về từ, các nhóm thảo luận với nhau để
giải câu đố, tìm từ và ghi kết quả vào tờ giấy của nhóm (nhớ ghi từ theo đúng số
thứ tự trên phiếu)
- Hết 3 phút, các nhóm dừng lại, lần lượt đọc kết quả để tổ trọng tài đánh giá,

cho điểm (mỗi từ tìm đúng được 2 điểm).
2. Giáo viên phát cho mỗi nhóm 1 bộ phiếu và phát lệnh ''bắt đầu'' để các
nhóm bắt đầu chơi. Hết thời gian quy định, tổ trọng tài bắt đầu đánh giá kết quả
của từng nhóm bằng cách:
- Dán tờ giấy khổ to (hoặc đưa bảng phụ) ghi kết quả giải đáp các từ theo đúng
thứ tự ghi trên từng phiếu câu đố.
- Lần lượt đọc và đối chiếu kết quả của từng nhóm với giải đáp từ đã ghi trên
bảng (giấy); cho điểm theo quy định.
- So sánh điểm số của các nhóm để xếp loại nhất nhì…
D. Hiệu quả: Trò chơi đã giúp học sinh nắm rõ hơn về nghĩa của từ qua các
câu đố về một số đặc điểm, hình thức của từ đó; tạo cho các em sự thích thú,
kích thích trí tò mò, ham tìm hiểu khi tham gia giải đố.
2.9. Trò chơi: Xếp từ theo nhóm
A. Mục đích:
- Nhận biết nghĩa của từ bằng cách tìm ra những điểm giống nhau của sự vật mà
từ gọi tên.
- Rèn trí thông minh, khả năng phân tích, khái quát nhanh của đối tượng.
B. Chuẩn bị:
- Làm các thẻ quân bài trên mỗi thẻ ghi một từ cần phân nhóm.
VD: Chia các từ sau thành 2 nhóm:
+Ngô, khoai, bắp cải, bí.
+ Ngô, lúa, su su, sắn, mướp.
- Số lượng người chơi là 2 nhóm chơi; mỗi người chơi đều có bút để đánh dấu.
C. Cách tiến hành:
1. Giáo viên phát cho mỗi người (nhóm) chơi một bộ bài hoặc một bảng từ,
nêu luật chơi. VD: Dựa vào những đặc điểm của các loại cây được gọi tên trong
bộ bài (bảng từ) hãy sắp xếp các từ trong bộ bài thành 2 nhóm
2. Mỗi người (nhóm) chơi cầm bảng từ hoặc bày các quân bài ra, đọc một
lượt các từ rồi dựa đặc điểm giống nhau của sự vật, hành động… (cũng là nghĩa
của từ ghi trong bảng hoặc trong các quân bài); Xếp các quân bài theo các nhóm

hoặc dùng bút đánh dấu các từ trong bảng theo nhóm (1; 2).

- 16/23 -


Tổ chức trò chơi trong phân môn Luyện từ và câu lớp 2
3. Hết thời gian quy định (khoảng 3 phút) cá nhân (nhóm) nào phân loại
được đúng và nhanh sẽ được tính điểm và được khen thưởng (mỗi từ phân loại
đúng được tính 1 điểm).
*Chú ý:Trò chơi áp dụng cho các tiết luyện từ và câu sách giáo khoa TV 2 tập 2.
- Tuần 23 T45 (bài tập 1).
- Tuần 26 T73 (bài tập 1).
D. Hiệu quả: Sau trò chơi, học sinh phân biệt được nghĩa của các từ theo
chủ điểm. Học sinh phát huy được sự nhanh nhẹn, vận dụng được vốn kiến thức
có sẵn của mình để tiếp thu kiến thức mới.
2.10. Trò chơi: Ai đúng ai sai
A. Mục đích:
- Rèn kĩ năng dùng từ đúng, nhận biết được kết hợp từ (từ chỉ người, chỉ sự vật
với từ chỉ hoạt động…) cho kiểu câu: Ai làm gì?
- Luyện phản ứng nhanh, nhạy, tập vận động.
B. Chuẩn bị:
- Chuẩn bị một số kết hợp từ (từ chỉ người, sự vật với từ chỉ hoạt động hoặc cụm
từ có từ chỉ hoạt động…) VD: Chim bay, người chạy, chim hót, gà gáy, trâu cày
ruộng, bác thợ rèn quai búa, học sinh đọc sách… trong đó có cả những kết hợp
từ sai. VD: Bò bay, người hót, vịt gáy…
C. Cách tiến hành:
- Học sinh chia làm 2 nhóm (A; B) đứng trong lớp hoặc ở sân chơi theo từng cặp
(1 người nhóm A, 1 người nhóm B). Người ở mỗi nhóm thay nhau "xướng" trò.
Ví dụ: Người nhóm A hô “kết hợp từ”; người cùng cặp ở nhóm B sẽ thực
hiện hành động mô phỏng hoặc đứng im, nếu làm đúng thì vẫn được đứng ở

hàng, nếu làm sai sẽ phải nhảy lò cò một vòng và ra khỏi hàng.
- Tiếp tục chơi cặp thứ 2, người ở nhóm B sẽ"xướng"(hô lên một kết hợp từ),
người cùng cặp ở nhóm A"họa"(thực hiện hành động mô tả động tác tương ứng)
- Kết thúc, nhóm nào có ít người bị đứng ra khỏi hàng hơn sẽ thắng.
D. Hiệu quả: Trò chơi giúp các em hứng thú, vận dụng vốn kiến thức sẵn
có của mình để đánh giá sự kết hợp từ trong trò chơi là đúng hay sai và hiểu
không phải từ chỉ sự vật nào cũng có thể kết hợp với từ chỉ hoạt động (VD: bò
bay, người hót, vịt gáy,...)
2.11. Trò chơi: Ai tài so sánh
A. Mục đích:
- Luyện sử dụng từ ngữ bằng cách tạo nhanh các cụm từ có hình ảnh so sánh
đúng.
- Luyện phản ứng nhanh, trau dồi trí tưởng tượng, liên tưởng cho học sinh.
- 17/23 -


T chc trũ chi trong phõn mụn Luyn t v cõu lp 2
B. Chun b:
- Mt s mu so sỏnh kiu: nhanh nh ct, p nh tiờn, hút nh khu, hc nh
vt
C. Cỏch tin hnh:
- Nhúm ngi chi khụng hn ch s lng, ng ti ch trong lp hoc ng
vũng trũn ngoi sõn chi.
- Giỏo viờn hụ lờn 1 t (VD: Nhanh) v gi tay ch nh ngi chi.
- Hc sinh c ch nh nờu c so sỏnh ỳng (VD: nhanh nh ct, nhanh
nh chp, nhanh nh tờn bn,) thỡ ng yờn. Nu khụng núi c hoc núi
sai, giỏo viờn s hụ "nhy", ngi ú s phi nhy ti ch 3 ln hoc nhy lũ cũ
1 on.
- Tip tc chi, giỏo viờn cú th hụ li t ú (nu cũn cỏch so sỏnh na) hoc hụ
t khỏc v ch nh ngi th 2 chi.

- Kết thúc, nhóm nào có ít ng-ời bị đứng ra khỏi hàng hơn sẽ thắng.
D. Hiu qu: Qua trũ chi, cỏc em hc sinh rốn luyn c kh nng phn
ng nhanh, úc liờn tng v so sỏnh giỳp cỏc em hc tt hn c phõn mụn Tp
lm vn.
2.12. Trũ chi: t cõu theo ni dung tranh
A. Mc ớch:
- Luyn cho hc sinh bit da vo ý m cỏc bc tranh gi ra, t c cõu ỳng
ng phỏp, ỳng ni dung tranh.
- Rốn k nng quan sỏt, tỡm ý, t cõu, luyn tỏc phong nhanh nhn.
B. Chun b:
- Tranh v dựng t cõu theo tranh ó c phúng to (theo SGK TV 2)
- Cỏc bng giy, h dỏn ớnh bng giy lờn bng, bỳt d vit cõu lờn
bng giy.
- Tờn cỏc nhúm chi ghi sn lờn bng lp (khong 3; 4 nhúm chi mi nhúm 3;
4 ngi).
C. Cỏch tin hnh:
+ Giỏo viờn phỏt cho mi nhúm 4 hoc 5 bng giy vit cõu (hoc yờu cu
vit lờn bng lp) v hng dn cỏch chi.
- Treo bc tranh lờn bng, yờu cu cỏc nhúm quan sỏt.
- Mi nhúm chi nhanh chúng suy ngh t cõu (cú th vit cõu k hoc cõu
hi) v vit cõu ca mỡnh lờn bng giy ri dỏn lờn bng lp ỳng ct ghi tờn
nhúm mỡnh (nu khụng cú giy, mi nhúm vit cỏc cõu lờn bng lp).

- 18/23 -


Tổ chức trò chơi trong phân môn Luyện từ và câu lớp 2
+ Hết thời gian chơi (khoảng 5 – 7 phút) giáo viên cùng các nhóm đánh giá và
nhận xét từng câu trên bảng. Nhóm nào có số lượng câu đặt đúng ngữ pháp,
đúng nội dung tranh nhiều nhất sẽ là nhóm thắng cuộc.

VD: Trò chơi có thể áp dụng cho các bài tập 3; Tiết Luyện từ và câu tuần 1
(TV2 tập 1- trang 9).
- Bài tập 3 – tiết Luyện từ và câu tuần 30 TV2 tập 2 T104.
D. Hiệu quả: Trò chơi giúp các em học sinh củng cố được kĩ năng đặt và
viết câu. Đặc biệt là đầu năm học, khi các em mới được làm quen với từ và câu.
Đây là một trong những trọng tâm của phân môn Luyện từ và câu lớp 2.
2.13. Trò chơi: Thi đặt câu với từ cho trước
A. Mục đích:
- Rèn kĩ năng dùng từ đặt câu đúng ngữ pháp.
- Luyện phản ứng nhạy bén, tác phong nhanh nhẹn.
B. Chuẩn bị:
- Các từ cần dùng để đặt câu thuộc các chủ đề đã học (theo yêu cầu của bài tập
trong sách giáo khoa TV2…).
- Số học sinh tham gia không hạn chế.
C. Cách thực hiện:
- Giáo viên nêu ra một từ cần đặt câu và chỉ định 1 học sinh bất kỳ đứng lên đặt
câu. Nếu học sinh đặt câu đúng, giáo viên sẽ đưa ra 1 số từ khác để học sinh đó
chỉ định người tiếp theo đặt câu sai sẽ phải nhảy tại chỗ 5 lần. Giáo viên sẽ chỉ
người kế tiếp.
D. Hiệu quả: Trò chơi giúp các em học sinh củng cố được kĩ năng đặt và
viết câu. Đặc biệt là đầu năm học, khi các em mới được làm quen với từ và câu.
Đây là một trong những trọng tâm của phân môn Luyện từ và câu lớp 2.
2.14. Trò chơi: Thi đặt câu theo mẫu: (Ai là gì?)
A. Mục đích:
- Rèn kĩ năng nói, viết câu đúng mẫu: Ai là gì? có sự tương hợp về nghĩa giữa
thành phần chủ ngữ và thành phần vị ngữ.
- Luyện óc so sánh, liên tưởng nhanh, tác phong nhanh nhẹn.
B. Chuẩn bị:
- Giáo viên chuẩn bị một số từ ngữ (danh từ, ngữ danh từ) phù hợp với đối
tượng học sinh lớp 2, phục vụ cho việc dạy các bài tập đặt câu theo mẫu Ai là

gì? trong sách giáo khoa TV2.
C. Cách tiến hành:

- 19/23 -


Tổ chức trò chơi trong phân môn Luyện từ và câu lớp 2
- Những người chơi chia thành từng cặp (2 người) hoặc thành 2 nhóm (A; B)
Người thứ nhất hoặc học sinh ở nhóm thứ nhất nêu vế đầu.
(VD: Học sinh); người thứ 2 (hoặc học sinh ở nhóm thứ 2) nêu vế thứ hai
(VD: Là người đi học). Sau đó 2 người (hoặc 2 nhóm) đổi lượt cho nhau. Người
nào (hoặc nhóm nào) không nêu được sẽ bị trừ điểm. Hết giờ chơi, ai hoặc nhóm
nào được nhiều điểm hơn sẽ thắng cuộc.
* Chú ý: Các kiểu mẫu câu khác (Ai làm gì? Ai thế nào?…) có thể tiến
hành tương tự.
D. Hiệu quả: Qua trò chơi, học sinh nắm chắc các kiểu câu quan trọng
được học ở lớp 2 là Ai là gì? Ai làm gì? Ai thế nào? giúp các em không bị
nhầm lẫn giữa các kiểu câu.
2.15. Trò chơi: Chọn người đối đáp giỏi
A. Mục đích:
- Luyện sử dụng các câu nói phù hợp trong các tình huống gián tiếp khác nhau.
- Tăng cường vốn sống, rèn khả năng nhập vai, ứng xử, sử dụng lời nói đúng,
có văn hoá.
B. Chuẩn bị:
- Tạo tình huống giao tiếp phù hợp với các chủ đề học tập ở lớp 2. Một số đồ
vật, tranh ảnh phục vụ cho chủ đề lựa chọn.
C. Cách tiến hành:
+ Chủ trò (giáo viên) dùng lời, tranh ảnh, đồ vật gợi ra tình huống giao tiếp.
+ Người tham gia chơi theo từng cặp đối đáp phù hợp chủ đề đã nêu. Cặp nào
đối đáp được lâu, nói được nhiều cặp thoại (hỏi - đáp) nhất, không sai chủ đề, sử

dụng câu đúng thì được xem là cặp đối đáp giỏi, là cặp thắng cuộc.
VD: Trò chuyện với bạn trong trường:
- Học sinh A: Bạn học lớp nào?
- Học sinh B: Mình học lớp 2A. Thế bạn ở đâu?
- Học sinh A: Mình học lớp 2D. Lớp bạn ở đâu?
- Học sinh B: Lớp mình ở tầng 2, phòng đầu tiên bên trái.
- Học sinh A: Cô giáo của bạn tên là gì?
- Học sinh B: …
VD: Hỏi nhau về nghề nghiệp của bố mẹ.
- Học sinh A: Bố cậu làm nghề gì?
- Học sinh B: Bố mình làm bác sĩ. Còn bố cậu?
- Học sinh A: Bố mình là…
- Học sinh B: …
- 20/23 -


Tổ chức trò chơi trong phân môn Luyện từ và câu lớp 2
D. Hiệu quả: Trò chơi giúp các em tăng cường kĩ năng giao tiếp. Các em đã
biết cách sử dụng các câu nói phù hợp trong các tình huống quen thuộc trong
cuộc sống, giúp tăng cường vốn sống và sự tự tin khi giao tiếp.
IV. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.
Qua một năm áp dụng những kinh nghiệm rút ra từ bản thân trong quá trình
dạy học phân môn Luyện từ và câu ở lớp 2, tôi đã thu được những kết quả sau:
- Bản thân tôi nắm chắc mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp, hình
thức tổ chức tất cả các tiết học của phân môn Luyện từ và câu.
- Trong quá trình giảng dạy, tôi luôn áp dụng các trò chơi phù hợp trong mỗi bài
tập, mỗi tiết dạy. Kết quả thu được là các em tiếp thu bài tốt, phát huy tính tích
cực, chủ động sáng tạo của học sinh, giúp các em học tập một cách tự nhiên, nhẹ
nhàng và hiệu quả. Chất lượng học sinh học môn Tiếng Việt nâng lên rõ rệt. Câu
văn của các em ít có từ dùng sai hơn. Đặc biệt rèn kĩ năng nói, diễn đạt của các

em rất mạch lạc, phong phú, tự nhiên. Nhiều câu văn hay, từ ngữ ''đắt giá'' gây
sự bất ngờ thú vị, có sức gợi cảm lớn. Điều đó chứng tỏ vốn từ của các em được
nâng lên, các em biết sử dụng vốn từ một cách hợp lý hơn, sinh động hơn. Sau
mỗi giờ học gây được sự sảng khoái ham thích học tập. Các em học sinh giờ đây
- Để có kết quả đối chiếu, tôi tiến hành khảo sát tại lớp 2 do tôi chủ nhiệm
kết quả cuối năm học khi áp dụng tổ chức trò chơi. Kết quả rất khả quan:
Nội dung

Số học sinh đạt

Số học sinh chưa đạt

Mở rộng vốn từ

45

17

Giải nghĩa từ

50

12

Đặt câu

53

9


- 21/23 -


Tổ chức trò chơi trong phân môn Luyện từ và câu lớp 2

PHẦN III - KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1.Kết luận
Với phân môn Luyện từ và câu, để học sinh lớp 2 bước đầu có được vốn từ
phong phú, dùng từ tương đối chuẩn xác, có chọn lọc nhằm giúp các em học tốt
tiếng mẹ đẻ cũng như các môn học khác thì không thể ''nhồi nhét'' một cách
cứng nhắc kiến thức vào đầu học sinh mà đòi hỏi cả giáo viên và học sinh phải
kiên trì. Học sinh phải thực hành nhiều tạo thói quen, từ đó hình thành kĩ năng,
kĩ xảo. Tuỳ theo từng bài, từng đối tượng học sinh để có những phương pháp và
những hình thức, trò chơi khác nhau thích hợp giúp học sinh nắm vững kiến
thức.
Đứng trước vai trò, vị trí, tầm quan trọng của việc dạy phân môn Luyện từ
và câu cho học sinh Tiểu học nói chung và đối với học sinh lớp 2 nói riêng, tôi
thấy việc hướng dẫn cho các em nắm được kiến thức về câu và từ thông qua các
trò chơi học tập là hết sức cần thiết.
Mỗi bài ở phân môn Luyện từ và câu là một dịp cho các em có thêm kiến
thức và kĩ năng chủ động trong cuộc sống văn hoá thường ngày.Vì vậy, giáo
viên cần hết sức linh hoạt để làm cho tiết học Luyện từ và câu trở thành một tiết
học hứng thú và bổ ích. Điều quan trọng là cần căn cứ vào nội dung, tính chất
của từng bài, căn cứ vào trình độ học sinh và năng lực, sở trường của giáo viên,
căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng trường, từng lớp mà lựa chọn,
sử dụng kết hợp các phương pháp, hình thức dạy học cùng với các trò chơi học
tập một cách hợp lý, đúng mức.
Tóm lại, muốn dạy tốt phân môn Luyện từ và câu trong chương trình Tiểu
học thì bản thân người giáo viên phải yêu thích môn Tiếng Việt và đặc biệt là
phân môn Luyện từ và câu. Ngoài ra, người giáo viên cần phải trau dồi thêm

kiến thức, luôn học hỏi, dự giờ chuyên đề của các đồng nghiệp, từ đó lựa chọn
nội dung và trò chơi phù hợp cho đối tượng học sinh của mình.
2. Khuyến nghị
- Các cấp lãnh đạo luôn quan tâm, tổ chức các chuyên đề các cấp cho giáo
viên rút kinh nghiệm và học tập.
- Bổ sung, trang bị thêm tài liệu cho giáo viên tham khảo.
- Tổ chức cho giáo viên báo cáo trước hội đồng sư phạm về những sáng kiến
có hiệu quả.
Trên đây là kinh nghiệm nhỏ mà tôi đã áp dụng để dạy phân môn Luyện từ
và câu ở lớp 2.

- 22/23 -


Tổ chức trò chơi trong phân môn Luyện từ và câu lớp 2
Đề tài của tôi hoàn thiện nhờ sự giúp đỡ của Ban giám hiệu và các đồng
nghiệp. Rất mong nhận được sự góp ý của Hội đồng ban giám khảo để góp phần
nâng cao hiệu quả chất lượng dạy học phân môn Luyện từ và câu lớp 2.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 8 tháng 4 năm 2017
Tôi cam đoan SKKN trên do tôi tự viết, không sao chép của ai. Nếu sai tôi
xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.

- 23/23 -


Tổ chức trò chơi trong phân môn Luyện từ và câu lớp 2
MỤC LỤC
PHẦN I- MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài

2. Mục đích nghiên cứu
3. Đối tượng nghiên cứu khảo sát, thực nghiệm
4. Phương pháp nghiên cứu
5. Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu
B. PHẦN NỘI DUNG
I. Cơ sở lí luận
1. Căn cứ vào mục tiêu của môn học, của cấp học
2. Căn cứ vào việc dạy Tiếng Việt theo các quan điểm
3. Căn cứ vào nội dung và phương pháp dạy môn Tiếng Việt
4. Căn cứ vào nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu ở lớp 2
5.Căn cứ vào vai trò của việc tổ chức trò chơi ở lớp 2
II. Thực trạng
1. Thuận lợi
2. Khó khăn
III. Giải pháp tiến hành
1. Nắm vững nội dung chương trình phân môn Luyện từ và câu
2. Tổ chức thực hiện
2.1. Trò chơi: Ghép nhanh tên sự vật
2.2. Trò chơi: Tìm nhanh từ cùng chủ đề
2.3. Trò chơi: Tìm nhanh từ có phụ âm đầu giống nhau
2.4. Trò chơi:Tìm nhanh từ có tiếng giống nhau
2.5. Trò chơi: Tìm nhanh từ đồng nghĩa
2.6. Trò chơi: Tìm “Kẻ trú ẩn”
2.7. Trò chơi: Thi ghép tiếng thành từ
2. 8. Trò chơi: Đoán từ
2.9. Trò chơi: Xếp từ theo nhóm
2.10. Trò chơi: Ai đúng ai sai
2.11. Trò chơi: Ai tài so sánh
2.12. Trò chơi: Đặt câu theo tranh
2.13. Trò chơi: Thi đặt câu với từ cho trước

2.14. Trò chơi: Thi đặt câu theo mẫu: Ai là gì?
2.15. Trò chơi: Chọn người đối đáp giỏi
IV. Hiệu quả sáng kiến kinh nghiệm
C - KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

1. Kết luận
2. Khuyến nghị

- 24/23 -

Trang
1
1
2
2
2
2
3
3
3
3
3
4
4
5
5
5
5
5
6

8
10
11
12
13
14
15
16
17
17
18
19
19
20
21
22
22
22


Tổ chức trò chơi trong phân môn Luyện từ và câu lớp 2

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NỘI
---------------

MÃ SKKN
(Dùng cho HĐ chấm của Sở)

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TỔ CHỨC TRÒ CHƠI

TRONG PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 2

Lĩnh vực: Tiếng Việt
Cấp: Tiểu học

Năm học: 2016 - 2017
- 25/23 -


×