Tải bản đầy đủ (.doc) (20 trang)

Một số kinh nghiệm trong công tác chủ nhiệm nhằm nâng cao chất lượng giáo dục hai mặt cho học sinh tại trường THCS

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.17 MB, 20 trang )

0I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Cùng với gia đình, nhà trường là nơi góp phần đào tạo thế hệ trẻ, những
chủ nhân tương lai của đất nước, trong đó có thầy cô giáo giữ vai trò chủ đạo
trong việc hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh. Ngoài nhiệm vụ chính
là truyền thụ tri thức cho học sinh, người thầy còn luôn có sự phối hợp với gia
đình, xã hội để cùng giáo dục, hoàn thiện nhân cách cho học sinh. Đặc biệt vai trò
của người giáo viên chủ nhiệm là vô cùng quan trọng, giáo viên chủ nhiệm được
xem như người cha, người mẹ thứ hai. Giáo viên chủ nhiệm lớp ngoài việc thực
hiện công tác giảng dạy như một giáo viên bình thường còn phải thực hiện tốt
nhiệm vụ quản lí lớp học và là nhân vật chủ chốt, là linh hồn của lớp, người tập
hợp, dìu dắt giáo dục học sinh phấn đấu trở thành con ngoan, trò giỏi, bạn tốt,
công dân tốt... và xây dựng một tập thể học sinh vững mạnh góp phần xây dựng
tập thể nhà trường vững mạnh.
Quá trình thực hiện công tác chủ nhiệm, giáo viên chủ nhiệm lớp có thể
gặp rất nhiều tình huống giáo dục khác nhau. Thực tế này đòi hỏi họ phải suy
nghĩ, tìm tòi những cách giải quyết hợp lí, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi, nâng
cao chất lượng giáo dục hai mặt cho học sinh đáp ứng yêu cầu phát triển trong
giai đoạn hiện nay.
Là một giáo viên làm công tác chủ nhiệm, không chỉ bản thân tôi mà đa số
các giáo viên chủ nhiệm khác cũng luôn mong muốn những thế hệ học sinh mà
mình đã và đang dìu dắt trở thành học sinh ngoan, biết kính trên nhường dưới,
năng động sáng tạo, biết vận dụng kiến thức đã học vào thực tế để góp phần xây
dựng đất nước ngày càng giàu đẹp.
Mỗi học sinh đều có những hoàn cảnh, nhận thức, khả năng ... khác nhau
vậy nên giáo viên chủ nhiệm phải làm tốt vai trò người thầy, người cha, người mẹ
đối với học sinh. Từ đó mới xây dựng được kế hoạch giáo dục phù hợp nhằm phát
huy tối đa khả năng của học sinh.
Song để đạt được những kết quả như vậy không phải là dễ, đòi hỏi mỗi
chúng ta phải có biện pháp riêng của mình với từng đối tượng, phải kiên trì, bền
bỉ, dịu dàng. Người giáo viên phải lấy “kỉ cương, tình thương, trách nhiệm” để


giáo dục học sinh, không chỉ nặng về truyền thụ tri thức mà còn phải chú trọng
giáo dục đạo đức, kĩ năng sống... cho học sinh. Xuất phát từ thực tế đó, với vai trò
là một giáo viên chủ nhiệm và từ kinh nghiệm thực tế làm công tác chủ nhiệm
gần 10 năm, tôi rút ra một số kinh nghiệm, cụ thể với đề tài “Một số kinh
nghiệm trong công tác chủ nhiệm nhằm nâng cao chất lượng giáo dục hai mặt
cho học sinh tại trường THCS Lê Đình Chinh”.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
- Với đề tài nghiên cứu này, tôi muốn trao đổi với các đồng nghiệp về
những biện pháp, giải pháp trong công tác chủ nhiệm lớp góp phần nâng cao chất
lượng giáo dục hai mặt của học sinh.
1


- Giúp các em học sinh hứng thú, chủ động, sáng tạo hơn trong các hoạt
động học tập và phong trào. Giải quyết khó khăn thường gặp trong quá trình học
tập.
- Giúp các em rèn luyện các kỹ năng trong quá trình tham gia các phong
trào của lớp, của trường.
3. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài lấy đối tượng nghiên cứu là những phương pháp hiệu quả được áp
dụng trong công tác chủ nhiệm lớp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục hai mặt ở
trường THCS Lê Đình Chinh, xã Quảng Điền, huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk.
4. Giới hạn của đề tài
Với tính chất là bài nghiên cứu mang tính chủ quan, trong đề tài này tôi tập
trung vào việc trình bày những kinh nghiệm của bản thân, những giải pháp hiệu
quả trong công tác chủ nhiệm mà tôi đã áp dụng với đối tượng học sinh lớp 8A3
trong năm học 2016 - 2017.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Tham khảo Sách giáo viên chủ nhiệm lớp - Những kí ức khó phai - Nhà

xuất bản giáo dục Việt Nam và những tài liệu có liên quan.
- Quán triệt các công văn chỉ đạo của Bộ, Sở và Phòng giáo dục – đào tạo,
kế hoạch hoạt động của nhà trường, đội thiếu niên tiền phong.
5.2. Phương pháp điều tra
- Học hỏi kinh nghiệm của các đồng nghiệp để nâng cao chất lượng giáo
dục trong công tác chủ nhiệm lớp.
- Phát phiếu điều tra về sở thích, mong muốn và những khó khăn mà các
em gặp phải.
5.3. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục
5.4. Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động
5.5. Phương pháp khảo nghiệm, thử nghiệm
5.6. Phương pháp thống kê toán học
0

II. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận

Đời sống xã hội hiện nay đã có những ảnh hưởng lớn tới nhà trường, làm
nảy sinh nhiều tình huống giáo dục phức tạp và đa dạng hơn. Giao tiếp giữa thầy
và trò, giữa trò và trò chiếm một vị trí quan trọng trong quá trình giáo dục và hình
thành nhân cách học sinh.
Mỗi em học sinh được sinh ra và lớn lên trong một gia đình khác nhau nên
tuổi tác, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức của bố mẹ và gia đình
2


đông con hay ít con, sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau giữa các thành viên trong
gia đình, điều kiện sinh hoạt vật chất, điều kiện sinh hoạt tinh thần, quan hệ gia
đình với hàng xóm láng giềng, tình hình an ninh ở địa phương, quan hệ bạn bè tốt
hay xấu … tất cả những điều kiện trên đều có khả năng ảnh hưởng đến học sinh.

Bởi vậy, việc tìm hiểu, nắm vững gia cảnh, hoàn cảnh sống nói chung của từng
học sinh là hết sức qua trọng. Nó giúp giáo viên chủ nhiệm biết được nguyên
nhân và những yếu tố tích cực hoặc tiêu cực, những thuận lợi hay khó khăn đang
tác động đến học sinh. Đồng thời biết được phương pháp giáo dục của gia đình để
có thể tham mưu, tư vấn và phối hợp với gia đình để có thể lựa chọn phương pháp
có tác dụng phù hợp hơn.
Tất nhiên, việc làm trên không thể được thực hiện trong thời gian ngắn có
thể hoàn thành mà đòi hỏi phải thực hiện trong một thời gian dài, thậm trí có khi
phải thực hiện trong nhiều tháng, trong nhiều năm. Vì sản phẩm của giáo dục
không thể thấy ngay trong trước mắt, mọi sản phẩm của giáo dục, nhất lại là sản
phẩm của nhân cách lại chỉ được xã hội đánh giá, chấp nhận hay không ở nhiều
năm sau khi các em đã rời ghế nhà trường. Vì vậy, nó lại càng đòi hỏi lương tâm
trách nhiệm rất cao của người thầy.
2. Thực trạng công tác chủ nhiệm lớp tại trường THCS Lê Đình Chinh
Trường THCS Lê Đình Chinh nằm trên địa bàn xã Quảng Điền, huyện
Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk, đa số các tầng lớp nhân dân gắn liền với nghề nông trồng lúa nước.
Năm học 2016-2017, trường có 14 lớp với tổng số 457 học sinh trong đó
Nữ: 222 (48,57%) , Học sinh dân tộc thiểu số: 0
2.1. Thuận lợi:
- Nhà trường luôn nhận được sự quan tâm và phối hợp chặt chẽ từ các phụ
huynh và chính quyền địa phương để có được những điều kiện thuận lợi trong
công tác giáo dục. Ban Giám hiệu nhà trường luôn quan tâm và tạo điều kiện
thuận lợi về cơ sở vật chất và tài liệu chuyên môn phục vụ cho hoạt động giáo
dục đặc biệt là công tác chủ nhiệm lớp.
- Có sự phối hợp, hỗ trợ của các đoàn thể, các giáo viên chủ nhiệm khác,
các giáo viên phụ trách bộ môn, cha mẹ học sinh và sự đoàn kết của tất cả các em
học sinh.
- Đa số giáo viên chủ nhiệm là những người có chuyên môn vững, có nhiều
năm kinh nghiệm trong nghề và được phụ huynh, đồng nghiệp và học sinh tin
yêu.

- Bản thân luôn có tinh thần trách nhiệm trong công việc, đặc biệt là đối với
công tác chủ nhiệm.
Năm học 2016- 2017, tôi được BGH nhà trường phân công chủ nhiệm lớp
8a3, lớp có 28 học sinh trong đó 15 nữ.
- Đa số học sinh chăm ngoan, có ý thức tự học tự rèn, tinh thần cầu tiến,
tích cực, chủ động tham gia các hoạt động thi đua.
3


- Tập thể học sinh lớp 8A3 là một tập thể có tinh thần đoàn kết, ý thức học
tập khá tốt.
- Lớp có một số học sinh có năng khiếu đặc biệt như: Em Nguyễn Phước
Quý Châu - là học sinh giỏi toàn diện, thành viên trong đội văn nghệ Liên đội;
em Nguyễn Như Ngọc – là vận động viên cờ vua của trường.
2.2. Khó khăn
- Do điều kiện kinh tế khó khăn của địa phương, gia đình nên các em ngoài
việc học tập còn phải lao động, giúp đỡ thêm cho gia đình như may gia công quần
áo, khăn bịt mặt, làm việc nhà, làm một số việc nhà nông...
- Mặt bằng dân trí còn thấp nên một số gia đình hầu như chưa thực sự quan
tâm đến việc sinh hoạt và học tập của con em.
- Đa số học sinh luôn có ý thức vâng lời cha mẹ, thầy cô giáo, người lớn
tuổi, song lại cũng rất dễ nhiễm các tác động tiêu cực từ gia đình, bạn bè, xã hội,
đặc biệt trong thực tế xã hội hiện nay, cơ hội cái xấu tác động vào quá trình rèn
luyện nhân cách, vào tư tưởng, tình cảm của các em rất nhiều. Bởi vậy nếu không
có nề nếp tốt từ trong gia đình, ở trường lớp học sinh sẽ rất dễ có những thay đổi
bất thường, tiêm nhiễm những tệ nạn xã hội rất nhanh, nhiều khi đi ngược lại
mong muốn của người lớn.
- Học sinh ở bậc trung học cơ sở, lứa tuổi vị thành niên về tâm sinh lý là
lứa tuổi có biến động rất mạnh. Vì thế, mức độ ổn định trong quá trình hình thành
nhân cách chưa cao, cần có sự quan tâm kịp thời của gia đình và thầy cô. Một vài

học sinh còn tình trạng ỷ lại, ý thức học tập và rèn luyện còn hạn chế.
- Hiệu quả công tác chủ nhiệm lớp của một số giáo viên chưa cao, còn xảy
ra tình trạng né tránh, ngại làm công tác chủ nhiệm.
- Đối với lớp 8ª3, lớp có 5 em thuộc gia đình hộ nghèo và cận nghèo, có 2
em có hoàn cảnh gia đình khó khăn: Bố mẹ li thân phải ở với ông bà. Chất lượng
học tập của lớp còn ở mức trung bình và không đồng đều; có 7 em được lên lớp
sau khi thi lại sau hè. Đặc biệt có một số em thuộc diện học sinh cá biệt, ý thức
học tập kém: trên lớp không ghi bài, thường xuyên thiếu sách vở, không làm bài
tập ở nhà. Cụ thể như các em: Mai Duy Hải, Trần Thị Huệ, Nguyễn Đăng Huân,
Lê Văn Vinh và một số em khác. Việc tham gia các hoạt động phong trào của lớp
cũng chưa đạt kết quả cao, nhiều em còn có tính tị nạnh, ỷ lại, chưa tự giác.
* Nguyên nhân
- Về mặt xã hội:
Với xu thế hội nhập kinh tế thế giới hiện nay đã có ảnh hưởng không ít đến
thế hệ trẻ, bên cạnh những tác động tích cực cũng có những ảnh hưởng tiêu cực
như: Các tệ nạn xã hội như trò chơi điện tử, văn hóa phẩm đồi trụy trên Internet,
hay những trò chơi mang nặng tính chất kinh doanh như game online... làm ảnh
hưởng không nhỏ đến kết quả học tập của các em.
- Về gia đình:
4


+ Một số gia đình quá chiều con, muốn gì được nấy hoặc do hoàn cảnh gia
đình không thuận hòa. Ví dụ: Bố thường xuyên cãi nhau, bất đồng quan điểm
trong việc dạy con, điều đó cũng ảnh hưởng không nhỏ đến các em.
+ Một số gia đình không quản được thời gian của con em mình, bố mẹ đi
làm cả ngày, buổi trưa không về, đưa tiền cho các em ăn sáng hoặc lo buổi trưa
thì các em lại không ăn hoặc ăn mì tôm và để giành tiền cho việc ăn quà vặt hoặc
chơi điện tử…
- Về học sinh:

+ Các em học sinh bậc THCS đang ở lứa tuổi mới lớn, tâm lí thay đổi thất
thường, muốn chứng tỏ với mọi người rằng mình đã lớn. Các em đã có những
rung cảm mới lạ, các em khao khát được tìm hiểu, được tiếp cận những thông tin
mới, được tìm hiểu trên mọi lĩnh vực của cuộc sống xã hội.
+ Một số em bị rủ rê, lôi kéo vào các tệ nạn như: Uống bia, rượu, sử dụng
các chất kích thích, đánh nhau gây mất đoàn kết … làm ảnh hưởng không tốt đối
với các em.
- Về giáo viên:
Một số giáo viên chưa thật sự linh hoạt, mềm dẻo trong xử lý một vài
tình huống sư phạm, chưa thân thiện khiến các em cảm thấy sợ, tự ái và cảm thấy
bị tổn thương.
2.3. Vấn đề đặt ra
Từ những thực tế trên đây, với kinh nghiệm đã từng là một học sinh trước
đây và với vai trò là một giáo viên chủ nhiệm, tôi luôn trăn trở: Vậy người giáo
viên phải có những biện pháp gì để có thể giúp học sinh học tập và rèn luyện tốt
hơn? Giúp các em có thể vượt qua được những khó khăn để vươn lên trong học
tập.
3. Nội dung và hình thức của giải pháp
3.1. Mục tiêu của giải pháp
- Học sinh có hứng thú và tích cực tham gia vào hoạt động với tinh thần tự
nguyện, tự giác.
- Học sinh nắm được một số hình thức hoạt động khác nhau, kinh nghiệm
tổ chức hoạt động ngày càng đa dạng, phong phú hơn.
- Học sinh được rèn luyện các kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tham gia hoạt
động tập thể, các em dần trở nên tự tin, mạnh dạn hơn khi giao tiếp với mọi người
và đứng trước đám đông.
- Thông qua các phong trào của lớp, học sinh có thể cải thiện đáng kể mối
quan hệ giữa bạn bè với nhau, tập thể lớp trở nên gắn bó và đoàn kết hơn.
Theo tôi, trong công tác chủ nhiệm lớp, người giáo viên cần phải là người
gần gũi, theo sát các em và có những biện pháp tác động tích cực nhằm giúp học

sinh vượt qua những khó khăn, vươn lên trong học tập.
5


Từ thực tế đó, để đưa phong trào thi đua của lớp đi lên, tôi đã tiến hành
những biện pháp tác động như sau:
3.2. Nội dung và hình thức của giải pháp
3.2.1. Biện pháp thứ nhất: Tạo bầu không khí gần gũi, thân thiện, thoải
mái và tin tưởng lẫn nhau
Tạo bầu không khí thoải mái, vui vẻ cho học sinh. Làm quen với các em,
nắm bắt tình hình lớp, về hoàn cảnh cụ thể của từng em từ những năm trước, qua
chính học sinh thông qua kết quả hồ sơ bàn giao chất lượng giáo dục của năm học
trước, thông qua các giáo viên chủ nhiệm lớp những năm trước và giáo viên bộ
môn. Cố gắng hình thành ở các em một thói quen mỗi khi gặp thầy cô chủ nhiệm
là các em có những niềm vui, có những tâm tư mình đang chờ được gặp để trao
đổi, tâm sự hoặc kiến nghị đề xuất, hoặc ít nhất qua cô thầy chủ nhiệm cũng nhận
được lời tư vấn đáng tin cậy.
3.2.2. Biện pháp thứ hai: Thể hiện rõ tâm tư, nguyện vọng và kế hoạch
của cá nhân - giáo viên chủ nhiệm; Làm tốt công tác định hướng cho học sinh
Trao đổi tâm tình với học sinh, nói rõ cho các em biết mong ước, dự định
của mình trong việc xây dựng kế hoạch lớp trong năm học. Từ đó, các em sẽ xác
định rõ mục tiêu, xây dựng kế hoạch cá nhân phù hợp để cùng đoàn kết, hỗ trợ
xây dựng tập thể lớp.
Ngay từ đầu năm học, căn cứ vào tình hình thực tế, tham khảo từ giáo viên
bộ môn và khả năng của học sinh, tôi chủ động phân tích định hướng cho học
sinh lựa chọn những môn mà bản thân có năng khiếu hơn so với các môn học
khác để đầu tư thời gian, công sức, ôn tập để tham gia kì thi học sinh giỏi cấp
trường (kể cả các môn văn hóa và các môn thể thao...). Thông báo với cha mẹ học
sinh về những định hướng này để cùng phối hợp, giúp đỡ học sinh phát huy tối đa
khả năng của mình.

3.2.3. Biện pháp thứ ba: Làm tốt công tác phối hợp giáo dục trong nhà
trường
Làm tốt công tác phối hợp với các giáo viên dạy các môn của lớp để nắm
bắt kịp thời tình hình học tập và rèn luyện của học sinh, cụ thể như dự giờ, quan
sát ý thức, hứng thú học tập và thăm dò, phát hiện những lúc khó khăn của học
sinh trong học tập... Trao đổi, tham khảo giáo viên bộ môn về những khó khăn
của học sinh học tập và rèn luyện, đồng thời tiếp thu ý kiến của giáo viên bộ môn
phản ánh để cùng hỗ trợ, phối hợp tác động tới lớp nói chung và từng học sinh nói
riêng, bên cạnh đó phản ánh với giáo viên bộ môn về nguyện vọng của học sinh
và đề xuất với giáo viên môn đó để có kết quả cao hơn.
Riêng đối với những học sinh có học lực yếu kém, trước cuộc họp cha mẹ
học sinh đầu năm tôi chủ động nắm bắt thông tin từ giáo viên bộ môn, từ học sinh
trong lớp để báo cáo với cha mẹ học sinh tình hình cụ thể để cha mẹ các em cùng
nắm bắt và phối hợp, giúp đỡ. Ngoài ra, giáo viên chủ nhiệm có thể đề nghị nhà

6


trường có kế hoạch phụ đạo, tổ chức dạy thêm học thêm cho học sinh ... trong nhà
trường nhằm nâng cao chất lượng giáo dục.
3.2.4. Biện pháp thứ tư: Xây dựng, phát huy hiệu quả vai trò của đội
ngũ cán bộ lớp, cán sự bộ môn; Xây dựng tiêu chí thi đua cụ thể
Để giáo dục các em chăm học, có ý thức tự giác trong học tập, tránh tình
trạng chây lười trong quá trình học tập. Tôi chủ động xây dựng một đội ngũ cán
bộ lớp, cán sự bộ môn theo kế hoạch của nhà trường. Mỗi ngày các em kiểm tra
bài cũ theo thời khóa biểu của từng thứ trong tuần vào khoảng thời gian sinh hoạt
15 phút trước khi vào lớp. Cụ thể như việc học bài cũ, chuẩn bị bài mới, kiềm
tra sách vở, đồ dùng học tập ... Đôn đốc kiểm tra không chỉ làm để mang tính
hình thức mà qua đó người giáo viên nắm bắt tình hình thực tế, động viên, khen chê kịp thời, thưởng - phạt phân minh tạo động lực thúc đẩy học sinh học tập và
rèn luyện.

Thực tế, trong lớp tôi chủ nhiệm (lớp 8A3) có em Nguyễn Đăng Huân
thường xuyên mang thiếu sách vở, bài tập ở nhà làm ít hoặc làm đối phó. Tôi đã
đến gặp và trao đổi với phụ huynh, tôi được biết là bố mẹ em có quan tâm nhắc
nhở nhưng sự qua tâm nhắc nhở đó không được cặn kẽ và thường xuyên, một
phần do hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân em đó lại chưa có ý thức tự giác
cao, luôn cẩu thả, ham chơi, chính vì vậy tôi và các em học sinh trong lớp quan
tâm hơn đến em. Ngoài việc gặp gỡ thường xuyên, dùng lời lẽ ân cần, tôi chủ
động phân tích cho em thấy đúng - sai, từ đó Huân cũng đã nhận ra khuyết điểm
của mình và nhờ có sự kiểm tra sát sao của tổ trưởng, cán sự bộ môn nên Huân đã
mang đầy đủ sách vở, đồ dùng học tập cũng như có ý thức giữ gìn sách vở và học
bài, làm bài đầy đủ trước khi đến lớp.
Giáo viên chủ nhiệm cần phân công nhiệm vụ cụ thể cho ban cán sự lớp.
Giáo viên có thể phân thêm tổ phó, bàn trưởng (có sự thay đổi luân phiên theo
từng tháng để phát huy tốt vai trò tự quản của học sinh.
Xây dựng dựng đội ngũ tự quản là nền tảng cho công tác chủ nhiệm và
cũng là một việc làm quan trọng và khó khăn đối với giáo viên chủ nhiệm. Khi đã
tìm được đội ngũ cán bộ lớp, giáo viên chủ nhiệm cần bồi dưỡng học sinh ý thức
trách nhiệm cao đối với lớp, phục vụ tập thể lớp, biết phê bình và tự phê bình,
phương pháp quản lý lớp.
Mỗi tháng họp một lần để tổng kết rút kinh nghiệm, giao kế hoạch nhiệm
vụ tháng tới, mua sổ theo dõi. Mỗi tuần giao ban một lần vào 15 phút sinh hoạt
đầu giờ thứ 2 để đến tiết sinh có số liệu để đánh giá kết quả thi đua một cách
chính xác, kịp thời chấn chỉnh nội quy nề nếp của lớp. Biểu dương những em có
tiến bộ, xử lý những học sinh có dấu hiệu vi phạm nội quy nề nếp.
Trong xây dựng đội ngũ cán bộ lớp, giáo viên chủ nhiệm cần chú ý chọn
đúng nguồn, tránh việc thay cán bộ lớp, không phó mặc việc lớp cho đội ngũ cán
bộ lớp; Chú ý lập sơ đồ tổ chức lớp học, sơ đồ chỗ ngồi để tiện hoạt động cũng
như theo dõi, quản lý.
7



Căn cứ vào đặc điểm tình hình lớp, mỗi năm học, giáo viên nên lập tiêu chí
thi đua, mục tiêu cụ thể, các giải pháp thực hiện rồi công bố trước lớp được tập
thể học sinh nhất trí tại cuộc họp lớp, thông qua và xin ý kiến phụ huynh tại cuộc
họp phụ huynh đầu năm. Sau đó thống nhất, đưa ra cho tập thể lớp thực hiện, lấy
đó làm cơ sở để xếp loại thi đua. Có sự điều chỉnh và thay đổi, bổ sung kịp thời
tùy theo tình hình thực hiện nội quy, nề nếp và ý thức rèn luyện của học sinh. Đề
ra định mức khen thưởng và kỉ luật kịp thời thông qua cuộc họp phụ huynh đầu
năm, giữa năm,...
3.2.5. Biện pháp thứ năm: Phát huy tối đa tinh thần tự giác, tinh thần
trách nhiệm của học sinh
Nắm được đặc điểm tâm sinh lý độ tuổi của đối tượng học sinh THCS, tôi
luôn chú trọng việc xây dựng lớp tự quản, giáo dục học sinh ý thức tự giác, biết tự
mình nhận lỗi và tự sửa. Như vậy người giáo viên vừa khơi dậy tính tự giác, tự
trọng trong các em, giáo viên vừa giáo dục một cách khéo léo, dễ thấm với học
sinh. Trong lớp nêu cao tinh thần tự quản từ cán bộ lớp đến từng em học sinh, từ
đội nề nếp của trường.
Tôi có giao cho một số học sinh ở lớp theo dõi những em hay vi phạm nội
quy của lớp, của trường, qua đội ngũ này tôi cũng đã kịp thời nắm bắt được
những thông tin về tình hình trong lớp. Như trường hợp của em Mai Duy Hải:
Khi bị các bạn nhắc nhở em không phản ứng ngay trước mặt mà lại có những
hành động phản ứng sau lưng bằng cách khi các bạn xuống chào cờ, Hải đã lấy
toàn bộ sách vở của các bạn đó tung xuống nền nhà và lấy dép giẫm lên. Khi tôi
nắm được tình hình như vậy tôi đã nói trước lớp trong buổi sinh hoạt tuần đó “…
Ở lớp ta có hiện tượng khi có trống giờ chào cờ, các em đã chạy vội xuống chào
cờ không để ý đã đánh rơi cặp của các bạn và rơi hết sách vở của bạn xuống sàn
lớp làm bẩn hết sách vở của bạn, nếu lần sau có vội thì chúng ta cũng nên nán lại
để nhặt giúp bạn…”. Thế là đến chiều thứ hai tuần sau em học sinh đó đã xin lỗi
tôi và bạn cùng lớp, nhận khuyết điểm và rất ân hận về việc làm của mình. Cũng
từ đó các em có nhiều cố gắng trong việc thực hiện tốt các nội quy của lớp, của

trường.
3.2.6. Biện pháp thứ sáu: “Dùng độc trị độc”
Giao nhiệm vụ cụ thể cho một số em còn vi phạm nội quy của trường của
lớp. Tôi phân công cho các em đó đảm nhiệm một số công việc của lớp như theo
dõi xem bạn nào hay ăn quà vặt, việc các bạn tập thể dục giữa giờ, đi học sớm về
nhà muộn hay phụ trách lao động... Do đó muốn nói được người khác, trước hết
tự mình phải gương mẫu, từ đó các em sẽ tiến bộ hơn.
Cụ thể, em Nguyễn Duy Nam là một học sinh của lớp tôi, hay ăn quà vặt
trong lớp nên thường xuyên bị cờ đỏ nhắc nhở, tôi đã phân công nhiệm vụ cho em
theo dõi xem bạn nào hay ăn quà vặt. Qua một thời gian kết quả là Nam đã hoàn
thành tốt công việc được giao và tất nhiên em đã tránh được khuyết điểm mà
mình đã mắc phải trước đây.

8


3.2.7. Biện pháp thứ bảy: Làm tốt công tác phối hợp chặt chẽ, thông tin
kịp thời giữa gia đình, nhà trường và xã hội
Phối kết hợp chặt chẽ với gia đình nhà trường và xã hội: Lập góc học tập
đúng khoa học, có thời gian biểu, thời khóa biểu. mua sắm đầy đủ sách vở, đồ
dùng học tập tối thiểu cho con, bao bọc, dán nhãn ngay từ đầu năm học... tăng
cường đi thực tế tìm hiểu hoàn cảnh gia đình, tâm tư nguyện vọng của học sinh
cũng như cha mẹ học sinh để từ đó có biện pháp giáo dục thích hợp.
Giáo viên chủ nhiệm cần xây dựng kế hoạch lên lớp hàng tuần để phụ
huynh biết kết quả học tập của con em mình để cùng phối hợp. Bên cạnh đó lưu
số điện thoại của phụ huynh để tiện trao đổi về việc học tập của các em.
Lớp tôi chủ nhiệm có em Lê Kế Nguyên Sa có hoàn cảnh gia đình rất khó
khăn. Bản thân em hay vi phạm nội quy, thường xuyên không hoàn thành bài tập,
thiếu sách vở... Trước hoàn cảnh như vậy, tôi đã phát động tinh thần tương thân,
tương ái, giúp đỡ nhau trong học tập, tìm đôi bạn cùng tiến và em Quý Châu là

một học sinh giỏi, ngoan đã xung phong giúp đỡ em Sa trong học tập. Kết quả rất
đáng mừng cuối học kì I, năm học 2016 - 2017, em Sa đã đạt được kết quả tốt
trong học tập.
3.2.8. Biện pháp thứ tám: Linh hoạt trong công tác chủ nhiệm
Tôi phối kết hợp dùng biện pháp nhẹ nhàng và những biện pháp cứng rắn
trong việc xử lí và giáo dục học sinh đặc biệt là đối với những học sinh hay vi
phạm nội quy. Ưu điểm lớn nhất của biện pháp này chính là giúp các em không
những tự tin ở bản thân mà còn tin tưởng ở các thầy cô giáo, thầy trò hiểu nhau
hơn. Từ đó các em dễ bộc bạch nỗi lòng. Các em không ngại ngần để hỏi han các
thầy cô giáo, như vậy sẽ bù đắp được kiến thức thiếu hụt. Tuy nhiên, nếu học sinh
vi phạm nội quy trường lớp nhiều lần, đã được thầy cô và các bạn động viên,
nhắc nhở mà vẫn không tiến bộ thì tùy theo mức độ vi phạm mà tôi có thể đưa ra
những biện pháp xử lý để răn đe chính bản thân em học sinh này cũng như những
học sinh khác, thậm chí có thể đưa ra Hội đồng kỷ luật nhà trường để xử lý, giải
quyết.
3.2.9. Biện pháp thứ chín: Phát huy tính hiệu quả trong việc tham gia
các hoạt động phong trào
Giáo dục các em qua các hoạt động tập thể, qua các phong trào thi đua của
lớp, của trường. Tự cá nhân học sinh đăng ký thi đua, danh hiệu đạt được trong
năm học, đưa ra các biện pháp thực hiện phù hợp với chính mình, tất nhiên đăng
ký trên cơ sở phải đạt được mục tiêu phấn đấu của lớp, của tổ mà tập thể các em
đã được cùng nhau bàn bạc trước đó, nêu cao tinh thần tự quản trong công việc.
Tôi cho rằng giáo dục các em qua phong trào thi đua có tác dụng tích cực,
song cũng thật khiếm khuyết nếu người giáo viên không biết khơi dậy ý chí, động
lực ở các em. Nếu ta chỉ tính điểm tốt và danh hiệu thi đua thì chỉ có tác dụng đối
với những em học khá giỏi nhưng chưa động viên đối với các em học yếu, trung
bình. Điều đó sẽ nảy sinh trong các em suy nghĩ: “ mình học kém như vậy thì cố
làm gì, có bao giờ được thưởng đâu.”, chính vì vậy trong phong trào thi đua, tôi
9



giành một phần để thưởng cho các em có chí hướng vươn lên, thưởng cho các em
có ý thức tham gia các phong trào tập thể, các em nghèo vượt khó.
Trong một số sinh hoạt chủ điểm, tôi đã chú trọng đến các học sinh thường
có tính nhút nhát, rụt rè, ít nói, học trầm… chưa được thưởng bao giờ, tạo cơ hội
cho các em được tham gia hoạt động.
Bằng cách làm đó tôi đã giúp các em lấy được sự tự tin, các em nhận thấy
được vai trò của mình trong tập thể. Các em tích cực tham gia và được tặng
những phần thưởng. Dù đó là phần thưởng nhỏ bé, song có tác dụng rất lớn giúp
các em có được động lực vươn lên.

Tham gia lễ Khai mạc cuộc thi Nghi thức đội cấp trường.
3.2.10. Biện pháp thứ mười: Chủ động cải tiến đa dạng các hình thức
sinh hoạt lớp
Bên cạnh nhận xét, góp ý, khen thưởng, phê bình các em trong một tuần,
tôi luôn có ý thức kết hợp giờ sinh hoạt lớp thành giờ các em vừa học vừa chơi,
giúp các em hiểu nhau hơn, thông cảm lẫn nhau và đoàn kết hơn. Không nên chỉ
tập trung chú ý vào những khuyết điểm đã qua mà cần nhìn nhận, đánh giá, động
viên kịp thời sự tiến bộ của học sinh. Giáo viên chủ nhiệm không nhất thiết, cứng
nhắc tổ chức tiết sinh hoạt cuối tuần theo nguyên tắc, khuôn mẫu duy nhất đó là:
Đánh giá hoạt động tuần trước sau đó triển khai kế hoạch hoạt động tuần tiếp theo
mà cần xem xét thực tế, hiệu quả công việc, tính cần thiết của một vài công việc
để tránh tâm lý chán nản ức chế cho học sinh mỗi khi đến tiết sinh hoạt cuối tuần.
Cụ thể, tôi chia các giờ sinh hoạt lớp thành theo chủ điểm, khi thì chơi trò
chơi, khi thì tập hát, hái hoa dân chủ. Cuối tháng tổ chức sinh nhật cho các em có
cùng tháng sinh. Tôi luôn luôn lồng ghép các nội dung giáo dục về tình đoàn kết,
10


tự giác cao, buổi sinh hoạt biến thành giờ thảo luận sôi nổi, bổ ích chứ không

nặng nề với những hình phạt về các lỗi vi phạm.
Chủ động tạo hứng thú cho học sinh trong quá trình học tập.
Cảm hoá học sinh qua cải tiến giờ dạy của thầy giáo, cô giáo gây hứng thú
cho học sinh bằng cách giúp các em tự chủ động sáng tạo qua các tiết học.

Tổ chức trò chơi “Đố vui học tập”.

11


Hình ảnh tổ chức sinh nhật cho học sinh tại lớp.
Tổ chức một số trò chơi như: Giải Ô Chữ :
Luật chơi: Chia lớp làm hai đội. Mỗi đội cử thành viên tham gia phần chơi
với nhiệm vụ giải đúng ô chữ. Thời gian chơi từ khi bắt đầu đến khi kết thúc. Mỗi
Ô được tính 10 điểm.

Câu 1: Gồm 7 chữ cái: Tác giả của bài Đoàn ca )

Đáp án: Hoàng Hà

Câu 2: Gồm 8 chữ cái (Tác giả bài Đội ca)

Đáp án: Phong Nhã

Câu 3: Gồm 9 chữ cái: Tên thật của Lê Hồng Phong.
12


Đáp án: Lê Huy Doãn
Câu 4: Gồm 9 chữ cái: Tên của Bác Hồ khi làm chủ tịch nước.

Đáp án: Hồ Chí Minh
Câu 5: Gồm 8 chữ cái: Tên một người đoàn viên lấy thân mình làm giá đỡ súng.
Đáp án: Bế Văn Đàn
Câu 6: Gồm 9 chữ cái: Là người anh hùng dẫn đầu đoàn học sinh chống Pháp tại
Sài Gòn ngày 9.1.1950 (Ngày 9.1 hàng năm là ngày HS – SV Việt Nam).
Đáp án: Trần Văn Ơn
Câu 7: Gồm 9 chữ cái: Người anh hùng mà giặc Pháp gọi bằng “Ông”
Đáp án: Lý Tự Trọng
Câu 8: Gồm 8 chữ cái: Tên người anh hùng khi giặc mang ra bắn vẫn lạc quan,
yêu đời.
Đáp án: Võ Thị Sáu
Từ khóa: TIẾN BƯỚC LÊN ĐOÀN
Hiện nay chúng ta đang thực hiện phương pháp lấy học sinh làm trung tâm.
Nói như vậy không làm lu mờ vai trò của người thầy mà càng đòi hỏi người thầy
có vai trò cao hơn, dùng lời giảng để giáo dục học sinh qua bài dạy, khơi dậy
trong các em những tình cảm tốt, biết yêu thương, phải trái…. Từ đó các em sống
có tinh thần trách nhiệm không chỉ với bản thân mà còn với bạn bè với nhà
trường, với gia đình và toàn xã hội.
3.2.11. Biện pháp thứ mười một: Chú trọng công tác giáo dục đạo đức,
kĩ năng sống học sinh
Giờ sinh hoạt có thể theo tiến trình: Nhận xét, đánh giá (từ 15 đến 20 phút);
sinh hoạt tập thể (từ 20 đến 25 phút) với các hoạt động vui học, rèn kỹ năng sống
để học sinh có cơ hội được thể hiện mình. Cuối một học kì và cuối mỗi năm học,
giáo viên có thể cho học sinh tự bộc bạch về ước mơ, hoài bão của bản thân,
những vướng mắc gặp phải, những mong muốn, đề xuất (nếu có)...
Trong sinh hoạt 15 phút đầu giờ, giáo viên lên kế hoạch cụ thể cho từng
buổi và phân công cho từng cá nhân phụ trách. Trong tuần, ngoài nội dung bắt
buộc theo quy định của nhà trường, giáo viên có thể dành hai buổi để học sinh
trao đổi ước mơ, hoài bão, định hướng nghề nghiệp, hoặc tìm hiểu về gương
người tốt, việc tốt nhất là các tấm gương vượt khó vươn lên trong học tập...

Giáo viên chủ nhiệm cần xem xét tình hình thực tế và nhu cầu của học sinh
để xây dựng các chuyên đề, buổi nói chuyện trao đổi hoặc đề xuất với nhà trường
tổ chức các chuyên đề nhằm giáo dục thêm về kĩ năng sống cho học sinh. Tuy
nhiên với vai trò là một giáo viên chủ nhiệm, chúng ta cũng có thể tự xây dựng
một số hoạt động, kế hoạch để góp phần thực hiện tốt công việc này. Ví dụ như
sau:
a. Lựa chọn nội dung tổ chức phù hợp với học sinh
Bước 1: Giáo viên chủ nhiệm chuẩn bị
13


Xác định rõ tên chủ đề hoạt động. Dự kiến cách triển khai nội dung và
hình thức tổ chức. Dự kiến người thực hiện. Qua đó học sinh được rèn kĩ năng
giao tiếp, ứng xử; kĩ năng suy nghĩ sáng tạo và kĩ năng ra quyết định trong mọi
công việc
Bước 2: Ban cán sự lớp lập kế hoạch và chuẩn bị kế hoạch của mình trên
cơ sở có sự cố vấn của giáo viên chủ nhiệm. Dựa vào yêu cầu giáo dục và gợi ý
do giáo viên chủ nhiệm đề ra , học sinh bàn bạc lập kế hoạch hoạt động nâng cao
kĩ năng tìm kiếm và xử lí thông tin.
Bước 3: Thực hiện kế hoạch hoạt động.
Đây là bước thể hiện kết quả chuẩn bị của cả học sinh và giáo viên, là bước
để học sinh thể hiện năng lực tổ chức tự quản hoạt động tập thể. Giáo viên chủ
nhiệm cần theo dõi và huy động tất cả học sinh đều được tham gia.
Bước 4: Rút kinh nghiệm để đánh giá kết quả.
Giáo viên chủ nhiệm với ban cán sự lớp đánh giá kết quả của hoạt động
tập thể. Thông qua kết quả tham gia hoạt động ngoài giờ lên lớp của học sinh,
giáo viên chủ nhiệm lấy đó làm một căn cứ để xếp loại hạnh kiểm học sinh từng
tháng và từng kì nhằm động viên khích lệ tất cả học sinh cùng tham gia.
b. Áp dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực vào thực hiện hoạt động ngoài
giờ lên lớp: Kĩ thuật chia nhóm, Kĩ thuật “động não”, Kĩ thuật “ Sơ đồ tư duy”...

Tóm lại, chúng ta hãy biến tiết sinh hoạt lớp thành một diễn đàn mà ở đó là
nơi chia sẻ những yêu thương, những buồn vui, và hỗ trợ nhau giải quyết những
khó khăn của học sinh.
4. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp
Các biện pháp trên đây cần phải được thực hiện một cách đồng bộ, linh
hoạt và có tính liên tục. Đặc biệt, các biện pháp trên đây phải được áp dụng cho
phù hợp với từng đối tượng học sinh. Trong số đó việc tạo được tâm lí, động cơ
phấn đấu cho học sinh được xem là biện pháp quan trọng nhất. Bởi vì nếu các em
có tâm lý thoải mái, tự tin, xác định rõ mục tiêu học tập, chủ động tham gia tốt
các hoạt giáo dục trong nhà trường, các em thực sự cảm nhận được “Mỗi ngày
đến trường là một ngày vui”. Mặt khác, việc xây dựng khối đoàn kết trong lớp,
phát huy tinh thần tương thân tương ái, đôi bạn cùng tiến ... sẽ giúp cho những
học sinh có hoàn cảnh khó khăn phấn đấu vươn lên trong học tập.
Vai trò của giáo viên chủ nhiệm được xem là yếu tố quyết định đến sự
thành công của lớp, sự động viên kịp thời, biện pháp chủ nhiệm thiết thực của
giáo viên chủ nhiệm sẽ giúp cho phong trào thi đua của lớp đạt được kết quả cao.
Từ đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục hai mặt của học sinh cũng như chất
lượng giáo dục chung của nhà trường.
5. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu,
phạm vi và hiệu quả ứng dụng
Qua quá trình áp dụng những biện pháp mang tính tích cực vào lớp chủ
14


nhiệm tôi nhận thấy nề nếp học tập của lớp có những chuyển biến rõ nét, ngay từ
những tuần học đầu tiên. Các em học sinh có ý thức học tập tốt hơn, gần gũi với
thầy cô hơn và đặc biệt các em sẵn sàng “tâm sự”, trao đổi với thầy cô về nhưng
khó khăn của mình. Kết quả cụ thể như sau:
• Kết quả lớp chủ nhiệm 7A1- NĂM HỌC 2015-2016
(Trước khi áp dụng sáng kiến)

Tổng
số
Giỏi / Tốt
HS

Trung
bình

Khá

Yếu

Kém

Học lực

28

5

18%

6

21%

10

36%


7

25%

0

0

Hạnh
kiểm

28

20

71%

8

29%

0

0

0

0

0


0

Danh
hiệu thi
đua

CHI ĐỘI KHÁ
Kết quả lớp chủ nhiệm 8A1- NĂM HỌC 2016-2017
(Áp dụng sáng kiến)
Tổng
số HS

Giỏi /Tốt

Khá

Trung
bình

Yếu

Kém

Học lực

28

9


32%

5

18%

10

36%

4

14%

0

0

Hạnh
kiểm

28

24

86%

4

14%


0

0

0

0

0

0

Danh
hiệu thi
đua

CHI ĐỘI VỮNG MẠNH

PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Làm tốt công tác chủ nhiệm có ý nghĩa rất lớn trong quá trình giáo dục học
sinh - nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi học sinh có thể tiếp cận thông tin từ
nhiều nguồn khác nhau và việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh đang trở thành
nhu cầu cấp thiết.
Giáo viên chủ nhiệm không thể chỉ đưa ra các yêu cầu để học sinh thực
hiện theo mà phải hướng dẫn để các em biết cần phải tiến hành công việc như thế
15



nào cho hợp lý. Các hình thức phong trào hoạt động cũng không cứng nhắc, rập
khuôn mà nó còn tùy thuộc vào khả năng, nhu cầu, hứng thú của học sinh, với
yêu cầu của địa phương và điều kiện của nhà trường.
Giúp cho học sinh củng cố và mở rộng các chủ điểm giáo dục và những
kiến thức mà học sinh đã tiếp thu được qua các môn học trên lớp, biết vận dụng
kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống cũng như bổ sung thêm vốn kinh
nghiệm trong cuộc sống tập thể ở nhà trường, gia đình và ngoài xã hội.
Giáo viên chủ nhiệm cần phải thường xuyên tìm tòi tài liệu, chịu khó
nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm từ các đồng nghiệp; truyền cảm hứng đến tập
thể học sinh, tạo cho học sinh có sự hứng khởi tham gia nhiệt tình năng nổ. Một
khi giáo viên cố gắng, học sinh tích cực tham gia thì sẽ đạt được kết quả như
mong đợi.
Phải biết kết hợp giáo dục giữa gia đình, nhà trường và xã hội, nếu thiếu
một trong ba sẽ không đạt hiệu quả.
Trong khi thực hiện ở lớp đối với học sinh chậm tiến ( cá biệt ) không nên
xử sự thiếu tế nhị mà cần phải gần gũi đưa ra biện pháp hữu hiệu ( đôi lúc vai trò
của giáo viên chủ nhiệm như một người thân trong gia đình để giải quyết vấn đề
tốt hơn), tóm lại không nên đối đầu trước tập thể.
2. Kiến nghị
* Đối với Phòng GD & ĐT.
Tổ chức một số chuyên đề về công tác chủ nhiệm để học tập và trao đổi
kinh nghiệm.
Đăng tải những sáng kiến về công tác chủ nhiệm đạt giải cao qua các năm
trên website của Phòng để cán bộ, giáo viên ... các trường có thể chủ động khai
thác, tham khảo.
* Đối với nhà trường
Tăng cường hơn nữa vai trò của công tác chủ nhiệm, giáo viên chủ nhiệm.
Làm tốt hơn nữa công tác động viên, khen thưởng những cá nhân và tập
thể đã có nhiều cố gắng, đạt kết quả cao trong công tác chủ nhiệm.
Có sự đầu tư mang tính chiến lược lâu dài đối với công tác chủ nhiệm trong

nhà trường, tránh trường hợp bị động, thay đổi giáo viên chủ nhiệm đột xuất…
* Đối với giáo viên
Chủ động học tập, nâng cao vai trò giáo viên chủ nhiệm trong việc tổ chức
các hoạt động nhằm phát huy những tiềm năng sẵn có trong học sinh.
Phải có lòng nhiệt tình, tâm huyết với chuyên môn. Phải yêu nghề, mến
trẻ, tìm hiểu về cuộc sống của học sinh.
Phải thường xuyên sưu tầm, học hỏi kinh nghiệm cũng như những phương
pháp mới và mạnh dạn áp dụng vào quá trình công tác.
* Đối với phụ huynh
16


Cần phải quan tâm đến con em mình nhiều hơn, sát thực hơn đối với việc
học tập của các em như: Đồ dùng học tập, sách giáo khoa, vở tập… cần mua đầy
đủ.
Luôn chủ động phối hợp với nhà trường, giáo viên để giáo dục học sinh.
Là người giáo viên chắc hẳn ai trong chúng ta cũng luôn tìm tòi những
phương pháp giúp phong trào của lớp đạt hiệu quả cao và đây là một vài kinh
nghiệm mà tôi đã rút ra được nhằm nâng cao kết quả giáo dục hai mặt của học
sinh cũng như trong các phong trào hoạt động của lớp. Tôi rất mong nhận được
sự đóng góp ý kiến từ đồng nghiệp để đề tài này được hoàn thiện hơn./.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Quảng Điền, ngày 10 tháng 01 năm 2018
Người viết

Phan Thị Hồng Luyến
NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ
CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG.
…………………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………………

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

TÀI LIỆU THAM KHẢO.
17


TT

01

02

03

04

05

Tên tác giả

Tên tài liệu tham khảo

Nhà xuất Năm xuất
bản
bản
NXB ĐH


Nguyễn Thanh
Bình

Công tác chủ nhiệm lớp ở
trường trung học

Nguyễn Thanh
Bình

Một số vấn đề trong công NXB ĐH
tác chủ nhiệm lớp ở
sư phạm
trường phổ thông
Hà Nội

2011

Nguyễn Thanh
Bình

Tài liệu bồi dưỡng
NXB ĐH
CBQL, GV về công tác
sư phạm
chủ nhiệm trong trường
Hà Nội
THCS, THPT. ( Quyển 1)

2011


Nguyễn Thanh
Bình

Tài liệu bồi dưỡng
NXB ĐH
CBQL, GV về công tác
sư phạm
chủ nhiệm trong trường
Hà Nội
THCS, THPT. ( Quyển 2)

2011

sư phạm

2010

Hà Nội

Sổ tay GVCN

MỤC LỤC
18


Mục

Tiêu đề các phần

Trang


PHẦN I- PHẦN MỞ ĐẦU

1

1

Lí do chọn đề tài

1

2

Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài

1

3

Đối tượng nghiên cứu

2

4

Giới hạn của đề tài

2

5


Phương pháp nghiên cứu

2

PHẦN II – PHẦN NỘI DUNG

2

1

Cơ sở lí luận

3

2

Thực trạng

3

2.1

Thuận lợi.

3

2.2

Khó khăn


4

3

Nội dung và hình thức của giải pháp.

5

3.1

Mục tiêu của giải pháp

5

3.2

Nội dung và hình thức của giải pháp

5

3.2.1

Biện pháp thứ nhất

6

3.2.2

Biện pháp thứ hai


6

3.2.3

Biện pháp thứ ba

6

3.2.4

Biện pháp thứ tư

7

3.2.5

Biện pháp thứ năm

8

3.2.6

Biện pháp thứ sáu

8

3.2.7

Biện pháp thứ bảy


9

3.2.8

Biện pháp thứ tám

9

3.2.9

Biện pháp thứ chín

9

19


3.2.1
0

Biện pháp thứ mười

10

3.2.11 Biện pháp thứ mười một

13

4


Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp

14

5

Kết quả khảo nghiệm…….

14

PHẦN III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ

15

1

Kết luận

15

2

Kiến nghị

16

Nhận xét đánh giá của Hội đồng khoa học

17


Tài liệu tham khảo.

18

Mục lục

19

20



×