Tải bản đầy đủ (.doc) (146 trang)

Quản lý hoạt động dạy học ở trường trung học phổ thông hùng vương huyện văn lâm tỉnh hưng yên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (991.89 KB, 146 trang )

NGUYỄN THỊ QUÝ

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC
______ ______

NGUYỄN THỊ QUÝ

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG HÙNG VƯƠNG HUYỆN VĂN LÂM TỈNH HƯNG YÊN ĐÁP
ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC HIỆN NAY

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số : 60 14 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Hiền
HÀ NỘI - 2016

HÀ NỘI - 2016


NGUYỄN THỊ QUÝ

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC
______ ______

NGUYỄN THỊ QUÝ



LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG HÙNG VƯƠNG HUYỆN VĂN LÂM TỈNH HƯNG YÊN ĐÁP
ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC HIỆN NAY

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số : 60 14 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

HÀ NỘI - 2016

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Hiền

HÀ NỘI - 2016


MỤC LỤC
2.1. Khái quát về vị trí địa lý, tình hình kinh tế, văn hoá - xã hội và giáo dục của huyện Văn Lâm 42
2.1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên......................................................................................42
2.1.2. Tình hình kinh tế, văn hoá - xã hội....................................................................................42
2.1.3. Tình hình phát triển GD&ĐT huyện Văn Lâm....................................................................43
k) Đánh giá được hành vi của bản thân và người khác đối với thiên nhiên; chủ động, tích cực
tham gia và vận động người khác tham gia các hoạt động tuyên truyền, chăm sóc, bảo vệ
thiên nhiên và phản đối những hành vi phá hoại thiên nhiên.....................................................3


DANH MỤC BẢNG BIỂU



LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám đốc, quý thầy giáo,
cô giáo phòng đào tạo sau đại học – Học viện Quản lý giáo dục, các thầy giáo,
cô giáo đã tham gia trực tiếp giảng dạy lớp cao học Quản lý giáo dục K12 đã
tận tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình học tập và
nghiên cứu.
Đặc biệt xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Nguyễn Thị Hiền
đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình nghiên
cứu và hoàn thành luận văn.
Nhân dịp này, cho phép tác giả gửi lời tri ân đến toàn thể cán bộ, giáo
viên, nhân viên trường THPT Hùng Vương, tỉnh Hưng Yên và gia đình đã tạo
điều kiện thuận lợi để tác giả hoàn thành nhiệm vụ học tập.
Mặc dù đã rất cố gắng trong quá trình học tập và nghiên cứu nhưng do
khả năng còn hạn chế, kinh nghiệm quản lý chưa nhiều nên luận văn không
thể tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong quý thầy, cô giáo và các bạn đồng
nghiệp góp ý chân tình để vấn đề nghiên cứu được hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 11 năm 2016
Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Quý
NHỮNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN VĂN


BGH

Ban giám hiệu


CBQL

Cán bộ quản lý

HT

Hiệu trưởng

CNTT

Công nghệ thông tin

CSVC

Cơ sở vật chất

DH

Dạy học

GD&ĐT

Giáo dục và Đào tạo

GV

Giáo viên

GVCN


Giáo viên chủ nhiệm

HĐDH

Hoạt động dạy học

HS

Học sinh

NDDH

Nội dung dạy học

PPDH

Phương pháp dạy học

PT

Phổ thông

PTDH

Phương tiện dạy học

QL

Quản lý


QLDH

Quản lý dạy học

QLGD

Quản lý giáo dục

QLQTDH

Quản lý quá trình dạy học

THCS

Trung học cơ sở

THPT

Trung học phổ thông

SHCM

Sinh hoạt chuyên môn

NCBH

Nghiên cứu bài học


1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đất nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Xu thế toàn cầu và hội nhập kinh tế thế giới đã trở thành tất yếu. Tại Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng ta đã đề ra mục tiêu chiến lược phát triển
kinh tế xã hội giai đoạn 2011-2020 “…..Phát triển giáo dục là quốc sách
hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng
chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong
đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ
quản lý là khâu then chốt…..”
Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, hầu hết các quốc gia trên
thế giới đều coi giáo dục là nhân tố tiên quyết để phát triển nhanh chóng và
bền vững. Bên cạnh đó, sự cạnh tranh diễn ra mạnh mẽ và gay gắt đã đặt toàn
nhân loại đứng trước những cơ hội và thách thức lớn.
Để phát triển, các quốc gia chỉ còn cách đầu tư phát triển nguồn nhân lực
có chất lượng cao, có nghĩa là phải đầu tư cho giáo dục.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI chỉ rõ mục tiêu cụ thể: đối
với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm
chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề
nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo
dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và
kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn.
Quản lý hoạt động dạy – học thực chất là những tác động của chủ thể
quản lý vào quá trình dạy học (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học
sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm góp phần hình
thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của
nhà trường. Hoạt động dạy học là hoạt đông cơ bản và quan trọng nhất


2

trongnhà trường. Quản lý trường học chủ yếu là quản lý hoạt động dạy và học
vì hoạt động này có ý nghĩa quyết định đến chất lượng giáo dục của một nhà
trường.
Quản lý dạy học là nền tảng, là cơ sở để xác định các mục tiêu nhiệm vụ
quản lý khác trong hoạt động của nhà trường, càng có ý nghĩa hơn khi trong
giai đoạn hiện nay, yêu cầu đổi mới được đặt ra đối với các cấp học và đã trở
thành vấn đề mang tính then chốt có ý nghĩa quyết định việc nâng cao chất
lượng giáo dục.
Trường trung học phổ thông Hùng Vương là một trường tư thục được
thành lập từ tháng 6 năm 2009, chất lượng học sinh đầu vào rất thấp.Trong
những năm gần đây, song song với việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, thiết
bị dạy học là việc phát triển đội ngũ và đổi mới công tác quản lý. Trong đó,
đặc biệt chú trọng việc quản lý hoạt động dạy và học. Nếu như những trăn trở
làm thể nào để Hiệu trưởng nhà trường phổ thông nói chung, THPT nói riêng
có được biện pháp quản lý hoạt động dạy học có hiệu quả nhất đáp ứng yêu
cầu đổi mới giáo dục hiện nay là câu hỏi luôn được các cấp quản lý giáo dục
quan tâm, thì đối với trường THPT Hùng Vương - một nhà trường tư thục mới
thành lập chưa lâu với đội ngũ giáo viên trẻ, thiếu kinh nghiệm và còn tồn tại
những bất cập, hạn chế nhất định, lại càng trở nên cấp bách, quan trọng hơn
bao giờ hết. Xuất phát từ những lý do nêu trên, chúng tôi lựa chọn vấn đề:
“Quản lý hoạt động dạy học ở trường Trung học phổ thông Hùng Vương,
huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện
nay” làm đề tài nghiên cứu cuối khóa đào tạo thạc sỹ quản lý giáo dục.
2. Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng, đề tài đề xuất
một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học của Hiệu trưởng để, nâng cao
hiệu quả quản lý hoạt động dạy học tại trường THPT Hùng Vương, huyện


3

Văn Lâm, Hưng Yên nhằm thiết thực góp phần nâng cao chất lượng dạy học
nói riêng, chất lượng giáo dục toàn diện học sinh của nhà trường nói chung.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu:
3.1.

Khách thể nghiên cứu

Công tác quản lý hoạt động dạy học của hiệu trưởng trường trung học
phổ thông
3.2.

Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp quản lý hoạt động dạy của hiệu trưởng trường trung học phổ
thông
4. Giả thuyết khoa học
Quản lý hoạt động dạy học ở trường THPT Hùng Vương, huyện Văn
Lâm, Hưng Yên trong năm qua có những bước chuyển biến tích cực, tuy
nhiên vẫn còn những hạn chế, bất cập. Nếu đề xuất được các biện pháp quản
quản lý hoạt động dạy học phù hợp và thực hiện chúng một cách đồng bộ thì
sẽ có thể góp phần nâng cao chất lượng hoạt động dạy học của nhà trường
trong những năm học tới đáp ứng yêu cầu của đổi mới giáo dục hiện nay
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học của hiệu
trưởng trường trung học phổ thông .
5.2. Khảo sát thực trạng hoạt động dạy học và công tác quản lý hoạt động
dạy học của hiệu trưởng trường THPT Hùng Vương, huyện Văn Lâm, Hưng
Yên.
5.3. Đề xuất một số biện pháp trong công tác quản lý hoạt động dạy học
của hiệu trưởng nhằm nâng cao chất lượng dạy học.

6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài
6.1. Giới hạn về đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học của hiệu


4
trưởng trường THPT Hùng Vương, huyện Văn Lâm, Hưng Yên
6.2. Giới hạn về địa bàn nghiên cứu
Trường THPT Hùng Vương, huyện Văn Lâm, Hưng Yên
6.3. Giới hạn về khách thể điều tra
- 02 cán bộ quản lý, 34 giáo viên và 750 học sinh trường THPT Hùng
Vương, huyện Văn Lâm, Hưng Yên.
- Giới hạn về thời gian: Thu thập dữ liệu nghiên cứu thực trạng từ năm
học 2011 – 2012 đến năm học 2015 – 2016.
7. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài đã sử dụng các nhóm phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận:
- Phân tích, tổng hợp, và phân loại, hệ thống hóa lý luận về dạy học và
quản lý hoạt động dạy học ở trường trung học phổ thông để xây dựng khung
lý thuyết của đề tài.
- Nghiên cứu các văn bản, chỉ thị… về quản lý dạy học ở trường trung
học phổ thông.
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Điều tra khảo sát bằng phiếu hỏi:
+ Thu thập các tài liệu thực tế, tìm hiểu các đặc trưng, tính chất của vấn
đề.
+ Sử dụng hệ thống câu hỏi đối với Cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh
để thu thập số liệu, đánh giá thực trạng.
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
Nghiên cứu các kế hoạch hoạt động của nhà trường, các tài liệu, các báo

cáo sơ kết, tổng kết, báo cáo chuyên đề, các loại số liệu … để nhận định, đánh
giá đúng thực trạng quản lý hoạt động dạy học. Phân tích được nguyên nhân
để đề ra được biện pháp phù hợp.


5
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
Nghiên cứu và tổng kết thực tiễn quản lý hoạt động giáo dục và các biện
pháp của nó mang lại giá trị thực tiễn và lý luận để phổ biến.
7.3. Phương pháp thống kê toán học .
Sử dụng phương pháp thống kế toán học và các phần mềm hiện đại để để
xử lý các kết quả nghiên cứu.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ
lục,... nội dung chính của luận văn được trình bày trong 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học của hiệu trưởng
trường trung học phổ thông.
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học của hiệu trưởng trường
trung học phổ thông Hùng Vương, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên
Chương 3: Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học của hiệu trưởng
trường trung học phổ thông Hùng Vương, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.


6
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, giáo dục luôn là một lĩnh
vực mà ở bất kỳ thời đại nào, quốc gia nào cũng coi trọng, thu hút được sự

quan tâm, nghiên cứu của các nhà khoa học. Tuy nhiên, nghiên cứu các vấn
đề trong giáo dục không phải là điều dễ dàng, vì những vấn đề đó luôn có sự
gắn bó chặt chẽ với những lĩnh vực khác trong xã hội. Chính vì vậy, nghiên
cứu các biện pháp quản lý hoạt động dạy học nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới
giáo dục là một vấn đề khó khăn và phức tạp.
Đối với giáo dục, muốn nâng cao chất lượng giáo dục nói chung thì
trước hết phải nâng cao chất lượng giảng dạy trong nhà trường. Để nâng cao
chất lượng giảng dạy, vai trò của các biện pháp quản lý là hết sức quan trọng.
Các nhà nghiên cứu giáo dục trong và ngoài nước đã nghiên cứu thực tiễn
quản lý nhà trường để tìm ra các biện pháp quản lý hiệu quả nhất.
Ở Việt Nam, giáo dục và quản lý giáo dục đã được coi trọng từ rất sớm.
Ngay từ thời nhà Lý, Văn Miếu Quốc tử giám đã được xây dựng trở thành nơi
đào tạo nhân tài cho đất nước và trong suốt thời kỳ phong kiến, nhiều người
thầy nổi tiếng đã được bổ nhiệm làm Tế tửu, chịu trách nhiệm giảng dạy và
quản lý trường đại học đầu tiên này.
Sau khi đất nước giành được độc lập, một trong những mục tiêu quan
trọng mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra là “diệt giặc dốt”, Bác đã
thấy rõ được tầm quan trọng của giáo dục đối với công cuộc xây dựng và bảo
vệ nền độc lập của nước nhà. Từ đó đến nay, Đảng ta coi giáo dục là quốc
sách hàng đầu. Chính vì vậy mà kể từ sau Đổi mới (1986), Đảng ta tiếp tục
khẳng định vai trò quan trọng của giáo dục trong chiến lược phát triển KT –


7
XH của đất nước. Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam qua các nhiệm kỳ lần thứ
IX, X và mới đây là lần thứ XI đều nhấn mạnh đến việc nâng cao chất lượng
giáo dục, thực chất là rất chú trọng đến quản lý hoạt động dạy học. Trong văn
kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta ghi rõ: “ Đổi mới căn bản,
toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội
hóa, dân chủ hóa, và hội nhập quốc tế, trong đó đổi mới cơ chế quản lý giáo

dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt”. Muốn
làm được điều này trước hết phải nâng cao chất lượng quản lý của lãnh đạo
nhà trường, nhất là của Hiệu trưởng đối với hoạt động dạy học trong nhà
trường. Hoạt động dạy học có vị trí quan trọng trong bất kỳ nhà trường nào,
hoạt động này chiếm hầu hết thời gian và thu hút toàn bộ lực lượng tham gia
và có vai trò quyết định chất lượng giáo dục của nhà trường.
Trong xu thế toàn cầu hóa, nền kinh tế các nước đan xen nhau trong
hợp tác và cạnh tranh, hệ thống giáo dục được quốc tế hóa. Học không chỉ để
biết, để hành, để thành người mà còn để cùng nhau chung sống. Chuyển sang
nền kinh tế tri thức đặt ra cho giáo dục tất cả các quốc gia thách thức mới về
việc chuẩn bị cho người học những năng lực mới, đặc biệt là năng lực học tập
suốt đời.
Để nâng cao chất lượng giáo dục thì việc đổi mới toàn diện với quy mô
rộng lớn là điều dễ hiểu. Một trong những yếu tố không thể thiếu và nó định
hướng cho việc phát triển giáo dục, đó là việc quản lý việc nâng cao chất
lượng dạy và học. Điều này đã được Đảng ta khẳng định: “ Đổi mới mạnh mẽ
nội dung, phương pháp và quản lý giáo dục – đào tạo”.

Quản lý hoạt động

dạy học là một vấn đề rất được quan tâm nghiên cứu nhằm đưa ra những bức
tranh tổng thể cho việc quản lý chất lượng DH. Một số giáo trình của trường
Đại học Sư phạm Hà Nội, Viện Khoa học giáo dục, Học viện Quản lý giáo
dục đã bàn đến việc quản lý hoạt động DH. Các luận văn thạc sỹ chuyên


8
ngành quản lý giáo dục cũng có một số tác giả đề cập đến vấn đề này nhưng
chỉ mang tính định hướng và khu vực như:
- Những biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động dạy

học môn Ngữ Văn ở trường trung học phổ thông Mỹ Hào, huyện Mỹ Hào,
tỉnh Hưng Yên
- Quản lý hoạt động dạy học theo Chuẩn kiến thức, kỹ năng ở các
trường THPT tỉnh Hưng Yên.
- Quản lý hoạt động dạy học của hiệu trưởng các trường THPT huyện
Đăk Song, tỉnh Đăk Nông
- Quản lý hoạt động dạy học ở các trường THPT thuộc vùng đặc biệt
khó khăn tỉnh Hòa Bình
Những đề tài nêu trên đã nghiên cứu các biện pháp quản lý hoạt động
dạy và học của các môn đặc thù như văn học, toán học... hoặc quản lý dạy học
nói chung trong các trường THPT công lập với các điều kiện, địa bàn khác
nhau.
Ngoài các công trình kể trên, còn nhiều tác giả với các bài viết, công
trình nghiên cứu khác về vấn đề quản lý dạy học, với các khía cạnh khác nữa.
Tuy nhiên các công trình nghiên cứu về quản lý dạy học ở các trường dân lập
và tư thục vẫn còn là mảng đề tài còn nhiều trống vắng.
Cho đến nay, trên địa bàn huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng yên chưa có đề
tài nào nghiên cứu về các biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở một trường
THPT tư thục. Vì vậy, tác giả sẽ đi sâu tìm hiểu vấn đề này với mong muốn
góp phần nâng cao chất lượng dạy học ở trường THPT Hùng Vương, huyện
Văn Lâm.


9
1.2. Các khái niệm cơ bản
1.2.1. Quản lý
Khi xã hội loài người xuất hiện , một loạt các quan hệ như quan hệ giữa
con người với con người, con người với thiên nhiên, giữa con người với xã
hội xuất hiện theo. Trong xã hội loài người, mỗi người đều phải thuộc một tổ
chức nào đó, có công việc chung, mục tiêu chung điều này làm nảy sinh nhu

cầu quản lý. Quản lý là một hoạt động mang tính tất yếu của xã hội, nó trở
thành một nhân tố của sự phát triển xã hội. Có nhiều quan điểm khác nhau về
quản lý tùy thuộc vào cách tiếp cận, góc độ nghiên cứu và hoàn cảnh xã hội,
kinh tế, chính trị. Có thể điểm qua một số quan điểm như sau:
F.W Taylor (1856-1915) là người đặt nền móng của thuyết “ Quản lý
theo khoa học” , tiếp cận quản lý dưới góc độ kinh tế - kỹ thuật đã cho rằng:
“Quản lý là hoàn thành công việc của mình thông qua người khác và biết
được một cách chính xác họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ
nhất”.
Henri Fayol đã đưa ra nội hàm của khái niệm quản lý: “ Quản lý tức là
lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra” [32]
K.Marx cho rằng: “ Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động
chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một
sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức
năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự
vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự
điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng”[34]
Tác giả H. Knoontz cũng nhấn mạnh: “ Quản lý là một hoạt động thiết
yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được mục
đích của nhóm (tổ chức). Mục đích của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành


10
môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của mình với
thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”.[33]
Các tác giả Việt Nam cũng có nhiều công trình nghiên cứu về khoa học
quản lý và khái niệm quản lý được giải trình từ nhiều góc độ.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “ Quản lý là tác động có mục đích,
có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung
là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [26]

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “ Quản lý là quá trình gây tác động của
chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung” [1].
Quản lý là một hoạt động có chủ đích, là sự tác động liên tục của chủ
thể quản lý đến khách thể quản lý về nhiều mặt bằng một hệ thống các luật lệ,
chính sách, nguyên tắc và các phương pháp cụ thể nhằm thực hiện các mục
tiêu xác định.
Như vậy, tuy có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý, xong tựu
chung lại, các định nghĩa trên đều có nội dung cơ bản là: Quản lý là một quá
trình tác động có chủ đích phù hợp quy luật khách quan của chủ thể quản lý
đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và
đạt được mục đích của tổ chức dưới tác động của môi trường.
1.2.2. Quản lý giáo dục
Nếu xem xét quản lý là một thuộc tính bất biến, nội tại của mọi hoạt
động xã hội, thì quản lý giáo dục cũng là một thuộc tính tất yếu của mọi hoạt
động giáo dục có mục đích. Đã có nhiều tác giả nghiên cứu lý thuyết về quản
lý giáo dục và thực tế cho thấy cũng có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề
này, có thể kể đến một số quan điểm chủ yếu sau:
Theo P.V.Khuđôminxki (nhà lý luận của Liên Xô trước đây) thì: QLGD
là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của chủ thể
QL ở các cấp khác nhau đến các khâu của hệ thống GD (từ Bộ GD & ĐT đến


11
mỗi nhà trường) nhằm mục đích đảm bảo việc GD chủ nghĩa cộng sản và đảm
bảo sự phát triển toàn diện, hài hòa cho thế hệ trẻ.
Ở Việt Nam, QLGD cũng là một lĩnh vực được Đảng và Nhà nước và
các nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm.
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “ Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan
là điều hành, phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ
trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội” [1]

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang, khái niệm quản lý giáo dục là khái
niệm đa cấp (bao hàm cả quản lý hệ giáo dục quốc gia, quản lý các phân hệ
của nó, đặc biệt là quản lý trường học): “ Quản lý giáo dục là hệ thống những
tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý, nhằm
làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực
hiện được các tính chất của nhà trường Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu
điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục
đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [26].
Tác giả Phạm Minh Hạc cũng khẳng định: “ Quản lý giáo dục là tổ
chức các hoạt động dạy học. Có tổ chức được các hoạt động dạy học, thực
hiện các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mới
quản lý được giáo dục, tức là cụ thể hóa đường lối giáo dục của Đảng và
biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng nhu cầu của nhân dân, của đất
nước” [16]
Theo tác giả Trần Kiểm, khái niệm quản lý giáo dục có nhiều cấp độ. Ít
nhất có hai cấp độ chủ yếu: Cấp độ vĩ mô và cấp độ vi mô.
Đối với vĩ mô
Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có
mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất
cả các móc xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà


12
trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo
dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đã đặt ra cho ngành giáo dục.
Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của
chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính vượt trội/ tính trồi của
hệ thống; sử dụng một cách một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ
thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện đảm
bảo sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn luôn biến động;

Cũng có thể định nghĩa Quản lý giáo dục là hoạt động tự giác của chủ
thể quản lý nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát, … một
cách có hiệu quả nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực, thông tin, thời
gian) phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển
kinh tế - xã hội.
Đối với cấp vi mô
Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý
thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản
lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh, và
các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng
và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường. [21]
Như vậy, dù theo tác giả nào thì khái niệm quản lý giáo dục cũng đều
chứa đựng các nhân tố đặc trưng bản chất như: Phải có chủ thể quản lý giáo
dục, ở tầm vĩ mô là quản lý của Nhà nước mà cơ quan quản lý trực tiếp là Bộ,
Sở, Phòng Giáo dục, còn ở tầm vi mô là quản lý của hiệu trưởng nhà trường;
phải có hệ thống tác động quản lý theo nội dung, chương trình kế hoạch thống
nhất từ Trung ương đến địa phương nhằm thực hiện mục đích giáo dục trong
mỗi giai đoạn cụ thể của xã hội; phải có một lực lượng đông đảo của xã hội
những người làm công tác giáo dục cùng với hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật
tương ứng.


13
1.2.3. Quản lý nhà trường
Quản lý nhà trường là một hoạt động được thực hiện trên cơ sở những
qui luật chung của quản lý, đồng thời cũng có những nét đặc thù riêng của nó.
Quản lý nhà trường khác với các loại quản lý xã hội khác, được quy định bởi
bản chất hoạt động sư phạm của người giáo viên, bản chất của quá trình dạy
học, giáo dục trong đó mọi thành viên của nhà trường vừa là đối tượng quản
lý, vừa là chủ thể hoạt động của bản thân mình. Sản phẩm tạo ra của nhà

trường là nhân cách của người học được hình thành trong quá trình học tập, tu
dưỡng và rèn luyện theo yêu cầu của xã hội và được xã hội thừa nhận.
Mục đích của quản lý nhà trường là đưa nhà trường từ trạng thái đang
phát triển lên một trạng thái mới bằng phương thức xây dựng và phát triển
mạnh mẽ các nguồn lực giáo dục và hướng các nguồn lực đó vào việc phục vụ
cho việc nâng cao chất lượng giáo dục.
Nội dung công tác quản lý giáo dục trong nhà trường bao gồm:
- Quản lý đội ngũ các thầy giáo, cô giáo, cán bộ công nhân viên và tập thể học
sinh thực hiện tốt các nhiệm vụ trong chương trình công tác của nhà trường.
- Quản lý các hoạt động chuyên môn theo chương trình giáo dục của Bộ GD
& ĐT.
- Quản lý việc học tập của học sinh: Bao hàm cả quản lý thời gian và chất
lượng học tập, quản lý tinh thần, thái độ và phương pháp học tập.
- Quản lý toàn bộ cơ sở vật chất và thiết bị nhà trường nhằm phục vụ tốt nhất
cho việc giảng dạy, học tập và giáo dục học sinh.
- Quản lý nguồn tài chính hiện có của nhà trường theo đúng nguyên tắc quản
lý tài chính của nhà nước đồng thời thực hiện xã hội hóa giáo dục, động viên,
thu hút các nguồn tài chính khác nhằm xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm
trang thiết bị phục vụ cho các hoạt động giáo dục và dạy học.


14
Quản lý nhà trường là phải quản lý toàn diện nhằm đạt tới sự hoàn
thiện và phát triển nhân cách của thế hệ trẻ một cách hợp lý, khoa học và hiệu
quả. Thành công hay thất bại của công tác quản lý được thể hiện ở hiệu quả
giáo dục của mỗi nhà trường.
1.3. Hoạt động dạy học ở trường trung học phổ thông
1.3.1. Trường trung học phổ thông
- Vị trí trường trung học phổ thông.
Theo Điều 2 và Điều 6 của Điều lệ trường trung học cơ sở, trung học

phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học (Ban hành kèm theo thông tư
số: 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3/2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào
tạo) thì trường trung học phổ thông là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống
giáo dục quốc dân. Trường có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu
riêng, trực thuộc sự quản lý của cơ sở giáo dục và đào tạo [3].
- Mục tiêu giáo dục của trường THPT
Điều 27 Luật Giáo dục 2005 đã nêu rõ: “Mục tiêu của giáo dục là giúp
học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ
năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình
thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và
trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc
sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Đối với cấp THPT: “ Giáo dục THPT nhằm giúp học sinh củng cố và
phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ
thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có
điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục
học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao
động”[24]
- Nhiệm vụ và quyền hạn của trường THPT


15
Theo Điều 3 của Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ
thông và trường phổ thông có nhiều cấp học thì trường trung học phổ thông
có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
“1. Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo
mục tiêu,chương trình giáo dục phổ thông dành cho cấp THCS và cấp THPT
do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Công khai mục tiêu, nội
dung các hoạt động giáo dục, nguồn lực tài chính, kết quả đánh giá chất lượng
giáo dục.

2. Quản lý giáo viên, cán bộ nhân viên theo quy định của pháp luật.
3. Tuyển sinh và tiếp nhận học sinh; vận động học sinh đến trường;
quản lý học sinh theo quy định của Bộ giáo dục và Đào tạo.
4. Thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục trong phạm vi được phân công.
5. Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực cho hoạt động giáo dục.
Phối hợp với gia đình học sinh, tổ chức và cá nhân trong hoạt động giáo dục.
6. Quản lý, sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất, trang thiết bị theo quy
định của Nhà nước.
7. Tổ chức cho giáo viên, nhân viên, học sinh tham gia hoạt động xã
hội.
8. Thực hiện các hoạt động về kiểm định chất lượng giáo dục.
9. Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp
luật” [3]
1.3.2. Trường trung học phổ thông tư thục
Theo Điều 2 của quy chế Tổ chức và hoạt động của trường tiểu học,
trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có
nhiều cấp học loại hình tư thục (Ban hành kèm theo Thông tư số 13 /2011/TTBGDĐT ngày 28 tháng 3 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)


16
- Trường phổ thông tư thục là cơ sở giáo dục phổ thông thuộc hệ thống
giáo dục quốc dân, do tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức
kinh tế hoặc cá nhân tự đảm bảo kinh phí đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và
hoạt động bằng vốn ngoài ngân sách Nhà nước; được cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền cho phép thành lập và hoạt động giáo dục.
- Trường phổ thông tư thục có tư cách pháp nhân, có con dấu và được mở
tài khoản tại Kho bạc Nhà nước hoặc Ngân hàng thương mại.
Theo Điều 3 của quy chế Tổ chức và hoạt động của trường tiểu học,
trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có
nhiều cấp học loại hình tư thục , thì trường trung học phổ thông tư thục có nhiệm

vụ và quyền hạn như sau:
- Trường phổ thông tư thục có nhiệm vụ và quyền hạn như trường công
lập theo quy định tại Điều lệ trường tiểu học; Điều lệ trường trung học cơ sở,
trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học; Quy chế
về tổ chức và hoạt động của trung tâm kỹ thuật tổng hợp – hướng nghiệp
tương ứng đối với mỗi cấp học (sau đây gọi tắt là Điều lệ trường phổ thông)
trong việc thực hiện mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục
và các quy định liên quan đến giảng dạy, học tập, thi, kiểm tra, công nhận tốt
nghiệp, cấp văn bằng, chứng chỉ và các quy định tại Quy chế này.
- Trường phổ thông tư thục tự chủ và tự chịu trách nhiệm về thực hiện
quy hoạch, kế hoạch phát triển, tổ chức các hoạt động giáo dục, xây dựng và
phát triển đội ngũ giáo viên, huy động, sử dụng và quản lý các nguồn lực để
thực hiện mục tiêu giáo dục phổ thông.
- Trường phổ thông tư thục có trách nhiệm báo cáo định kỳ và đột xuất
theo quy định và yêu cầu của các cơ quan quản lý.
- Trường phổ thông tư thục thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác
theo quy định của pháp luật. [4]


17
* Hiệu trưởng trường trung học phổ thông tư thục
Theo Điều 13 của quy chế Tổ chức và hoạt động của trường tiểu học,
trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có
nhiều cấp học loại hình tư thục, hiệu trưởng trường phổ thông tư thục phải đạt
được yêu cầu sau:
1. Hiệu trưởng trường phổ thông tư thục phải là người có đủ các tiêu
chuẩn theo quy định của Điều lệ trường phổ thông, khi được đề cử không quá
70 tuổi và không là công chức, viên chức trong biên chế nhà nước.
2. Hiệu trưởng là người trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động của nhà
trường; chịu trách nhiệm trước pháp luật, cơ quan quản lý giáo dục và Hội

đồng quản trị (nếu có) về việc tổ chức, điều hành các hoạt động chuyên môn,
nghiệp vụ, bảo đảm chất lượng giáo dục và hoạt động của trường trong phạm
vi nhiệm vụ và quyền hạn được giao. Nhiệm kỳ của Hiệu trưởng là 5 năm.
3. Đối với trường phổ thông tư thục có Hội đồng quản trị, Hiệu trưởng
do Hội đồng quản trị đề cử và bầu theo nguyên tắc bỏ phiếu kín với quá nửa
số phiếu tán thành; được Đại hội đồng thành viên góp vốn thông qua và cấp
có thẩm quyền ra quyết định công nhận.
4. Đối với trường phổ thông tư thục có Hội đồng quản trị, ngoài nhiệm
vụ, quyền hạn quy định tại Điều lệ trường phổ thông và các quy định tại
khoản 2 Điều này, Hiệu trưởng trường phổ thông tư thục còn có nhiệm vụ,
quyền hạn sau đây:
a) Tổ chức thực hiện các nghị quyết của Hội đồng quản trị;
b) Tổ chức triển khai việc huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực,
hoạt động dạy học và các hoạt động khác của trường theo quy định, bảo đảm
chất lượng, đúng quy định của pháp luật và kế hoạch đã được Hội đồng quản
trị phê duyệt nhằm thực hiện mục tiêu phát triển nhà trường;


18
c) Dự kiến tổ chức bộ máy, biên chế và nhân sự của trường trình Hội
đồng quản trị phê duyệt; trực tiếp ký hợp đồng lao động sử dụng giáo viên,
nhân viên; bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật đối với giáo viên,
nhân viên và người học theo quy định của pháp luật sau khi được Hội đồng
quản trị thông qua.
d) Lập dự toán và quyết toán ngân sách hàng năm, trình Hội đồng quản
trị phê duyệt; tổ chức thực hiện kế hoạch tài chính theo quy định của trường;
báo cáo định kỳ với Hội đồng quản trị và các cấp quản lý liên quan về công
tác tài chính và các hoạt động của nhà trường;
đ) Bảo đảm trật tự, an ninh và bảo vệ môi trường, an toàn trong trường;
e) Được tham dự các cuộc họp của Hội đồng quản trị (nếu không phải là

thành viên) nhưng không có quyền biểu quyết; có trách nhiệm báo cáo trước
Đại hội đồng thành viên góp vốn về các hoạt động dạy học của trường; có
quyền bảo lưu ý kiến không nhất trí với quyết định của Hội đồng quản trị và
báo cáo cơ quan quản lý giáo dục trực tiếp xem xét, xử lý.
4. Trong cùng một thời gian, một người chỉ được làm Hiệu trưởng của
một trường phổ thông tư thục.[4]
1.3.3. Nội dung dạy học, giáo dục ở trường trung học phổ thông
Các hoạt động giáo dục trong trường THPT được quy định tại điều 26
Điều lệ trường THPT của Bộ Giáo dục và Đào tạo là:
1. Các hoạt động giáo dục bao gồm hoạt động trong giờ lên lớp và hoạt
động ngoài giờ lên lớp nhằm giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức,
trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân,
tính năng động và sáng tạo, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân;
chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động.


19
2. Hoạt động giáo dục trong giờ lên lớp được tiến hành thông qua việc
dạy học các môn học bắt buộc và tự chọn trong chương trình giáo dục của
cấp học do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.
3. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp bao gồm các hoạt động ngoại
khóa về khoa học, văn học, nghệ thuật, thể dục thể thao, an toàn giao thông,
phòng chống tệ nạn xã hội, giáo dục giới tính, giáo dục pháp luật, giáo dục
hướng nghiệp, giáo dục kỹ năng sống nhằm phát triển toàn diện và bồi dưỡng
năng khiếu; các hoạt động vui chơi, tham quan, du lịch, giao lưu văn hóa,
giáo dục môi trường; hoạt động từ thiện và các hoạt động xã hội khác phù
hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh.
Hoạt động giáo dục ở trên được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm hoạt động
dạy học và hoạt động giáo dục theo nghĩa hẹp. Nội dung của luận văn này chỉ
đề cập đến hoạt động dạy học.

Dạy học là quá trình tác động qua lại giữa người dạy và người học nhằm
giúp cho người học lĩnh hội những tri thức khoa học, kỹ năng hoạt động nhận
thức và thực tiễn, phát triển các năng lực hoạt động sáng tạo trên cơ sở đó
hình thành thế giới quan và các phẩm chất nhân cách của người học theo mục
đích giáo dục.
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Dạy học là một chức năng xã hội, nhằm
truyền đạt và lĩnh hội kiến thức, kinh nghiệm xã hội đã tích lũy được, nhằm
biến kiến thức, kinh nghiệm xã hội thành phẩm chất và năng lực cá nhân”
[16].
Tác giả Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt cho rằng: “Quá trình dạy học là một
quá trình sư phạm bộ phận, một phương tiện để trau dồi học vấn, phát triển
giáo dục và giáo dục phẩm chất, nhân cách thông qua sự tác động qua lại
giữa người dạy và người học nhằm truyền thụ và lĩnh hội một cách có hệ
thống những tri thức khoa học, những kỹ năng, nhận thức và thực hành”[23]


×