Tải bản đầy đủ (.pdf) (104 trang)

NGHIÊN CỨU ĐỊNH VỊ THƯƠNG HIỆU CỦA CÔNG TY TRANH THÊU TAY XQ SÀI GÒN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.24 MB, 104 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH

NGHIÊN CỨU ĐỊNH VỊ THƯƠNG HIỆU
CỦA CÔNG TY TRANH THÊU TAY
XQ SÀI GÒN

LÊ THỊ HIẾU

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỂ NHẬN BẰNG CỬ NHÂN
NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH

Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 06/2009


Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học Khoa Kinh Tế, Trường
Đại Học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “Nghiên Cứu Định
Vị Thương Hiệu của Công Ty Tranh Thêu Tay XQ Sài Gòn” do Lê Thị Hiếu, sinh viên
khóa 31, ngành Quản Trị Kinh Doanh, đã bảo vệ thành công trước hội đồng vào ngày
_________________________.

ThS. LÊ THÀNH HƯNG
Người Hướng Dẫn

_________________________
Ngày

Chủ tịch hội đồng chấm báo cáo


Ngày

tháng

năm 2009

tháng

năm 2009

Thư ký hội đồng chấm báo cáo

Ngày

tháng

năm 2009


LỜI CẢM TẠ
Ngày đầu tiên khi đặt chân lên giảng đường đại học Nông Lâm Thành phố Hồ
Chí Minh, suy nghĩ của tôi lúc đó là nhanh chóng hòa nhập vào môi trường mới, học
thật chăm chỉ để đạt được ước mơ của mình. Giờ đây, khi đối mặt với việc thực tập,
việc thực hiện khóa luận và việc chuẩn bị ra trường, tôi bắt đầu cảm thấy lo sợ. Tôi lo
sợ khi phải bước vào sự phức tạp của cuộc đời, lo sợ khi phải xa bạn bè, lo sợ vì thời
gian sắp hết, và bỡ ngỡ cho những ngày tháng làm việc sắp tới. Tôi chỉ muốn được
quay lại như sống trong thời gian của năm nhất; thời khắc mà tôi đặt bước chân đầu
tiên lên giảng đường trường Đại Học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh.
Nhưng tất cả những điều ấy chỉ là mơ ước, con người đến một lúc nào đó rồi
phải lớn và phải bắt đầu lao động, chung sức và góp phần vào xây dựng xã hội. Đó là

điều tất yếu mà tôi không thể đứng ngoài. Nhưng dẫu sao, tôi cũng đã có được nhiều
thứ mà đến bây giờ, khi ngồi đây hồi tưởng tôi mới có thể nhận ra được hết.
Tôi đã có được sự quan tâm, chở che và lo lắng từ phía Ba Má, những người
thân của tôi; những người mà tôi làm họ buồn không ít. Tôi thành thật gửi lời yêu
thương từ đáy lòng đến cho họ và mong mọi người luôn tin tưởng rằng mai đây tôi sẽ
là người thành công trong lĩnh vực mà tôi được giảng dạy tại giảng đường đại học này.
Tôi đã có được sự tự tin và có trách nhiệm với công việc của mình thông qua
các hoạt động tập thể của lớp, của Đoàn; những lời động viên của những người bạn
thời phổ thông những lúc tôi gặp mệt mỏi trong học tập và cuộc sống. Tất cả tạo nên
một tôi năng động, hòa đồng như bây giờ. Xin gửi lời thân mến đến các bạn của tôi.
Tôi đã nhận được sự kỳ vọng trong ánh mắt của thầy cô trường Đại học Nông
Lâm Thành phố Hồ Chí Minh; trong sự nhiệt tình của thầy Lê Thành Hưng, người
hướng dẫn tôi thực hiện khóa luận này; trong sự giúp đỡ thực hiện khóa luận của anh
Nguyên, chị Minh, Phòng Marketing, bạn Ngọc Tiến, Tuyết, Phong, Mỹ Tình và các
nhân viên của công ty XQ Sài Gòn. Đồng thời, xin gửi lời cám ơn đến các tác giả, các
tác phẩm, các tài liệu đã được sử dụng trong khoá luận này. Tôi xin được gửi lời cảm
ơn thành kính đến mọi người.
Và tôi đã nhận được khoảng không gian của riêng bản thân, thời gian dành cho


bản thân. Chính 4 năm quý giá đó là thời gian cần thiết cho việc tôi định hình lại bản
thân và từng bước hoàn thiện lại bản thân không tốt của mình. Xin gửi lời cảm ơn đến
thời gian, những khoảnh khắc mà tôi đã có, những thời khắc mà tôi đang từng ngày
nhớ đến.
Cuối cùng cũng cảm ơn những gì mà tôi đã đánh mất, chính những đánh mất đó
làm tôi thêm quý trọng từng khoảnh khắc còn lại, từng phút còn lại mà đang dần xâm
chiếm để đẩy tôi ra xa thời sinh viên. Vì thế, tôi đang cố gắng để níu lại từng giây,
từng phút còn lại của thời sinh viên.
Xin một lần nữa gửi lời thân thương và những điều tốt đẹp may mắn luôn theo
những người xung quanh tôi.

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 6 năm 2009
Sinh viên
Lê Thị Hiếu


NỘI DUNG TÓM TẮT
LÊ THỊ HIẾU Tháng 06 năm 2009. “Nghiên Cứu Định Vị Thương Hiệu Của
Công Ty TNHH Tranh Thêu Tay XQ Sài Gòn”.
LE THI HIEU. June 2009. “Researching on Brand Positioning XQ SAIGON
Hand-Embroidery Limited Company”.
Thương hiệu không chỉ đã trở thành sự quan tâm lớn đối với doanh nghiệp mà
còn là sự quan tâm của người tiêu dùng và xã hội bởi những tác dụng của thương hiệu
mang lại. Thương hiệu Tranh Thêu Tay XQ đã ra đời gần 20 năm đã nổi tiếng trong cả
nước và có mặt ở nhiều quốc gia. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, tranh thêu tay XQ
được sản xuất và kinh doanh bởi công ty XQ Sài Gòn.
Nội dung của khóa luận này tập trung tìm hiểu quá trình phát triển, các hoạt
kinh doanh và các hoạt động Marketing của công ty. Nghiên cứu, phân tích các số liệu
thu thập thứ cấp qua tài liệu của công ty cung cấp và các phương tiện truyền thông; số
liệu sơ cấp thông qua phiếu thăm dò khách hàng của công ty và khách hàng từng biết
đến tranh thêu tay để đánh giá sức mạnh của thương hiệu tranh thêu tay XQ, định vị
thương hiệu XQ trong tâm trí khách hàng cụ thể là XQ Sài Gòn tại Thành phố Hồ Chí
Minh; đưa ra những kiến nghị để giữ được vị trí dẫn đầu đang có của XQ Sài Gòn.
Qua nghiên cứu nhận thấy thương hiệu tranh thêu tay XQ Sài Gòn tại thị trường
Thành phố Hồ Chí Minh là sản phẩm dẫn đầu cho dòng sản phẩm này. Thương hiệu
XQ Sài Gòn đã chiếm một vị trí nhất định trong tâm trí khách hàng. Tuy nhiên, công
tác Marketing tại công ty còn yếu như: kênh phân phối còn đơn giản, công tác quảng
bá thương hiệu chưa có dấu ấn sâu đậm đối với người tiêu dùng. Muốn giữ vị trí dẫn
đầu thì công ty cần cải thiện công tác Marketing như: nâng cao hiệu quả hoạt động
kinh doanh, mở rộng kênh phân phối, có công tác kế hoạch rõ ràng cho hoạt động
Marketing.



MỤC LỤC
Trang
Danh mục các chữ viết tắt

ix

Danh mục các bảng

x

Danh mục các hình

xi

Danh mục phụ lục

xii

CHƯƠNG 1. MỞ ĐẦU

1

1.1. Đặt vấn đề

1

1.2. Mục tiêu nghiên cứu


2

1.3. Các giả thuyết của vấn đề nghiên cứu

2

1.4. Phạm vi nghiên cứu

3

1.4.1. Đối tượng nghiên cứu

3

1.4.2. Không gian nghiên cứu

3

1.4.3. Thời gian nghiên cứu

3

1.5. Cấu trúc của khóa luận

3

CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN

5


2.1. Tổng quan về tài liệu nghiên cứu

5

2.2. Lịch sử ngành nghề thêu

6

2.2.1. Lịch sử hình thành nghề thêu

6

2.2.2. Đặc trưng ngành nghề

8

2.3. Giới thiệu Tổng công ty tranh thêu tay XQ và XQ Sài Gòn

9

2.3.1. Giới thiệu Tổng công ty tranh thêu tay XQ

9

2.3.2. Lịch sử hình thành và phát triển công ty

9

2.3.3. Hình ảnh thương hiệu tranh thêu XQ


10

2.3.4. Giới thiệu Công ty tranh thêu tay XQ Sài Gòn

11

2.3.5. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của XQ Sài Gòn

12

2.4. Cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý của Công ty XQ Sài Gòn

13

2.4.1. Cơ cấu tổ chức của công ty

13

2.4.2. Cơ cấu tổ chức phòng Marketing

14

CHƯƠNG 3. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
vi

16


3.1. Cơ sở lý luận


16

3.1.1. Một số vấn đề lý luận chung về thương hiệu

16

3.1.2. Các yếu tố cấu thành thương hiệu

21

3.1.3. Các loại thương hiệu

26

3.1.4. Lợi ích của thương hiệu

28

3.1.5. Bản sắc thương hiệu

29

3.1.6. Định vị thương hiệu

30

3.1.7. Một số nội dung về chiến lược Marketing

30


3.2. Phương pháp nghiên cứu

32

3.2.1. Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp

32

3.2.2. Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp

32

3.2.3. Phương pháp phân tích

33

CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

35

4.1. Tổng quan về nền kinh tế Việt Nam sau hai năm gia nhập WTO

35

4.1.1. Về kinh tế

36

4.1.2. Về chính trị


37

4.1.3. Về xã hội

37

4.2. Đôi nét về ngành thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam

38

4.3. Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của công ty

39

4.3.1. Tình hình lao động

39

4.3.2. Tình hình nguồn vốn kinh doanh và tài sản của công ty 2007 – 2008 42
4.3.3. Kết quả hoạt động kinh doanh qua hai năm 2007 – 2008
4.4. Định vị thương hiệu Tranh Thêu Tay XQ

43
44

4.4.1. Phân tích chiến lược cho thị trường mục tiêu

44

4.4.2. Các đối thủ cạnh tranh


47

4.4.3. Vị trí của thương hiệu XQ Sài Gòn

50

4.5. Tìm hiểu và đánh giá hoạt động Marketing của công ty

61

4.5.1. Chiến lược sản phẩm

61

4.5.2. Chiến lược giá

68

4.5.3. Chiến lược phân phối

71

4.5.4. Chiến lược chiêu thị cổ động

74

vii



4.6. Ma trận SWOT

75

CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

76

5.1. Kết luận

76

5.2. Kiến nghị

77

TÀI LIỆU THAM KHẢO

79

PHỤ LỤC

viii


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ASEAN

:


Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Châu Á

BH và CCDV

:

Bán hàng và Cung Cấp Dịch Vụ

CP

:

Chi Phí

DN

:

Doanh Nghiệp

DT

:

Doanh Thu

DTT

:


Doanh Thu Thuần

ĐVT

:

Đơn Vị Tính

GDP

:

Tổng Thu Nhập Quốc Nội

HĐKD

:

Hoạt Động Kinh Doanh

HTX

:

Hợp Tác Xã

LNG

:


Lợi Nhuận Gộp

LNT

:

Lợi Nhuận Thuần

LNTT

:

Lợi Nhuận Trước Thuế

LNST

:

Lợi Nhuận Sau Thuế

NSLĐ

:

Năng Suất Lao Động

PTTH

:


Phổ Thông Trung Học

QLDN

:

Quản Lý Doanh Nghiệp

SX

:

Sản Xuất

THCN

:

Trung Học Chuyên Nghiệp

TNHH

:

Trách Nhiệm Hữu Hạn

USD

:


Đồng Đôla Mỹ

VNĐ

:

Đồng Việt Nam

WTO

:

Tổ Chức Thương Mại Thế Giới

WTTC

:

Hội đồng Du Lịch Thế giới

ix


DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1. So Sánh Giữa Nhãn Hiệu và Thương Hiệu

20

Bảng 4.1. Các Chỉ Tiêu Kinh Tế Sau Hai Năm Gia Nhập WTO


36

Bảng 4.2. Tăng Trưởng GDP của Việt Nam Năm 2004 – 2008

36

Bảng 4.3. Tỷ Lệ Lao Động Có Việc Làm và Tỷ Lệ Hộ Nghèo

38

Bảng 4.4. Tình Hình Sử Dụng Lao Động của Công Ty Năm 2007 – 2008

40

Bảng 4.5. Tỷ Lệ Cơ Cấu Lao Động Theo Trình Độ Năm 2007 – 2008

40

Bảng 4.6. Lương Phải Trả Cho Người Lao Động Năm 2007 – 2008

41

Bảng 4.7. Năng Suất Lao Động Bình Quân Qua Hai Năm 2007 – 2008

42

Bảng 4.8. Tình Hình Nguồn Vốn Kinh Doanh và Tài Sản Năm 2007 – 2008

42


Bảng 4.9. Tình Hình Hoạt Động Kinh Doanh Sau Hai Năm

43

Bảng 4.10. Hiệu Quả của Hoạt Động Sản Xuất Kinh Doanh Năm 2007 – 2008

44

Bảng 4.11. Mức Độ Nhận Biết của Khách Hàng về Các Thương Hiệu Tranh Thêu

51

Bảng 4.12. Độ Nhận Biết của Thương Hiệu XQ Sài Gòn, Hữu Hạnh, Cẩm Tú và Các
53

Thương Hiệu Khác

Bảng 4.13. Tỷ Lệ Nhận Biết Thương Hiệu XQ Sài Gòn Qua Các Phương Tiện Truyền
Thông

54

Bảng 4.14. Mức Độ Hài Lòng về Chất Lượng Sản Phẩm-Dịch Vụ

55

Bảng 4.15. Sự Hài Lòng về Mức Độ Đáp Ứng Nhu Cầu

56


Bảng 4.16. Mức Độ Hài Lòng của Khách Hàng về Phong Cách Phục Vụ

57

Bảng 4.17. Mức Độ Hài Lòng của Khách Hàng về Quảng Bá Thương Hiệu

58

Bảng 4.18. Mức Độ Hài Lòng về Giá Cả Sản Phẩm - Dịch Vụ

59

Bảng 4.19. Mức Độ Hài Lòng về Yếu Tố Khuyến Mãi/ Hậu Mãi

61

Bảng 4.20. Phân Loại Tác Phẩm Tranh Thêu của Công Ty Năm 2008

67

Bảng 4.21. Một Số Thể Loại Tranh của XQ Sài Gòn

68

Bảng 4.22. Bảng Giá Một Số Tác Phẩm Tranh Hai Mặt

69

Bảng 4.23. Bảng Giá Một Số Tác Phẩm Tranh Chân Dung


70

Bảng 4.24. Bảng Giá Một Số Tác Phẩm Tranh Nhí

71

Bảng 4.25. Ma Trận SWOT Tổng Hợp

75
x


DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1. Sơ Đồ Tổ Chức Công Ty XQ Sài Gòn

14

Hình 2.2. Sơ Đồ Tổ Chức Phòng Marketing Công Ty XQ Sài Gòn

14

Hình 4.1. Đồ Thị Thể Hiện Tăng Trưởng GDP của Việt Nam Năm 2004 – 2008

37

Hình 4.2. Cơ Cấu Lao Động Theo Trình Độ Năm 2007 - 2008

41


Hình 4.3. Biểu Đồ Thể Hiện Tỷ Lệ Sản Phẩm Bán Cho Các Nhóm Khách Hàng

46

Hình 4.4. Đồ Thị Thể Hiện Mức Độ Nhận Biết Các Thương Hiệu Tranh Thêu

52

Hình 4.5. Thị Phần của XQ Sài Gòn tại Thành phố Hồ Chí Minh và Các Tỉnh

52

Hình 4.6. Đồ Thị Thể Hiện Độ Nhận Biết của Thương Hiệu XQ Sài Gòn, Hữu Hạnh,
53

Cẩm Tú và Các Thương Hiệu Khác

Hình 4.7. Đồ Thị Thể Hiện Tỷ Lệ Nhận Biết Thương Hiệu XQ Sài Gòn Qua Các
Phương Tiện Truyền Thông

54

Hình 4.8. Đồ Thị Thể Hiện Mức Độ Hài Lòng về Chất Lượng Sản Phẩm-Dịch Vụ

56

Hình 4.9. Đồ Thị Thể Hiện Sự Hài Lòng về Mức Độ Đáp Ứng Nhu Cầu

57


Hình 4.10. Đồ Thị Thể Hiện Mức Độ Hài Lòng của Khách Hàng về Phong Cách Phục
58

Vụ

Hình 4.11. Đồ Thị Thể Hiện Mức Độ Hài Lòng của Khách Hàng về Quảng Bá Thương
Hiệu

59

Hình 4.12. Đồ Thị Thể Hiện Mức Độ Hài Lòng về Giá Cả Sản Phẩm - Dịch Vụ

60

Hình 4.13. Đồ Thị Thể Hiện Mức Độ Hài Lòng về Yếu Tố Khuyến Mãi/ Hậu Mãi

61

Hình 4.14: Các Bước Hoàn Thành Một Tác Phẩm Tranh Thêu XQ

64

Hình 4.15. Sơ Đồ Quy Trình Hoàn Thiện Một Tác Phẩm Tranh Thêu Tay XQ

65

Hình 4.16. Sơ Đồ Kênh Phân Phối của Công Ty

72


xi


DANH MỤC PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Bảng Câu Hỏi Điều Tra Khách Hàng
Phụ Lục 2: Sơ Đồ Các Chi Nhánh của Tranh Thêu XQ
Phụ lục 3: Địa Chỉ của Một Số Chi Nhánh và Đại Lý Công Ty Tranh Thêu Tay XQ
Phụ lục 4: Một Số Tác Phẩm Tranh Thêu của XQ Sài Gòn

xii


CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề
Trong khảo sát hàng năm gần đây nhất do Hội đồng Du lịch Thế giới (WTTC)
đưa ra, Việt Nam là nước đứng thứ 4 trong danh sách các nước có lượng khách đến
tham quan tăng nhiều nhất và trở thành một điểm du lịch hấp dẫn, không chỉ thu hút
khách du lịch quốc tế bởi những phong cảnh thiên nhiên mà còn ở đời sống, văn hóa
tinh thần của người Việt Nam. Như các nước Châu Á khác, Việt Nam có một bề dày
truyền thống lịch sử với các ngành nghề thủ công điêu luyện tinh xảo, các món ăn độc
đáo và trên hết là sự cởi mở thân thiện và hiếu khách của con người nơi đây. Theo đó
các ngành thủ công truyền thống của Việt Nam như sơn mài, gốm sứ, mây tre lá, thêu
tay… ngày càng phát triển theo hướng gắn kết với ngành du lịch, tạo nên giá trị thuần
Việt.
Một trong những món quà lưu niệm được khách du lịch ưa thích khi đến Việt
Nam chính là tranh thêu tay. Tranh thêu tay của Việt Nam chủ yếu tập trung ở các địa
điểm du lịch, các thành phố lớn nhưng đa dạng và độc đáo nhất vẫn là tranh thêu của

XQ. Xuất phát từ nghề thêu truyền thống, với nỗ lực không ngừng của các nghệ nhân,
tranh thêu XQ đã trở thành một loại hình nghệ thuật độc đáo, mang đậm bản sắc dân
tộc Việt Nam. Tranh thêu XQ không đơn thuần là những vật trang trí bình thường mà
còn chuyên chở triết lý nhân sinh khơi dậy tình cảm tốt đẹp của con người. Từ đó
những bức tranh mang thương hiệu XQ không những là món quà quý giá dành tặng
các nguyên thủ quốc gia, những nhân vật nổi tiếng trong các nghi thức ngoại giao mà
còn là kỷ vật của du khách quốc tế, bà con Việt kiều khi xa quê hương.
Tại Thành phố Hồ Chí Minh, tranh thêu tay XQ được sản xuất – kinh doanh bởi
XQ Sài Gòn. Với tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao, dân cư tập trung, mức thu nhập
của người dân cũng tăng lên, các dự án đầu tư của các thương nhân nước ngoài cũng


như lượng khách du lịch quốc tế đến thành phố ngày một tăng… Thành phố Hồ Chí
Minh được đánh giá thành phố năng động nhất của Việt Nam. Đây là thị trường tiềm
năng cho các hoạt động kinh doanh, tập trung lượng khách hàng cao cấp đông đảo và
cũng là nơi có môi trường kinh doanh cạnh tranh quyết liệt. Vì vậy, việc phát triển
kinh doanh sản phẩm tranh thêu của XQ cũng không thể bỏ qua thị trường tại đây. Tuy
nhiên, để phát triển và nâng cao uy tín cần có một chiến lược phát triển và định vị
thương hiệu cụ thể, rõ ràng cho sản phẩm của công ty.
Được sự cho phép của Khoa Kinh Tế, trường Đại Học Nông Lâm Thành phố
Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn của Th.S Lê Thành Hưng, tôi tiến hành nghiên cứu
đề tài “Nghiên Cứu Định Vị Thương Hiệu của Công Ty Tranh Thêu Ty XQ Sài
Gòn tại Thành Phố Hồ Chí Minh”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong hai năm 2007 –
2008 với mục đích xác định hiệu quả của công tác Marketing tại công ty. Đồng thời,
xem xét hình ảnh thương hiệu tranh thêu XQ Sài Gòn trong tâm trí của khách hàng.
- Tìm hiểu về định hướng định vị thương hiệu tranh thêu tay của công ty XQ
Sài Gòn trên thị trường Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận.
1.3. Các giả thuyết của vấn đề nghiên cứu

Sản phẩm thủ công mỹ nghệ truyền thống ở Việt Nam rất đa dạng và phong
phú. Nhiều sản phẩm đã xuất hiện từ hàng nghìn năm trước. Vậy khái niệm về hàng
thủ công mỹ nghệ truyền thống là gì? Để trả lời cho câu hỏi này ta có thể nói như sau:
“ Hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống là sản phẩm có quy trình sản xuất thủ công là
chủ yếu, được truyền từ đời này sang đời khác, vừa có giá trị sử dụng, vừa có giá trị
thẩm mỹ và thể hiện nét văn hóa đặc sắc của dân tộc”
Ngày nay trong nền kinh tế thị trường, nhiều hàng hóa, sản phẩm đã phát triển
đa dạng hơn. Dựa vào giá trị sử dụng của sản phẩm, có thể phân loại cụ thể mặt hàng
thủ công truyền thống Việt Nam theo 11 nhóm nghề thủ công chính: cói, sơn mài, mây
tre đan, gốm sứ, thêu ren, dệt, gỗ, đá, giấy, tranh dân gian, kim khí.
Tranh thêu tay là một trong những sản phẩm của nghề thêu, mang lại giá trị
kinh tế cũng như giá trị nghệ thuật cao. Công ty XQ là nơi đầu tiên sản xuất tranh thêu
tay với qui mô công ty ở Việt Nam đã nổi tiếng trong và ngoài nước .
2


1.4. Phạm vi nghiên cứu
1.4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài chủ yếu tập trung vào các vấn đề liên quan đến thương hiệu tranh thêu
tay XQ Sài Gòn thông qua hoạt động Marketing và phân tích thị trường của công ty.
Còn phần phân tích hoạt động kinh doanh để đánh giá hiệu quả của hoạt động
Marketing đồng thời xem xét những cơ hội cũng như thách thức trong hoạt động sản
xuất kinh doanh của công ty trong tương lai.
Nghiên cứu các đặc trưng ngành nghề, biểu tượng, các giá trị, các quan điểm
kinh doanh… của thương hiệu tranh thêu tay XQ.
Ngoài ra, đề tài còn nghiên cứu sản phẩm cùng loại của các HTX và các cơ sở
khác
1.4.2. Không gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện tại công ty tranh thêu tay XQ Sài Gòn và khảo sát điều tra
khách hàng thông qua nhật ký bán hàng và khách hàng tham quan phòng tranh tại

Thành phố Hồ Chí Minh
1.4.3. Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu từ ngày 02/03/2009 đến ngày 16/05/2009.
Phân tích các số liệu, dữ liệu thứ cấp của công ty trong hai năm 2007 – 2008.
Do sự hạn chế về kiến thức và thực tế, đề tài không tránh khỏi thiếu sót nên rất
mong nhận được sự góp ý từ Quý Thầy Cô và các bạn đọc.
1.5. Cấu trúc của khóa luận
Khóa luận gồm 5 chương trong đó:
Chương 1 là chương tổng quát các vấn đề như đặt vấn đề nghiên cứu, mục tiêu
nghiên cứu, đối tượng, không gian và thời gian nghiên cứu về thương hiệu tranh thêu
tay của Công ty XQ Sài Gòn.
Chương 2, nội dung chính là giới thiệu về lịch sử nghề thêu, các đặc tính ngành
nghề và tổng quan Tổng Công ty tranh thêu tay XQ và Công ty XQ Sài Gòn, chức
năng, nhiệm vụ của Công ty tranh thêu tay XQ Sài Gòn.
Chương 3 là chương nêu các cơ sở lý luận, lý thuyết về thương hiệu và các
phương pháp nghiên cứu mà đề tài áp dụng để đạt được mục tiêu nghiên cứu đã đề ra
trong chương 1.
3


Chương 4 đưa ra các kết quả đạt được trong quá trình nghiên cứu, phân tích và
thảo luận các kết quả đó về mặt lý luận cũng như thực tiễn.
Chương 5 là chương kết luận và đưa ra kiến nghị, tổng hợp kết quả phân tích ở
chương 4 từ đó đưa ra những kết luận chung về tình hình xâydựng, phát triển và định
vị thương hiệu của công ty và đưa ra những kiến nghị để thực hiện tốt hơn công tác
quảng bá thương hiệu cho công ty.

4



CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN

2.1. Tổng quan về tài liệu nghiên cứu
Nguyễn Hữu Khải và Đào Ngọc Tiến, Thương Hiệu Hàng Thủ Công Mỹ Nghệ
Truyền Thống, Nhà Xuất Bản Lao Động, 2006: sử dụng các khái niệm nhãn hiệu hàng
hóa, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, các yếu tố cấu thành thương hiệu, khái niệm
thương hiệu và một số cơ sở lý luận.
Phillip Kotler, Quản trị Marketing, Nhà Xuất Bản Thống Kê, 2006: tham khảo
một số khái niệm và công cụ thực hiện chiến lược Marketing cùng phương pháp
nghiên cứu để thực hiện đề tài.
Võ Văn Quân, Con Đường Phát Triển Nghề Thêu, Lưu hành nội bộ Công ty
Tranh Thêu Tay XQ, 2006: sử dụng các thông tin về đặc điểm ngành nghề, quá trình
hình thành và phát triển công ty, biểu tượng và ý nghĩa biểu tượng.
Châu Phạm Huỳnh Như, “Giải Pháp Phát Triển Thương Hiệu Tranh Thêu Tay
XQ tại Thành Phố Hồ Chí Minh”, 2006: luận văn này có đối tượng nghiên cứu trùng
với đối tượng nghiên cứu của đề tài là Công ty tranh thêu Tay XQ Sài Gòn”. Tác giả
tham khảo luận văn này để có cái nhìn tổng quát về Công ty tranh thêu tay XQ Sài
Gòn trong hai năm 2004 – 2005 trước khi thực hiện đề tài.
Ngô Hoàng Minh Quyên, “Nghiên Cứu Định Vị Thương Hiệu Tại Công Ty Cổ
Phần Bóng Đèn Điện Quang”, 2007: tham khảo một số cơ sở lý luận về định vị
thương hiệu.
Ngoài ra, trong quá trình thực hiện, đề tài đã tham khảo và tổng hợp thông tin
trên các phương tiện truyền thông, internet, báo chí,…


2.2. Lịch sử ngành nghề thêu
2.2.1. Lịch sử hình thành nghề thêu
Những người trong nghề đều có một xác tín thiêng liêng rằng: Lê Công Hành là
người đầu tiên và có công lớn nhất với việc đã học tập và phổ biến nghề thêu tay về

Nam Việt sau một chuyến đi sứ. Tuy nhiên, trước ông rất lâu, thật ra người dân Việt đã
quá quen với thêu, sáng tạo thêu và thổi cả hồn mình vào đó.
Ngay từ thế kỷ thứ nhất, lá cờ 6 chữ “Đền nợ nước, trả thù nhà” của Hai Bà
Trưng là sản phẩm kỳ vĩ đầu tiên của những nghệ nhân dân gian khi đó.
Một cứ liệu rất đáng tin cậy nữa để khẳng định là sự xuất hiện của Trần Quốc
Toản. Theo sử sách ghi lại, năm 1282, Trần Quốc Toản khi đó mới 15 tuổi, do không
được dự hội nghị Bình Than đã trở về Võ Ninh (nay là vùng Quế Võ, Từ Sơn, Bắc
Ninh) tự chiêu tập hơn 1000 gia nô thành lập đội quân riêng dưới lá cờ thêu “Phá
cường địch, báo Hoàng ân”. Đây là lần thứ 2 chính sử ghi nhận dấu ấn kỳ vĩ của thêu
Việt trong cuộc chiến đấu với phương Bắc. Lá cờ thêu về sau đã đưa tên tuổi Trần
Quốc Toản trở thành bất tử. Đây là thời đại nhà Trần, thế kỷ 13 – tức là trước khi Lê
Công Hành đi sứ những hơn 300 năm. Ngay tại thời điểm này, nghệ thuật thêu Việt
Nam đã có bước phát triển mới, khi kỹ thuật thêu vàng được ứng dụng.
Vô hình chung, thêu tay đã gắn chặt với chiều dài lịch sử dân tộc trên cả 2
phương diện: đời thường và đấu tranh giữ nước. Nó kết tinh tráng chí và niềm tự hào
của nhân dân và của cả những con người không bình thường nhất. Hay nói khác đi,
trước khi vị tổ nghề Lê Công Hành đi sứ, thật ra, tranh thêu Việt đã có những bước đi
dài và lạ lùng như thế. Đó là sự xung trận của nghệ thuật, của truyền thống trong cuộc
va đập lớn với phương Bắc hùng mạnh mà về sau vị sứ thần Việt sang, “học hỏi” công
nghệ về nâng tầm cho thêu Việt.
Lê Công Hành – người nâng tầm cho thêu Việt
Theo tộc phả họ còn lưu trong đình thờ ở xã Quất Động, huyện Thường Tín, Lê
Công Hành (1606 – 1661) tên thật là Trần Quốc Khái, sau vì có công với vua nên được
ban Quốc tính họ Lê. Năm 1646, ông đi sứ sang Trung Quốc. Vì khẳng khái bảo vệ
thanh danh Tổ Quốc nên ông đã bị nhốt trên một tòa lầu cao không thang xuống.
Trong khoảng thời gian này, ông đã mày mò nghiên cứu cách người Trung Hoa làm
lọng và gỡ tấm nghi môn ra để “học hỏi” cách thêu. Cơ duyên ấy đã đưa những nét
6



thêu tinh tế và đặc biệt của Trung Hoa theo chân Lê Công Hành về nước.
Với những kinh nghiệm thu được trong thời gian ở Trung Quốc; trên cơ sở kết
hợp với cái hay, cái đẹp của thêu dân tộc; ông truyền lại nghề cho dân Quất Động, và
một số làng khác như Tam Xá, Võ Lăng, Hướng Dương, Đào Xá… Bắt đầu từ đây,
thêu tay Việt bước sang một giai đoạn mới – giai đoạn hòa nhập với tinh hoa văn hóa
nước ngoài, đồng hóa và tự nâng tầm lên một trình độ mới. Mặt khác, cũng chính từ
thời điểm này, nghề thêu trở nên phổ biến hơn, phát triển hơn và trở thành nghề của cả
một làng, một vùng rộng lớn. Như vậy, công lớn nhất của Lê Công Hành, một mặt là
kết hợp thành công thêu cổ truyền với những nét tinh tế ngoại nhập. Mặt khác, biến
nghề thêu từ phát triển nhỏ lẻ trở nên tập trung, dần dần mở rộng quy mô trở thành một
ngành nghề truyền thống đúng xác hồn Đại Việt.
Tuy nhiên, ngay cả khi kết hợp với văn hóa Trung Quốc như thế, thêu Việt vẫn
có những đặc trưng hồn hậu và bình tâm. Chủ đề, đề tài của tranh thêu gắn chặt với đời
sống sinh hoạt hàng ngày, không tô vẽ. Giản dị đến độ tài hoa, thành một niềm tự hào
không dễ gì giấu được của những người trong cuộc:
“ Hỡi cô mà thắt bao xanh
Có về Quất Động với anh thì về
Quất Động anh đã có nghề
Thêu gà thêu vịt, thêu huê trên cành
Thêu cả tranh sơn thủy hữu tình
Thêu cả tranh ảnh của mình của ta.”
Thêu gắn liền với người phụ nữ Việt Nam như một biểu tượng rất hồn nhiên và
gần gũi. Thêu tay Việt Nam là sản phẩm của người phụ nữ nước mình - chỉ có điều nó
khác nhau về “thế”. Nghĩa là, thêu Trung Hoa hào hoa và tinh xảo với nhà cao cửa
rộng, tiểu thư khuê các, công tử phong lưu. Còn thêu Việt bình tâm như ruộng vườn,
cây trái; thơm nồng như vạt áo đầm mồ hôi của người phụ nữ nông dân chân chất.
Thêu tay Việt Nam ngay từ khi mới hình thành đã là sản phẩm mang phần hồn
dân tộc; chứ không phải câu chuyện hồn Trương Ba, da hàng thịt. Vì thế mà, dân gian
vẫn lưu truyền những câu hát rất lãng mạn về nó:
“ Trai thì đọc sách ngâm thơ

Gái thì kim chỉ, thêu thùa vá may.”
7


2.2.2. Đặc trưng ngành nghề
a. Đặc trưng xã hội
Từ thời xa xưa, nghề thêu ở Việt Nam chủ yếu do phụ nữ đảm trách. Đại đa số
phụ nữ Việt Nam thời xưa đều biết thêu thùa may vá theo quan điểm “Công, Dung,
Ngôn, Hạnh” của Nho giáo.
Thời phong kiến, sản phẩm thêu độc đáo, đặc sắc nhất chủ yếu chỉ phục vụ cho
giai cấp vua chúa, quan lại, địa chủ… Vào triều Nguyễn, bà Hoàng Thị Cúc, mẹ vua
Bảo Đại đã kết hợp thêm những ưu điểm của kỹ thuật thêu Châu Âu vào những tinh
hoa của thêu Châu Á để biến nó thành kỹ thuật thêu của cung đình Huế.
b. Đặc trưng kỹ thuật
Sản phẩm thêu được cấu tạo bởi hai nguyên liệu chính là chỉ và vải. Tuy nhiên
để thêu tranh cần dùng loại chỉ có độ bóng cao, bền, dễ bắt ánh sáng, màu sắc đa
dạng… phù hợp với nội dung tranh, thích ứng với các điều kiện thời tiết để bảo quản
bức tranh được lâu dài. Hiện nay, loại chỉ thích hợp dùng cho thêu tranh là các loại chỉ
BTC (có nguồn gốc từ Tiệp Khắc), chỉ DMC (có nguồn gốc từ Pháp) và chỉ tơ tằm
Việt Nam.
So với các loại tranh khác, tranh thêu tay có đầu tư ban đầu thấp hơn. Không
cần nhiều chi phí cho đầu tư máy móc thiết bị, nguyên vật liệu có sẵn trong nước.
Nhân tố chính làm nên giá trị một tác phẩm thêu tay là do sức sáng tạo, tính chịu khó,
sự kiên nhẫn của người thợ thêu. Tuy nhiên, để đạt đến trình độ thêu tranh nghệ thuật,
nhất là tranh chân dung, người thợ thêu đòi hỏi phải có nhiều kinh nghiệm, tay nghề
cao, độ nhạy cảm thích hợp của một người nghệ sĩ. Thông thường, người thợ thêu
tranh được gọi là nghệ nhân.
Tác phẩm thêu tay được làm bởi một hay nhiều nghệ nhân, tùy theo kích cỡ và
chi tiết bức tranh. Trung bình một bức tranh có cỡ 40x50cm được thêu bởi một nghệ
nhân trong vòng ba tháng.

Nội dung bức tranh thêu hiện nay không chỉ gói gọn trong những hình mẫu kiểu
Trung Quốc ngày xưa như : “Lưỡng Long Triều Nguyệt”, “Long Lân Quy Phụng”,
“Phước Lộc Thọ”… mà trở nên đa dạng và phong phú với nhiều kiểu mẫu phản ánh
các đặc trưng văn hóa từ Đông sang Tây. Mẫu mã tranh thêu trên thị trường Việt Nam
có nhiều thể loại khác nhau: tranh phong cảnh, tranh chân dung, tranh thư pháp, tranh
8


tôn giáo, tranh trừu tượng…
2.3. Giới thiệu Tổng công ty tranh thêu tay XQ và XQ Sài Gòn
2.3.1. Giới thiệu Tổng công ty tranh thêu tay XQ
Tên công ty: CÔNG TY TNHH TRANH THÊU TAY X.Q
Tên giao dịch nước ngoài: X.Q HAND-EMBROIDERY CO.LTD
Trụ sở chính: 258 Mai Anh Đào, Phường 8, Thành phố Đà Lạt
Điện thoại: 063 3831343
Fax: (84)63 3835265
Email:
Website:
2.3.2. Lịch sử hình thành và phát triển công ty
XQ ngày nay được biết đến như một thương hiệu nổi tiếng không chỉ ở Việt
Nam mà còn ở các nước trên thế giới về sản phẩm tranh thêu tay trên lụa của công ty.
Từ những năm 1990, tại huyện Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng xuất hiện những bức
tranh thêu tay mang đậm nét quê hương Việt Nam với những chủ đề về phong cảnh,
con người Việt Nam. Những bức tranh thêu này được tạo ra bởi nghệ nhân Hoàng Lệ
Xuân xuất thân từ một gia đình gốc Huế thừa hưởng những kỹ xảo tinh tế của nghề
thêu cung đình xưa. Kết hợp cùng chồng, anh Võ Văn Quân – bác sĩ ngành X quang,
một nghệ sĩ với đầu óc sáng tạo và những cố gắng kiên trì đã vạch hướng đi mới cho
ngành nghề, kết hợp những tinh hoa của nghề thêu với tính nghệ thuật của hội hoạ, tạo
sắc màu mới cho tranh thêu Việt Nam. Họ chính là người sáng lập công ty tranh thêu
tay XQ hiện nay.

Năm 1992, họ quyết định lên Đà Lạt khởi nghiệp, thành lập một cơ sở thêu tay
và dạy nghề. Thành viên ban đầu có ba người bao gồm hai nghệ nhân và một họa sĩ
kiêm điều hành và bán tranh.
Đầu năm 1994, cơ sở trên được phát triển thành tổ hợp tác thêu lụa XQ Đà Lạt
với số nghệ nhân là 20 người. Cơ sở ngày càng phát triển và đào tạo được nhiều thợ
giỏi nghề.
Ngày 30 tháng 01 năm 1996, Công ty TNHH XQ Đà Lạt chính thức được thành
lập với 36 thành viên. Công ty là một đơn vị kinh doanh hạch toán độc lập, có con dấu
riêng. Qua quá trình 13 năm phát triển, đến nay công ty có đã có hơn 3.000 lao động
9


với 95% là nữ, trong đó có 2.000 nghệ nhân.
Mặt khác, qui mô hoạt động công ty ngày càng được mở rộng. Công ty hiện tại
có 7 chi nhánh và đại lý trong nước và 4 đại lý ở nước ngoài. Quá trình hình thành các
chi nhánh:
Trong nước
Ngày 20 tháng 04 năm 1994 thành lập Trung Tâm Tranh Thêu Lụa XQ Cố Đô,
nay đổi thành XQ Cổ Độ.
Đầu năm 1995 Tranh Thêu Trên Lụa XQ Sài Gòn được thành lập.
Ngày 27 tháng 11 năm 1997 thành lập trung tâm Tranh Thêu Lụa XQ Đà Nẵng.
Ngày 01 tháng 04 năm 1999 thành lập Trung Tâm Tranh Thêu Lụa XQ Nha
Trang.
Đặc biệt ngày 29 tháng 12 năm 2001 Làng Nghề Nghề Thêu Truyền Thống XQ
Sử Quán chính thức khai trương, tạo một quảng trường cho Nghệ Sỹ, Nghệ Nhân XQ
sáng tạo đồng thời gìn giữ, phát huy hơn nữa một ngành nghề, một bản sắc văn hóa
dân tộc.
Tháng 12 năm 2003 thành lập trung tâm tranh thêu lụa XQ Hà Nội.
Năm 2004, thành lập trung tâm tranh thêu lụa XQ Hội An.
Ngoài nước

Năm 2003 là năm đánh dấu bước phát triển ra nước ngoài của công ty với việc
liên kết mở đại lý tại Mỹ, Nhật, Anh và Nga. Tại Mỹ, công ty thành lập hai phòng
tranh ở Texas và Hawaii. Tại Anh và Nhật, sản phẩm của công ty được phân phối bởi
hai cửa hàng chuyên kinh doanh các sản phẩm thủ công truyền thống, các tác phẩm
nghệ thuật.
Năm 2004, công ty mở đại lý tại Singapore.
2.3.3. Hình ảnh thương hiệu tranh thêu XQ
a. Biểu tượng thương hiệu tranh thêu tay XQ
Logo gồm ba màu chủ đạo là nâu, trắng và xanh lá cây. Hình vẽ được cách điệu
từ cây kim, dãi lụa tượng trưng cho ngành nghề hoạt động. Hai cây thông màu xanh
phía sau tượng trưng sự tri ân cho vùng đất ngàn thông Đà Lạt, đã cưu mang và là nơi
khai sinh ra công ty. Mặt khác, dãi lụa còn mang hình ảnh gương mặt hai sáng lập viên
công ty.
10


Logo này được thêu trên tất cả các tác phẩm tranh do
công ty sản xuất và được xem như nhãn hiệu hàng hóa của tác
phẩm. Nhãn hiệu được đăng ký bảo hộ vào ngày 20-06-2003 do
Cục Sở Hữu Công Nghiệp cấp, Giấy Chứng Nhận số 49422.
Có hiệu lực 10 năm tính từ ngày cấp.
b. Ý nghĩa biểu tượng tranh thêu tay XQ
Ý nghĩa cốt lõi của logo công ty tranh thêu tay XQ
tương quan với triết lý của công ty là hướng về nguồn cội, về với bản sắc văn hóa dân
tộc, với những vẻ đẹp từ thiên nhiên, con người Việt Nam. Logo mang thông điệp:
“Điệu múa về với thiên nhiên”. Theo đó mỗi sản phẩm mang logo trên đều chuyên chở
những vẻ đẹp nghệ thuật, hướng con người về với thiên nhiên.
Màu nâu tượng trưng cho tính truyền thống của nền văn minh nông nghiệp xa
xưa ở nước ta. Công ty luôn hướng tới sự tinh tế trong ngành nghề truyền thống của
dân tộc.

Màu trắng tượng trưng cho sự tao nhã, thanh khiết. Một trong những hình ảnh
thường đi liền với tranh thêu XQ tại các phòng trưng bày, triển lãm là hình ảnh người
nghệ nhân khoan thai bên khung thêu. Công ty luôn nhấn mạnh vai trò người nghệ
nhân làm nên tác phẩm và xa hơn nữa là ca ngợi các đức tính quý báo của người phụ
nữ Việt Nam.
Màu xanh thể hiện sức sống của công ty, kinh doanh tranh thêu tay là một
ngành nghề hoạt động khá mới mẽ, công ty mong muốn trở thành người tiên phong
phổ biến rộng rãi ngành nghề truyền thống của Việt Nam ra thế giới.
2.3.4. Giới thiệu Công ty tranh thêu tay XQ Sài Gòn
Tên công ty: CÔNG TY TNHH TRANH THÊU TAY X.Q SÀI GÒN
Tên giao dịch nước ngoài: X.Q SAIGON HAND-EMBROIDERY CO.LTD
Vốn điều lệ: 500.000.000 VNĐ
Địa chỉ: 38 Lê Lai, Phường Bến Thành, Quận 1, Thành Phố Hồ Chí Minh
Điện thoại: 08 38256595
Fax: (848) 38256593
Email:
Website:
11


2.3.5. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của XQ Sài Gòn
a. Chức năng
Công ty TNHH XQ Sài Gòn được thành lập vào ngày 01/01/1995, giấy phép
kinh doanh số: 4102012598 do UBND Quận I cấp. Công ty là chi nhánh của Tổng
công ty tranh thêu tay XQ Đà Lạt tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Công ty là một doanh nghiệp tư nhân, hạch toán độc lập, có con dấu riêng, được
quản lý theo hình thức báo cáo sổ sách hàng tháng với Tổng công ty tranh thêu XQ Đà
Lạt. Công ty có đội ngũ sản xuất riêng, đội ngũ các phòng ban và đội ngũ nhân viên
kinh doanh phụ trách bán tranh.
Công ty hiện đang quản lý 2 phòng trưng bày tranh thêu tại số 26A Lê Lợi,

Phường Bến Nghé, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh và 70B Lê Lợi, Phường Bến
Thành, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh.
b. Nhiệm vụ
Công ty có trách nhiệm sản xuất và kinh doanh các mặt hàng tranh thêu. Thị
trường công ty không chỉ giới hạn trong địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh mà còn mở
rộng sang các tỉnh lân cận và nước ngoài.
Các hoạt động hạch toán kinh tế, báo cáo tài chính trung thực theo đúng qui
định của Nhà nước. Các hoạt động sản xuất, kinh doanh đảm bảo đúng Luật Doanh
Nghiệp và các hành lang pháp lý khác.
Góp phần giải quyết việc làm cho xã hội, thực hiện đúng và đầy đủ Luật Lao
Động.
Bảo vệ tài sản của công ty, bảo vệ môi trường trong khu vực hoạt động sản xuất
kinh doanh, giữ gìn an ninh trật tự xã hội.
c. Quyền hạn
Công ty TNHH tranh thêu tay XQ Sài Gòn có quyền ký kết hợp đồng kinh tế,
liên doanh với các thành phần kinh tế trong và ngoài nước. Ngoài ra, công ty có quyền
tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa và xã hội phù hợp với ngành nghề của
công ty.
Là một công ty có đầy đủ tư cách pháp nhân để vay vốn Ngân Hàng.
Có quyền hạn tuyển chọn lao động theo ngành nghề phù hợp với sự phát triển
của công ty.
12


d. Trách nhiệm
Đảm bảo, chịu trách nhiệm về mọi sản phẩm do công ty sản xuất và kinh doanh.
Xây dựng nội quy, cụ thể hóa các qui định của Pháp Luật Nhà nước về kỹ thuật,
bảo hộ lao động, bảo hiểm lao động, vệ sinh công cộng, tiền lương, phụ trội lương
ngoài giờ cho công nhân viên, chăm lo quan tâm đến đời sống tinh thần cán bộ công
nhân viên trong công ty.

Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp các khoản thuế theo quy định của Nhà nước.
2.4. Cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý của Công ty XQ Sài Gòn
2.4.1. Cơ cấu tổ chức của công ty
Cơ cấu hoạt động của Công ty XQ Sài Gòn tương đối gọn nhẹ, phù hợp với mô
hình công ty chi nhánh. Đứng đầu công ty là một Giám Đốc Điều Hành chịu trách
nhiệm quản lý chính khu vực phía Nam từ Thành phố Hồ Chí Minh đến các tỉnh miền
Đông và miền Tây. Công ty có các phòng ban chịu trách nhiệm chuyên môn, đứng đầu
các phòng ban là các trưởng phòng.
Phòng kế toán: thực hiện các công việc liên quan đến tài chính hàng tháng kết
sổ có văn bản báo cáo lên Tổng công ty.
Phòng Marketing: chịu trách nhiệm kinh doanh chính, giao hàng, gặp gỡ khách
hàng, thực hiện các công việc hậu mãi, thống kê nhật ký bán hàng.
Bộ phận sản xuất: là đội ngũ các nghệ nhân thêu sản xuất ra các tác phẩm tranh
và gia công theo đơn đặt hàng.
Bộ phận đóng khung: thiết kế khung, lên khung, gói hàng.
Ngoài ra, công ty còn quản lý 3 phòng trưng bày tranh: phòng tranh 38 gọi tắt
từ địa chỉ 38 Lê Lai, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh; phòng tranh 26A gọi tắt từ địa
chỉ 26A Lê Lợi, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh và phòng tranh 70B gọi tắt từ địa chỉ
70B Lê Lợi, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh.
Các phòng tranh được quản lý bởi một cửa hàng trưởng và một cửa hàng phó,
nhân viên kinh doanh chịu trách nhiệm hướng dẫn khách tham quan và bán tranh.

13


×