Tải bản đầy đủ (.doc) (15 trang)

Quản lý nhà nước về văn hoá giáo dục y tế

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (91 KB, 15 trang )

Chương I Quản lý nhà nước về Văn Hoá

Câu 1 : Tại sao nói văn hố là động lực, mục tiêu phát triển linh tế xã hội
Văn hoá là lĩnh vực sản xuất tinh thần, sáng tạo như nhận định của Mác, tạo
ra những giá trị tinh thần những công trình khoa học, văn hố nghệ thuật
nhằm xây dựng và phát triển con người. Nếu kinh tế là nền tảng vật chất của
đời sống xã hội thì văn hố là nền tảng tinh thần của đời sống ấy, và vì thế
hai lĩnh vực đó ln ln giữ vị trí quan trọng và quyết định đối với thực
trạnh sự vận động và phát triển của xã hội
Với vai trò là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội, đẩy mạnh cơng
nghiệp hố hiện đại hố văn hóa và khả năng to lớn. Nó khơI dậy nhân lên
mọi tiềm năng phát triển sức sáng tạo của con người, tạo ra nguồn lực nội
sinh quýêt định sự phát triển của cơng nghiệp hố hiện đại hóa. Điều này có
ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nước ta khi nguồn tài chính và nguồn lực
vật chất cho cơng cuộc cơng nghiệp hố hiện đại hố cịn hạn hẹp trong khi
đó tiềm lực con người Việt nam lại vô cùng phong phú nếu biết nuôi dưỡng
phát huy khai thác và sử dụng nó một cách hợp lý nhất tiết kiệm nhất . Trong
thời đại ngày nay tư tưởng trên càng có ý nghĩa to lớn khi mà nguồn gốc của
sự giàu có và phát triển tồn diện của đất nước khơng chỉ là tài nguyên vốn
kỹ thuật mà yếu tố ngày càng trở nên quyết định chính là nguồn lực con
người là tiềm năng và năng lực sáng tạo của con người Việt nam. Nền kinh
tế tri thức thời kỳ mới của sự phát triển xã hội hiện nay bắt nguồn từ chính
đặc điểm này.
Tư tưởng khẳng định văn hố là động lực thúc đẩy sự phát triển thúc đẩy
công nghiệp hoá hiện đại hoá của Đảng ta xuất phát từ quan điểm coi con
người trước hết là tiềm năng và sức mạnh trí tuệ tinh thần và đạo đức là nhân
tố quyết định sự phát triển là vốn quý nhất của chúng ta trên con đường xây
dựng CNXH. Từ đó cần phảI nhấn mạnh coi phát triển văn hoá là lĩnh vực
quan trọng của chiến lược con người còn chiến lược con người lại nằm ở vị
trí trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong sự nghiệp cơng
nghiệp cơng nghiệp hóa hiện đại hố. Điều đó cũng có nghĩa là phảI đặt văn


hố vào trung tâm của những vấn đề kinh tế đồng thời bản thân văn hóa là
lĩnh vực sản xuất đặc biệt góp phần trực tiếp tạo ra động cơ tháI độ , khơI
dậy tiềm năng trong người lao động tạo ra nguồn lực ở trình độ phát triển
ngày càng cao thúc đẩy con người phát triển và hoàn thiện nhân cách .
Mục tiêu phấn đấu “ dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn
minh” là định hướng xã hội chủ nghĩa đồng thời cũng là mục tiêu của văn
hoá, nếu hiểu theo nghĩa rộng của kháI niệm này. Theo cố thủ tướng Phạm
Văn Đồng thì định hướng XHCN là văn hoá và văn hoá là đổi mới đổi mới
là văn hoá


Chiến lược phát triển kinh tế xã hội đến năm 2010 đã xác định “ Mục tiêu và
động lực chính của sự phát triển là vì con người do con người” đồng thời đã
nêu rõ yêu cầu “ tăng trưởng kinh tế phảI gắn với tiến bộ công bằng xã hội
phát triển văn hố, bảo vệ mơI trường”
Như vậy đường lối xây dựng cnxh ở nước ta cũng như trong chủ trương
chính sách văn hố được coi là mục tiêu cao cả của CNXH. Đó là nhận thức
đúng đắn trước kinh nghiệm của các nước từng hy sinh giá trị tinh thần để
chạy theo lợi ích kinh tế để rồi gánh lấy những hậu quả lớn chưa có phương
cách giảI quyết.
Câu 2. Phân tích những giải pháp quản lý nhà nước để đạt mục tiêu duy trì
và phát huy bản sắc văn hố dân tộc Việt nam
Có thể nói bản sắc văn hoá dân tộc là tổng thể những phẩm chất , tính cách
khuynh hướng cơ bản thuộc sức mạnh tiềm tàng và sức sáng tạo của mỗi dân
tộc trong lịch sử tồn tại và phát triển của mỗi dân tộc. Bản sắc văn hố đó là
cáI hồn, cáI cốt, cáI thể hiện diện mạo của một nền văn hoá. Bản sắc văn hoá
là cái tạo nên sự độc đáo sự riêng có của một nền văn hố. Bản sắc văn hoá
dân tộc được xem là “ kháng thể” để chống lại sự xâm lăng văn hoá.
Với dân tộc việt nam lịch sử dựng nứơc và giữ nước lâu đời của dân tộc VN
đã tạo nên cốt cách con người Việt nam và cốt cách ấy được phản chiếu

trong nền văn hoá VN, tạo nên bản sắc văn hoá dân tộc. Nói đầy đủ về bản
sắc văn hố dân tộc VN quả là một vấn đề khó, vì cho đến nay những cơng
trình nghiên cứu về vấn đề này cịn q ít. Nhưng “ những giá trị văn hố
truyền thống vững bền của dân tộc và lòng yêu nước nồng nàn cộng đồng
sâu sắc đạo lý “ thương người như thể thương thân” , đức tính cần cù vượt
khó, sáng tạo trong lao động… đó là nền tảng và sức mạnh tinh thần to lớn
để nhân dân ta xây dựng ,một xã hội phát triển , tiến bộ công bằng nhân áI
ngày nay.
Văn hoá gắn liền với con đường đi lên của lịch sử dân tộc. Bản sắc văn hoá
dân tộc Việt nam là vô cùng quý báu. Nhưng bản sắc ấy chỉ thực sự có ý
nghĩa khi nó được bảo tồn và không ngừng phát huy tạo nên sức sống cho
dân tộc.
Làm thế nào để bảo tồn và phát huy văn hố dân tộc đã đang và sẽ cịn là
vấn đề mà các nhà quản lý các học giả và mỗi người VN yêu nước băn
khoăn tìm câu trả lời thích đáng. Đứng trên giác độ quản lý nhà nước
Câu 3 Những yếu tố cơ bản quyết định phương thức quản lý nhà nước về
văn hoá.
Khoa học quản lý đã khẳng định quản lý gồm hai quá trình đan kết vào nhau
một cách chặt chẽ là duy trì và phát triển. Hai quá trình này vừa giữ cho một


thực thể tồn tại độc lập vừa tạo cho nó vận động phát triển. Với quản lý nhà
nứoc nguyên lý này càng có ý nghĩa quan trọng bởi văn hố là nền tảng tinh
thần của xã hội. Nhưng để văn hoá được bảo tồn và phát triển vấn đề cốt yếu
nhất là hình thành những phương thức quản lý thích hợp. Đến lượt mình việc
lựa chọn những phương thức quản lý nhà nước về văn hoá lại phụ thuộc vào
nhiều yếu tố .
Đứng trên giác độ khoa học chính trị, không một nhà nước hiện đại nào lại
không đặt dưới sự lãnh đạo của một Đảng chính trị. Những chủ trương
đường lối quan điểm của Đảng cầm quyền . Mặt khác trong mỗi giai đoạn

phát triển Đảng cầm quyền có những chỉ đạo về văn hoá khác nhau. Mục
tiêu về xây dựng và phát triển văn hoá trong mỗi thời kỳ đặt ra cho nhà nước
vấn đề là phải sử dụng phương thức quản lý nhà nước để hoàn thành được
mục tiêu cơ bản đó.
Văn hố thuộc phạm trù kiến trúc thượng tầng mối quan hệ giữa thượng tầng
kiến trúc và hạ tầng cơ sở cũng chính là yếu tố quyết định phương thức quản
lý nhà nước về văn hoá. Điều này có thể được nhìn nhận rõ ràng khách quan
khi xem xét các phương thức quản lý của nhà nước trong thể chế kinh tế
khác nhau. Một điều không ai không công nhận là trong thể chế kinh tế thị
trường và thể chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung các phương thức quản lý
nhà nước được sử dụng rất khác nhau với mức độ ưu tiên rất khác nhau.
Quản lý theo quan niệm tổng thể là sự tác động có định hướng của chủ thể
quản lý đến khách thể quản lý bằng các phương pháp quản lý với các công
cụ đặc thù nhằm đi đến mục tiêu quản lý nhất định. Quan niệm này cho phép
chúng ta đánh giá việc lựa chọn phương thức quản lý nhà nước về văn hố
cịn phụ thuộc vào chính bản thân chủ thể quản lý. Nhà nứơc và đối tượng
quản lý các hoạt động văn hoá. Bản chất của nhà nước sự nhận thức của nhà
nứoc về vai trị của văn hố trong mỗi thời kỳ sẽ tác động đến thể chế nhà
nước để tìm ra phương thức quản lý phù hợp. Bản thân văn hoá là một lĩnh
vực đặc thù của đời sống xã hội. Những đặc trưng riêng có của văn hố địi
hỏi nhà nước phảI hình thành những phương thức quản lý đặc thù. Bởi hơn
ai hết nhà nước là người nhận thức rõ mọi sự dập khuôn, áp đặt chung sẽ
được trả giá bằng các hậu quả quản lý.
Yếu tố thứ tư có thể đặt ra ở đây chính là vấn đề về mơi trường văn hố quốc
tế. Trong thời đại ngày nay sự mở rộng giao lưu kinh tế thương mại đã kéo
theo sự giao lưu về văn hoá. Những ảnh hưởng giữa các nền văn hoá đã trở
nên phong phú hơn đa dạng hơn và phức tạp hơn. Nhà nước với trách nhiệm
của mình phải lựa chọn các phương thức quản lý nhà nước để vừa bảo tồn
phát huy các giá trị văn hoá truyền thống vừa tiếp thu những tinh hoa văn
hoá thời đại để làm giàu thêm cho văn hố dân tộc. Mơi trường văn hoá quốc

tế lành mạnh hay chưa lành mạnh phù hợp hay chưa phù hợp có ý nghĩa


quyết định để nhà nước tạo dựng các phương thức quản lý nhà nứoc định
hướng nền văn hoá phát triển theo hướng mở hay khép kín…
Câu 4. Tại sao nói quản lý theo hình thức pháp luật là một trong những hình
thức cơ bản quan trọng nhất trong quản lý văn hố. Nhà nước cần làm gì để
nâng cao hiệu quả của công cụ pháp luật trong quản lý văn hoá.
Khoa học nhà nước và pháp luật khi đề cập đến giai cấp thống trị đã nhấn
mạnh sự thống trị trên ba mặt : kinh tế, chính trị, văn hố tư tưởng. Để duy
trì sự thống trị của mình, giai cấp thống trị phải làm sao cho ý chí của giai
cấp mình bao trùm trong đời sống xã hội. Và pháp luật là sự thể hiện ý chí
của giai cấp thống trị. Giai cấp thống trị sử dụng pháp luật làm phương tiện
cơ bản nhất để quản lý mọi mặt đời sống xã hội trong đó có văn hố.
Văn hố là nền tảng tinh thần của mọi xã hội. Sự quản lý nhà nước đối với
văn hố chính là để định hướng cho văn hố phục vụ cho mục đích của giai
cấp , của dân tộc. Nhưng văn hoá là một lĩnh vực phức tạp, đa chiều cạnh
nhà nước phải có được một hình thức quản lý hiệu lực và hiệu quả nhất.
Quản lý theo hình thức pháp luật là một trong những hình thức cơ bản nhất
trong quản lý văn hoá. Điều này bắt nguồn từ bản thân đặc trưng vân hố và
vai trị của pháp luật cả trên phương diện lý luận và thực tiễn.
Văn hố có tính bao trùm ảnh hưởng lâu dài và bền vững. Văn hoá liên quan
đến vấn đề tư tưởng và tinh thần của cả chế độ. Nhà nước trước hết phải sử
dụng pháp luật để tạo lập hướng đI cho văn hoá và chỉ có pháp luật nhà nước
mới có thể ảnh hưởng đến tồn bộ xã hội, ý chí của giai cấp thống trị mới có
thể bao trùm lên mọi khía cạnh của hoạt động văn hoá,
Văn hoá là một lĩnh vực nhạy cảm. Những biến động của đời sống chính trị,
kinh tế, văn hoá, xã hội đều được phản chiếu trong văn hoá. Văn hoá trong
các thời điểm nhất định có thể có những biểu hiện mất trật tự, lộn xộn do
những xu hướng phát triển tự phát… Để lập lại trật tự kỷ cương trong văn

hố thì hình thức pháp luật được xem là hữu hiệu nhất bởi hiệu lực của pháp
luật đảm bảo bằng sự cưỡng chế của bộ máy công quyền mà không một
công cụ quản lý nào có được.
Hình thức quản lý nhà nước bằng pháp luật là bản quan trọng nhất nhưng
không phải là duy nhất. CHính vì vậy cùng với hình thức này nhà nước cịn
quản lý văn hố bằng các quy ước chính sách, kế hoạch. Nhưng có thể khẳng
định được rằng thiếu các hình thức quản lý bằng các quy ước chính sách
quản lý nhà nước có thể khơng tồn diện, hiệu quả quản lý có thể khơng như
mục tiêu mong muốn của chủ thể nhưng hoạt động quản lý vẫn diễn ra.
Nhưng thiếu pháp luật thì quản lý nhà nước tất yếu không thể tồn tại.
Quản lý nhà nước về văn hố bằng các hình thức pháp luật có vai trị quan
trọng quyết định đến quản lý nhà nứoc. Vậy để nâng cao hiệu quả của công
cụ này chúng ta cần phải làm gì ?


-Xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ thống nhất. Cần có sự phối hợp liên
ngành giữa các cơ quan để xây dựng pháp luật về văn hoá để pháp luật nói
chung và pháp luật liên quan đến văn hố nói riêng khơng xung đột mâu
thuẫn với nhau.
-Các văn bản luật cần được hướng dẫn kịp thời bằng văn bản của chính
phủ( cho đến nay Luật di sản văn hố còn thiếu 4 nghị định hướng dẫn)
-Nâng cao khả năng dự báo về tiến trình văn hố để dự thảo các văn bản
pháp luật tránh tình trạng ứng phó thụ động khi có những biến cố xảy ra mới
tìm cách để xây dựng các văn bản để điều chỉnh…
C âu 5. Nêu tên các phong trào thi đua xây dựng mơI trường văn hố đang
được triển khai trong cả nước.
Văn hố VN theo cố thủ tướng Phạm Văn Đồng thì nó mang tính cộng đồng
sâu sắc tính cộng đồng gồm 3 cái trục: gia đình, làng và nước. CHính tính
cộng đồng của văn hố làm cho văn hố có ảnh hưởng cả bề rộng và bề sâu.
Điều này đối với quản lý nhà nước một ý nghĩa đặc biệt đó là để bảo tồn và

phát huy bản sắc văn hoá phải tìm về cộng đồng văn hố, để tạo dựng mơi
trường văn hố phải tìm về xây dựng các phong trào văn hoá trong cộng
đồng
Trong những năm gần đây ở nước ta các phong trào thi đua xây dựng môi
trường văn hoá quả thực phù hợp với mong đợi của các cộng đồng dân cư và
tất yếu sự gặp gỡ của ý Đảng lịng dân sẽ làm nên kỳ tích. ở đây chúng ta sẽ
cùng tìm hiểu về các phong trào văn hoá đang được triển khai rộng khắp
này.
Phong trào “tồn dân đồn kết xây dựng đời sống văn hố” là một chủ
trương lớn của Đảng và nhà nước ta. Phong trào này đã lôi cuốn được đông
đảo quần chúng tham gia tạo nên sức sống mới trong đời sống văn hoá cộng
động. Những giá trị văn hoá truyền thống tạo nên một mơi trường văn hố
dân tộc và hiện đại.
Phong trào “ gia đình văn hố, làng văn hố” đã tạo nên mơi trường văn hố
gia đình mơi trường văn hố làng xã lành mạnh góp phần tích cực vào việc
xây dựng và hoàn thiện nhân cách cá nhân. Phong trào này khơng những có
ý nghĩa lớn về mặt văn hố mà cịn tạo ra sự phát triển tồn diện trong đời
sống cộng đồng.
Phong trào “ thực hiện dân chủ ở cơ sở” đã được phát động trong một
khoảng thời gian dài. Dân chủ ở cơ sở đã thực sự đem lại những kết quả to
lớn về nhiều mặt. Sự tham của người dân vào các hoạt động của chính quyền
trong đó có hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá làng xã cộng
đồng đã góp phần quan trọng vào việc giữ gìn các giá trị văn hoá dân tộc mà
nếu phiến diện chúng ta vơ tình gạt bỏ.


Phong trào xây dựng quỹ khuyến học khuyến tài, các hội bảo trợ cho văn
hoá giáo dục. Đây là một nét đẹp của văn hố dân tộc mang tính truyền
thống mà trong những năm gần đây có dịp được khơi phụcvà phát triển
mạnh mẽ. Trong lịch sử dân tộc ở làng xã VN xưa đã từng có những học

điền( ruộng khuyến học) cô quả điền… để giúp đỡ những người nghèo hiếu
học. Phong trào xây dựng các quỹ khuyến học trong những giai đoạn hiện
nay vừa mang ý nghĩa văn hoá vừa là biểu hiện của kết quả xã hội hố giáo
dục.
Phong trào về nguồn tìm trong vốn cổ là phong trào văn hoá để khơI dậy
những mạch nguồn văn hố dân tộc tạo nên sự tiếp nối của dịng chảy văn
hố dân tộc. Phong trào này có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm hiểu về giá
trị văn hố dân tộc, phát hiện những trầm tích trong địa tầng văn hoá.
Câu 6. Những nội dung cơ bản của quản lý nhà nước về văn hố và phân tích
các nội dung đó.
Câu 7. Cần chú trọng vào những tiêu chí nào để đầu tư một cách có hiệu quả
đối với các sản phẩm và hoạt động văn hoá.
Đầu tư cho văn hố là đầu tư cho phát triển. Có lẽ đây là nhận thức chung
của mọi quốc gia khi nhìn nhận vấn đề đầu tư cho văn hố. Nhưng nói đến
đầu tư cho văn hố là phải tính đến hiệu quả mặc dù đầu tư cho văn hố hiệu
quả khơng phải dễ lượng hoá và dễ nhận biết trong một sớm một chiều. Với
ý nghĩa đó nhà nước cần chú trọng vào những tiêu chí nào để đầu tư một
cách có hiệu quả đối với các sản phẩm và hoạt động văn hoá.
TRước hết nhà nước cần phảI nhận diện về mức độ thích ứng với cơ chế thị
trường của các sản phẩm và hoạt động văn hố để có hướng đầu tư thích
hợp. Việc nhận diện này để đi đến kết luận : hoạt động nào cần đầu tư toàn
bộ, hoạt động nào cần đầu tư một phần, hoạt động nào chỉ cần hỗ trợ ban
đầu. ở nước ta việc đầu tư toàn bộ được thực hiện đối với các hoạt động văn
hố khơng có thu. Vấn đề đặt ra ở đây chính là làm sao để xác định được
đúng các sản phẩm văn hoá, hoạt động văn hoá cần thiết phải có sự đầu tư để
tồn tại phát triển tránh sự cào bằng, đầu tư dàn trải dẫn đến thiếu hiệu quả.
Tiêu chí quan trọng được nhiều người quan tâm rằng đó là chất lượng của
sản phẩm và hoạt động văn hoá. Thật ra đặt vấn đề chất lượng của văn hoá là
rất chung chung bởi đánh giá chất lượng của văn hố khơng phảI là điều đơn
giản không thể chấp nhận sự tuỳ tiện chủ quan. Chất lượng văn hoá cần phảI

được cụ thể hoá bằng các tiêu chí cụ thể rõ ràng và cơ bản. Đó là các sản
phẩm văn hoá hoạt động văn hoá tiêu biểu cho đời sống cộng đồng các sản
phẩm hoạt động văn hố biểu hiện xu thế vận đơng của văn hoá tương lai,
các sản phẩm văn hoá là kết tinh của bản sắc văn hoá dân tộc, các sản phẩm


văn hố có giá trị văn hố dân tộc và văn hố nhân loại. Và mỗi tiêu chí cụ
thể này nên được xem là một tiêu chí để đầu tư.
Các sản phẩm, hoạt động văn hoá tiêu biểu cho đời sống cộng đồng. Sự đầu
tư vào các hoạt động này sẽ tạo ra động lực cho sự phát triển, sự thăng hoa
của văn hoá cộng đồng. Sự đầu tư của nhà nước phù hợp với ý chí cộng
đồng thì tất yếu các dự án đầu tư sẽ được nhân dân ủng hộ, tự giác thực hiện.
Sự phát triển văn hoá cộng đồng đưa đến sự hoàn thiện nhân cách phẩm chất
tâm lý cộng đồng. Đó là hiệu quả đầu tư vơ cùng lớn lao trong đầu tư cho
văn hố.
Đầu tư cho các sản phẩm văn hoá hoạt động vănhoá biểu hiện xu thế vận
động của văn hố tương lai có thể làm cho nhiều người băn khoăn nghi ngờ
cho là không tưởng ảo tưởng. Thật ra đây là vấn đề đã được đặt ra từ trong
các nước phát triển. Văn hố theo tiến trình lịch sử vận động và phát triển .
Có những sản phẩm văn hố ra đời là sự manh nha của văn hoá tương lai.
CáI mới cần phảI được nuôi dưỡng để ngày càng phát triển vững bền.
Các sản phẩm văn hoá là kết tinh của bản sắc văn hoá dân tộc cũng là một
hướng đầu tư . Bản sắc văn hoá dân tộc nếu thiếu sự quan tâm đầu tư có thể
bị mai một, suy yếu và nền văn hố hiện đại sẽ có thể mất cội rễ sâu xa của
mình khơng thể đứng vững trước những sự xâm lăng văn hố.
Câu 8. Hãy trình bày những nội dung cơ bản của phương thức quản lý nhà
nước về văn hoá và sự thể hiện các nội dung đó trong thực tiễn quản lý nhà
nước như thế nào?
1.quản lý văn hoá bằng pháp luật là phương thức quản lý tốt nhất
Luật pháp phải thực sự là công cụ của quản lý nhà nước về văn hoá và cơng

tác tư tưởng. Đó là việc ban hành hệ thống các văn bản pháp luật đối với các
hoạt động văn hoá để phát huy tác dụng của văn hoá tới sự hình thành nhân
cách, nâng cao chất lượng cuộc sống của con người, hạn chế những tiêu cực
mà thị trường văn hoá tạo ra. Xã hội hoá các hoạt động văn hố phải đi đơI
với u cầu quản lý bằng pháp luật.
Hiện nay ở nước ta vấn đề xây dựng và thi hành pháp luật đang là nhu cầu
cấp thiết của quản lý văn hoá. Các văn bản pháp luật về văn hố cịn thiếu,
gây khó khăn cho việc quản lý của lĩnh vực này. Chính sách cho văn hố
khơng thể thay thế luật pháp trong việc quản lý. Quản lý theo đúng luật sẽ
góp phần tích cực vào việc lập lại trật tự kỷ cương trong tình hình văn hố
xã hội hiện nay đang có nhiều lộn xộn và đang cần khẩn trương giảI quyết.
2.Quản lý văn hoá bằng các chương trình kế hoạch quốc gia về phát triển
văn hoá.


Chính sách văn hố là một tổng thể các ngun tắc hoạt động các chính sách
các cách làm thiết thực các phương pháp quản lý hành chính và phương
pháp ngân sách dùng làm cơ sở cho hoạt động văn hố.
Chính sách văn hố được hình thành như một chỉnh thể trong một q trình
tác động lẫn nhau giữa ba nhóm cộng đồng( cộng đồng văn hố, cộng đồng
cơng chúng cộng đồng chính trị) khơng thể chỉ đơn phương của một, hai
nhóm nào
3.Quảnlý văn hố bằng đầu tư tài chính cho văn hoá . Đầu tư cho văn hoá là
đầu tư cho sự phát triển . Văn hố có được đầu tư thì mới có điều kiện để
vận động phát triển, có điều kiện để góp phần vào sự tiến bộ chung của xã
hội. Đầu tư cho văn hoá để định hướng hỗ trợ cho các xu hướng văn hoá tiêu
biểu cho cộng đồng cho sức mạnh dân tộc, khởi đầu cho xu hướng văn hoá
tương lai. Đầu tư cho văn hoá với tư cách là một hoạt động sản xuất cũng
cần được tính tốn đến hiệu quả đầu tư. Cấp ngân sách cho văn hoá cũng
kèm theo những quy tắc như bất kỳ hoạt động tài chính nào khác khi yêu cầu

đặt ra phảI đạt tới mục tiêu quốc gia mà Đảng và nhà nước ta đã đặt ra.
4.Một trong những nhiệm vụ cấp bách của quản lý nhà nước về văn hoá hiện
nay là củng cố tổ chức tăng cường về đào tạo đội ngũ cán bộ, đổi mới hoạt
động của các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực này như một biện
pháp quan trọng để đổi mới nâng cao trình độ quản lý trước yêu cầu phát
triển của sự nghiệp văn hố trong cơng cuộc chấn hưng đất nước . Lý luận
và thực tiễn quản lý địi hỏi sự cần thiết phảI kết hợp tính ổn định và sự đổi
mới cán bộ quản lý ở tất cả các cấp.
Câu 9. Các ấn phẩm văn hoá nghe nhìn của nước ngồi đang thâm nhập vào
nước ta cùng với quá trình VN hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Tình hình
trên đặt ra những yêu cầu gì đối với công tác quản lý nhà nước về văn hoá.
Một điều bức xúc đang diễn ra khiến chúng ta phảI đặc biệt quan tâm trong
công tác quản lý nhà nước về văn hoá là những sản phẩm văn hoá độc hại
không phù hợp với truyền thống dân tộc đang được thâm nhập vào nước ta
bằng nhiều con đường khác nhau. Điều đó làm ơ nhiễm mơi trường văn hố
trong nước và làm phương hại đến mục tiêu mở rộng giao lưu quốc tế trên
lĩnh vực văn hoá của chúng ta. Ngành văn hố thơng tin đang tăng cường
phối hợp với các ngành khác để ngăn chặn kịp thời những sản phẩm văn hố
độc hại này để cho ngọn gió văn hố bên ngồi thổi vào ln trong lành và
bổ ích.
CHỉ có biết giữ gìn, khai thác và phát triển nâng cao bản sắc riêng của nền
văn hoá dân tộc thì mới có được giá trị bản thân trong tiếp xúc và đối thoại
với các nền văn hoá khác và cũng chỉ trên cơ sở đó mới tiếp thu được những
tinh hoa của văn hoá thế giới.


Trước tình hình thực tế của sự thâm nhập văn hố nước ngồi u cầu cơ
bản đặt ra ở đây là vừa tiếp thu được các giá trị thời đại của văn hố nước
ngồi làm giàu cho nền văn hố dân tộc vừa phảI ngăn chặn loại bỏ các sản
phẩm văn hoá tráI với thuần phong mỹ tục của dân tộc. Yêu cầu này quả

không phảI là đơn giản đối với cơng tác quản lý nhà nước về văn hố ở nước
ta hiện nay.
Một là nhà nước phảI chăm lo xây dựng nền văn hoá VN tiên tiến đậm đà
bản sắc dân tộc. Sự phát triển phong phú đa dạng hiện đại của nền văn hoá
Vn sẽ là chất đề kháng những văn hố ngoại lai khơng phù hợp thâm nhập
vào nước ta.
Hai là nhà nước có kế hoạch chỉ đạo các cơ quan có trách nhiệm: Bộ văn hố
thơng tin, HảI quan , bộ đội biênphòng.,.. đẩy mạnh các hoạt động kiểm
duyệt các sản phẩm văn hoá đưa vào nước ta , ngăn chặn loại bỏ các sản
phẩm văn hoá đưa vào nước ta, ngăn chặn loại bỏ các sản phẩm văn hố
khơng lành mạnh. Xử lý nghiêm mọi hành vi nhập lậu, lưu hành các sản
phẩm văn hoá độc hại.
Ba là trong điều kiện kinh tế thị trường và mở rộng giao lưu quốc tế cần phảI
hình thành hệ giá trị và chuẩn mực xã hội mới phù hợp bản sắc dân tộc và
yêu cầu của thời đại. Xây dựng gia đình văn hố phát huy trách nhiệm của
gia đình trong việc truyền thụ những giá trị văn hoá từ thế hệ này sang thế hệ
khác.
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC.
Câu 10. Vì sao giáo dục lại là vấn đề chiến lược đối với mọi quốc gia đặc
biệt đối với các nước đang phát triển.
Không phảI ngẫu nhiên mà người ta khẳng định rằng: sự phát triển con
người và giáo dục được coi là yếu tố quan trọng to lớn đối với sự tiến bộ
kinh tế xã hội. Đây là tư tưởng có thời Adam Smith và Denison đã nói: Tăng
trưởng thu nhập theo đầu người tiến bộ trong giáo dục sức khoẻ dinh dưỡng
và bảo vệ môi trường. Trên thực tế giáo dục là nhân tố rất cơ bản để biến đổi
lực lượng sản xuất là vấn đề chiến lược trong phát triển của mỗi quốc gia
nhất là trong thời đại tri thức là nhân tố quyết định tăng trưởng phát triển
kinh tế- xã hội.
Tầm quan trọng đặc biệt của giáo dục được thể hiện ở vai trò là động lực
phát triển kinh tế xã hội của nó. Một nền kinh tế xã hội muốn có sức mạnh

để phát triển cần tạo ra trình độ trí tuệ ngang tầm thời đại và nguồn chất xám
cũng như nhân lực kỹ thuật đủ trình độ để ln đổi mới nâng cao năng xuất
lao động, phát triển các hoạt động dịch vụ, nâng cấp các hoạt động văn hoá,
tinh thần…Điều này phụ thuộc vào giáo dục.


Nếu như trước đây giáo dục được coi là một lĩnh vực thuộc kiến trúc thượng
tầng xã hội, một lĩnh vực thụ hưởng kết quả của hoạt động sản xuất, kinh tế
như một thứ phúc lợi xã hội thì ngày nay giáo dục đã thay đổi vị thế của
mình trong sự phát triển tổng thể của quốc gia. Tác động của giáo dục đối
với sự phát triển kinh tế xã hội ngày càng trở nên mạnh mẽ và có thể tìm
thấy dấu ấn của sự tác động này ở khắp nơI, trên mọi sản phẩm mà con
người sáng tạo ra, bất cứ một tiến bộ kinh tế xã hội cũng đều có các yếu tố
cấu thành từ giáo dục. Với sự hiện hữu vơ hình như vậy, giáo dục thực sự là
một bộ phận đặc biệt của cơ sở hạ tầng làm tiền đề cho sự phát triển của tất
cả các lĩnh vực mà xã hội như chính trị, kinh tế, văn hố, an ninh quốc
phịng…đồng thời tạo ra sức mạnh bên trong to lớn thúc đẩy kinh tế xã hội
phát triển. Ngược lại các lĩnh vực kinh tế xã hội cũng có tác động ảnh hưởng
to lớn đến giáo dục. Có thể nói giáo dục vừa là mục tiêu vừa là động lực của
sự phát triển kinh tế xã hội, đồng thời sự phát triển kinh tế xã hội cũng là
mục tiêu và tạo ra sức mạnh cho giáo dục. Chính vì vậy giáo dục là bộ phận
hữu cơ quan trọng nhất trong chiến lược quy hoạch kế hoạch phát triển kinh
tế xã hội trong đó mục tiêu giáo dục phải được coi là mục tiêu quan trọng
nhất của sự phát triển.
Con người có trí tuệ là trung tâm của mọi sự phát triển là nguồn lực quyết
định nhất đối với sự phát triển kinh tế xã hội. Giáo dục là lĩnh vực tạo nên
những con người có đủ phẩm chất tâm lý trí tuệ đạo đức để tham gia vào quá
trình kinh tế. Giáo dục là lĩnh vực liên quan mật thiết tới sự phát triển bền
vững của mọi quốc gia. Vì vậy ở TQ Đặng Tiểu Bình đã nói: “ PhảI tìm mọi
cách để giải quyết tốt vấn đề giáo dục cho dù ở các mặt khác phảI nhẫn nại

một chút, thậm chí hy sinh một chút về tốc độ”. Nhật Bản đã nhiều lần cảI
cách giáo dục theo hướng hiện đại hoá và nhân văn hoá. Nước Mỹ cũng
đang thực thi một chiến lựoc giáo dục mới nhằm khắc phục những yếu kém
của mình, nâng cao trình độ học vấn( giáo dục phổ cập 13 và 14 năm) để mở
rộng cửa các trường đại học cho tất cả người Mỹ đào tạo đội ngũ giáo viên
tốt nhất coi giáo dục là vấn đề an ninh quốc gia tối quan trọng
Câu 11:
Vì sao phảI xã hội hố giáo dục . Cần phảI làm gì để thực hiện xã hội hoá
giáo dục
Xã hội hoá gjáo dục là một kháI niệm đã được phát triển lên trình độ mới ,
với những điều kiện mới mà thực ra nó đã có nguồn gốc truyền thống tốt đẹp
của dân tộc:truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo
Nghị quyết ĐH Dảng 9 nhấn mạnh việc thực hiện “chủ trương XHHGD” “
đảy mạnh XHHGD” và đánh giá việc dầu tư đổi mới cơ chế quản lý và thực
hiện XHH trong lĩnh vực này triển khai chậm


Thực ra vấn đề huy động cộng đồng tham gia cơng tác giáo dụclà một kinh
nghiẹm mang tính phổ biến của thế giới và khu vực . Tìn hiểu về nội dung
hình thức hoạt đọng “XHHGD” ở nhiều nước có thấy tập chung vào các vấn
đề tạo cơ hội và mơI trường học tập cho mọi người đa dạng hố các loại hình
đào tạo tham gia góp phần cho giáo dục về tài chính cộng đồng tham gia
trực tiếp vồ việc giáo dục trẻ em và giảI quyết các vấn đề và phát triển giáo
dục các lực lượng xã hội có thể tham gia vào quản lý giáo dục,
Trên cơ sở những quan điểm của Đảng lý luận về xã hội hoá giáo dục và các
cá thể hoá, thực tiễn huy động sự tham gia của toàn xã hội vào công tác giáo
dục ở nước ta và kinh nghiệm của một số nước khác, cần nhận dạng cho
đúng bản chất của vấn đề XHHGD.
Có thể định nghĩa XHHGD là huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên
các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản

lý của nhà nước. Đây là một định nghĩa rất cơ bản và rõ ràng, nói rõ đối
tượng nội dung và cơ chế hoạt động. Đó là việc lơI cuốn thu hút, khích lệ
tồn xã hội và mọi tầng lớp nhân dân tham gia giáo dục. Người ta hiểu toàn
xã hội theo nghĩa cơ cấu mọi mặt mọi tổ chức mọi yếu tố của cơ cấu xã hội:
chính trị, kinh tế xã hội, mọi ngành, mọ cấp, mọi lĩnh vực kinh tế xã hội, kể
cả lực lượng vũ trang. Người ta cũng hiểu mọi tầng lớp nhân dân là mọi lứa
tuổi, giới tính tín ngưỡng, giai cấp xã hội, cả cộng đồng và cá nhân trong và
ngồi nước.
Việc huy động và động viên đó mang tính chất đó là những phong trào quần
chúng vì thực sự đây là sự tập hợp lực lượng tập trung các sức mạnh theo
tinh thần giáo dục là sự nghiệp của quần chúng, giáo dục là của dân, do dân
và vì dân, đồng thời bảo đảm một cơ chế hợp lý đầy tính thực tiễn là dưới sự
quản lý của nhà nước. Điều đó có nghĩa là xác định vai trị của xã hội, của
nhân dân và vai trò của nhà nước trong từng trách nhiệm, kể cả sự đầu tư
ngân sách .
Sự cần thiết phảI XHHGD được thể hiện ở một số khía cạnh :
-XHHGD góp phần nâng cao tính chất nhân dân, bản sắc dân tộc của nền
giáo dục nước ta, tiếp tục khẳng định chân lý giáo dục là sự nghiệp của quần
chúng, đề cao một nền giáo dục của dân, do dân và vì dân. Nó cũng là cơ hội
giáo dục quần chúng, qua thực tiễn nhằm nâng cao trình độ và năng lực giáo
dục và tự giáo dục của mỗi người dân, của mỗi tổ chức và lực lượng tham
gia vào sự nghiệp .
-XHHGD sẽ tạo ra một “ xã hội học tập” vừa phát huy truyền thống của dân
tộc ta- một dân tộc hiếu học- thực hiện “ ai cũng được học hành” và phù hợp
với xu hướng của thời đại “ học tập thường xuyên”, “học tập suốt đời”, giáo
dục cho mọi người. Nó góp phần nâng cao dân trí đào tạo nhân lực và bồi
dưỡng nhân tài cho đất nước.


-XHHGD sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, phát huy

hiệu quả xã hội của giáo dục. Sự tham gia của xã hội góp phần cụ thể hố
mục tiêu giáo dục thích hợp với u cầu phát triển kinh tế xã hội của đất
nước và từng địa phương, góp phần mở rộng nội dung giáo dục cho sát với
cuộc sống, xây dựng nên những môI trường thuận lợi cho việc giáo dục và
đào tạo con người, tăng cường lực lượng của người dạy và người học, phát
triển yếu tố nội sinh là chính con người trong giáo dục tạo nhanh điều kiện
vật chất và tinh thần để nâng cao chất lượng giáo dục.
-XHHGD góp phần làm cho giáo dục phục vụ những mục tiêu phát triển
kinh tế xã hội của đất nước địa phương. Giáo dục và kinh tế xã hội vốn có
những mối quan hệ manh tính quy luật. Sự tham gia của xã hội ở tầm vĩ mô
cũng như vi mô vào giáo dục sẽ làm cho giáo dục gắn với mọi mặt của đất
nước và từng địa phương, nhà trường sẽ gắn với xã hội hoá giáo dục gắn với
cộng đồng, phát triển bằng sức mạnh của cộng đồng và vì những mục tiêu
của cộng đồng.
-XHHGD là con đường để thực hiện dân chủ hố giáo dục. Hai phạm trù này
có mối quan hệ rất biện chứng. Nhờ dân chủ hoá mà mở rộng lực lượng xã
hội tham gia giáo dục và ngược lại, xã hội hố chính là con đường là hình
thức để thực hiện dân chủ hoá giáo dục, một mục tiêu phấn đấu của giáo dục
hiện đại và của giáo dục cách mạng nước ta. Con đường cách thức, hình thức
đó là : huy động, đơng viên sự tham gia của đông đảo các lực lượng xã hội
làm giáo dục.
Tổ chức phối hợp làm nên sức mạnh tổng hợp đẩy mạnh giáo dục, tạo nên
thế và lực mới cho giáo dục bằng những yếu tố nội sinh.
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ Y TẾ
Câu 3. Hiểu về nội dung đa dạng hoá việc cung ứng các dịch vụ y tế như thế
nào? NN nên có những chính sách gì để khuyến khích tính hiệu quả của vấn
đề này?
Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã chỉ ra “ các vấn đề chính
sách xã hội đều giải quyết theo tinh thần xã hội hoá”. Cho đến nay xã hội
hoá là một tư tưởng chiến lược được quán triệt thực hiện trong nhiều lĩnh

vực trong đó có lĩnh vực y tế.
Trong nội dung xã hội hoá y tế, người ta nhấn mạnh nội dung đa dạng hoá
việc cung ứng các dịch vụ y tế. Việc cung ứng các dịch vụ y tế bao gồm hai
nội dung : cung ứng dịch vụ khám chữa bệnh và việc sản xuất cung ứng
dược phẩm. Như vậy đa dạng hoá việc cung ứng các dịch vụ y tế chính là
tạo lập, phát triển nhiều hình thức, nhiều loại hình, nhiều chủ thể thuộc các
thành phần kinh tế trong việc cung cấp các dịch vụ khám chữa bệnh, sản


xuất và cung ứng dược phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu bảo vệ chăm sóc sức
khoẻ của nhân dân.
Đa dạng hố việc cung ứng các dịch vụ y tế có ý nghĩa hết sức quan trọng để
góp phần đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của nhân dân. Đa dạng hố
các loại hình cũng có nghĩa đa dạng hố các khả năng tiếp cận các dịch vụ y
tế. Sự đa dạng này góp phần tạo ra cơ chế cạnh tranh y tế để hướng tới phục
vụ tốt hơn nhu cầu bảo vệ chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Việc đa dạng hố
này nếu được quản lý tốt sẽ có ý nghĩa quan trọng trong nâng cao chất lượng
dịch vụ y tế.
Nội dung đa dạng hoá việc cung ứng các dịch vụ y tế quan trọng nhất là các
loại hình cung ứng. Các loại hình gắn với các chủ sở hữu khác nhau.
#Các chính sách để đẩy mạnh đa dạng hố việc cung ứng dịch vụ y tế:
-Chính sách tun truyền, giáo dục động viên phổ biến về nội dung đa dạng
hoá việc cung ứng các dịch vụ y tế để cộng đồng nhận thức rõ được ý nghĩa
tầm quan trọng của vấn đề này.
-Chính sách khuyến khích ưu đãI cho các đối tượng tham gia công tác cung
ứng các dịch vụ y tế. Các chính sách này cần thiết thực và phảI được thực
hiện nghiêm túc bởi các cơ quan có trách nhiệm. Các chính sách khuyến
khích ưu đãI có thể bao gồm rất nhiều nội dung: giảm thuế( thuế môn bài,
thuế thu nhập…), ưu đãi về tiền thue đất, ưu đãi về tín dụng vốn vay…Bên
cạnh chính sách khuyến khích về vật chất có thể và cần kèm theo các khuyến

khích về tinh thần tạo động cơ tháI độ tích cực trong các đối tượng.
-Nhà nước cần giảm bớt các thủ tục phiền hà trong việc cấp giấy phép, tránh
mọi sự ách tắc không cần thiết trong giải quyết giấy tờ cấp phép ( Bắc Ninh
mở một cửa hàng dược thời gian giảI quyết có khi đến 3 tháng- Báo nhân
dân ngày 16/7/2000)
Câu 4: Những vấn đề nổi cộm trong cung cấp kinh phí cho y tế là gì? Phân
tích và nêu giảI pháp.
Y tế là một lĩnh vực có vị trí quan trọng trong quản lý nhà nước bởi nó liên
quan trực tiếp đến vấn đề chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân. Sức khoẻ là một
trong ba yêu cầu đối với con người trong công nghiệp hố, hiện đại hố. Vì
vậy đầu tư cho y tế có ý nghĩa rất quan trọng đối với chất lượng nguồn lực
con người.
Về nguồn đầu tư cho y tế hiện nay ngồi nguồn đầu tư từ ngân sách nhà
nước cịn từ các hoạt động của chính ngành y tế( viện phí), viện trợ của các
tổ chức quốc tế, nguồn động viên từ các cộng đồng trong và ngoài nước.
Vấn đề cung cấp kinh phí chi y tế có ý nghĩa to lớn trong việc nâng cao quy
mô, chất lượng hoạt động y tế để có thể đáp ứng tốt hơn nhu cầu chăm sóc


và bảo vệ sức khoẻ của nhân dân. Song đây cũng là một nội dung mà hiện
nay có nhiều nổi cộm cần tháo gỡ.
Trước hết trong chi tiêu của Chính phủ tỷ lệ đầu tư cho y tế còn tương đối
thấp. So sánh với các nước trong khu vực cũng đủ cho thấy kinh phí cho y tế
của nước ta chưa có được tỷ lệ xứng đáng. Đây chính là một lý do để giải
thích tại sao cơ sở vật chất kỹ thuật của y tế nước ta còn nghèo lạc hậu.
Với nguồn kinh phí cho y tế cịn hạn hẹp nhưng vấn đề phân bổ kinh phí như
thế nào thì cũng là một cấn đề phức tạp. Hiện nay chúng ta đang thực hiện
phân bổ kinh phí y tế theo đầu người dân. Cơ chế phân bổ kinh phí này thật
ra không bảo đảm công bằng giữa các khu vực. ở những vùng khó khăn,
vùng sâu, vùng xa dân cư thưa thớt cần đầu tư nhưng quy theo đầu người

dân thì kinh phí lại q ít ỏi. ở những vùng đơng dân phát triển có điều kiện
đa dạng hố việc cung ứng dịch vụ y tế lại có cơ hội nhận được nguồn kinh
phí lớn. Để giải quyết vấn đề chúng ta có thể thực hiện giải pháp tạm thời
vẫn phân bố kinh phí theo đầu người dân nhưng có hệ số khu vực. Về lâu dài
chúng ta cần thực hiện nhiều chính sách khác: chính sách di dân, định canh
định cư.
Kinh phí đầu tư cho y tế ít ỏi nhưng sử dụng kém hiệu quả cịn để tình trạng
thất thốt kinh phí. Cũng như việc thực hiện nhiều dự án đầu tư kinh tế xã
hội khác, các dự án đầu tư cho y tế có khơng ít dự án không đáp ứng được
mong đợi của người dân, ngân sách nhà nước bị “ rút ruột”. Để khắc phục
hiện trạng này cần thiết phảI tăng cường kiểm tra giám sát việc thực hiện các
dự án y tế với nhiều chủ thể từ phía nhà nước, nhân dân.
Vốn viện trợ của các tổ chức quốc tế cho y tế đều do nhà nước tiếp nhận
( trực tiếp quản lý là Bộ y tế) viện trợ phi dự án do bộ tài chính tiếp nhận và
điều phối. Cần phảI có một cơ chế phối hợp giữa Bộ Y Tế và Bộ Tài ChínhBộ kế hoạch đầu tư để sử dụng có hiệu quả các nguồn viện trợ này. Tuy
nhiên cho đến nay cơ chế này chưa được thực hiện nghiêm túc mọi sự ràng
buộc còn lỏng lẻo, mơ hồ dường như chỉ dừng lại trên danh nghĩa.
Câu 5. Tại sao lại cho rằng BHYT có vai trị quan trọng trong việc cung cấp
tài chính cho chi tiêu y tế. Hãy nêu tình hình thực hiện BHYT VN hiện nay
và những giảI pháp cần thiết của nhà nước để nâng cao hiệu quả sử dụng.
BHYT do nhà nước thực hiện nhằm huy động sự đóng góp của người sử
dụng lao động, người lao động, các tổ chức và cá nhân để thanh tốn chi phí
khám chữa bệnh theo quy định của điều lệ BHYT cho người có thẻ BHYT
khi ốm đau.
BHYT có vai trị quan trọng trong việc cung cấp tài chính cho chi tiêu y tế.
Theo Nghị định số 58/ 1998/NĐ- CP quỹ bảo hiểm y tế hiện được sử dụng
86.5% cho khám chữa bệnh trong đó 50 % chi cho KCB nội trú; 45% chi


cho KCB ngoại trú; 5% chi cho chăm sóc sức khoẻ ban đầu. Những người

tham gia BHYT được thanh toán tồn bộ chi phí KCB tại các cơ sở có hợp
đồng với BHYT nhưng phải tuân theo các quy định về chuyển tuyến kỹ
thuật.
BHYT đã trở thành nguồn đóng góp đáng kể cho ngân sách y tế. Theo
Nguyễn Quan ấn (2001)nguồn kinh phí từ BHYT từ chỗ chỉ đóng góp 58 tỷ
đồng bằng 4,7%cho tổng chi tiêu KCB năm 1993 đến năm 1997 đã đóng góp
520 tỷ đồng bằng 22%cho tổng chi tiêu KCB.
Dưới góc độ cơng bằng BHYT hiện tại mới chỉ bao phủ chủ yếu những
người có cơng ăn việc làm chính thức. Trên thực tế so với các thành phần
khác trong xã hội những người đó lại là những người có thu nhập ổn định và
tương đối cao. Phần đơng dân số cịn lại là nơng dân và những người khơng
có cơng ăn việc làm chính thức và là những người khơng có nguồn thu nhập
ổn định hoặc thu nhập thấp lại không được bao phủ BHYT. Những người
này là “ nhóm yếu thế” trong xã hội về phương diện công bằng lẽ ra phải là
những người cần được bảo vệ nhất.



×