Tải bản đầy đủ (.doc) (57 trang)

Báo cáo thực tập chuyên đề vốn và hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Thăng Long

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (414.52 KB, 57 trang )

Báo cáo thực tập chuyên đề “Vốn và hiệu quả sử dụng vốn”

CHƯƠNG 1 :
VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP

1.1. VỐN TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH
NGHIỆP
1.1.1. Vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, để tiến hành hoạt động sản xuất kinh
doanh, các doanh nghiệp cần phải có các yếu tố cơ bản sau: Sức lao động,
đối tượng lao động và tư liệu lao động. Để có được các yếu tố này đòi hỏi
doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn nhất định phù hợp với quy mô và điều
kiện kinh doanh.
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp thường xuyên vận động và chuyển
hóa từ hình thái ban đầu là tiền chuyển sang hình thái hiện vật và cuối cùng
lại trở về hình thái ban đầu là tiền. Sự vận động của vốn kinh doanh như vậy
được gọi là sự tuần hoàn của vốn. Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp diễn ra liên tục, khơng ngừng. Do đó, sự tuần hoàn của
vốn kinh doanh cũng diễn ra liên tục, lặp đi lặp lại có tính chất chu kỳ tạo
thành sự chu chuyển của vốn kinh doanh. Sự chu chuyển của vốn kinh
doanh chịu sự chi phối rất lơn bởi đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của ngành
kinh doanh.
Từ những phân tích trên có thể rút ra khái niệm của vốn kinh doanh.
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ
giá trị tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh
nhằm mục đích sinh lời.
Căn cứ vào đặc điểm của vốn, có thể chia vốn kinh doanh thành 2
loại: Vốn cố định và vốn lưu động.
1.1.2.Phân loại vốn
1.1.2.1.Vốn cố định
a. Khái niệm


Vốn cố định của doanh nghiệp được hiểu một cách khái quát là lượng
tiền ứng trước để đầu tư cho các tài sản cố định và các khoản đầu tư dài hạn
phục vụ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Bất kỳ một doanh

1


Báo cáo thực tập chuyên đề “Vốn và hiệu quả sử dụng vốn”

nghiệp nào muốn tiến hành sản xuất – kinh doanh được cũng phải có đủ
những yếu tố cơ bản như đã nêu trên.
Trong đó tư liệu lao động là điều kiện vật chất không thể thiếu được
trong quá trình hoạt động sản xuất – kinh doanh, nó góp phần quyết định đến
năng suất lao động. Tư liệu lao động trong các doanh nghiệp bao gồm những
công cụ lao động mà thông qua chúng người lao động sử dụng lao động của
mình tác động vào đối tượng lao động để tạo ra sản phẩm (máy móc thiết bị,
cơng cụ làm việc…) và những phương tiện làm việc cần thiết cho quá trình
hoạt động sản xuất – kinh doanh bình thường ( như nhà xưởng, cơng trình
kiến trúc…)
Để thuận tiện cho việc quản lý tài sản và công tác hạch toán kế toán
người ta chia tư liệu lao động thành hai bộ phận: tài sản cố định và công cụ
lao động nhỏ.
Tài sản cố định là những tư liệu lao động chủ yếu có giá trị lớn và thời
hạn sử dụng lâu. Về mặt thời gian sử dụng thì hầu hết các quốc gia đều áp
dụng là trên một năm, về mặt giá trị thì tùy thuộc vào mỗi quốc gia vận dụng
cho phù hợp trong từng giai đoạn nhất định.
Tài sản cố định của doanh nghiệp có thể chia thành hai loại:
- Tài sản hữu hình là những tài sản có hình thái vật chất cụ thể như
nhà xưởng, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải … trực tiếp hoặc gián tiếp
phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

- Tài sản vơ hình là những tài sản khơng có hình thái vật chất cụ thể
như chi phí để mua bằng phát minh, sáng chế, bản quyền tác giả…
Ngoài ra, những tư liệu lao động nào mà khơng hội đủ điều kiện nói
trên được gọi là công cụ lao động nhỏ và do doanh nghiệp có nguồn vốn lưu
động tài trợ.
Tài sản cố định là những tư liệu lao động chủ yếu, có thời gian sử
dụng lâu và có giá trị đơn vị lớn. Đặc điểm chung nhất của chúng là tham
gia vào nhiều chu kỳ sản xuất và khơng thay đổi hình thái vật chất ban đầu.
Trong q trình đó tài sản cố định bị hao mòn dần và giá trị giảm dần tương
ứng, phần giá trị này được chuyển dịch vào giá trị sản phẩm mới mà nó tham
gia sản xuất ra.
Ngày nay, khi khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, khái
niệm về tài sản cố định cũng được mở rộng ra gồm cả những tài sản cố định
vơ hình. Các tài sản này thông thường là bằng phát minh sáng chế, nhãn hiệu
thương mại, uy tín, vị trí của doanh nghiệp… Khi mà nền kinh tế thị trường
càng phát triển thì tỉ trọng của các tài sản cố định vơ hình ngày càng lớn.
2


Báo cáo thực tập chuyên đề “Vốn và hiệu quả sử dụng vốn”

b. Các đặc điểm chu chuyển vốn cố định
Trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh, vốn cố định thực
hiện chu chuyển giá trị của nó. Sự chu chuyển này của vốn cố định chịu sự
chi phối rất lớn bởi đặc điểm kinh tế kỹ thuật của tài sản cố định. Có thể
khái quát những đặc điểm chủ yếu của chu chuyển của vốn cố định trong
quá trình kinh doanh của doanh nghiệp như sau:
Trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh, vốn cố định chu
chuyển giá trị dần dần từng phần và được thu hồi giá trị từng phần sau mỗi
chu kỳ kinh doanh.

Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ kih doanh mới hồn thành một
vịng chu chuyển.
Trong q trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, tài sản
cố định hao mòn, giá trị của tài sản cố định chuyển dần dần từng phần vào
giá trị sản phẩm. Theo đó, vốn cố địn cũng được tách thành hai phần: một
phần sẽ gia nhập vào chi phí sản xuất ( dưới hình thức chi phí khấu hao )
tương ứng với phần hao mòn của tái sản cố định. Phần còn lại của vốn cố
định được “cố định” trong tài sản cố định. Trong các chu kỳ sản xuất tiếp
theo, nếu như phần vốn luân chuyển được dần dần tăng lên thì phần vốn “cố
định” lại dần dần giảm đi tương ứng với mức giảm dần giá trị sử dụng của
tài sản cố định. Kết thúc sự biến thiên nghịch chiều đó cũng là lúc tài sản cố
định hết thời gian sử dụng và vốn cố định hồn thành một vịng chu chuyển.
- Vốn cố định chỉ hồn thành một vịng chu chuyển khi tái sản xuất
được tài sản cố định về mặt giá trị - tức là ki thu hồi đủ tiền khấu hao tài sản
cố định.
c. Vai trò của vốn cố định trong doanh nghiệp
Vốn cố định là một bộ phận quan trọng của vốn kinh doanh. Việc tăng
thêm vốn cố định trong các doanh nghiệp nói riêng và trong các ngành nói
chung có tác động lớn đến việc tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh
nghiệp. Do giữ vị trí then chốt và đặc điểm vận động của vốn cố định tuần
theo tính quy luật riêng, nên việc quản lý vốn cố định được coi là một trọng
điểm của cơng tác quản lý tài chính doanh nghiệp. Để quản lý sử dụng vốn
cố định có hiệu quả cần nghiên cứu về khấu hao tài sản cố định và các
phương pháp khấu hao tài sản cố định.

3


Báo cáo thực tập chuyên đề “Vốn và hiệu quả sử dụng vốn”


1.1.2.2.Vốn lưu động
a. Khái niệm
Để tiến hành sản xuất kinh doanh ngoài các tư liệu lao động như máy
móc, thiết bị, nhà xưởng, phương tiện vận tải… Các doanh nghiệp còn cần
các đối tượng lao động như nguyên nhiên vật liệu, sản phẩm dở dang, bán
thành phẩm…
Khác với tư liệu lao động, các đối tượng lao động chỉ tham gia vào
một chu kỳ sản xuất và không giữ ngun hình thái vật chất ban đầu, giá trị
của nó được dịch chuyển toàn bộ, một lần vào giá trị sản phẩm.
Những đối tượng lao động nói trên nếu xét về hình thái hiện vật được
gọi là các tài sản lưu động, cịn về hình thái giá trị được gọi là vốn lưu động
của donh nghiệp.
Vốn lưu động là vốn ứng ra để có được tài sản lưu động, là biểu hiện
bằng tiền của tài sản lưu động. Trong nền kinh tế, vốn lưu động khơng chỉ
ứng ra để có các tài sản lưu động mà còn ứng ra để mua sức lao động, một
yếu tố cơ bản của mọi q trình sản xuất. Do đó vốn lưu động của một
doanh nghiệp bao gồm cả giá trị tài sản lưu động và cả chi phí về thuê mướn
sức lao động.
Đặc điểm: Đặc điểm vận động của vốn lưu động là trong một chu kỳ
kinh doanh, nó chuyển tồn bộ giá trị một lần vào sản phẩm tiêu thụ và được
thu hồi khi doanh nghiệp bán được hàng thu được tiền - Vịng tuần hồn của
vốn lưu động trong sản xuất diễn ra như sau:
T- H .....SX... H'- T'.
Trong ngành thương mại tuần hồn đó là:

T - H - T'

+ Đối với doanh nghiệp sản xuất, vốn lưu động từ hình thái ban đầu
là tiền được chuyển hố sang hình thái vật tư dự trữ, và tiếp tục chuyển hoá
lần lượt sang hình thái sản phẩm dở dang, thành phẩm hàng hố và khi kết

thúc q trình tiêu thụ lại trở về hình thái ban đầu là tiền.
+ Đối với doanh nghiệp thương mại thì sự vận động của vốn lưu động
nhanh hơn từ hình thái tiền chuyển sang hình thái hàng hố và lại chuyển
hố về hình thái tiền tệ.
Q trình này được diễn ra liên tục và thường xuyên lặp lại theo chu
kỳ được gọi là quá trình tuần hồn, vì thế sự tuần hồn. của vốn lưu động
cũng diễn ra liên tục lặp đi lặp lại có tính chất chu kỳ tạo thành sự chu
chuyển của vốn lưu động.

4


Báo cáo thực tập chuyên đề “Vốn và hiệu quả sử dụng vốn”

Trong quá trình kinh doanh, tài sản lưu động thay đổi hình thái khơng
ngừng. Do đó tại một thời điểm nhất định vốn lưu động cùng tồn tại dưới
các hình thức khác nhau trong các giai đoạn mà vốn đi qua
b. Phân loại vốn lưu động
Vốn lưu động là một bộ phận quan trọng trong tổng số vốn sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp, hiệu quả sử dụng vốn lưu động có liên quan
đến hiệu quả sử dụng toàn bộ vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do
đó doanh nghiệp ln phải coi trọng việc quản lý vốn lưu động.
Để quản lý, sử dụng vốn lưu động có hiệu quả thì cơng việc trước tiên
mà doanh nghiệp cần phải làm là phân loại vốn lưu động. Tùy thuộc vào
những hoạt động của mình mà doanh nghiệp sẽ lựa chọn việc phân chia vốn
lưu động theo các tiêu thức khác nhau. Mỗi cách phân loại vốn vốn lưu động
đều mang một ý nghĩa riêng song mục đích chung của việc phân loại vốn lưu
động là giúp doanh nghiệp quản lý, sử dụng vốn lưu động có hiệu quả.
Có các cách để phân loại vốn lưu động trong doanh nghiệp sau đây:
• Phân loại theo vai trị từng loại vốn lưu động trong quá trình sản xuất

kinh doanh:
Theo cách phân loại này vốn lưu động của doanh nghiệp có thể chia
làm 3 loại sau:
- Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất: bao gồm giá trị các khoản
nguên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu động lực, phụ tùng thay thế,
công cụ lao động nhỏ.
- Vốn lưu động trong khâu sản xuất: bao gồm các khoản giá trị sản
phẩm dở dang, bán thành phẩm, các khoản chi phí chờ phân bổ.
- Vốn lưu động trong khâu lưu thông: bao gồm các khoản giá trị thành
phẩm, vốn bằng tiền (kể cả vàng ,bạc, đá quý …). Các khoản thế chấp kỹ
quý, ký cược ngắn hạn, các khoản vốn trong thanh toán (những khoản phải
thu và tạm ứng…)
Việc phân loại vốn lưu động theo phương pháp này giúp cho việc xem
xét, đánh giá tình hình phân bổ vốn lưu động trong các khâu của quá trình
chu chuyển vốn lưu động trong doanh nghiệp. Từ đó đề ra các biện pháp tổ
chức quản lý thích hợp nhằm tạo ra một kết cấu vốn lưu động hợp lý và tăng
được tốc độ chu chuyển của vốn lưu động.

5


Báo cáo thực tập chuyên đề “Vốn và hiệu quả sử dụng vốn”



Phân loại theo hình thái biểu hiện của vốn:

Theo cách phân loại này có thể chia vốn lưu động thành 2 loại: vốn
bằng tiền và vốn vật tư hàng hoá.
- Vốn bằng tiền và các khoản phải thu: bao gồm các khoản vốn tiền tệ

như tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển và các khoản phải
thu. Các khoản phải thu chủ yếu là các khoản phải thu của khách hàng, ngồi
ra cịn có các khoản tạm ứng, các khoản phải thu nội bộ…
- Vốn vật tư hàng hố: để đảm bảo cho q trình sản xuất kinh doanh
được tiến hành thường xuyên, đòi hỏi doanh nghiệp phải chuẩn bị một lượng
vật tư hàng hoá dự trữ nhất định. Trong các doanh nghiệp sản xuất, vật tư
hàng hoá dự trữ bao gồm: nguyên liệu, vật liệu, cơng cụ dụng cụ, sản phẩm
dở dang. Cịn trong các doanh nghiệp thương mại, vật tư hàng hoá dự trữ là
các sản phẩm, hàng hoá đã mua về để chuẩn bị cho tiêu thụ.
Cách phân loại giúp này cho doanh nghiệp có cơ sở để tính tốn, kiểm
tra kết cấu tối ưu của vốn lưu động. Thơng qua đó doanh nghiệp có thể tìm
các biện pháp phát huy các chức năng của các thành phần vốn lưu động,
bằng cách xác định mức dự trữ hợp lý để từ đó xác định nhu cầu vốn vốn lưu
động.


Phân loại theo quan hệ sở hữu về vốn:
Theo tiêu thức này, vốn lưu động chia làm hai loại:

- Vốn chủ sở hữu: là số vốn lưu động thuộc quyền sở hữu của doanh
nghiệp, Doanh nghiệp có đủ các quyền chiếm hữu, chi phối và định đoạt.
Tuỳ theo loại hình, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau mà
vốn chủ sở hữu có nội dung cụ thể riêng như: vốn đầu tư từ ngân sách nhà
nước, vốn do chủ doanh nghiệp bỏ ra, vốn góp cổ phần, vốn tự bổ sung...
- Các khoản nợ: là các khoản nợ được hình thành từ vốn vay các ngân
hàng thương mại hay tổ chức tài chính khác, vốn vay thơng qua phát hành
trái phiếu, các khoản nợ khách hàng chưa thanh toán.
Bằng cách phân loại nay cho thấy kết cấu vốn lưu động của doanh
nghiệp được hình thành bằng vốn của chủ doanh nghiệp và vốn từ các khoản
vay nợ, để xem xét năng lực tự tài trợ và tính tự chủ về tài chính của doanh

nghiệp.


Phân loại theo nguồn hình thành:
Vốn kinh doanh được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau:

6


Báo cáo thực tập chuyên đề “Vốn và hiệu quả sử dụng vốn”

- Nguồn vốn điều lệ: vốn lưu động được hình thành từ nguồn vốn điều
lệ ban đầu khi mới thành lập doanh nghiệp hoặc nguồn vốn điều lệ bổ sung
trong quá trình sản xuất kinh doanh.
- Nguồn vốn tự bổ sung: do doanh nghiệp tự bổ sung trong quá trình
sản xuất kinh doanh từ lợi nhuận của doanh nghiệp được tái đầu tư .
- Nguồn vốn liên doanh, liên kết: được hình thành từ vốn góp liên
doanh của các bên tham gia doanh nghiệp liên doanh. Vốn góp liên doanh có
thể bằng tiền mặt hoặc hiện vật là vật tư hàng hoá...
- Nguồn vốn đi vay: vay của các ngân hàng thương mại, vay bằng
phát hành trái phiếu doanh nghiệp như đã nêu ở phần trên.
Việc chia vốn lưu động theo nguồn hình thành giúp cho doanh nghiệp
thấy được cơ cấu nguồn tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động trong kinh doanh.
Từ góc độ quản lý tài chính mọi nguồn tài trợ đều có chi phí sử dụng của nó,
do đó doanh nghiệp cần xem xét cơ cấu nguồn tài trợ tối ưu để giảm thấp chi
phí sử dụng của mình.
c. Vai trị của vốn lưu động trong hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp
Vốn lưu động là yếu tố không thể thiếu trong kinh doanh - Vốn lưu
động có các vai trị quan trọng sau:

- Nếu như vốn cố định đảm bảo cho doanh nghiệp có các tư liệu lao
động cần thiết cho sản xuất, thì vốn lưu động đảm bảo hai yếu tố quan trọng
khác cho sản xuất kinh doanh là đối tượng lao động và sức lao động.
- Vốn lưu động trong doanh nghiệp là loại vốn ln ln đảm bảo cho
khả năng thanh tốn của doanh nghiệp. Chẳng hạn khi bán hàng chưa thu
được tiền, doanh nghiệp phải sử dụng vốn lưu động nộp thuế, trả lương cho
công nhân, ứng trước cho nhà cung cấp, thanh toán tiền mua hàng cho khách
hàng, trả nợ cho ngân hàng...
Trong nền kinh tế thị trường, đảm bảo được khả năng thanh toán đúng
hạn là một yêu cầu đặc biềt quan trọng của doanh nghiệp. Nó nói lên tình
hình tài chính của doanh nghiệp ổn định, uy tín của doanh nghiệp đối với
khách hàng...
- Vốn lưu động được quản lý và sử dụng tốt, đẩy nhanh vòng quay của
vốn nó khơng những góp phần tạo ra nhiều sản phẩm cho doanh nghiệp và
cung cấp cho xã hội, mà cịn góp phần năng cao doanh lợi của doanh nghiệp
để làm nghĩa vụ và tăng tích luỹ cho doanh nghiệp.

7


Báo cáo thực tập chuyên đề “Vốn và hiệu quả sử dụng vốn”

d. Nhu cầu vốn lưu động
Nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp là thẻ hiện số vốn tiền tệ cần
thiết doanh nghiệp phải trực tiếp ứng ra để hình thành một lượng dự trữ hàng
tồn kho và khoản cho khách hàng nợ sau khi đã sử dụng khoản tín dụng của
nhà cung cấp, có thể xác định theo công thức sau:
Số vốn lưu động doanh nghiệp trực tiếp ứng ra tùy thuộc vào nhu cầu
vốn lưu động lớn hay nhỏ trong từng thời kỳ kinh doanh. Trong công tác
quản lý vốn lưu động, một vấn đề quan trọng là phải xác định được nhu cầu

vốn lưu động thường xuyên cần thiết để tương ứng với một quy mô và điều
kiện kinh doanh nhất định.
Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết tối thiểu là số vốn tính
ra phải đủ để đảm bảo cho q trình tái sản xuất được tiến hành một cách
liên tục. Đồng thời phải thực hiện chế độ tiết kiệm một cách hợp lý.
Trong điều kiện hiện nay, mọi nhu cầu vốn lưu động cho hoạt động
kinh doanh các doanh nghiệp đều phải tự tài trợ. Do đó, việc xác định đúng
đắn và hợp lý nhu cầu vốn lưu động thường xuyên càng có ý nghĩa quan
trọng bởi vì:
- Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết dược xác định đúng
đắn và hợp lý là cơ sở để tổ chứ tốt các nguồn tài trợ.
- Đáp ứng kịp thời đầy đủ vốn lưu động cho hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp tiến hành bình thường và liên tục. Nếu nhu cầu vốn lưu động
xác định quá thấp sẽ gây nhiều khó khăn cho công tác tổ chức đảm bảo vốn,
gây căng thẳng giả tạo về vốn, làm gián đoạn quá trình tái sản xuất của
doanh nghiệp. Mặt khác, cịn có thể gây ra những tổn thất như sản xuất bị
đình trệ, khơng đủ vốn thực hiện các hợp đồng kinh tế đã ký kết, khơng có
khả năng trả nợ người lao động và trả nợ nhà cung cấp khi đến hạn thanh
toán, làm giảm và mất uy tín với bạn hàng.
Những khó khăn về tài chính chỉ có thể giải quyết bằng vay đột xuất
với lãi suất cao. Điều này làm tăng rủi ro tài chính và giảm lợi nhuận của
doanh nghiệp. Ngược lại nếu nhu cầu vốn tính quá cao dẫn đến tình trạng
thừa vốn gây ứ đọng vật tư, hàng hóa, sử dụng vốn lãng phí, vốn chậm ln
chuyển và phát sinh nhiều chi phí khơng hợp lý, làm giảm lợi nhuận của
doanh nghiệp.

8


Báo cáo thực tập chuyên đề “Vốn và hiệu quả sử dụng vốn”


1.1.3.Vai trò của vốn trong hoạt động kinh doanh
Trong điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay, vốn kinh doanh có các
vai trị sau:
+ Thứ nhất: Xác định quy mô của đơn vị sản xuất, quy mô của q
trình sản xuất.
Quy mơ của đơn vị sản xuất lớn hay nhỏ phụ thuộc vào số vốn mà
doanh nghiệp có. Với một lượng vốn dồi dào, doanh nghiệp có thể mở rộng
quy mô sản xuất kinh doanh, mua trang thiết bị sản xuất với công nghệ hiện
đại, mở rộng quy mơ của q trình sản xuất. Quy mơ lớn sẽ mang lại cho
doanh nghiệp nhiều cơ hội thu về lợi nhuận lớn. Nếu doanh nghiệp có số vốn
hạn chế thì quy mơ của đơn vị sản xuất cũng bị giới hạn trong số vốn hiện
có. Doanh nghiệp có thể sử dụng nguồn vốn vay để mở rộng quy mô của
đơn vị sản xuất. Như vậy, doanh nghiệp sẽ phải chịu rất nhiều rủi ro hơn.
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp sẽ quyết định quy mô sản xuất của
doanh nghiệp.
+ Thứ hai: Đóng góp vào giá trị sản phẩm được sản xuất một phần giá
trị của nó trong q trình sản xuất.
Vốn lưu động là một phần của vốn kinh doanh.
Trong một chu kỳ kinh doanh, vốn lưu động chuyển toàn bộ giá trị
một lần vào sản phẩm tiêu thụ và được thu hồi khi doanh nghiệp bán được
hàng thu được tiền - Vịng tuần hồn của vốn lưu động trong sản xuất diễn ra
như sau:
T- H .....SX... H'- T'.
Bên cạnh yếu tố như sức lao động, vốn cũng đóng góp một phần giá
trị trong q trình sản xuất ra sản phẩm.
+ Thứ ba: Đáp ứng nhu cầu vốn để duy trì quá trình sản xuất được
liên tục đồng thời góp phần đầu tư phát triển doanh nghiệp.
Việc phân phối vốn lưu động và vốn cố định góp phần điều hoà vốn
trong toàn doanh nghiệp, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất được liên tục.

Nếu vốn lưu động bị thiếu hụt, lập tức nguồn nguyên vật liệu sản xuất
sẽ khơng được đáp ứng đầy đủ, làm đình trệ q trình sản xuất, ảnh hưởng
đến tiến độ luân chuyển vốn, gây thiệt hại cho doanh nghiệp.
+ Thứ tư: Trong quá trình kinh doanh, vốn tạo ra giá trị thặng dư.

9


Báo cáo thực tập chuyên đề “Vốn và hiệu quả sử dụng vốn”

Vốn kinh doanh của doanh nghiệp sau khi ứng ra, được sử dụng vào
kinh doanh và sau mỗi chu kỳ hoạt động phải được thu về để ứng tiếp cho kỳ
hoạt động sau. Và như vậy, với tiến bộ của khoa học kỹ thuật như hiện nay,
lượng tiền thu về sau mỗi chu kỳ kinh doanh thường lớn hơn số tiền mà
doanh nghiệp ứng ra ban đầu.
+ Thứ năm: Trong quá trình liên tục của nhiều quá trình sản xuất vốn
thể hiện vai trị như một hàng hóa.
Căn cứ vào mục đích kinh doanh của doanh nghiệp, vốn đầu tư đồng
nghĩa với vốn kinh doanh. Đó là số vốn được dùng vào kinh doanh trong
một lĩnh vực nhất định nhằm mục đích sinh lời. Đầu tư vốn là hoạt động chủ
quan có cân nhắc của người quản lý trong việc bỏ vốn vào một mục tiêu
kinh doanh nào đó với hy vọng sẽ đưa lại hiệu quả kinh tế cao trong tương
lai. Việc bỏ vốn vào mục đích kinh doanh nào đó nhằm mục đích thu lợi
nhuận thì được gọi là đầu tư vốn.
1.2.HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP
1.2.1.Quan niệm về hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp
Trước đây trong cơ chế quản lý hành chính bao cấp, doanh nghiệp
được nhà nước bao cấp. Nhà nước giao kế hoạch mang tính pháp định về
mặt hàng kinh doanh chủ yếu, về nguồn hàng, nơi tiêu thụ và doanh thu. Vì
vậy doanh nghiệp cũng khơng thể và cũng khơng cần thiết phát huy tính

sáng tạo, tính chủ động của mình trong sản xuất kinh doanh. Do đó việc sử
dụng vốn kinh doanh có hiệu qủa được xác định dựa trên cơ sở: mức độ
thực hiện các chỉ tiêu pháp lệnh, sự tiết kiệm chi phí trong giá thành sản
phẩm, khối lượng giá trị sử dụng mà doanh nghiệp cung cấp cho nền kinh
tế... Đây chính là sự lẫn lộn giữa chỉ tiêu kết quả với chỉ tiêu hiêụ quả, do đó
đã làm cho nhà đầu tư (nhà nước), các nhà kinh tế và đội ngũ quản lý doanh
nghiệp đánh giá sai về hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Đó chính là
ngun nhân làm cho tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp bị lãng phí,
rất nhiều doanh nghiệp bị “mất” vốn dần và khơng cịn khẳ năng duy trì sản
xuất kinh doanh.
Chuyển sang nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh tuân theo nguyên tắc tự hạch toán kinh doanh , ‘đầu vào’ và ‘đầu
ra’được quyết định bởi thị trường. Sản xuất kinh doanh cái gì? Sản xuất kinh
doanh cho ai? Và sản xuất kinh doanh như thế nào? Không xuất phát từ chủ
quan doanh nghiệp hay từ mệnh lệnh cấp trên mà xuất phát từ nhu cầu thị
trường, từ quan hệ cung cầu và lợi ích của doanh nghiệp. Vì vậy đã diễn ra
sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp.

10


Báo cáo thực tập chuyên đề “Vốn và hiệu quả sử dụng vốn”

Mục đích duy nhất của các doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế
thị trường là sản xuất kinh doanh đem lại hiệu quả nhất định. Hiệu quả kinh
tế là thước đo cho mọi hoạt động của doanh nghiệp.
Hiệu quả kinh doanh xét về mặt xã hội luôn là hiệu quả kinh tế - xã
hội, nghĩa là sản xuất kinh doanh có lợi nhuận để góp phần tích luỹ cho xã
hội và cho doanh nghiệp, không làm tổn thất lợi ích của doanh nghiệp khác
và nhân dân, đồng thời phải tạo ra những công ăn việc làm và góp phần giải

quyết các vấn đề xã hội.
Hiệu quả kinh doanh xét trong phạm vi doanh nghiệp: hiệu quả là lợi
ích kinh tế đạt được, tức lợi nhuận bằng việc sử dụng vốn kinh doanh là một
trong những chỉ tiêu tổng hợp để đánh giá kết quả hoạt động cuối cùng sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.2.Sự cần thiết nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, nếu việc đảm bảo được vốn,
cung cấp vốn thường xuyên cần thiết để duy trì sản xuất kinh doanh được
tiến hành thường xuyên, liên tục thì việc bảo tồn nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn lại có ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc giúp doanh nghiệp đạt được
mục đích sản xuất kinh doanh của mình. Nếu sử dụng đồng vốn khơng có
hiệu quả, khơng bảo tồn được vốn, khơng làm cho nó sinh lời thì sẽ dẫn
đến thất thốt vốn, làm ảnh hưởng tới q trình sản xuất kinh doanh, quy mô
bị thu hẹp, vốn chậm luân chuyển và tất yếu doanh nghiệp hoạt động kém
hiệu quả. Nếu tình trạng này kéo dài sẽ làm giảm hoặc mất khả năng thanh
toán và cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường thì doanh nghiệp sẽ
khơng thể tồn tại và nguy cơ của sự phá sản là không thể tránh khỏi.
Do đó tăng cường quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là vấn đề
cấp bách đặt ra cho mỗi doanh nghiệp, nó góp một phần không nhỏ đến việc
quyết định đầu vào, yếu tố đầu ra của q trình sản xuất kinh doanh góp
phần quyết định giá thành sản phẩm tiêu thụ, thu hồi vốn nhanh hay chậm.
- Sử dụng có hiệu quả là yêu cầu khách quan đối với cơ chế hạch toán
kinh doanh. Đó là kinh doanh tiết kiệm và có hiệu quả trên cơ sở tự chủ về
tài chính.
- Bất kỳ một doanh nghiệp nào khi tiến hành sản xuất kinh doanh đều
hướng tới mục tiêu là thu được lợi nhuận. Nó là nguồn tích luỹ cơ bản để
doanh nghiệp tái sản xuất mở rộng. Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường
hịên nay với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế và sự cạnh tranh gay
gắt, doanh nghiệp có tồn tại và phát triển được hay không phụ thuộc vào
doanh nghiệp có tạo được và tạo ra nhiều lợi nhuận hay khơng. Chính vì vậy


11


Báo cáo thực tập chuyên đề “Vốn và hiệu quả sử dụng vốn”

sản xuất kinh doanh như thế nào để thu được lợi nhuận là mục tiêu phấn đấu
của các doanh nghiệp. Để đạt được mục tiêu đó địi hỏi các doanh nghiệp
phải không ngừng năng cao hiệu quả sử vốn kinh doanh để đạt được lợi
nhuận cao, góp phần thúc đẩy doanh nghiệp phát triển.
- Tình hình thực tế của các doanh nghiệp nhà nước hiện nay là đang
trong tình trạng thiếu vốn. Do đó các doanh nghiệp sử dụng vốn phải hợp lý,
tiết kiệm, tăng cường công tác quản lý và năng cao hiệu quả sử dụng vốn
kinh doanh của mình.
1.2.3.Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp
kinh doanh là thu được lợi nhuận cao. Quá trình kinh doanh của doanh
nghiệp cũng là quá trình hình thành và sử dụng vốn kinh doanh. Vì vậy, hiệu
quả sử dụng vốn được thể hiện ở số lợi nhuận doanh nghiệp thu được trong
kỳ và mức sinh lời của một đồng vốn kinh doanh. Xét trên góc độ sử dụng
vốn, lợi nhuận thể hiện kết quả tổng thể của quá trình phối hợp tổ chức đảm
bảo vốn và sử dụng vốn cố định, vốn lưu động của doanh nghiệp.
Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn:
Hiệu suất sử dụng vốn chính là vịng quay tổng vốn. Chỉ tiêu này cho
biết tồn bộ vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ ln chuyển
được bao nhiêu vịng, qua đó có thể đánh giá được trình độ sử dụng tài sản
của doanh nghiệp.
Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh phản ánh một đồng vốn kinh
doanh sử dụng trong kỳ tạo ra bao nhiều đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này cho
phép đánh giá tương đối chính xác khả năng sinh lời của tổng vốn.

Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu cho thấy mỗi đồng vốn chủ
sở hữu sử dụng trong kỳ có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Đây là chỉ tiêu phản ánh mỗi đồng doanh thu thuần mà doanh nghiệp
thu được trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên giá thành toàn bộ cho thấy mỗi đồng giá
thành toàn bộ bỏ ra trong kỳ có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận.
12


Báo cáo thực tập chuyên đề “Vốn và hiệu quả sử dụng vốn”

Trên đây là một số chỉ tiêu thường được sử dụng để làm căn cứ cho
việc đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy
nhiên, trong những trường hợp cụ thể người ta có thể tính hiệu quả sử dụng
riêng cho từng loại vốn cố định hay vốn lưu động.
1.2.3.1.Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động cao hay thấp chứng tỏ hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả hay khơng. Vì lý do đó mỗi
doanh nghiệp phải thường xun tính tốn, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
lưu động để từ đó có những biện pháp tổ chức quản lý sử dụng vốn lưu động
tốt hơn. Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động doanh nghiệp có thể sử
dụng một số chỉ tiêu sau:
- Tốc độ luân chuyển vốn lưu động
Việc sử dụng hợp lý vốn lưu động biểu hiện ở tăng tốc độ luân chuyển
vốn lưu động. Tốc độ luân chuyển vốn lưu động nhanh hay chậm nói lên
hiệu suất sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp cao hay thấp.
Tốc độ luân chuyển vốn lưu động được biểu hiện bằng 3 chỉ tiêu:
+ Số lần luân chuyển (số vòng quay vốn lưu động)
+ Kỳ luân chuyển vốn (số ngày một vòng quay vốn lưu động)
+ Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động.


Chỉ tiêu này cho biết vốn lưu động quay được bao nhiêu vòng trong
kỳ. Nếu số vòng quay tăng so với thực tế kỳ trước chứng tỏ hiệu quả sử
dụng vốn lưu động tăng và ngược lại.
Chỉ tiêu này phản ánh số ngày bình quân cần thiết để quay được một
vòng quay vốn lưu động. Chỉ số này càng nhỏ thì tốc độ luân chuyển (vịng
quay VLD) càng lớn.
Chỉ tiêu này nói lên một đồng doanh thu cần bao nhiêu đồng vốn lưu
động
- Mức tiết kiệm hay lãng phí vốn lưu động
Hệ số này phản ánh mức tiết kiệm hay lãng phí vốn lưu động.
M(±) = (Tl - T0) D1/N
13


Báo cáo thực tập chuyên đề “Vốn và hiệu quả sử dụng vốn”

M(±) : Mức lãng phí hay tiết kiệm.
D l:

Doanh thu thuần bình quân kỳ này.

Tl :

Thời gian luân chuyển vốn lưu động kỳ này.

T0 :

Thời gian luân chuyển vốn lưu động kỳ trước.


N:

Số ngày trong kỳ(năm = 360 ngày).

1.2.3.2.Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn cố định
Vốn cố định là vốn đầu tư ứng trước về tài sản cố định và sau một thời
gian dài mới thu hồi được toàn bộ. Do vậy, việc sử dụng tốt số vốn cố định
hiện có là vấn đề có ý nghĩa kinh tế rất lớn, ảnh hưởng trực tiếp tới sự tăng
trưởng của doanh nghiệp. Để đánh giá trình độ tổ chức và hiệu quả sử dụng
vốn cố định của doanh nghiệp cần sử dụng chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn cố
định.
Để đánh giá hiệu suất sử dụng vốn cố định, người ta thường sử dụng
một số chỉ tiêu chủ yếu sau:
- Hiệu suất sử dụng vốn cố định
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn cố định có thể tham gia tạo ra
bao nhiêu đồng doanh thu thuần bán hàng trong kỳ.
Để đánh giá đúng mức kết quả quản lý và sử dụng vốn cố định của
từng thời kỳ, chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn cố định cần phải được xem xét
trong mối liên hệ với chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tài sản cố định. Chỉ tiêu này
có thể được xác định theo cơng thức sau:
Chỉ tiêu này phản ánh mọt đồng tài sản cố định trong kỳ tham gia tạo
ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Thông qua chỉ tiêu này cũng cho phép
đánh giá trình độ sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp.
- Hệ số huy động vốn cố định
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ huy động vốn cố định hiện có vào hoạt
động kinh doanh trong doanh nghiệp. Cơng thứ xác định như sau:
Số vốn cố định được tính trong cơng thức trên được xác định bằng giá
trị cịn lại của tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vơ hình của doanh
nghiệp tại thời điểm đánh giá phân tích.


14


Báo cáo thực tập chuyên đề “Vốn và hiệu quả sử dụng vốn”

- Hệ số hao mòn tài sản cố định
Chỉ tiêu này, một mặt phản ánh mức độ hao mòn của tài sản cố định
trong doanh nghiệp, mặt khác, nó phản ánh tổng qt tình trạng về năng lực
cịn lại của tài sản cố định ở thời điểm đánh giá.
- Hệ số hàm lượng vốn cố định: là số nghịch đảo của hệ số hiệu suất
sử dụng vốn cố định.
Chỉ tiêu này phản ánh số vốn cố định cần thiết để tạo ra một đồng
doanh thu thuần trong kỳ ( hay nói cách khác: Để tạo ra một đồng doanh thu
thuần trong kỳ cần bao nhiêu vốn cố định ).
Hàm lượng vốn cố định càng thấp, hiệu suất sử dụng vốn cố định càng
cao.
1.2.3.3Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả an toàn vốn
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần có
tài sản, bao gồm tài sản cố định và tài sản lưu động. Việc đảm bảo đầy đủ
nhu cầu về tài sản là một vấn đề cốt yếu để đảm bảo cho quá trình kinh
doanh được tiến hành liên tục có hiệu quả.
Để đảm bảo có đủ tài sản cho hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp cần
phải tập trung các biện pháp tài chính cần thiết cho việc huy động, hình
thành nguồn vốn.Nguồn vốn của doanh nghiệp được hình thành trước hết từ
nguồn vốn của bản thân chủ sở hữu (vốn góp ban đầu và bổ sung trong quá
trình kinh doanh). Sau nữa được hình thành từ nguồn vốn vay và nợ hợp
pháp (vay ngắn hạn, dài hạn, trung hạn, nợ người cung cấp, nợ cơng nhân
viên chức….). Cuối cùng, nguồn vốn được hình thành từ các nguồn vốn bất
hợp pháp (nợ quá hạn, vay quá hạn, chiếm dụng bất hợp pháp của người
mua, người bán, của công nhân viên chức…)

Nếu tổng số nguồn vốn có đủ hoặc lớn hơn tổng số nhu cầu về tài sản
thì doanh nghiệp cần sử dụng số thừa này một cách hợp lý (đầu tư vào tài
sản lưu động, tài sản cố định, vào hoạt động liên doanh, trả nợ vay,…), tránh
bị chiếm dụng vốn. Ngược lại, khi nguồn vốn không đáp ứng đủ nhu cầu về
tài sản thì doanh nghiệp cần phải có biện pháp huy động và sử dụng phù hợp
(huy động nguồn tài trợ tạm thời hợp pháp hoặc giảm quy mô đầu tư,…),
tránh chiếm dụng vốn bất hợp pháp.
Để đảm bảo an toàn vốn, doanh nghiệp cần đánh giá được tình hình
cơng nợ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
15


Báo cáo thực tập chuyên đề “Vốn và hiệu quả sử dụng vốn”

Để đánh giá khái quát về khả năng thanh toán của doanh nghiệp,
người ta xác định 4 chỉ tiêu cơ bản: Tỷ suất tự tài trợ, Tỷ suất thanh toán
ngắn hạn, Tỷ suất thanh toán bằng tiền, Tỷ suất thanh toán ngay (thanh toán
tức thời).
Chỉ tiêu này lớn hơn 50% là tốt, nếu càng cao càng chứng tỏ mức độ
độc lập về tài chính của doanh nghiệp càng lớn.
- Tỷ suất thanh toán ngắn hạn:
Chỉ tiêu này đánh giá mức độ chuyển đổi thành tiền của tài sản ngắn
hạn.
Kinh nghiệm cho thấy 0,1<1<0,5 là bình thường, vào khoảng 0,2 đến
0,3 là tốt nhất. Nếu dưới 0,1 hoặc trên 0,5 là không tốt. Nếu dưới 0,1 là
doanh nghiệp gặp khó khăn về tiền để phục vụ cho nhu cầu kinh doanh và
thanh tốn cơng nợ. Nhưng nếu trên 0,5, chứng tỏ doanh nghiệp đang giữ
quá nhiều tiền, một phần tiền tệ bị “đóng băng”.
- Tỷ suất thanh tốn ngay ( thanh toán tức thời)
Tỷ suất này gần bằng 1 là tốt, càng nhỏ xa 1 thể hiện doanh nghiệp

cũng gặp nhiều khó khăn đối phó với cơng nợ đến hạn phải thanh toán. Tuy
nhiên, trong thực tế , tỷ suất thanh tốn ngay cịn được tính bằng cơng thức:
Tỷ suất này lớn hơn 0,5 là tốt, tuy nhiên nếu quá cao phản ánh doanh
nghiệp đang giữ vốn quá nhiều, hiệu quả sử dụng vốn thấp.
Tỷ suất này nhỏ hơn 0,5 thể hiện doanh nghiệp gặp khó khăn trong
việc thanh tốn cơng nợ, có thể phải bán một phần hàng hóa vì khơng đủ tiền
để thanh tốn.
Để khơng bị rơi vào tình trạng cơng nợ dây dưa, các nhà doanh nghiệp
cần thường xun phân tích cơng nợ và khả năng thanh tốn cơng nợ của
doanh nghiệp theo các nội dung: phân tích khả năng thanh tốn của doanh
nghiệp, phân tích tình hình nợ của doanh nghiệp.

16


Báo cáo thực tập chuyên đề “Vốn và hiệu quả sử dụng vốn”

a. Phân tích khả năng thanh tốn của doanh nghiệp
Ngoài các chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp đề
cập ở phần trên nhà phân tích phải dựa vào bảng cân đối kế tốn và bảng
thuyết minh bổ sung báo cáo để đánh giá tình hình cơng nợ phải thu, phải trả
của doanh nghiệp,tình hình về khả năng thanh tốn thơng qua chỉ tiêu sau:
- Hệ số thanh toán tổng quát (H1):
Hệ số H1 càng lớn so với 1 càng tốt, giả định nếu doanh nghiệp phá
sản thì bằng tài sản hiện có doanh nghiệp hồn tồn có khả năng trang trải
các khoản nợ.
Tỷ lệ này lớn hơn 1 chứng tở doanh nghiệp đang bị chiếm dụng vốn
nhiều hơn là mình đi chiếm dụng vốn của người khác, và tỷ lệ này càng lớn
chứng tỏ đơn vị bị chiếm dụng vốn càng nhiều và ngược lại.
Tổng số nợ phải thu bao gồm:

+ Các khoản phải thu của khách hàng
+ Các khoản phải trả trước cho người bán
+ Các khoản thu nội bộ
+ Phải thu theo tiến độ kế hoạch hợp đồng xây dựng
+ Các khoản phải thu khác
+ Dự phịng các khoản phải thu khó đòi.
Tổng các khoản phải trả bao gồm:
+ Vay ngắn hạn
+ Phải trả cho người bán
+ Tiền đặt trước cho người mua
+ Thuế và các khoản thuế, lệ phí phải nộp cho Nhà nước
+ Phải trả cán bộ công nhân viên
+ Chi phí phải trả
+ Phải trả nội bộ
+ Phải trả theo tiến độ kế hoạch hợp đồng xây dựng
+ Các khoản phải trả, phải nộp khác
+ Nợ dài hạn (các loại).
17


Báo cáo thực tập chuyên đề “Vốn và hiệu quả sử dụng vốn”

- Hệ số khả năng thanh toán (H):
Chỉ tiêu H có thể xác định cho từng thời điểm hoạt động kinh doanh
hoặc từng giai đoạn kinh doanh (quý, 6 tháng, năm).
Nếu H>=1, thể hiện doanh nghiệp có khả năng thanh tốn và tình hình
hoạt động tài chính tốt nếu như H càng lớn.
Nếu H <1, thể hiện doanh nghiệp gặp khó khăn trogn thanh tốn và H
càng nhỏ thì càng chứng tỏ doanh nghiệp mất dần khả năng thanh tốn và
khi H ≠ 0 thì doanh nghiệp khơng cịn khả năng thanh tốn và bị phá sản.

b. Phân tích tình hình cơng nợ của doanh nghiệp
Phân tích nợ của doanh nghiệp với các đơn vị kinh tế khác thông qua
hệ số nợ (Knợ). Hệ số nợ này được xác định bằng tỷ số giữa các khoản phải
trả (gồm các khoản phải nộp và nợ vay) với tổng số vốn lưu động của doanh
nghiệp.
Ý nghĩa của việc xác định hệ số nợ (K nợ)
- Dùng để xem xét khả năng, mức độ có thể vay vốn của doanh
nghiệp.
- Giúp cho các đơn vị cho doanh nghiệp vay vốn đánh giá được mức
độ an toàn đối với vốn vay. Họ chỉ có thể cho vay khi K nợ <1.
Phân tích các khoản nợ của các đơn vị kinh tế khác nợ doanh nghiệp:
Để đánh giá tình hình này và đề xuất những giải pháp thu hồi công nợ, các
quản trị gia cần phân loại nợ theo tiêu thức sau:
+ Nợ chưa đến hạn phải trả
+ Nợ đến hạn thanh toán
+ Nợ quá hạn thanh toán
Tùy từng loại nợ mà đề xuất các giải pháp khác nhau, đặc biệt chú ý
đến khoản nợ quá hạn.
1.2.4.Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn
Việc tổ chức và sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp chịu sự tác
động bởi nhiều nhân tố khác nhau bao gồm các nhân tố chủ quan, khách
quan và một số nhân tố khác

18


Báo cáo thực tập chuyên đề “Vốn và hiệu quả sử dụng vốn”

1.2.4.1.Nhân tố khách quan
Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp chịu sự ảnh hưởng bởi một số

nhân tố khách quan sau:
- Cơ chế quản lý và chính sach vĩ mô của Nhà nước. Thuộc nhân tố
này bao gồm các chính sách khuyến khích đầu tư của Nhà nước, chính sách
đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, chính sách mở cửa nền kinh té cũng như các
sắc thuế có liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
- Tác động của nền kinh tế có lạm phát. Lạm phát luôn là một vấn đề
rất nhạy cảm và có tác động rất lớn đến nền kinh tế.Lạm phát làm người gửi
tiền giảm lượng tiền gửi tiết kiệm. Đồng thời nhà đầu tư tăng cường đi vay
dẫn đến ngân hàng tăng lãi suất.Ngân hàng tăng lãi suất làm cho tăng lượng
tiền gửi tiết kiệm, giảm vay vốn từ các doanh nghiệp dẫn đến giảm đầu tư và
kiềm chế lạm phát. Nhân tố này có tác động lớn đến hiệu quả sử dụng vốn
của doanh nghiệp.
- Sự phát triển của khoa học công nghệ. Vận dụng khoa học kỹ thuật
công nghệ tiên tiến vận dụng vào sản xuất, kinh doanh. Các DN để khẳng
định vị trí trên thương trường, để đạt hiệu quả kinh doanh, để giảm thiểu chi
phí, sản lượng cao đồng thời để thị trường chấp nhận sản phẩm, đòi hỏi sản
phẩm phải đạt được các tiêu chuẩn, đạt chất lượng sản phẩm. Tiếp cận với
khoa học kỹ thuật công nghệ tiên tiến vận dụng vào hoạt động sản xuất, kinh
doanh, phải không ngừng cải tiến, đầu tư công nghệ để giúp DN hoạt động
hiệu quả hơn.
- Sự ổn định của các yếu tố chính trị. Sự ảnh hưởng của chính trị đến
kết quả kinh doanh của mỗi doanh nghiệp là rất lớn.
Ngoài ra, hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp còn chịu tác
động của yếu tố rủi ro bao gồm các rủi ro từ phía thị trường và những rùi ro
bất khả kháng như: thiên tai, lũ lụt, hỏa hoạn, động đất….
1.2.4.2.Nhân tố chủ quan
Có nhiều nhân tố chủ quan thuộc về bản thân doanh nghiệp ảnh hưởng
đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp như:
- Việc lựa chọn các nguồn vốn và cơ cấu vốn của doanh nghiệp thiếu
hợp lý sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.

- Việc bố trí cơ cấu vốn đầu tư: nếu cơ cấu giữa tài sản cố định và tài
sản lưu động và sự sắp xếp các tài sản cố định cũng như tỷ trọng của từng
khoản mục trong từng loại tài sản chưa hợp lý, chưa phù hợp với đặc điểm

19


Báo cáo thực tập chuyên đề “Vốn và hiệu quả sử dụng vốn”

kinh doanh của doanh nghiệp thì hiệu quả sử dụng vốn kém là không thể
tránh khỏi.
- Việc xác định nhu cầu vốn: nếu xác định nhu cầu vốn thiều chính
xác dẫn đến tình trạng thừa vốn hoặc thiếu vốn, cả hai trường hợp đều ảnh
hưởng không tốt đến quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và làm
giảm hiệu quả sử dụng vốn.
- Việc tổ chức sử dụng vốn kinh doanh trong từng khâu: hiệu quả sủ
dụng vốn sẽ cao nếu như vốn kinh doanh trong từng khâu được tổ chức hợp
lý và sử dụng hiệu quả. Ngược lại, nếu doanh nghiệp sử dụng vốn lãng phí
chẳng hạn như mua các loại vật tư không đúng tiêu chuẩn kỹ thuật, kém
phẩm chất hay không tận dụng được công suất của tài sản cố định sẽ làm
giảm hiệu quả sử dụng vốn.
- Trình độ quản lý của doanh nghiệp: Nếu trình độ quản lý yếu kém có
thể dẫn đến tình trạng vốn ứ đọng, vật tư, hàng hóa chậm luân chuyển, hoạt
động kinh doanh thua lỗ kéo dài, vốn bị thâm hụt sau mỗi chu kỳ sản xuất.
1.2.4.3.Các nhân tố khác
Ngoài các nhân tố chủ quan và khách quan, hiệu quả sử dụng vốn còn
chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố khác như:
- Quan tâm tới việc xây dựng và phát triển đội ngũ lao động của doanh
nghiệp. Hiệu quả của mỗi quốc gia, ngành và DN phụ thuộc lớn vào trình độ
văn hố, chun mơn, tay nghề, kỹ năng, năng lực của đội ngũ lao động.

Muốn vậy phải thường xuyên tạo điều kiện cho người lao động nâng cao
trình độ, kích thích tinh thần sáng tạo và tính tích cực trong cơng việc bằng
các hình thức khuyến khích vật chất và tinh thần.
- Xây dựng hệ thống trao đổi và xử lý thông tin trong DN. Lợi thế
cạnh tranh của DN phụ thuộc chủ yếu vào hệ thống trao đổi và xử lý thông
tin. Đây là yếu tố tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh. Điều này địi
hỏi cần phải hiện đại hố hệ thống trao đổi và xử lý thông tin phục vụ không
ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh .

20


Báo cáo thực tập chuyên đề “Vốn và hiệu quả sử dụng vốn”

CHƯƠNG II :
THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY NHÀ
NƯỚC MỘT THÀNH VIÊN THĂNG LONG GTC
2.1.GIỚI THIỆU VỀ CƠNG TY
2.1.1.Q trình hình thành và phát triển của công ty
Công ty Trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên Thăng Long
GTC (sau đây được viết tắt là “Công ty Thăng Long GTC”) là doanh nghiệp
100% vốn Nhà nước, có tư cách pháp nhân đầy đủ, được đăng ký và hoạt
động theo Luật doanh nghiệp và Điều lệ công ty được Uỷ ban nhân dân
Thành phố Hà Nội phê chuẩn.
Tiền thân của Công ty Thăng Long GTC là Công ty du lịch và thương
mại tổng hợp Thăng Long được Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội quyết
định thành lập và đi vào hoạt động từ 15/05/1996. Đến thời điểm hiện nay
21



Báo cáo thực tập chuyên đề “Vốn và hiệu quả sử dụng vốn”

Công ty được chuyển đổi từ doanh nghiệp Nhà nước thành Công ty Trách
nhiệm hữu hạn Nhà nước một thành viên theo quyết định số 101/2005/QĐUB ngày 13/07/2005 của UBND Thành phố Hà Nội, có hiệu lực từ ngày 18
tháng 11 năm 2005.
Cơng ty Thăng Long GTC có địa chỉ tại 113-115 Lê Duẩn, phường
Cửa Nam, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, Điện thoại: 04 – 8 223 058, Fax: 04 – 8
221 726, E-mail: ,Website: www.thanglonggtc.com.vn.
Đứng đầu Công ty Thăng Long GTC là Chủ tịch kiêm tổng giám đốc
Cơng ty ( Ơng Tạ Minh Hùng ).
Cơng ty Thăng Long GTC có chức năng:
- Kinh doanh khách sạn và lữ hành du lịch.
- Kinh doanh dịch vụ nhà ở và nhà làm việc cho người nước ngoài.
- Làm đại lý bán vé máy bay, dịch vụ ăn uống vui chơi giải trí.
- Kinh doanh hoạt động thể dục thể thao.
- Kinh doanh hàng tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng, công nghệ phẩm,
điện máy, thực phẩm ăn uống, làm đại lý tiêu thụ hàng hoá cho các tổ chức,
cá nhân trong và ngoài nước.
- Sản xuất kinh doanh và thiết kế các loại bao bì giấy nhựa thiết kế
trang trí và sản xuất đồ nội thất cho nhà ở và văn phòng.
- Vận chuyển khách du lịch; kinh doanh lương thực và chế biến thực
phẩm; tổ chức hội chợ triển lãm, quảng cáo và dịch vụ xúc tiến thương mại;
Tổ chức hội thảo, đào tạo chuyên ngành.
- Xây dựng các cơng trình dân dụng, cơng nghiệp, điện, nước và cơ sở
hạ tầng trong ngành du lịch và ngoài ngành;
- Kinh doanh hàng thủ cơng mỹ nghệ, bách hố, hàng may mặc, hàng
nông sản, thực phẩm chế biến, rượu, thuốc lá, vật tư, thiết bị, máy móc phục
vụ cho xây dựng và các phương tiện vận tải công nghiệp, dân dụng; hoá chất
và các vật tư về hoá chất, thiết bị văn phòng.
- Kinh doanh nhà ở và văn phòng làm việc; kinh doanh dịch vụ sauna,

massage.
- Kinh doanh dịch vụ kho vận, giao nhận, vận chuyển hàng hoá nội địa
và quốc tế; làm đại lý bán cước vận tải hàng hố cho các hãng tàu biển,
hàng khơng trong nước và quốc tế.
Trong suốt quá trình hình thành và phát triển 10 năm qua, Cơng ty đã
từng bước hồn thiện bộ máy quản lý, phương thức kinh doanh và nâng cấp
22


Báo cáo thực tập chuyên đề “Vốn và hiệu quả sử dụng vốn”

cơ sở vật chất, nâng cao trình độ quản lý chun mơn và phẩm chất chính trị
cho cán bộ công nhân viên trong Công ty. Công ty luôn huy động mọi nguồn
lực để thúc đẩy tốc độ phát triển, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thương
trường, không ngừng phấn đấu vươn lên thực hiện tốt mọi nhiệm vụ được
giao, đã được Nhà nước, Thành phố và các ngành tặng nhiều khen thưởng.
2.1.2.Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
2.1.2.1.Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh tại công ty
Công ty Thăng Long GTC là một doanh nghiệp nhà nước có qui mơ
lớn bao gồm nhiều đơn vị thành viên. Các đơn vị thành viên ln gắn bó
chặt chẽ với nhau về lợi ích kinh tế, tài chính, cơng nghệ, đào tạo,…
Cơng ty có những đặc điểm về hoạt động sản xuất kinh doanh và thực
hiện các nhiệm vụ sau:
Tổ chức kinh doanh, khai thác về khách sạn, du lịch, cho thuê văn
phòng đại diện, thương mại và các dịch vụ, phục nhu cầu của xã hội.
Lập các kế hoạch sản xuất – kinh doanh đầu tư và các dự án đầu tư
phù hợp với phát triển của ngành du lịch thủ đô và tổ chức thực hiện khi
được phê chuẩn của thành phố.
Quản lý chặt chẽ các nguồn vốn bao gồm: vốn phát triển sản xuất kinh
doanh, vốn liên doanh, liên kết và các vốn khác cho hoạt động của doanh

nghiệp có hiệu quả. Thực hiện được việc bảo toàn và phát triển vốn nhà
nước giao khi tiến hành sáp nhập các doanh nghiệp nhà nước trực thuộc
quản lý của các Sở, Bộ, địa phương khác chuyển đến.
Hoạt động của Công ty phải được tiến hành trên cơ sở định hướng
phát triển chung đã được cấp lãnh đạo Nhà nước phê duyệt. Thực hiện
nghiêm túc chủ trương đổi mới doanh nghiệp nhà nước của Đảng.
Thực hiện tốt nhiệm vụ sản xuất kinh doanh được giao, đảm bảo nghĩa
vụ nộp Ngân sách cho Nhà nước.
Công ty thực hiện chế độ tự chủ trong sản xuất kinh doanh và trong
phạm vi của luật doanh nghiệp và luật pháp qui định, hoạt động theo phương
thức hạch toán kinh doanh, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa lợi ích của
nhà nước, lợi ích tập thể và cá nhân người lao động.
2.1.2.2.Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
Xuất phát từ nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế, đồng thời trên
cở sở chính sách chỉ đạo của Chính phủ và các cấp lãnh đạo Nhà nước, ngay
từ khi thành lập Công ty đã xác định mục tiêu hoạt động sản xuất kinh doanh
23


Báo cáo thực tập chuyên đề “Vốn và hiệu quả sử dụng vốn”

là đa dạng hoá hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó tập trung vào phát
triển ngành du lịch, dịch vụ, huy động mọi nguồn lực để cả trong nước và
quốc tế để thực hiện thúc đẩy tốc độ phát triển, tham gia vào hoạt động xuất
nhập khẩu để nâng cao khả năng cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường trong
nước.

Một số chỉ tiêu về kết quả hoạt động kinh doanh 5 năm 2003 - 2004 –
2005 – 2006 - 2007:
TT Chỉ tiêu

1

Tổng doanh thu

ĐVT
Tr.đồng

Năm 2003 Năm 2004
65.989

Năm2005 Năm 2006 Năm 2007

74.619 95714,549 261919,68

319.025

(doanh thu
2

thuần)
Lợi nhuận thực

Tr.đồng

173,21

946,53

3.540,50


1.976,2

23.873

hiện trước thuế

24


Báo cáo thực tập chuyên đề “Vốn và hiệu quả sử dụng vốn”

3

Lợi nhuận sau

Tr.đồng

124,71

681,50

2.549,16

1.422,92

17.188

4

thuế

Giá trị tài sản cố

Tr.đồng

15.304

28.020

37.790

40.257

44.268

5

định bình quân
Vốn lưu động

Tr.đồng

29.128

29.476

68.893

104.016

130.292


6

bình quân
Tổng số lao

Người

331

336

370

350

338

7

động bình quân
Thu nhập bình

đồng

1.000.000

1.200.000

1.570.000


1.785.000

3.300.000

8

quân
Tổng chi phí

Tr.đồng

65.815,79

73.672,47

111.800,5

118.503,8

123.296

Qua bảng chi tiêu về kết quả hoạt động kinh doanh 5 năm từ 2003 đến
2007 được trích dẫn ở trên, ta thấy công ty Thăng Long GTC đều tăng
trưởng ở tất cả các chỉ tiêu, năm sau luôn cao hơn năm trước. Đó là sự nỗ
lực của ban giám đốc và tồn bộ cán bộ cơng nhân viên tồn cơng ty. Cty
Thăng Long GTC đã ln khăng định được vị trí của mình trên thị trường.
Doanh thu và thu nhập của công ty ngày một tăng, cụ thể về sự tăng trưởng
như sau ( so sánh giữa năm 2006 và năm 2007):
- Doanh thu năm 2007 tăng 155% so với năm 2006 do năm 2007,

công ty Thăng Long GTC có doanh thu xây dựng cơ bản ( bán nhà chung
cư). Tuy nhiên, nếu trừ doanh thu XDCB thì doanh thu bán hàng hố của
cơng ty năm 2007 cũng tăng 46%.
- Lợi nhuận sau thuế năm 2007 tăng rất nhiều so với năm 2006 do
năm 2007, công ty Thăng Long GTC có lợi nhuận từ xây dựng cơ bản ( bán
nhà chung cư).
- Giá trị tài sản bình quân năm 2007 tăng 10% so với năm 2006 chứng
tỏ trong năm 2007 cơng ty có mua sắm thêm trang thiết bị tài sản phục vụ
cho sản xuất kinh doanh.
- Vốn lưu động bình quân năm 2007 tăng 25% so với năm 2006 thể
hiện tiền mặt lưu thông trong kinh doanh hàng hố của cơng ty tốt, năm sau
ln cao hơn năm trước.
- Về thu nhập bình quân: năm 2007, số cán bộ công nhân viên của
công ty giảm hơn năm 2006 là 12 người. Trong 2007, thu nhập của người lao

25


×