Tải bản đầy đủ (.docx) (6 trang)

chế độ sở hữu toàn dân

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (66.82 KB, 6 trang )

MỞ ĐẦU
Sở hữu ruộng đất luôn là một vấn đề quan trọng. Hiện nay, vận dụng lý luận của chủ
nghĩa Mác – Lê Nin vào thực tiễn của Việt Nam, nhằm bảo đảm lợi ích toàn cục, lâu dài,
Hiến pháp đã quy định chế độ sở hữu toàn dân mà Nhà Nước là đại diện chủ sở hữu. Đặc
biệt, việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đất đai để đáp ứng các yêu cầu của quá
trình đẩy mạnh nền kinh tế đất nước không thể tách rời việc củng cố và hoàn thiện chế định
sở hữu đất đai. Chính vì thế, nhóm chúng em xin được làm sáng tỏ nhận định “ Trong nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, duy trì và bảo vệ chế độ
sở hữu toàn dân về đất đai mà Nhà Nước là đại diện chủ sở hữu là cần thiết và tất yếu. Tuy
nhiên, pháp luật cần phải tiếp tục có những chế định mới hoặc sửa đổi bổ sung các quy định
của pháp luật hiện hành nhằm nâng cao hiệu quả thực thi trên thực tế chế độ sở hữu này
trong thời gian tới.”

NỘI DUNG
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ SỞ HỮU ĐẤT ĐAI Ở NƯỚC TA
1.Khái niệm chế độ sở hữu toàn dân về đất đai
Để hoàn thiện vai trò đại diện của chủ sở hữu và thống nhất quản lí về đất đai của Nhà
nước trong thời kì đẩy mạnh hội nhập quốc tế ngoài việc cần làm rõ mối quan hệ giữa chủ sở
hữu toàn dân và đại diện chủ sở hữu Nhà nước, xác định rõ cấu trúc, các chế định về các
quyền hạn, nhiệm vụ của đại diện chủ sở hữu…cần phải pháp luật hóa quy định vai trò của
Nhà nước là người đại diện chủ sở hữu tối cao, xác định rõ mối quan hệ giữa Nhà nước và
người sử dụng đất trong nền kinh tế thị trường hiện nay trong một chỉnh thể thống nhất. Từ
những chế định, lập luận trên ta có thể đưa ra khái niệm chế độ sở hữu toàn dân về đất đai
như sau:
Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai là một khái niệm pháp lí gồm tổng hợp các quy
phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ sở hữu đất đai trong đó xác nhận, quy định và bảo vệ
quyền đại diện chủ sở hữu của Nhà nước trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt.
2.Đặc điểm của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai
Theo Hiến pháp năm 1980 thì Nhà nước chỉ thừa nhận sự tồn tại hình thức sở hữu duy
nhất: sở hữu toàn dân về đất đai. Nhưng với những quy định của Luật đất đai năm 1993 thì
1




đất đai thuộc sở hữu toàn dân; quyền sử dụng đất thuộc về người sử dụng đất, khắc phục
những khiếm khuyết của Luật đất đai 1993 Luật đất đai 2013 đã sửa đổi bổ sung quy định
đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu (Điều 4 Luật đất đai năm
2013).
3.Thực trạng của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở nước ta hiện nay
Ở nước ta việc thể chế hóa chế độ sở hữu toàn dân về đất đai trong Hiếp pháp và Luật
Đất đai đã nhận được sự đồng tình, nhất trí cao trong nhân dân, thực hiện chế độ sở hữu toàn
dân về đất đai đã tránh được những hậu quả do chế độ sở hữu tư nhân đất đai gây ra. Ta thấy,
sở hữu toàn dân về đất đai không phải thuộc sở hữu của riêng ai mà toàn thể nhân dân là chủ
sở hữu đối với đất đai, Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và được giao nhiệm vụ thống nhất
quản lý. Việc quy định Nhà nước ở nước ta là đại diện chủ sở hữu đất đai và thống nhất quản
lý xuất phát từ bản chất của Nhà nước là nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước của dân do
dân và vì dân, mọi tài sản, tư liệu sản xuất do Nhà nước đại diện cho dân là chủ sở hữu đều
được sử dụng vào mục đích phục vụ lợi ích chung của toàn thể nhân dân. Trong thời gian
qua, ở nước ta tuy nảy sinh một số tiêu cực, hạn chế trong quản lý, sử dụng đất đai, song
những hạn chế, tiêu cực đó không phải do bản chất của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai
gây ra. Những hạn chế, tiêu cực đó một mặt, do sự yếu kém trong quản lý đất đai của Nhà
nước ta, chính sách đất đai thay đổi qua nhiều thời kỳ, đến nay, các chủ trương, chính sách,
pháp luật về đất đai còn một số nội dung chưa đủ rõ, chưa phù hợp; tổ chức bộ máy, năng
lực đội ngũ cán bộ về quản lý đất đai còn không ít hạn chế, yếu kém, một bộ phận còn lợi
dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi, tham nhũng; mặt khác, do nước ta trải qua nhiều thời
kỳ, giai đoạn lịch sử khác nhau, đất đai có nguồn gốc rất phức tạp. Từ thực trạng đó, Luật
Đất đai năm 2013 đã có những điều chỉnh, bổ sung để việc quản lý, sử dụng đất đai chặt chẽ,
hiệu quả hơn, hạn chế nảy sinh những tiêu cực, hạn chế.
II. ƯU ĐIỂM VÀ NHƯỢC ĐIỂM CỦA CHẾ ĐỘ SỞ HỮU TOÀN DÂN VỀ ĐẤT ĐAI
Ở nước ta, vốn đất đai quý báu do công sức, mồ hôi, sương máu của các thế hệ người
Việt Nam tạo lập nên, vì vậy nó phải thuộc về toàn dân. Hơn nữa, hiện nay trong điều kiện
nước ta “mở cửa”, chủ động hội nhập từng bước vững chắc vào nền kinh tế khu vực và trên

thế giới, tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu thì việc xác lập hình thức sở hữu toàn dân về đất
2


đai là một trong những phương thức nhằm góp phần củng cố và bảo vệ vững chắc nền độc
lập dân tộc.
Việc thực hiện chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở nước ta hiện nay còn tránh được
những hậu quả do chế độ sở hữu tư nhân đất đai gây ra. Nghiên cứu sản xuất nông nghiệp,
trực tiếp là địa tô trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, Các Mác và sau đó là V.I.Lênin đã chỉ
ra tính chất vô lý của chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất, nguồn gốc đẻ ra địa tô, làm cho
giá cả nông phẩm tăng, kìm hãm sự phát triển của nông nghiệp. Để khắc phục tình trạng này,
V.I.Lênin đã chủ trương phải quốc hữu hoá đất đai, xóa bỏ chế độ sở hữu tư nhân về đất đai,
thay vào đó là chế độ công hữu về đất đai.
Việc xác lập đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lí sẽ giúp Nhà
nước có điều kiện thuận lợi trong việc xây dựng quy hoạch sử dụng đất đai theo kế hoạch
phát triển chung nhằm quản lí chặt chẽ và từng bước đưa diện tích đất chưa sử dụng (hơn 4,5
triệu ha đất tự nhiên) vào khai thác, sử dụng hợp lí đi đôi với việc cải tạo, bồi bổ vốn đất đai
quý giá của quốc gia. Bên cạnh đó, trong giai đoạn đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới
đát nước hiện nay thì việc xác lập hình thức sở hữu toàn dân về đất đai sẽ tạo ưu thế và
thuận lợi cho Nhà nước trong việc sử dụng đất cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội vì
lợi ích chung của toàn xã hội.
Các quan hệ về quản lí và sử dụng đất đai ở nước ta được xác lập dựa trên cơ sở đất
đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lí đã mang tính ổn định trong một
thời gian khá dài (từ năm 1980 đến nay). Nay nếu thay đổi hình thức sở hữu đất đai này sẽ
dẫn đến những sự xáo trộn trong lĩnh vực đất đai, làm tăng tính phức tạp của các quan hệ đất
đai; thậm chí dẫn đến sự mất ổn định về chính trị - xã hội của đất nước.
Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, quy định Nhà nước là đại diện quyền sở hữu, thực
tế trong nhiều trường hợp, không biết ai là “Nhà nước” thực sự, chính quyền trung ương hay
chính quyền địa phương, do đó dẫn đến lạm quyền trong việc thu hồi đất, xâm hại quyền lợi
của người dân nhưng lại để đất đai rơi vào tay các nhóm lợi ích, khiến cả quyền lợi của

người dân lẫn lợi ích quốc gia không được bảo đảm. Hậu quả là trong một số trường hợp đất
đai sẽ được chuyển từ người dân nghèo sang tay “các đại gia” với giá rất thấp. Đồng thời,
bằng động tác đầu tư trở lại, “các đại gia” này lại bán đất ra với giá cao cho người dân có
nhu cầu. Không ít trường hợp đất đai bị thu hồi để rồi bỏ hoang, bởi những dự án “treo”
không có điểm dừng, trong khi người dân không có đất để ở hoặc canh tác. . Tình trạng quy
hoạch bị điều chỉnh tùy tiện, quy hoạch treo, thu hồi đất một cách tùy tiện của cơ quan nhà
3


nước, tình trạng đất thu hồi bị bỏ hoang còn người mất đất lâm vào tình trạng thất nghiệp,
khó khăn, … cho thấy quản lý của Nhà nước chưa tương xứng với yêu cầu cần phải có trong
chế độ sở hữu toàn dân.
Quá trình phát triển kinh tế thị trường dẫn đến nhu cầu tư nhân hóa về quyền sử dụng
một bộ phận đất đai, điều này cũng tác động làm biến dạng chế độ sở hữu toàn dân về đất
đai. Trong chế độ sở hữu toàn dân về đất đai và quá trình phát triển kinh tế thị trường, chủ
thể sở hữu đất đai luôn luôn tách rời khỏi người sử dụng đất. Nhà nước là đại diện chủ sở
hữu, cố gắng duy trì quyền sở hữu của mình bằng cách can thiệp vào quá trình sử dụng, định
đoạt đất đai. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là sự can thiệp một cách chủ động của Nhà nước đã và
đang dần dần bị hạn chế bởi chính các yếu tố thị trường, từ đó làm phá vỡ các quy hoạch và
kế hoạch chủ động của Nhà nước về đất đai, buộc các cơ quan quản lý nhà nước phải thường
xuyên thay đổi các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã ban hành, làm cho chính sách về đất
đai bất ổn, gây khó khăn cho các đối tượng được giao quyền sử dụng đất.
Việc nhận thức và vận dụng không đúng chế độ sở hữu toàn dân về đất đai trong thời
gian qua đã dẫn đến sự lãng phí về đất đai, gây thiệt hại cho người sử dụng đất, đồng thời
nảy sinh những tiêu cực, mâu thuẫn gay gắt trong lĩnh vực này. Từ đó dẫn đến sự hoài nghi
chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, nảy sinh ý kiến đòi hỏi phải thay đổi chế độ sở hữu toàn
dân về đất đai.
III. PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN CHẾ ĐỘ SỞ HỮU TOÀN DÂN VỀ ĐẤT ĐAI
Ở Việt Nam, đất đai là tài sản chung của quốc gia và Nhà nước đại diện cho nhân dân
thực hiện quyền của chủ sở hữu trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt của toàn bộ đất

đai trên lãnh thổ. Điều đó được thể hiện ở Điều 53 Hiến pháp năm 2013 và Điều 4 Luật đất
đai năm 2013. Vì vậy có thể coi hoàn thiện chế độ sở hữu toàn dân chính là việc hoàn thiện
cơ chế thực hiện quyền chủ sở hữu của Nhà nước, cơ chế quản lý của Nhà nước đối với đất
đai.
Đối với việc hoàn thiện chế độ sở hữu toàn dân trong cơ chế thị trường hiện nay, cần đề
ra một số phương hướng sau:
Thứ nhất, tiếp tục phát triển các ưu điểm của chế định sở hữu toàn dân về đất đai: Chế
định sở hữu toàn dân về đất đai là sự thể chế hóa những quan điểm, đường lối chủ đạo của
Đảng, Nhà nước ta về vấn đề đất đai, nông nghiệp, nông dân và nông thôn trong phát triển
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Việc xác lập chế định sở
4


hữu toàn dân về đất đai góp phần vào việc giữ ổn định quan hệ đất đai, tránh gây ra những
xáo trộn không cần thiết và duy trì sự ổn định chính trị, xã hội là tiền đề rất quan trọng để
phát triển đất nước, phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam. pháp luật đất đai cần phải
được xây dựng, bổ sung toàn diện và ổn định trong thời kỳ dài với mức độ sâu sắc hơn. Bên
cạnh việc khẳng định quan điểm đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Luật đất đai 2003 đã kế thừa
quy định của Luật đất đai 2003: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở
hữu”
Pháp luật đất đai cần phải thể hiện rõ nội dung kinh tế trong quản lý và sử dụng đất tạo
điều kiện cho thị trường bất động sản hình thành và phát triển một cách lành mạnh. Quy định
hợp lý hơn về giá đất, góp phần thúc đẩy các hoạt động tài chính đất đai trong một trật tự
nhất định.
Thứ hai, công tác quy hoạch việc sử dụng đất phải được thực hiện có hiệu quả hơn,
thiết thực hơn. Quy hoạch phải được công khai. Trong việc quy hoạch phải có quá trình
tham gia ý kiến của nhân dân, tránh tình trạng thiếu công khai là một trong những nguyên
nhân của tệ nạn tham nhũng, hối lộ gây nhiều bức xúc trong suốt thời gian vừa qua.
Thứ ba, các cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai phải nâng cao năng lực, trình độ quản
lý sử dụng phối hợp có hiệu quả các công cụ quản lý.

Thứ tư, tiếp tục đổi mới quan hệ sở hữu toàn dân về đất đai trong nền kinh tế thị
trường.
+ Việc củng cố hoàn thiện quan hệ sở hữu toàn dân về đất đai phải đảm bảo quyền
quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với toàn bộ vốn đất đai trong phạm vi cả
nước.
+ Mở rộng các quyền của người sử dụng đất nhằm khuyến khích tạo điều kiện để họ
gắn bó chặt chẽ, lâu dài với đất đai, khuyến khích đầu tư bồi bổ, cải tạo đất, tăng cường trách
nhiệm, nghĩa vụ của họ trong bảo vệ đất đai.
+ Việc đổi mới quan hệ sở hữu toàn dân về đất đai phải hướng tới việc xây dựng và
quản lý tốt thị trường bất động sản có tổ chức ở nước ta.
Trong văn kiện Đại hội Đảng IX nêu rõ: “Phát triển thị trường bất động sản trong đó có
thị trường quyền sử dụng đất, tạo điều kiện thuận lợi để chuyển quyền sử dụng đất…, mở
rộng thị trường bất động sản cho các thành phần kinh tế, người Việt Nam ở nước ngoài,
người nước ngoài ở Việt Nam tham gia đầu tư…”. Đây có thể cao là một xu hướng hoàn
thiện chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai.
5


C.KẾT LUẬN
Thực tiễn cho thấy, việc tổ chức thực thi chế định sở hữu toàn dân về đất đai còn bộc lộ
một số bất cập và hạn chế nhất định. Bên cạnh đó, yêu cầu của sự nghiệp phát triển đất nước
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đang đặt ra những nội dung
mới cho chế định sở hữu đất đai, để đảm bảo tính kế thừa và duy trì sự ổn định chính trị - xã
hội của đất nước trong giai đoạn hiện nay, chúng ta cần đánh giá những thành tựu và nhận
diện một số hạn chế, bất cập của chế định sở hữu toàn dân về đất đai để từ đó có những giải
pháp khắc phục. Từ đó tiến đến xây dựng hệ thống pháp luật về đất đai hợp lý, nghiêm ngặt,
có thể giải quyết được những vấn đề thực tiễn, đóng góp to lớn vào sự nghiệp xây dựng đất
nước trong thời kỳ đổi mới.

6




×