Tải bản đầy đủ (.doc) (23 trang)

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC LỚP 1 NĂM HỌC 2018 2019

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (196.97 KB, 23 trang )

PHỊNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN BÌNH LỤC
TRƯỜNG TIỂU HỌC XÃ AN LÃO

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP
NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT
CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC LỚP 1
NĂM HỌC 2018 - 2019

Lĩnh vực (Môn): Tiếng Việt
Mã số
: 09

Người thực hiện: Nguyễn Thị Kim Tuyết
Chức vụ

: Giáo viên

1


A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chon đề tài
Chúng ta đều biết, lớp 1 là lớp đầu cấp nên việc dạy đọc cho học sinh (HS) vô
cùng quan trọng trong việc tạo nền tảng, tiền đề để các em tìm tòi, phát hiện
kiến thức trước mắt cũng như trong tương lai. Ở lớp 1, các em học tốt thì khi
chuyển sang học các lớp tiếp theo các em mới nắm bắt được những yêu cầu cao
hơn của môn Tiếng Việt, thuận lợi cho việc học tập các môn khác. Để HS lớp 1
đạt được điều đó thì người thầy cần phải có cách tổ chức, hướng dẫn HS học tập
theo một quy trình khoa học, tích cực hóa được các hoạt động của các em nhằm


khơi dậy sự tò mò, sáng tạo, chủ động của các em. Từ đó giúp các em từng bước
tự điều chỉnh chính mình trong việc tự tìm tịi khám phá tri thức, chủ động sáng
tạo chiếm lĩnh tri thức.
Các em học sinh lớp 1 từ Mầm non lên, trong việc học tập cũng như các
hoạt động thì các em cịn rụt rè và việc thích ứng với mơi trường học mới cịn
chậm. Lần đầu tiên các em tiếp xúc với các môn học, đặc biệt là môn Tiếng Việt
Công nghệ giáo dục (CGD) lớp 1. Ngay đầu năm học yêu cầu học sinh phải nắm
chắc phần âm, vần, vẽ mơ hình, phân tích tiếng, luật chính tả, nhận xét luồng hơi
phát ra để phân biệt nguyên âm, phụ âm... .Vì vậy, học sinh chỉ ghi nhớ một
cách máy móc bước đầu học đọc, học viết, học cách phân biệt nguyên âm, phụ
âm, cách dùng mẫu, lập mẫu, luật chính tả, các em cịn nhiều bỡ ngỡ và tiếp thu
kiến thức thật khó khăn, một số em chỉ đọc vẹt chưa thuộc hết bảng chữ cái. Tuy
nhiên việc vận dụng từ tài liệu vào thực tế của q trình dạy học vẫn cịn khơng
ít khó khăn, vướng mắc nhất định.
Để góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập môn Tiếng Việt
CGD lớp1 ở Trường Tiểu học xã An Lão, giúp các em mỗi ngày đến trường là
một ngày vui, tập cho các em tính mạnh dạn trong học tập , khả năng sáng tạo và
học tốt môn Tiếng Việt CGD lớp1 và là tiền đề để các em học tốt các môn học
khác .

2


2. Mục đích nghiên cứu:
- giỳp hc sinh lp 1 nắm vững được nguyên âm, phụ âm, ghép vần (theo 5
mẫu) trong Tiếng Việt 1( 3 tập).Giúp những học sinh cịn lúng túng trong học
mơn Tiếng Việt, tự tin thoải mái học tập, phát huy tính tích cực tự giác trong học
tập. Học sinh nắm chắc luật chính tả, nghe viết đúng giúp học sinh đọc tốt kèm
theo cả ngữ điệu tốt, hiểu nội dung bài học tốt.
- Biết sử dụng ngôn ngữ Tiếng Việt để diễn đạt tốt ngôn ngữ của bản thân và các

môn học khác lưu loát thành thạo.
- Học sinh tự tin, chủ động, sáng tạo vui vẻ trong học tập, cũng như trong cuộc
sống
- Yờu quý mụn hc hn.
3 . Đối tợng nghiên cứu,
Sỏch giáo khoa CGD lớp 1( tập 1, 2, 3), Học sinh lp 1
4. Phơng pháp nghiên cứu.
ã Mục tiêu dạy häc Tiếng Việt CGD lớp1


Sách giáo khoa Tiếng Việt CGD lp 1( Tp 1, 2, 3).

ã

Một số tài liệu khác.

5. Gii hn phạm vi nghiên cứu
ã Trong chơng trình Ting Việt CGD lớp 1 (Tập 1, 2, 3) từ tuần 0 đến
tuần 35


Học sinh lớp 1A2( 29 em).



Tập thể giáo viên lớp 1( 6 người)

• Thêi gian thùc hiƯn: tõ tháng 9 -2017 đến tháng 4 - 2018

B. NI DUNG

1.C sở lí luận
Tiếng Việt là mơn học có vai trị đặc biệt quan trọng ở bậc Tiểu học là
phương tiện chủ yếu để học sinh tiếp thu các môn học khác. Mơn Tiếng Việt ở
Tiểu học hình thành năng lực ngôn ngữ cho học sinh thể hiện ở bốn kĩ năng :
nghe - nói - đọc - viết. Mơn Tiếng Việt là công cụ hữu hiệu trong hoạt động giao
3


tiếp của học sinh, giúp cho học sinh tự tin và chủ động trong học tập, giúp học
sinh hình thành và rèn luyên các kĩ năng cơ bản ở Tiểu học đồng thời nó chi
phối kết quả các mơn học khác. Do đó, việc giúp học sinh học tốt mơn Tiếng
Việt CGD lớp 1 là nhiệm vụ xuyên suốt của giáo viên trong cấp Tiểu học, đặc
biệt là lớp học nền móng ở lớp 1.
2. Cơ sở thực tiễn
Trường Tiểu học xã An Lão là một ngôi trường khang trang với khn viên
trường đẹp, xanh mát .Trường có mạng lưới trường lớp thoáng mát, sạch sẽ , đủ
ánh sáng. Trường được sát nhập bởi hai trường : Tiểu học A An Lão và Tiểu học
B An Lão bao gồm 3 khu : Đống Tiến, Đống Gạch, Hịa Bình ; gồm 28 lớp học
với hơn 700 học sinh. Đã nhiều năm, trường Tiểu học xã An Lão giữ vững danh
hiệu "Trường chuẩn quốc gia mức độ I" .Trường có đội ngũ giáo viên nhiệt
huyết, yêu nghề , giàu truyền thống hiếu học và kinh nghiệm giảng dạy tốt.
Hầu hết trình độ giáo viên (GV) đạt trên chuẩn .
a. Thuận lợi:
- Được sự quan tâm của chính quyền địa phương và các cấp Đảng uỷ, Ban
Giám hiệu nhà trường đã tạo điều kiện tốt cho công tác giáo dục của trường học.
Chi bộ và BGH nhà trường luôn chỉ đạo sát sao tới công tác dạy và học.
- Cơ sở vật chất nhà trường có đủ phịng học 2buổi / ngày.
- Khối 1 có 6 giáo viên đều là những người nhiệt tình trong cơng việc,
trình độ chun mơn nghiệp vụ tốt, tích cực tham gia học hỏi trau dồi kiến thức,
tham gia đầy đủ các lớp tập huấn chuyên môn do phịng đề ra.

- Về chương trình dạy Tiếng Việt CGD việc sử dụng kí hiệu thay cho lời
nói của Giáo viên đỡ mất thời gian. Quy trình đọc và phân tích tiếng rất kĩ, học
sinh học sơi nổi. Hướng dẫn tập viết cụ thể, chi tiết, tỉ mỉ giúp HS viết đúng độ
cao chữ , viết đúng luật chính tả.
- GV không phải soạn bài, tài liệu thiết kế đầy đủ nên có thời gian nghiên
cứu quy trình dạy nhiều hơn.
- Sách vở HS , đồ dùng đầy đủ.
4


- HS có độ tuổi đồng đều nhau, tập trung ở gần trường thuận tiện cho việc
đi học
- Hình thức: Học mà chơi, chơi mà học từ đó các em cảm thấy tự tin,
mạnh dạn hơn khi tham gia học tập.
- Trong q trình học ,các em phân tích bằng thao tác vỗ tay làm cho tiết
học vui và sôi nổi hơn, các em thuộc bài nhanh hơn.
b. Khó khăn:
- Thời lượng dạy học trên lớp không nhiều về nhà nhiều phụ huynh HS
không quan tâm việc học bài ở nhà của con em, HS chỉ học được ở trên lớp là
chính.
- Kiến thức bài dài và khó, GV lại không khai thác tranh ảnh hay đồ dùng
trực quan để HS hiểu.
- Chưa có nhiều thời gian cho HS rèn kỹ năng luyện đọc.
- Các em lớp 1A2 từ trường Mầm non lên chưa bắt kịp được môi trường
học tập mới cịn rụt rè, chậm chạp. Trong q trình học còn mải chơi chưa chú ý
học bài, học trước quên sau, nhanh chán.
- Nhiều phụ huynh chưa quan tâm đến con em, việc học của các em, chưa
được quan tâm thích đáng, giao hết trách nhiệm dạy học cho giáo viên và nhà
trường.
- Trình độ nhận thức của học sinh khơng đồng đều.

- Một số em do hồn cảnh kinh tế quá khó khăn; một số em do bố mẹ đi
làm xa, ở nhà với ông bà dẫn tới không có người giúp đỡ , kèm cặp việc học
hành của các em ở lớp và ở nhà.
-Trong quá trình viết các em chưa tự giác viết được bài, độ rộng con chữ
chưa chuẩn. Nghe viết còn chậm.
- Đầu năm học còn 3 em chưa biết cách cầm bút để viết bài nên GV mất
nhiều thời gian cầm tay cho các em tập viết. Vậy mà yêu cầu các em viết chính
tả thì càng khó khăn hơn rất nhiều.
- Một số em chưa đọc được bảng chữ cái ( các em đã học 4→5 tuần),
ngồi ra các em khơng nắm được luật chính tả nên rất khó khăn trong việc dạy.
5


- Yêu cầu HS viết vở em tập viết và nghe viết bài vào vở chính tả thì q
chậm do đó có phần ảnh hưởng đến q trình giảng dạy cũng như học tập của
một số học sinh khác. Ngay bài đầu tiên, nhiều HS chưa biết chữ cái nhưng đã
phải viết như dạng chính tả.
- Trước đây, học hết 16 tuần, các em thuộc bảng chữ cái và có thể ghép
vần thành âm, tiếng, từ học sinh chỉ đọc bài dài 21 tiếng. Nay hết 16 tuần, học
sinh đã phải đọc những bài tập đọc dài, mặc dù các em chưa biết ghép vần và
đọc tiếng các em chỉ là đọc vẹt theo thầy, cô nên không viết được chữ.
3 .Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề
Dạy học chương trình Tiếng Việt CGD là chương trình hiện hành, phù
hợp với xu thế phát triển giáo dục. Chương trình này góp phần nâng cao vai trị,
vị trí của người dạy. Việc tổ chức dạy học khơng mang tính áp đặt, phát huy
được tính tích cực, chủ động của các em, phát huy tối đa phương pháp dạy học
lấy học sinh làm trung tâm. Tiến trình giờ dạy nhẹ nhàng, tự nhiên. Học sinh
nắm chắc được cấu tạo ngữ âm, phân tích ngữ âm đúng, có kĩ năng ghi mơ hình
nhanh, chính xác.
Giáo viên nói rất ít, việc dạy chủ yếu dùng kí hiệu, sách thiết kế rõ ràng

cụ thể. Nó như một cẩm nang dành cho đội ngũ giáo viên giảng dạy và cán bộ
quản lí dùng chỉ đạo trong công tác chuyên môn.
Đối tượng của Tiếng Việt CGD lớp1 chính là cấu trúc ngữ âm, quy trình
dạy, phần vần, cơng đoạn dùng mẫu và lập mẫu. Học sinh nắm chắc ngữ âm,
luật chính tả, phân biệt rõ đâu là nguyên âm, phụ âm, âm đầu, âm đệm, âm
chính, âm cuối.
Phát huy được tính tích cực, chủ động trong học tập.
So với chương trình trước đây chỉ yêu cầu HS thuộc bảng chữ cái và ghép
vần, ghép tiếng để đọc, tập chép được bài.
**Khả năng áp dụng:
Khái quát chung về SGK môn Tiếng Việt CGD 1:
Tiếng Việt CGD lớp 1 gồm có 3 tập:
6


Tập 1 gồm tuần 0 và tuần 1 chủ yếu các em làm quen cách học, làm quen
các kí hiệu, phần này rất quan trọng là tiền đề cho các tuần sau. Tuần 2→ 8 học
sinh nắm chắc âm TiếngViệt. Phân biệt được phụ âm và nguyên âm từ nhận xét
cách phát âm luồng hơi đi ra như thế nào?
Tập 2 từ tuần 9→ 26, các em tập trung vào học các mẫu cơ bản:
Mẫu 1: Vần chỉ có âm chính: ba
Mẫu 2: Vần có âm đệm, âm chính: loa
Mẫu 3: Vần có âm chính, âm cuối: lan
Mẫu 4: Vần có âm đệm, âm chính, âm cuối: loan
Mẫu 5: Ngun âm đơi: , ưa, iê ()
Vần có âm cuối theo cặp (m/p, t/c..)
Tập 3 từ tuần 27→ 35, các em chủ yếu luyện tập tổng hợp các phần đã học ở
tập1 và 2, đi sâu vào học luật chính tả, phân biệt âm đầu, dấu thanh.
3.1. Để giúp học sinh lớp 1 nắm vững được nguyên âm, phụ âm, ghép
vần (theo 5 mẫu) trong Tiếng Việt 1( 3 tập).

GV phải cho HS học chắc tuần 0( là tuần rất quan trọng là tiền đề để học
tốt các tuần tiếp theo)
* Với dạng bài: Tiếng gồm có các bài:
- Tách rời ra từng tiếng.
- Tiếng giống nhau, khác nhau.
- Tách tiếng có thanh ngang ra 2 phần.
- Tiếng có một phần khác nhau…
* Dạng bài: Âm dành cho khái niệm âm là âm vị, chia ra nguyên âm và
phụ âm và được chia làm 2 công đoạn: Lập mẫu và dùng mẫu.
Lập mẫu: Mẫu ba
Mẫu an
Mẫu oan

7


I. Cơng đoạn lập mẫu /ba/
Quy trình 4 việc là một giải pháp kĩ thuật cho tiết học có thể gói gọn trong
các chữ sau:
Nói một lần, làm nhiều lần
Nói gọn lời, làm chi li
QUY TRÌNH
1.Mở đầu: GV cho HS ôn lại bài cũ có liên quan đến âm mới.
-Vẽ mơ hình tiếng bài cũ
-Viết bảng con
GV nhận xét.
2.Bài mới
Việc 1: Chiếm lĩnh ngữ âm
1a: Giới thiệu tiếng /ba/
1b : Phân tích tiếng /ba/

Phát âm và nhận xét luồng hơi đi ra để phân biệt nguyên âm và phụ âm.
Tổng kết giới thiệu tên gọi. HS tự mình phát âm, tự mình cảm nhận luồng
hơi đi ra để có khái niệm ngữ âm đích thực. cơng đoạn lập mẫu phải làm thật kĩ
thì trước hết cần phải làm kĩ nhất việc 1
1c: Vẽ mơ hình.
Việc 2: Viết.
Là cách xử lí mối quan hệ âm/chữ. Mỗi chữ là thể thống nhất tồn vẹn,
dùng ghi một âm. Ví dụ: c,ch,ngh cũng chỉ là một chữ ( không phải như trước
đây ngh là do 3 chữ n, g, h ghép lại). Trước khi viết HS nhắc lại cách phát âm và
nhận xét luồng hơi đi ra để củng cố lại nguyên âm hay phụ âm.
2a: Giới thiệu chữ in thường.
2b: Giới thiệu chữ viết thường.
GV phải hướng dẫn cụ thể, tỉ mỉ đường đi của bút: Điểm bắt đầu- điểm
chuyển hướng- điểm kết thúc ( trước đây GV chỉ hướng dẫn độ cao và các nét)
8


Đưa chữ vào mơ hình
a
Dùng mơ hình để tạo tiếng mới
Thêm dấu thanh trong mơ hình, viết xong đọc đi, đọc lại nhiều lần cá
nhân, nhóm, tổ và cả lớp để hình thành kĩ năng.
Chú ý viết là thao tác bằng tay. GV huấn luyện viết theo 4 mức độ: Viết
được, viết đúng, viết đẹp, viết nhanh. Quan trọng nhất là viết phải đúng.
2c: Viết tiếng có âm mới.
2d: Hướng dẫn viết vở “ Em tập viết”.
Chú ý: Viết đúng chính tả: Có 2 loại luật chính tả
1.Luật ghi âm, xử lí quan hệ âm /chữ
Âm
1

1
1

Chữ
2
3
4

Ví dụ
g/gh, ng/ngh, âm đệm o/u
/c/- c, k, q
/iê/- iê, yê, ia, ya

2.Quan hệ chữ nghĩa
Nói có thể khác nhau nhưng viết bắt buộc phải giống nhau
Ví dụ: Gia (đình), da (thịt), ra( vào)
Giấu/ dấu, cho/ tro, hiêu/ hươu, lăn/ lăng, mắt/ mắc, vô/ dô.
Việc 3: Đọc
3a: Đọc chữ trên bảng.
Viết xong chữ nào đọc trơn chữ ấy, bắt đầu bằng tiếng nguyên khối- phân
tích tiếng để viết chữ- trở về tiếng ban đầu tức là đọc trơn. Đọc trơn tiếng thanh
ngang là cơ sở để đọc tron các tiếng có thanh khác.
Đánh vần theo cơ chế phân đôi:
a. Lấy tiếng thanh ngang làm cơ sở: ba: /bờ/-/a/- /ba/
b. Quy về tiếng thanh ngang: /bà/- /ba/- /huyền/- /bà/
Cách đánh vần cổ truyền lúc nào cũng bắt đầu từ đầu: bờ- a- ba- huyền bà.
9


Đọc là thao tác chuyển từ chữ về âm vì vậy khi nói tiếng là 1 lần phát âm

trọn vẹn thì chữ ghi tiếng cũng cũng đọc 1 lần trọn vẹn : nhìn chữ /bà/ đọc
trơn /bà/ nếu khơng đọc trơn buộc phải đánh vần thì lùi 1 bước đánh vần mấp
máy môi /bà/- /ba/- /huyền/- /bà/
* Cơ chế tách đôi:
1.Tạm thời bỏ thanh ngang- đọc trơn.
2.Trả lại thanh- đọc tiếng có thanh.
3.Đọc cả 4 mức độ âm thanh: To- nhỏ- nhẩm- thầm ( ngậm miệng) hay
còn gọi đọc bằng mắt.
3b: Đọc sách Tiếng Việt CGD lớp1-tập 1.
Thao tác 1: Trò tự đọc- đọc nhỏ, đọc tron
Thao tác 2: Đọc theo mẫu của thầy- đọc trơn ( HS lớp tôi đọc tốt nên cho
đọc mẫu )
Thao tác 3: Đọc theo tổ để củng cố
Thao tác 4: Đọc cá nhân để kiểm tra
Thao tác 5: Nhận xét về chính tả
Việc 4: Viết chính tả.
Việc 4 là cơ hội kiểm tra đánh giá có phải: học gì được nấy,
học đâu chắc đấy.
Quy trình viết chính tả:
Thầy đọc 1 lần 1-2 tiếng
Trị làm 4 thao tác theo trật tự:
1. Nhắc lại tiếng
2. Phân tích tiếng
3. Viết (theo luật chính tả)
4. Đọc lại
4a: Viết bảng con: Viết chữ ở trang chẵn
Viết từng tiếng rời ba / bà
Viết 2 tiếng liền nhau: ba bà, bà ba (mỗi chữ cách nhau bằng 1 chữ “o”tức
là 1li rưỡi)
10



4b: Viết vở chính tả (từ, câu ứng dụng). Viết chữ ở trang lẻ.
Mỗi khi có dịp thầy yêu cầu HS nhắc lại luật chính tả
II. Cơng đoạn 2 – Dùng mẫu /ba/
QUY TRÌNH
Mở đầu: Có 2 nhiệm vụ cơ bản
a. Nhắc lại mẫu đang dùng
b. Tạo cớ để thay một thành phần của mẫu ( đây là cách ôn tập tích cực,
học có ý thức)
Vẽ mơ hình tiếng bài cũ

b

a

Thay phụ âm đầu /b/ bằng /ch/
Ví dụ 2.Bài mới
Chúng ta tiếp tục dùng mẫu /ba/
Yêu cầu thay âm b bằng các phụ âm khác: /c/, /ch/, /d/….
Hôm nay chúng ta thay a bằng nguyên âm mới /e/. Ta có tiếng be
Tìm tiếng mới bằng cách thay âm /b/ bằng các phụ âm khác: ce,che, de,
đe
Đây là cơ hội đưa ra luật chính tả
Tiếng /ce/, /ke/ đều đúng vì em chưa học luật chính tả
GV nêu luật chính tả : Âm /cờ/ đứng trước nguyên âm /e/ thì phải viết
bằng con chữ k ( đọc là ca ) ke
Đọc trơn ke
Phân tích ke
* Dùng mẫu để làm ra sản phẩm mới, bao hàm trong đó cả “Củng cố- ơn

tập” những gì đã có.
1.Mỗi lần dùng mẫu chỉ thay một âm ( âm vị)
2. Để nắm chắc âm mới thì phải giữ lại nó ( trong mơ hình) thay âm kia
bằng những âm đã học. Viết vào bảng con những tiếng mới:
Học chữ c thì gặp lại các chữ a,b
Học chữ e thì gặp lại các chữ: a, b,c, ch, d, đ
11


Các âm ( và chữ) xuất hiện lần lượt theo thứ tự bảng chữ cái abc. Nếu
hàng ngày GV làm theo thứ tự này thì học hết lớp 1 các em sẽ học thuộc bảng
chữ cái.
Hết tiết học này đến tiết học khác, tiết học nào cũng thực hiện theo 4 quy
trình cứng của sơ đồ 4 thì học sinh sẽ học được cách học bằng trí óc.
Tiết học được tổ chức và kiểm soát trên cả 2 trang trong SGK.
Trang chẵn: dành cho học sinh cả lớp đều đọc được.
Trang lẻ dùng để phân hóa: Ai có sức đến đâu thì học tập đến đó.
QUY TRÌNH DẠY VẦN
Việc 1: Thao tác trên vật thật để rút ra âm vị
Việc 2: Nắm được âm vị HS biết thay thề âm vị để nắm chắc trong đầu âm
vị đó và cụ thể hóa bằng chữ viết.
Việc 3: Từ vật thay thế đó lại trở về với vật thật.
Việc 4: Củng cố, đánh giá cả ba việc trên bằng cách cho HS viết lại các
tiếng, vần đã học bằng chữ từ cách đánh vần, phân tích và ghi lại bằng con chữ
cụ thể.
1.Mở đầu: GV cho HS nhắc lại vần đã học theo mẫu nào ?
Mẫu an, vần có âm chính và âm cuối
Thay âm chính bằng âm khác, thêm dấu thanh. Nêu luật chính tả ghi dấu
thanh.
Vẽ mơ hình

Học âm mới bằng cách thay âm chính a bằng một âm khác
GV nhận xét tuyên dương.
2.Bài mới
Việc 1: Học vần mới
1a: Giới thiệu tiếng
1b : Phân tích tiếng.
1c: Vẽ mơ hình vần
1d: Tìm tiếng mới có mang vần mới học
12


Việc 2: Viết
2a: Hướng dẫn viết chữ
2b: Hướng dẫn viết vần
2c: Hướng dẫn viết vở “ Em tập viết”.
Việc 3: Đọc
3a: Đọc chữ trên bảng lớp
3b: Đọc sách Tiếng Việt CGD lớp1-tập 2
Trước khi luyện đọc theo cặp, GV yêu cầu HS mở SGK . Nếu bài đọc có
tranh minh hoạ GV có thể cho HS tìm hiểu trong phần này. Sau đó tiến hành cho
HS đọc theo cặp (nhóm ) trong SGK. Sau khi luyện đọc theo cặp, GV tổ chức
cho vài nhóm đọc trước lớp xem nhóm nào đọc tốt hơn, mời các nhóm cịn lại
nhận xét đánh giá. Với tính chất khơng nặng nề như thi đua chủ yếu là nhận xét,
rút kinh nghiệm, khích lệ như thế sẽ giúp HS hứng thú rất nhiều, đồng thời phát
huy được việc tự đánh giá của HS trong lớp.
Việc 4: Viết chính tả.
4a: Viết bảng con.
4b: Viết vở chính tả ( câu ứng dụng).
4c: Thu vở, nhận xét để HS rút kinh nghiệm
QUY TRÌNH ƠN TẬP TỔNG HỢP TẬP 3

* So sánh với tập 1 và tập 2 thì tập 3 quy trình có thay đổi như sau:
Việc 1: Ôn tập dành cho ngữ âm- khái niệm ngữ âm và chính tả ( ở trang
lẻ)
Việc 2: Đọc: Đọc trơn , đọc cả 4 mức âm thanh. Chú ý hơn đọc bằng mắt
( để tăng tốc độ đọc) . Bài đọc ở trang chẵn
Tập 1 và tập 2: Việc 1: Đọc,
Việc 2: Viết vở : Em tập viết
Việc 3: Đọc,
Việc 4: Viết chính tả
Tập 3:

Việc 1: Đọc
13


Việc 2: Đọc
Việc 3: Viết
Việc 4: Viết chính tả
Thực hành Tuần 29 (tiết 9-10)
Việc 1: Phương pháp tách đôi
1a. Mẫu : Cành
Bước 1: Tách thanh ra còn để lại tiếng thanh ngang: canh
Bước 2: Tách đôi tiếng thanh ngang canh thành hai phần: âm đầu c,
phần vần anh
Bước 3: Nếu chưa đọc được vần anh thì tiếp tục tách a - nh
Bước 4: Trả lại thanh: canh - huyền - cành
1b. Tổng kết
Việc 2: Đọc : Con chim manh manh
Bước 1: Chuẩn bị
1. Đọc nhỏ: Yêu cầu HS đọc nhỏ toàn bài

2. Đọc bằng mắt: Tự gạch chân một số từ khó: mảnh sành, liệng…
3. Đọc to: Đọc từ khó theo hướng dẫn của thầy
Bước 2:Đọc bài:
1. Đọc mẫu: GV hoặc HS ( tùy theo lớp)
Đọc to chú ý ngắt hơi ở cuối câu thơ
2. Đọc nối tiếp: Nối tiếp từng dòng thơ, nối tiếp theo 2 đoạn.
3. Đọc đồng thanh: Đọc to- nhỏ- mấp máy môi
Đọc vỗ tay theo nhịp thơ.
Bước 3: Tìm hiểu cách gieo vần
Tìm những cặp tiếng ăn vần với nhau
Chanh - sành, lốc - chốc, đầy - thầy, hai - tai, cốt - một
GV nêu chốt ý: bài đồng giao thường có những cặp tiếng ăn vần với nhau
để đọc dễ thuộc
Cho HS đọc thuộc bài (HS cần hỗ trợ thuộc 2 - 4 dòng )
14


Việc 3: Viết
3a. Viết trên bảng con
Viết chữ I hoa, I-ta-li-a, Im hơi lặng tiếng.
3b.Viết vào vở em tập viết
Việc 4: Viết chính tả.
Bước 1: Chuẩn bị: GV đọc cho HS Viết bảng con từ khó
Viết bảng con hoặc viết vào vở nháp từ: manh, sành, lông lốc…
Cho HS đọc lại từ vừa viết (đồng thanh)
Hướng dẫn cách trình bày bài thơ: Mỗi câu thơ viết 1dòng. Chữ đầu tiên
của mỗi câu thơ đều viết hoa. Hết khổ thơ thứ nhất cách 1dòng rồi viết khổ thơ
thứ 2.
Bước 2: Nghe –viết: Viết đoạn 1 bài thơ: Con chim manh manh
Viết vở chính tả (Theo 4 bước )

1. Nhắc lại tiếng
2. Phân tích tiếng
3. Viết (theo luật chính tả)
4. Đọc lại
GV đọc soát bài
Thu vở, nhận xét rút kinh nghiệm. GV lưu ý một số từ HS hay viết sai.
** Một số yêu cầu chủ yếu khi thực hiện
1. Đối với GV
Tác phong lời nói , cử chỉ, điệu bộ của GV cần phải chuẩn mực, thân thiện.
Giáo viên gương mẫu trong cách phát âm và viết mẫu.
Khi đọc bài GV cần hướng dẫn cụ thể và phát âm chuẩn, cho HS đọc lại
nhiều lần ( tăng cường đọc cá nhân), chọn dung lượng đọc trên bảng phù hợp
với trình độ học sinh, từng học sinh cần yêu cầu cụ thể mức đạt được . Ví dụ :
học sinh hồn thành tốt yêu cầu đọc trơn nhanh, học sinh hoàn thành yêu cầu
đọc trơn được ở mức độ còn chậm, học sinh có năng lực chưa hồn thành thì u
15


cầu đánh vần đúng, nhanh hơn, tập đọc trơn.....cần phân phối thời gian cho phù
hợp ưu tiên hơn đến những em còn chậm.
Khi viết mẫu cần cụ thể từng nét, nêu rõ độ cao để học sinh nhớ lại,
hướng dẫn các em viết thật tỉ mỉ, không làm qua loa mà phải chậm chắc
Quy trình 4 việc cần phải thực hiện theo trình tự.
Câu lệnh của giáo viên cần phải dứt khoát, rõ ràng. HS thực hiện theo đúng
yêu cầu của giáo viên hoạt động giữa GV- HS cần diễn ra nhịp nhàng.
Các hoạt động của lớp cần phải thực hiện theo “ký hiệu” trên bảng hoặc ký
hiệu bằng tay của giáo viên. Giáo viên khơng nên nói nhiều mà phải ưu tiên các
hoạt động cho học sinh.
Giáo viên cần phải thuộc các việc cơ bản ở mỗi bài, nghiên cứu kĩ tài liệu
trước khi đến lớp.

Cần phải nhẹ nhàng, thân thiện và linh hoạt tổ chức các hoạt động trong
từng việc, có tổ chức chuyển tiết trong mỗi buổi dạy để tạo hứng thú cho học
sinh.
2. Đối với HS
* Yêu cầu đối với học sinh là thuộc bảng chữ cái, âm Tiếng Việt. Biết kết
hợp đọc và viết được âm khi học, tập ghép vần và phân tích.
* Nắm được kĩ năng về các âm, vần trong Tiếng Việt 1, biết phân biệt
nguyên âm và phụ âm, biết cách lập mẫu và dùng mẫu, phân tích vần, tiếng, đọc
được theo các mức độ to - nhỏ - nhẩm - thầm theo lệnh và ký hiệu của giáo viên.
Biết phân biệt đâu là âm đệm, đâu là âm chính và đâu là âm cuối, học về luật
chính tả biết phân biệt được luật chính tả về âm đệm, nguyên âm đơi.
Chủ động, tích cực tham gia học tập cùng cơ và các bạn.
3.2.Phân loại đối tượng học sinh:
Tôi tiến hành phân loại HS, tìm hiểu tình hình từng nhóm. Ngun nhân
nhóm HS cần hỗ trợ chủ yếu do khơng thuộc bảng chữ cái, thái độ học tập
khơng đúng cịn mải chơi, sự phát triển trí tuệ chậm, phụ huynh HS chưa quan
tâm, gia đình cịn khó khăn...Từ đó GV có biện pháp giáo dục phù hợp.
16


Dạy đâu chắc đó, học sinh phải nắm được bài, khơng để học sinh ngồi lề
lớp học. Cần nắm chắc trình độ nhận thức của từng HS nhất là HS cần hỗ trợ để
giúp đỡ HS kịp thời trong từng tiết học và phụ đạo vào buổi chiều. Vừa học bài
mới kết hợp ôn tập bài cũ. HS chưa đọc được tiếng GV cần cho HS phân tích lại
phần vần rồi mới kết hợp ghép tiếng.
Phân loại đối tượng HS theo nhóm và đặt tên nhóm khi tổ chức trị chơi
(thi đọc trong nhóm). Có những bài tập phù hợp với trình độ từng nhóm HS để
nhóm HS học tốt phát huy hết khả năng của mình ( Đọc bài cả trang chẵn và
trang lẻ), nhóm HS khác chỉ yêu cầu đọc một số tiếng có vần mới.
Sắp xếp chỗ ngồi của học sinh trong lớp để các em hỗ trợ nhau.

Quan tâm khích lệ học sinh, tạo cơ hội để học sinh được chủ động tích
cực thơng qua giờ học và thực hành. Kiểm tra thường xuyên để uốn nắn cho học
sinh:
Thường xuyên kiểm tra, gần gũi các em học sinh hay mắc lỗi để động
viên, khuyến khích các em, không để các em chán nản và phối hợp cùng với gia
đình tìm biện pháp rèn riêng cho từng em.
Rèn kĩ năng đọc đúng, đọc thật chuẩn và chính xác bài đọc . Cho cả lớp
đọc, đọc cá nhân để phát hiện lỗi sai chỉnh sửa kịp thời . Lồng ghép các trò chơi
học tập trong các tiết học. Tổ chức cho các em hoạt động chuyển tiết bằng nhiều
hình thức phong phú tránh mỏi mệt sau mỗi tiết học.
Làm tốt cơng tác duy trì sĩ số hàng ngày, nề nếp của HS. Mỗi ngày làm ra
một sản phẩm mới cho chính mình thì:
“Mỗi ngày đến trường náo nức một ngày vui. Đi học là hạnh phúc”.
Yêu cầu HS học thuộc bảng chữ cái, GV viết và in bảng chữ cái có phiên
âm cách đọc phát về cho phụ huynh HS dạy thêm cho con đọc và viết ở nhà: a, b
(bờ), c, k, q(cờ), …

3.3. Phân loại hệ thống cấu trúc vần gắn với luật chính tả.
17


Ở giai đoạn này, học sinh được học cấu trúc vần - chữ theo nguyên tắc: phụ
âm ghép với nguyên âm để tạo thành tiếng (ba, bà, bá, bả…). Gồm 22 phụ âm và
11 nguyên âm . Phụ âm đầu ghép với các vần theo mẫu tạo thành tiếng( ba, loa,
lan, loan) ghép với 6 dấu thanh, một số nguyên âm đơi.
Lưu ý luật chính tả:
Âm /c/ đứng trước âm đệm ghi bằng con chữ q, âm đệm ghi bằng con chữ
u: quai, quê…
Âm /cờ/ đứng trước e,ê,i viết bằng con chữ /ca/ : ki, ke, kê
Âm /gờ/, /ngờ/ đứng trước e,ê,i viết bằng con chữ /gh/, /ngh/.

Dấu thanh được đặt trên đầu âm chính.
Luật chính tả ngun âm đơi //, ươ/, /iê/ khi viết một mình dấu thanh
được đặt ở âm thứ nhất, khi có âm cuối thì dấu thanh được đặt ở âm thứ hai…
(nguyên âm đôi được viết iê hoặc ya: tiên, khuya…
Thường xuyên nhắc lại luật chính tả khi đọc hay viết gặp lại những từ có
liên quan đến luật chính tả. GV cho HS đọc luật chính tả đến đâu thực hành viết
vào bảng con đúng chữ đó ( Âm /cờ/ đứng trước âm đệm ghi bằng con chữ q,
HS viết chữ q…), Hoặc cho HS nhận diện luật chính tả sau khi GV viết xong.
3.4. Rèn kĩ năng viết chính tả
Muốn viết chính tả tốt trước hết HS phải được luyện đọc nhiều và đọc
đúng (tăng cường đọc cá nhân để sửa lỗi)
Xác định rõ từng em học sinh hay viết sai chính tả và các lỗi sai hay mắc
phải , xếp những em này ngồi ở những vị trí bàn đầu để dễ quan sát và kiểm tra
trong khi các em viết bài.
Sắp xếp những em hay viết sai chính tả ngồi gần những em HS đọc
chuẩn, viết đúng chính tả để có thể giúp đỡ cho bạn.
Trong các buổi phụ đạo học sinh viết còn chậm chỉ chú trọng phần luyện
viết và đọc . Trước khi HS viết chính tả nên cho HS nêu lại tư thế ngồi viết cho
chuẩn mới cho HS viết để tránh cho các em bị cong vẹo cột sống.
18


GV sửa lại các lỗi sai cho HS. Yêu cầu HS viết lại các lỗi sai xuống cuối
vở từ 1 → 2 lần
HS chưa hoàn thành chưa biết viết GV phải cầm tay cho HS viết.
Cho HS luyện viết chữ hoa GV cần lưu ý phân tích cụ thể từng nét, độ cao
điểm bắt đầu và điểm kết thúc sau đó cho HS quan sát chữ mẫu, luyện viết đúng
nét trước khi cho HS viết vào vở.
GV đọc cho HS viết. Quá trình này HS phải ghi nhớ tiếng, từ do GV yêu
cầu viết, sau đó HS phải nhẩm trong miệng, có thể đánh vần rồi mới viết ra bảng

con. Kết quả viết trên bảng con là phản ánh quá trình tư duy cuả HS trong việc
luyện đọc. Vì viết đúng chứng tỏ HS đã nghe đúng, hiểu đúng , đọc đúng( nhẩm,
đánh vần) và ngược lại. Đây cũng là một phần trong việc kiểm tra kết quả đọc
của HS đồng thời cũng là kiểm tra kĩ năng viết của HS.Căn cứ vào kết quả đó
GV đánh giá và điều chỉnh quá trình dạy học của mình. Mặt khác, khi HS thực
hiện viết bảng con sẽ khơng làm lãng phí thời gian của các em mà GV lại kiểm
tra được cả lớp và HS được rèn kĩ năng viết đúng trước khi viết vào vở.

4.Hiệu quả của việc áp dụng sáng kiến vào thực tiễn
Qua kết quả thi cuối năm của năm học 2017-2018 chất lượng môn Tiếng
Việt của lớp1A2 đã nâng lên rõ rệt, cụ thể như sau:
TSHS
29
Hoàn thành tốt
20

70 %

Cuối học kì II
Hồn thành
9

30 %

Chưa hồn thành
0

0%

- 20 HS đạt điểm 9 và điểm10 trong môn Tiếng Việt ở kì thi cuối năm.

- Khơng có HS khơng hồn thành môn học.
- 25/ 29 HS đọc tốt : to, rõ ràng, kèm theo cả ngữ điệu tốt, nắm chắc luật chính
tả, hiểu nội dung bài học tốt.
- Khơng có HS không biết đọc , không biết viết, nhiều em viết đẹp, viết đúng
chính tả. Biết phân biệt các âm l /n, r /d ,… mà không bị ngọng bởi ngôn ngữ
địa phương.
19


- Nhiều em biết sử dụng ngôn ngữ Tiếng Việt để diễn đạt tốt ngôn ngữ Tiếng
Việt của bản thân và các mơn học khác lưu lốt thành thạo.
- Học sinh tự tin, chủ động, hứng khởi trong học tập, cũng như trong cuộc sống
đồng thời yêu quý môn học hơn.

C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
- Với phân môn Tiếng Việt, để nâng cao chất lượng giảng dạy giáo viên
phải vận dụng các phương pháp giảng dạy một cách linh họat và sáng tạo. Để
thực hiện tốt việc viết đúng, viết đẹp phải thấy được sự gắn kết, hỗ trợ và tác
động lẫn nhau giữa các khâu đọc, nghe, nói, viết. Bởi vì giáo viên phải đọc, học
sinh nghe rồi mới viết vào vở, do đó giáo viên phải là người chuẩn mực trong tất
cả các khâu trên. Ngồi ra giáo viên phải có lịng u nghề, mến trẻ, hết lịng vì
học sinh, có ý thức tìm tịi sáng tạo, phát hiện những cái mới, cái hay, cái tiến bộ
để vận dụng hoàn thiện phương pháp giảng dạy của mình. Tuỳ theo đối tượng
học sinh của lớp mình để áp dụng thiết kế một cách hợp lí, cách thức đọc ( đọc
mẫu GV hoặc học sinh không máy móc ) lựa chọn đoạn viết phù hợp với đối
tượng , trình độ học sinh ; phù hợp với mục đích của bài dạy, của địa phương
học sinh…
- Đối với gia đình học sinh: Cần quan tâm nhiều hơn đến việc học tập của
trẻ.

- Tạo điều kiện học tập tốt nhất cho các em cả về vật chất , tinh thần, thời
gian.
- Trong các môn học khác GV luôn hướng học sinh nói thành câu đủ ý khi
trả lời bài, phát âm chuẩn ,viết đúng .Giúp đỡ học sinh có năng lực chưa hồn
thành tiến bộ, học sinh có năng lực hoàn thành và hoàn thành tốt cần bồi dưỡng ,
hướng dẫn để các em sử dụng ngôn ngữ Tiếng Việt tốt, linh hoạt .

20


2. Kiến nghị
- Để thực hiện có hiệu quả, GV trong tổ thường xuyên trao đổi chuyên
môn, sinh hoạt chuyên mơn theo cụm trường nhiều hơn .
- GV cần có sự nghiên cứu nội dung bài dạy, nắm vững mục tiêu từng tiết
dạy từ đó vận dụng cho phù hợp đối tượng HS lớp mình phụ trách.
- Tùy theo từng địa phương mà chọn từ ngữ cần rèn đọc, từ ngữ cần giải
nghĩa, cho đoạn viết chính tả phù hợp, khơng rập khn máy móc như sách thiết
kế. HS luyện đọc câu có liên quan đến vần vừa học và luyện viết chính tả câu
vừa luyện đọc. Đối với HS cần hỗ trợ có thể kèm cả tập chép1 →2 câu.
- Sử dụng thường xuyên các thiết bị phục vụ dạy học có sẵn và tự làm, tự
sưu tầm thêm để đưa vào tiết dạy.
Trên đây là giải pháp mà tơi đã sử dụng cho đơn vị mình để giải quyết
khó khăn vướng mắc trong dạy Tiếng Việt CGD lớp 1ở Trường Tiểu học xã An
Lão trong năm học 2017-2018 , trong q trình triển khai thực hiện sáng kiến
cịn nhiều thiếu sót , kính mong được sự góp ý quý báu của đồng nghiệp, của
Ban giám hiệu nhà trường,…để giải pháp thực hiện đạt hiệu quả cao hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
An Lão, ngày 8 tháng 10 năm 2018
Người thực hiện


Nguyễn Thị Kim Tuyết

21


PH LC

A. Phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Trang 2
2. Mục đích nghiên cứu
Trang 3
3. Đối tợng nghiên cứu
Trang 3
6. Phng pháp nghiên cứu
Trang 3
4. Gii hn phm vi nghiên cứu
Trang 3

B. Néi dung
1. C¬ së lý luËn
Trang 3
2. C¬ së thùc tiƠn
Trang 4
3. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề
Trang 6
4. Hiệu quả của việc áp dụng sáng kiến vào thực tiễn
Trang 19

C. KÕt luËn và kiến nghị

22


1. KÕt luËn
Trang 20
2. Kiến nghị

Trang

21

23


24



×