Tải bản đầy đủ (.pdf) (85 trang)

Quản lý thu bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện thăng bình, tỉnh quảng nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1000 KB, 85 trang )

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN DUY KHÁNH

QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN THĂNG BÌNH, TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN DUY KHÁNH

QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN THĂNG BÌNH, TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành : Quản lý kinh tế
Mã số

: 8 34 04 10

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN VĂN HÙNG

HÀ NỘI, năm 2019



LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn thạc sỹ “Quản lý thu bảo hiểm xã hội trên
địa bàn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam” là công trình nghiên cứu của riêng
tôi. Các số liệu được sử dụng trong luận văn được thu thập từ thực tế, chính xác,
đáng tin cậy, có nguồn gốc rõ ràng, được xử lý trung thực và khách quan.
Đà Nẵng, ngày 10 tháng 05 năm 2019
Tác giả

Phan Duy Khánh


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI
TRONG CƠ QUAN BẢO HIỂM XÃ HỘI .............................................................8
1.1. Khái quát chung về bảo hiểm xã hội và quản lý thu bảo hiểm xã hội .................8
1.2. Nội dung quản lý thu bảo hiểm xã hội ...............................................................19
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thu bảo hiểm xã hội ..................................30
1.4. Tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý thu bảo hiểm xã hội ...................................34
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI BẢO
HIỂM XÃ HỘI HUYỆN THĂNG BÌNH ..............................................................36
2.1. Tổng quan về bảo hiểm xã hội huyện Thăng Bình ............................................36
2.2. Thực trạng quản lý thu BHXH tại BHXH huyện Thăng Bình...........................42
2.3. Đánh giá chung ..................................................................................................56
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI BẢO
HIỂM XÃ HỘI HUYỆN THĂNG BÌNH ..............................................................63
3.1. Cơ sở đề xuất giải pháp thu BHXH tại BHXH Huyện Thăng Bình ..................63
3.2. Giải pháp thu BHXH tại BHXH huyện Thăng Bình .........................................65
3.3. Kiến nghị ...........................................................................................................75

KẾT LUẬN ..............................................................................................................77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ASXH

An sinh xã hội

BHTN

Bảo hiểm thất nghiệp

BHXH

Bảo hiểm xã hội

BHYT

Bảo hiểm y tế

DN

Doanh nghiệp

ĐTNN

Đầu tư nước ngoài


HCSN

Hành chính sự nghiệp

ILO

Tổ chức Lao động quốc tế

NN và PTNT

Nông nghiệp và phát triển nông thôn

NSNN

Ngân sách nhà nước

SXKD

Sản xuất kinh doanh

TLNĐ-BNN

Tai nạn lao động – Bệnh nghề nghiệp

TMCP

Thương mại cổ phần

UBND


Ủy ban nhân dân


DANH MỤC BẢNG BIỂU

Số hiệu

Tên bảng

Trang

bảng
1.1

Tỷ lệ đóng BHXH từ 01/2007 đến nay

24

2.1

Số đơn vị tham gia BHXH giai đoạn 2015-2017

44

2.2

Số lao động tham gia BHXH giai đoạn 2015 - 2017

45


2.3

Cơ cấu lao động tham gia BHXH giai đoạn 2015 - 2017

45

2.4

Bảng Tỷ lệ đóng BHXH từ năm 2007

46

2.5

Tiền lương đóng BHXH bình quân giai đoạn 2015 - 2017

47

2.6

Tiền thu BHXH giai đoạn 2015-2017

50

2.7

Mức lãi phạt chậm đóng từ 2015 đến năm 2017

52


2.8

Số tiền nợ BHXH giai đoạn 2015 - 2017

53

2.9

Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch giai đoạn 2015-2017

56


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với Bảo hiểm y tế ( BHYT ), Bảo hiểm thất nghiệp ( BHTN ), Bảo
hiểm xã hội ( BHXH ) là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước. Trong những
năm qua, công tác BHXH đã thể hiện được vai trò, vị trí của nó đối với việc góp
phần ổn định đời sống của nhân dân, thực hiện công bằng xã hội và ổn định chính
trị - xã hội. Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 22/11/2012 đã khẳng định:“BHXH,
BHYT là hai chính sách xã hội quan trọng, là trụ cột chính của hệ thống ASXH, góp
phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị-xã hội và
phát triển kinh tế - xã hội”.
Bảo hiểm Xã hội Việt Nam là cơ quan thuộc Chính phủ, có chức năng tổ
chức thực hiện chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất
nghiệp. Để thực hiện được chức năng, vai trò đó, cần đảm bảo duy trì, kết dư quỹ và
bảo toàn quỹ bảo hiểm xã hội - đây là một quỹ riêng, độc lập với NSNN, nhằm đảm
bảo về tài chính để chi trả các chế độ BHXH cho người lao động. Công tác thu là
nguồn hình thành cơ bản nhất trong quá trình tạo lập nên quỹ BHXH; đồng thời là
khâu bắt buộc đối với đối tượng tham gia BHXH thực hiện trách nhiệm của mình.

Vì vậy, công tác thu BHXH là nhân tố quan trọng quyết định đến sự tồn tại và phát
triển của việc thực hiện chính sách BHXH của nước ta.
Tuy nhiên, thực tế hiện nay là tỷ lệ trốn đóng BHXH cho người lao động và
nợ đọng BHXH đang là vấn đề nan giải và xẩy ra rất nhiều. Do đó, yêu cầu cấp thiết
hiện nay (trong khi chưa có những thay đổi Luật BHXH, Luật lao động) là cần quản
lý chặt chẽ thu BHXH, đảm bảo thu đúng, thu đủ, kịp thời, không để thất thu
BHXH và ổn định quỹ lâu dài.
Bảo hiểm xã hội huyện Thăng Bình là đơn vị trực thuộc BHXH tỉnh Quảng
Nam, thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo phân cấp được giao. Từ khi thành lập đến
nay, BHXH huyện Thăng Bình đã đạt được nhiều kết quả, góp phần đảm bảo an sinh
xã hội trên địa bàn huyện Thăng Bình nói riêng và cả tỉnh Quảng Nam nói chung.

1


Tuy nhiên bên cạnh đó, công tác thu bảo hiểm xã hội còn một số hạn chế,
yếu kém, nổi bật là một số vấn đề như: độ bao phủ bảo hiểm xã hội còn thấp, tình
trạng trốn đóng BHXH còn nhiều, tỷ lệ tham gia BHXH (trên số lao động thuộc
diện tham gia BHXH) chỉ đạt thấp; tỷ lệ nợ tiền BHXH còn lớn so với tổng tiền
phải thu trong giai đoạn 2015-2017, tình trạng gian lận trong việc đăng ký tham gia,
kê khai quỹ tiền lương đóng BHXH cho người lao động còn nhiều...
Trước thực trạng như trên ở BHXH huyện Thăng Bình và trước nguy cơ
chung về mất cân đối quỹ BHXH trong tương lai gần, vấn đề quản lý thu BHXH
càng trở nên quan trọng. Đây chính là lý do tôi lựa chọn đề tài : “Quản lý thu bảo
hiểm xã hội trên địa bàn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam” làm đề tài luận
văn thạc sỹ của mình.
Nghiên cứu đề tài này, tôi mong muốn và hi vọng những kết quả nghiên cứu
có thể được ứng dụng trong thực tế, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý
thu BHXH trên địa bàn huyện Thăng Bình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Từ khi thành lập và đi vào hoạt động của hệ thống BHXH Việt Nam, vai trò,
vị trí của BHXH đã ngày càng được thể hiện, nâng cao. Chính vì vậy, đã có nhiều
đề tài cấp bộ, luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ đi nghiên cứu những vấn đề chung,
cũng như những vấn đề cụ thể về BHXH, tuy nhiên những đề tài về vấn đề quản lý thu
BHXH vẫn đang hạn chế. Mới có một số đề tài được nghiên cứu một cách có hệ thống,
đó là:
Luận án tiến sỹ “Hoàn thiện quản lý quỹ BHXH ở Việt Nam”, của tác giả của
Đỗ Văn Sinh ( 2005 ) tại Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Luận án đã tập
trung phân tích tài chính quỹ BHXH qua các thời kỳ, từ đó đưa ra các giải pháp liên
quan đến quản lý quỹ và cân đối quỹ BHXH. Từ kết quả nghiên cứu của Luận án, ta
thấy được Luận án đã đưa ra được những giải pháp để hoàn thiện công tác quản lý
và cân đối quỹ BHXH hợp lý và khoa học.
Luận án tiến sỹ “Hoàn thiện cơ chế thu BHXH ở Việt Nam” của tác giả
Phạm Trường Giang ( 2009 ). Luận án nghiên cứu sự phối hợp giữa các bộ phận

2


trong hệ thống thu BHXH từ đó phát hiện ra những tồn tại, bất cập; Trên cơ sở đó,
luận án đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế thu BHXH ở Việt Nam . Từ
những kết quả nghiên cứu của Luận án, ta thấy được những giải pháp để hoàn thiện
cơ chế thu BHXH ở Việt Nam hợp lý và khoa học.
Luận văn thạc sỹ “Quản lý thu BHXH đối với khu vực kinh tế tư nhân tại Hà
Nội” của tác giả Đặng Ngọc Liên ( 2004). Luận văn nghiên cứu BHXH dưới góc độ
nguồn thu trên địa bàn Hà nội 1997-2004 và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả
quản lý thu với đối tượng này. Từ những kết quả nghiên cứu của Luận văn, ta thấy
được Luận văn đã đưa ra được những giải pháp, nhưng kiến nghị nhằm quản lý thu
BHXH đối với khu vực kinh tế tư nhân tại Hà Nội. Tuy nhiên, Luận văn nghiên cứu
giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2004 nên những giải pháp và kiến nghị của tác giả
không còn phù hợp; Hiện nay, Luật BHXH số 58/2014/QH13 ban hành ngày

20/11/2014 có hiệu lực từ ngày 01/01/2016 thay đổi rất nhiều nội dung mới nên cần
phải có những giải pháp, những đề xuất mới, phù hợp với thực tế hơn.
Luận văn thạc sỹ “Hoàn thiện quản lý thu BHXH khu vực doanh nghiệp
ngoài quốc doanh ở Việt Nam” của tác giả Trần Quốc Tý, Ban tuyên truyền –
BHXH Việt Nam. Đề tài nghiên cứu quá trình tổ chức thực hiện thu BHXH khu vực
ngoài quốc doanh từ năm 1995-2000; làm rõ thêm cơ sở lý luận và thực tiễn về
quản lý thu BHXH khu vực này, thực trạng và giải pháp hoàn thiện quản lý thu
BHXH khu vực ngoài quốc doanh ở Việt Nam. Luận văn nghiên cứu giai đoạn từ
năm 1995 đến năm 2000 nên những giải pháp và kiến nghị của tác giả không còn
phù hợp;Hiện nay, Luật BHXH số 58/2014/QH13 ban hành ngày 20/11/2014 có
hiệu lực từ ngày 01/01/2016 thay đổi rất nhiều nội dung mới nên cần phải có những
giải pháp, những đề xuất mới, phù hợp với thực tế hơn..
Luận văn thạc sỹ “Tăng cường quản lý thu BHXH tại Bảo hiểm xã hội tỉnh
Nghệ An” tác giả Phạm Thị Phong,(2013). Tác giả trên cơ sở vận dụng lý luận và
kinh nghiệm thực tiễn về quản lý thu BHXH, luận văn phân tích thực trạng công tác
quản lý thu BHXH tại BHXH tỉnh Nghệ An, đề xuất những giải pháp chủ yếu để
tăng cường quản lý thu BHXH tại BHXH tỉnh Nghệ An. Từ những kết quả nghiên

3


cứu của Luận văn, ta thấy được Luận văn đã đưa ra được những giải pháp, nhưng
kiến nghị, nhằm tăng cường quản lý thu BHXH trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Tuy
nhiên, Luận văn nghiên cứu giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2013 nên những giải
pháp và kiến nghị của tác giả không còn phù hợp;Hiện nay, Luật BHXH số
58/2014/QH13 ban hành ngày 20/11/2014 có hiệu lực từ ngày 01/01/2016 thay đổi
rất nhiều nội dung mới nên cần phải có những giải pháp, những đề xuất mới, phù
hợp với thực tế hơn.
Đề tài nghiên cứu cấp bộ “ Cơ sở khoa học hoàn thiện quy trình quản lý thu
BHXH (1999) của tiến sỹ Dương Xuân Triệu, Giám đốc trung tâm thông tin khoa

học BHXH Việt Nam bảo vệ năm 1999. Qua những kết quả nghiên cứu của Đề tài,
trên cơ sở nghiên cứu 5 mô hình quản lý thu BHXH của các nước trong khu vực và
trên thế giới, tác giả đã làm rõ một số khái niệm xung quanh vấn đề thu BHXH,
thực trạng quản lý thu BHXH phù hợp với từng loại đối tượng tại Việt Nam.
Tạp chí báo bảo hiểm xã hội kỳ 03, tháng 5/2017 (số 325) – năm thứ 19 với
bài “Không ngừng đổi mới, đẩy mạnh công tác tuyên truyền” của TS. Phạm Lương
Sơn – Phó Tổng giám đốc BHXH Việt Nam. Tác giả đã nêu lên những kết quả đạt
được trong thời gian qua và khẳng định công tác tuyên truyền đem lại hiệu quả cao,
tạo được chuyển biến quan trọng làm tiền đề cho những hoạt động của ngành
BHXH trong thời gian đến. Bên cạnh đó, tác giả cũng nêu lên được những tồn tại,
hạn chế trong công tác tuyên truyền và đưa ra những định hướng về nội dung, đối
tượng, hình thức và một số giải pháp chủ yếu để thực hiện tốt công tác tuyên truyền
như: tăng cường công tác phối hợp với cơ quan chức năng để tuyên tuyền đến mọi
đối tượng tham gia BHXH, BHYT; mở rộng phạm vi triển khai đến xã, phường;
phân nhóm đối tượng có tỷ lệ tham gia BHXH, BHYT còn thấp như nông dân,
người lao động tự do, xã viên hợp tác xã,....
Tạp chí báo bảo hiểm xã hội kỳ 02, tháng 02/2017 (số 318) – năm thứ 19 với
bài “Nổ lực thực hiện mục tiêu BHXH cho mọi người lao động và BHYT toàn dân”
của Ths. Nguyễn Trí Đại - Trưởng Ban Thu, BHXH Việt Nam. Trong bài viết, tác
giả đã nêu ra công tác phối hợp với các Bộ, ngành; nổ lực và chủ động phối hợp với

4


các cơ quan chức năng từ Trung Ương đến địa phương tăng cường công tác thanh
tra, kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật BHXH, BHYT, BHTN. Tác giả
cũng nêu lên được những khó khăn, vướng mắc về công tác thu, mở rộng đối tượng
trong thời gian đầu triển khai Luật BHXH. Đồng thời, đưa ra những thành tựu đã
đạt được trong công tác thu năm 2016 toàn ngành đạt 100,4% so với Kế hoạch Thủ
tướng Chính phủ giao, tăng 38.341 tỷ đồng (17,7%) so với năm 2015, tình hình nợ

BHXH, BHYT, BHTN được kiểm soát ở mức thấp là 3,66% so với tổng số phải thu,
giảm 0,02% so với năm 2015. Tác giả cũng nêu lên được những khó khăn trong công
tác thu năm 2017 và đề ra những phương hướng, nhiệm vụ và những giải pháp để toàn
ngành BHXH thực hiện hoàn thành kế hoạch giao năm 2017.
Những nghiên cứu kể trên đã dựa trên cơ sở lý luận về quản lý thu, tình hình
thực tế công tác thu ở một số nước trên thế giới, và thực trạng của từng địa phương
trong nước theo từng giai đoạn để có những phân tích, đưa ra những phương pháp
để hoàn thiện công tác quản lý quỹ BHXH, hoàn thiện công tác quản lý thu BHXH
nói chung, hay một địa phương, một số nhóm đối tượng thu … cho phù hợp. Tuy
nhiên, tình hình thực tế ở mỗi địa phương khác nhau, ở giai đoạn khác nhau đặc biệt
trong giai đoạn hiện nay với những sự thay đổi nhanh chóng trong phát triển kinh tế
- xã hội cũng như những chính sách mới trong quán lý nhà nước về BHXH đặt ra
những yêu cầu khác nhau trong công tác quản lý thu để đạt được chất lượng, hiệu
quả. Công tác thu BHXH trên địa bàn huyện Thăng Bình đang có những hạn chế,
chưa mang lại kết quả như mong muốn, nhưng cũng chưa có đề tài nào nghiên cứu
một cách có hệ thống về quản lý thu BHXH trên địa bàn huyện Thăng Bình. Đây
cũng chính là lý do tác giả chọn đề tài này làm luận văn thạc sỹ của mình. Trong
luận văn, tác giả đã tham khảo những đề tài nghiên cứu liên quan trên để có cái nhìn
tổng quát về quản lý thu BHXH nói chung, để tiếp cận vấn đề quản lý thu BHXH ở
những góc độ khác nhau, xem xét những giải pháp mà những đề tài đã đưa ra để gợi
ý thêm những giải pháp phù hợp trên địa bàn huyện Thăng Bình. Đồng thời, tác giả
cũng nghiên cứu về tình hình thực tế trong giai đoạn hiện nay trên địa bàn, kết hợp
với những chính sách mới và những dự báo trong thời gian tiếp theo để đưa ra

5


những định hướng, giải pháp nhằm quản lý thu trên địa bàn huyện Thăng Bình ngày
càng tốt hơn. Nghiên cứu sẽ góp phần giúp BHXH huyện Thăng Bình có những gợi
ý về giải pháp có thể thực hiện nhằm quản lý thu BHXH tốt hơn, nâng cao hiệu quả

quản lý trên địa bàn huyện; và đồng thời cũng có thể là những gợi ý cho một số địa
phương khác có thể vận dụng cho phù hợp.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Để chính sách BHXH đi vào đời sống xã hội, ổn định và phát triển, dòi hỏi
phải có một nguồn tài chính đủ lớn và được quản lý có hiệu quả, đảm bảo cân đối
thu – chi, bảo toàn và tăng trưởng. Trong hoạt động tài chính BHXH thì thu BHXH
giữ vai trò cốt lõi nhằm tạo ra một quỹ BHXH độc lập, tập trung, đáp ứng việc chi
trả các chế độ BHXH cho đối tượng tham gia BHXH.
- Nghiên cứu lý luận về công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội..
- Phân tích, đánh giá về thực tế công tác quản lý thu BHXH, tìm ra những
yếu kém, nguyên nhân tại BHXH huyện Thăng Bình.
- Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn trên đề xuất những giải pháp nhằm
nâng cao được hiệu quả quản lý thu BHXH tại BHXH huyện Thăng Bình.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu những vấn đề chung về BHXH và
công tác quản lý nhà nước về thu BHXH, trên cơ sở thực trạng về công tác quản lý
thu BHXH tại BHXH huyện Thăng Bình, đề xuất các giải pháp và kiến nghị để
nâng cao được hiệu quả quản lý thu BHXH tại BHXH huyện Thăng Bình.
Phạm vi nghiên cứu:
Về nội dung: đề tài tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn
về quy trình thu BHXH, các nội dung thu BHXH, các yếu tố ảnh hưởng đến công
tác quản lý thu BHXH, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện trong thời gian đến.
Về thời gian: đề tài tập trung phân tích, nghiên cứu thực trạng giai đoạn
2015 đến năm 2017 và đề xuất các giải pháp định hướng trong thời gian đến. Trong
giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2017 thì công tác quản lý thu BHXH có nhiều sự
thay đổi, biến động và thực trạng thu BHXH tại BHXH huyện Thăng Bình cũng đạt

6



được những kết quả khác nhau, vì vậy sẽ có cơ sở để đánh giá, phân tích rõ ràng
hơn.
Về không gian: tại BHXH huyện Thăng Bình- tỉnh Quảng Nam.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp chủ yếu đã sử dụng, vận dụng và phối hợp trong nghiên
cứu gồm: Phương pháp mô tả, tổng hợp, phân tích, so sánh trên cơ sở thu thập số
liệu, đánh giá thức trạng, tính toán và đề xuất, kiến nghị hoàn thiện để hệ thống hóa,
làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về BHXH và quản lý thu BHXH;.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mục lục, danh mục từ viết tắt, danh mục bảng, biểu, danh mục tài
liệu tham khảo, mở đầu và kết luận, đề tài nghiên cứu gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý thu BHXH trong cơ quan BHXH.
Chương 2: Thực trạng quản lý thu BHXH tại BHXH huyện Thăng Bình, tỉnh
Quảng Nam.
Chương 3: Giải pháp quản lý thu BHXH tại Bảo hiểm xã hội huyện Thăng
Bình, tỉnh Quảng Nam.

7


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI TRONG CƠ
QUAN BẢO HIỂM XÃ HỘI

1.1. Khái quát chung về bảo hiểm xã hội và quản lý thu bảo hiểm xã hội
1.1.1. Khái quát về bảo hiểm xã hội
1.1.1.1. Khái niệm và phân loại về bảo hiểm xã hội
Ở những góc độ khác nhau thường có những khái niệm về ASXH riêng,
nhưng nhìn chung, có thể đưa ra một khái niệm về ASXH như sau: ASXH là sự bảo
vệ của xã hội đối với mọi người dân thông qua các chính sách, giải pháp phòng

ngừa, giảm thiểu, khắc phục các rủi ro hoặc tác động bất thường của tự nhiên, xã
hội, nhằm đảm bảo cuộc sống cho mọi thành viên, nhất là người nghèo, người thu
nhập thấp, giúp họ ổn định cuộc sống và hòa nhập cộng đồng.
Ở nước ta, mặc dù nền kinh tế còn phát triển chậm, tụt hậu xa so với các
nước phát triển, nhưng Đảng và Nhà nước luôn luôn quan tâm đến chính sách
ASXH. Chọn phát triển mô hình ASXH dựa trên quan điểm của Tổ chức Lao động
thế giới (ILO) với các bộ phận cấu thành là BHXH, BHYT, BHTN; ưu đãi xã hội và
bảo trợ xã hội. Đây là mô hình phù hợp với chủ trương, đường lối phát triển của
Đảng và Nhà nước ta coi con người là động lực, mục tiêu chính của sự phát triển.
Phát triển BHXH, BHYT thực hiện mục tiêu bao phủ BHXH cho mọi người lao
động và BHYT toàn dân tạo nên một hệ thống ASXH chủ động, tích cực, hiệu quả
và vững chắc hơn. Nhóm trợ giúp xã hội sẽ giảm dần để giảm gánh nợ cho ngân
sách nếu như thực hiện tốt nhóm trụ cột BHXH, BHYT.
Năm 1995, Chính phủ ban hành Điều lệ BHXH; ngày 26/6/2006 Quốc hội
khóa 11 đã thông qua Luật bảo hiểm xã hội số 71/2006/QH11, có hiệu lực từ ngày
01/01/2007 và ngày 20/11/2014 Quốc hội khóa 13 thông qua Luật số
58/2014/QH13 có hiệu lực từ ngày 01/01/2016 thay thế Luật bảo hiểm xã hội số
71/2006/QH11 đã khẳng định rõ quan điểm an sinh xã hội đối với mọi người dân
thông qua chính sách, pháp luật của Nhà nước.

8


Vậy, Bảo hiểm xã hội là gì?
- Theo Tổ chức lao động thế giới (ILO):“BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối
với tất cả các thành viên của mình thông qua một loạt biện pháp công cộng để đối
phó với những khó khăn về kinh tế xã hội do bị ngừng việc hoặc giảm bớt nhiều về
thu nhập, gây ra bởi ốm đau, gây mất khả năng lao động, tuổi già và chết, việc cung
cấp chăm sóc y tế và tự cấp cho các gia đình đông con”.
Tại điều 3, Luật BHXH số 71/QH11 ngày 29 tháng 06 năm 2006 và Điều 3,

Luật BHXH số 58/2014/QH13 ngày 20 tháng 11 năm 2014 đưa ra khái niệm:
“Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của
người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao
động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng
vào quỹ bảo hiểm xã hội”.
Như vậy, dưới góc độ tài chính: BHXH là quá trình san sẻ rủi ro và san sẻ tài
chính giữa những người tham gia BHXH theo những quy định của pháp luật.
Dưới góc độ thu nhập: BHXH là sự đảm bảo thay thế một phần thu nhập khi
người lao động tham gia BHXH bị mất hoặc giảm thu nhập.
Dưới góc độ quản lý: BHXH là công cụ quản lý của Nhà nước, thực hiện quá
trình phân phối và phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong xã hội và góp
phần đảm bảo công bằng xã hội.
Tóm lại, có thể hiểu BHXH là hệ thống bảo đảm khoản thu nhập thay thế cho
người lao động khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập trong các trường hợp được quy
định trong Luật BHXH, thông qua việc hình thành và sử dụng quỹ tài chính do sự
đóng góp của các bên tham gia và sự ủng hộ của Nhà nước.
Phân loại bảo hiểm xã hội
Có 2 hình thức BHXH: đó là BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện.
Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động và
người sử dụng lao động bắt buộc phải tham gia. Đối tượng tham gia BHXH được
quy định cụ thể chi tiết trong luật BHXH.
Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức

9


mà người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu
nhập của mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội để
người tham gia hưởng chế độ hưu trí và tử tuất.
Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện là công dân nước Việt Nam từ đủ 15

tuổi trở lên và không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc.
1.1.1.2. Vai trò của Bảo hiểm xã hội
BHXH là hoạt động sự nghiệp của toàn xã hội, không vì mục tiêu lợi nhuận.
Chính sách BHXH có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội của một quốc
gia:
Thứ nhất, BHXH góp phần ổn định đời sống của người lao động nói riêng
và nền kinh tế nói chung. BHXH kịp thời hỗ trợ, tạo điều kiện để đảm bảo ổn định
cuộc sống và sản xuất khi người lao động hết tuổi lao động, suy giảm khả năng lao
động, hoặc quá trình làm việc không may gặp các rủi ro. Đây chính là mục đích lớn
nhất của BHXH. Người lao động tham gia BHXH sẽ được thay thế một phần thu nhập
bị mất hoặc bị giảm, nhờ đó người lao động yên tâm hơn trong công việc, giúp hăng
hái lao động sản xuất. Như vậy, nó như một đòn bẩy kinh tế kích thích, nâng cao năng
suất lao động cá nhân, năng suất xã hội, nhờ đó nó góp phần vào ổn định kinh tế, xã hội
nói chung.
Thứ hai, BHXH làm gắn bó lợi ích giữa người lao động, người sử dụng lao
động và Nhà nước.
Người lao động, người sử dụng lao động, Nhà nước đều đóng góp vào quỹ
BHXH và có vai trò trong việc giúp ổn định cho người lao động khi gặp những rủi
ro. Người sử dụng lao động đã thể hiện trách nhiệm đối với người lao động thông
qua đóng góp phần của mình vào quỹ BHXH; người lao động nhận thức được vấn
để này cũng sẽ có trách nhiệm hơn trong công việc; Nhà nước vừa tham gia đóng
góp, vừa quản lý hoạt động của BHXH nhằm đảm bảo sự công bằng, bình đẳng cho
tất cả đối tượng. Do vậy, BHXH đã làm tăng thêm sự gắn bó giữa cá nhân người lao
động, người sử dụng lao động và Nhà nước.
Thứ ba, BHXH thực hiện phân phối lại thu nhập và góp phần thực hiện công

10


bằng xã hội.

BHXH dựa trên nguyên tắc người lao động bình đẳng, công bằng trong đóng
góp và thụ hưởng. Quỹ BHXH được hình thành trên cơ sở đóng góp của người lao
động, người sử dụng lao động, sự hỗ trợ đóng góp của Nhà nước. Quỹ này được sử
dụng để chi trả trợ cấp BHXH cho những người tham gia BHXH không may gặp
những tai nạn, rủi ro. Thông qua hoạt động của mình, BHXH tham gia vào quá trình
phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người lao động thế hệ trước với thế
hệ sau, giữa những người thu nhập thấp với thu nhập cao, giữa những người khỏe
mạnh và yếu sức, giữa những người may mắn và không may mắn. Mặt khác, mức
hưởng BHXH phụ thuộc vào mức đóng và thời gian đóng theo nguyên tắc “có đóng
có hưởng, đóng ít hưởng ít, đóng nhiều hưởng nhiều”, đối tượng được tham gia ở
mọi thành phần kinh tế, do vậy, BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội và
mang tính nhân văn sâu sắc.
Thứ tư, BHXH góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng và phát triển đất
nước, ổn định chính trị, xã hội... BHXH tập trung được nguồn tài chính nhàn rỗi
tương đối lớn do sự đóng góp từ người lao động và đơn vị sử dụng lao động. Nguồn
quỹ này được xem xét đầu tư vào các dự án kinh tế xã hội nhằm bảo toàn, phát triển
quỹ và tăng thêm nguồn lực cho đầu tư phát triển kinh tế đất nước. Không những
thế, BHXH còn là trụ cột của hệ thống an sinh xã hội của quốc gia; nó cũng trực
tiếp thể hiện vai trò, mục tiêu, lý tưởng, bản chất chính trị, xã hội mà Đảng, Nhà
nước và nhân dân ta đang cố gắng xây dựng.
1.1.1.3. Nguyên tắc bảo hiểm xã hội
Để đảm bảo hoạt động, Bảo hiểm xã hội cũng có những nguyên tắc cụ thể:
- Mức hưởng bảo hiểm xã hội được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng
bảo hiểm xã hội và có sự chia sẻ giữa những người tham gia bảo hiểm xã hội.
- Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được tính dựa trên cơ sở tiền lương
tháng của người lao động. Mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được tính dựa trên
cơ sở mức thu nhập tháng do người lao động lựa chọn.
- Người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vừa có thời

11



gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất
dựa trên cơ sở thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội. Thời gian đóng bảo hiểm xã hội
đã được tính hưởng bảo hiểm xã hội một lần thì không được tính vào thời gian làm
cơ sở tính hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội.
- Quỹ BHXH được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch;
được sử dụng đúng mục đích và được hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần,
các nhóm đối tượng thực hiện theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định và chế
độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định.
- Việc thực hiện bảo hiểm xã hội phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, kịp thời
và đầy đủ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm xã hội.
1.1.1.4. Quỹ bảo hiểm xã hội và các chế độ bảo hiểm xã hội
Quỹ bảo hiểm xã hội
Quỹ BHXH là nguồn quỹ độc lập với NSNN, quỹ hoạt động theo cơ chế
quản lý tài chính do Chính phủ ban hành và được quản lý tập trung thống nhất trong
hệ thống BHXH Việt Nam, được thực hiện hạch toán riêng và cân đối thu chi theo
từng quỹ thành phần.
Theo quy định tại Luật BHXH số 58/2014/QH13 thì các nguồn hình thành
quỹ BHXH gồm:
- “Người sử dụng lao động đóng theo quy định tại Điều 86 của Luật này
- Người lao động đóng theo quy định tại Điều 85 và Điều 87 của Luật này
- Tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ
- Hỗ trợ của Nhà nước
- Các nguồn thu hợp pháp khác”.
Các quỹ thành phần của quỹ bảo hiểm xã hội gồm: Quỹ ốm đau thai sản, quỹ
tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; và quỹ hưu trí tử tuất, được quy định cụ thể như
sau:
- Quỹ ốm đau, thai sản do người sử dụng lao động đóng bằng 3% quỹ tiền
lương, tiền công đóng BHXH của người lao động

- Quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp do người sử dụng lao động đóng

12


bằng 0,5% quỹ tiền lương, tiền công đóng BHXH của người lao động.
- Quỹ hưu trí và tử tuất được hình thành từ tiền đóng BHXH của người lao
động theo mức quy định (8%) và tiền đóng BHXH của người sử dụng lao động theo
quy định (14%); kinh phí được Nhà nước chuyển từ NSNN vào quỹ BHXH để đảm
bảo trả đủ lương hưu, trợ cấp BHXH đối với người hưởng lương hưu, trợ cấp
BHXH trước ngày 01/01/1995, đóng BHXH cho thời gian làm việc trước ngày
01/01/1995 đối với những người lao động trong khu vực nhà nước trước ngày
01/01/1995 mà chưa nhận trợ cấp thôi việc, hoặc trợ cấp xuất ngũ, phục viên.
Quỹ BHXH được sử dụng cho các mục đích:
- Chi trả chế độ BHXH cho người lao động theo quy định;
- Đóng BHYT cho những người đang hưởng lương hưu hoặc nghỉ việc
hưởng trợ cấp TNLĐ, BNN hàng tháng;
- Chi phí quản lý ;
- Chi khen thưởng theo quy định đối với cơ quan, tổ chức có thành tích trong
thực hiên Luật này hoặc người sử dụng lao động thực hiện tốt bảo hộ lao động..;
- Đầu tư để bảo toàn, tăng trưởng quỹ theo quy định của Luật BHXH.
Trong đó, chi trả chế độ là khoản chi quan trọng nhất.
Các chế độ bảo hiểm xã hội:
Các chế độ BHXH chính bao gồm:
Chế độ ốm đau: Áp dụng đối với trường hợp người lao động tham gia BHXH
“bị ốm đau, tai nạn mà không phải là tai nạn lao động phải nghỉ việc và có xác nhận
của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền theo quy định của Bộ Y tế. Trường
hợp ốm đau, tai nạn phải nghỉ việc do tự hủy hoại sức khỏe, do say rượu hoặc sử
dụng chất ma túy, tiền chất ma túy theo danh mục do Chính phủ quy định thì không
được hưởng chế độ ốm đau. Phải nghỉ việc để chăm sóc con dưới 7 tuổi bị ốm đau

và có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền”.
Chế độ thai sản:“Người lao động được hưởng chế độ thai sản khi thuộc một
trong các trường hợp sau đây: Lao động nữ mang thai; lao động nữ sinh con; lao
động nữ mang thai hộ, người mẹ nhờ mang thai hộ; người lao động nhận nuôi con

13


nuôi dưới 06 tháng tuổi; lao động nữ đặt vòng tránh thai, người lao động thực hiện
biện pháp triệt sản; lao động nam đang đóng bảo hiểm xã hội có vợ sinh con”.
Chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp:
“Người lao động được hưởng chế độ tai nạn lao động khi có đủ các điều kiện
sau đây:
Bị tai nạn thuộc một trong các trường hợp sau đây: Tại nơi làm việc và trong
giờ làm việc; ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc
theo yêu cầu của người sử dụng lao động; trên tuyến đường đi và về từ nơi ở đến
nơi làm việc trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý”;
Suy giảm khả năng lao động từ 05% trở lên do bị tai nạn quy định tại khoản
1 Điều 43, Luật BHXH số 58/2014/QH13 ngày 20 tháng 11 năm 2014.
“Người lao động được hưởng chế độ bệnh nghề nghiệp khi có đủ các điều
kiện sau đây: Bị bệnh thuộc danh mục bệnh nghề nghiệp do Bộ Y tế và Bộ Lao
động-Thương binh và Xã hội ban hành khi làm việc trong môi trường hoặc nghề có
yếu tố độc hại”;
Suy giảm khả năng lao động từ 05% trở lên do bị bệnh quy định tại khoản 1
Điều 44, Luật BHXH số 58/2014/QH13 ngày 20 tháng 11 năm 2014.
Chế độ hưu trí: Theo Điều 54, Luật BHXH số 58/2014/QH13 ngày 20 tháng
11 năm 2014 thì:
“1. Người lao động quy định tại các điểm a, b, c, d, g, h và i khoản 1 Điều 2
của Luật này,trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, khi nghỉ việc có đủ 20
năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên thì được hưởng lương hưu nếu thuộc một trong

các trường hợp sau đây:
a)Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi;
b)Nam từ đủ 55 tuổi đến đủ 60 tuổi, nữ từ đủ 50 tuổi đến đủ 55 tuổi và có đủ
15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng
nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã
hội, Bộ Y tế ban hành hoặc có đủ 15 năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số
0,7 trở lên;

14


c)Người lao động từ đủ 50 tuổi đến đủ 55 tuổi và có đủ 20 năm đóng BHXH
trở lên mà trong đó có đủ 15 năm làm công việc khai thác than trong hầm lò;
d)Người bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp.
2. Người lao động quy định tại điểm đ và điểm e khoản 1 Điều 2 của Luật
này nghỉ việc có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên được hưởng lương hưu
khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a)Nam đủ 55 tuổi, nữ đủ 50 tuổi, trừ trường hợp Luật sĩ quan quân đội nhân
dân Việt Nam, Luật công an nhân dân, Luật cơ yếu có quy định khác;
b)Nam từ đủ 50 tuổi đến đủ 55 tuổi, nữ từ đủ 45 tuổi đến đủ 50 tuổi và có đủ
15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng
nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã
hội, Bộ Y tế ban hành hoặc có đủ 15 năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số
0,7 trở lên;
c)Người bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp.
3. Lao động nữ là người hoạt động chuyên trách hoặc không chuyên trách ở
xã, phường, thị trấn tham gia bảo hiểm xã hội khi nghỉ việc mà có từ đủ 15 năm đến
dưới 20 năm đóng bảo hiểm xã hội và đủ 55 tuổi thì được hưởng lương hưu..
4. Chính phủ quy định điều kiện về tuổi hưởng lương hưu đối với một số
trường hợp đặc biệt; điều kiện hưởng lương hưu của các đối tượng quy định tại

điểm c, d khoản 1, điểm c khoản 2 Điều này.”
Theo Điều 55. Điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động
“1. Người lao động quy định tại các điểm a, b, c, d, g, h và i khoản 1 Điều 2
của Luật này khi nghỉ việc có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên được hưởng
lương hưu với mức thấp hơn so với người đủ điều kiện hưởng lương hưu quy định
tại điểm a, b khoản 1 Điều 54 của Luật này nếu thuộc một trong các trường hợp sau
đây:
a)Từ ngày 01 tháng 01 năm 2016, nam đủ 51 tuổi, nữ đủ 46 tuổi và bị suy
giảm khả năng lao động từ 61% trở lên thì đủ điều kiện hưởng lương hưu khi suy
giảm khả năng lao động. Sau đó mỗi năm tăng thêm một tuổi cho đến năm 2020 trở

15


đi, nam đủ 55 tuổi và nữ đủ 50 tuổi thì mới đủ điều kiện hưởng lương hưu khi suy
giảm khả năng lao động từ 61% trở lên.
b)Nam đủ 50 tuổi, nữ đủ 45 tuổi và bị suy giảm khả năng lao động từ 81%
trở lên;
c)Bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên và có đủ 15 năm trở lên làm
nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ
Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành.
2. Người lao động quy định tại điểm đ, e khoản 1 Điều 2 của Luật này khi
nghỉ việc có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên, bị suy giảm khả năng lao
động từ 61% trở lên được hưởng lương hưu với mức thấp hơn so với người đủ điều
kiện hưởng lương hưu quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 54 của Luật này
khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a)Nam đủ 50 tuổi, nữ đủ 45 tuổi trở lên;
b)Có đủ 15 năm trở lên làm nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại,
nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban
hành”.

Chế độ tử tuất: Chế độ tử tuất là chế độ đối với thân nhân của người tham gia
BHXH (bao gồm cả người đang tham gia, người đang bảo lưu thời gian đóng
BHXH và người đang hưởng lương hưu) khi người tham gia BHXH bị chết. Chế độ
tử tuất bao gồm chế độ mai táng phí và chế độ tuất. Mức hưởng tùy thuộc vào thời
gian đóng BHXH hoặc thời gian đã hưởng chế độ hưu trí.
1.1.2. Quản lý thu bảo hiểm xã hội
1.1.2.1. Khái niệm thu và quản lý thu bảo hiểm xã hội
Quỹ BHXH hiện nay được thực hiện nhằm đạt mục tiêu là một quỹ độc lập
với NSNN, nhằm đảm bảo về tài chính để chi trả các chế độ BHXH cho người lao
động. Chính vì vậy, công tác thu BHXH là một khâu quan trọng, quyết định sự tồn
tại và phát triển của việc thực hiện các chính sách BHXH.
Thu BHXH là việc Nhà nước thông qua cơ quan BHXH dùng quyền lực của
mình bắt buộc các đối tượng phải đóng BHXH theo mức quy định hoặc cho phép

16


một số đối tượng được tự nguyện tham gia, lựa chọn mức đóng và phương thức
đóng phù hợp với thu nhập của mình. Trên cơ sở đó hình thành một quỹ tiền tệ tập
trung nhằm mục đích đảm bảo cho hoạt động BHXH.
Công tác thu BHXH phải đảm bảo một số nguyên tắc:
Nguyên tắc thứ nhất: Thu đúng, thu đủ, thu kịp thời.
Đây là nguyên tắc cơ bản đầu tiên của thu BHXH.
Thu đúng ở đây là phải đảm bảo thu đúng đối tượng, đúng mức đóng, đúng
tiền lương, tiền công làm căn cứ đóng BHXH, đúng về quy trình hồ sơ thủ tục theo
quy định.
Thu đủ là thu đủ số người thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc và số tiền
phải đóng theo quy định của người lao động, và người sử dụng lao động.
Thu kịp thời là thu kịp về thời gian khi có phát sinh về quan hệ lao động, tiền
công. Việc thu được thực hiện theo định kỳ hàng tháng, hàng quý (căn cứ vào hoạt

động và cách thức trả lương của đơn vị), đảm bảo không để nợ, nợ đọng BHXH.
Nguyên tắc thứ hai: Tập trung, thống nhất, công bằng, công khai.
Cơ chế thu BHXH được quy định thống nhất, nguồn thu BHXH được tập
trung, quản lý tại BHXH Việt Nam. Việc tham gia BHXH của người lao động,
người sử dụng lao động đảm bảo công khai, thực hiện công bằng trong các thành
phần kinh tế. Các đơn vị tham gia BHXH đều phải công khai minh bạch về số lao
động phải đóng BHXH và số tiền đóng theo mức quy định, có sự kiểm tra, thanh tra
của Nhà nước và giám sát của các cơ quan chức năng, các tổ chức chính trị- xã hội.
Tính công bằng được thể hiện ở tỷ lệ đóng BHXH như nhau giữa các thành phần
kinh tế, giữa các đối tượng tham gia.
Nguyên tắc thư ba: An toàn hiệu quả
Nguồn thu BHXH là sự đóng góp của các bên tham gia, và thường có khối
lượng tiền nhàn rỗi tương đối nhiều. Để tạo thêm nguồn thu cho hoạt động bảo hiểm
xã hội, nguồn vốn này cần được đầu tư để tăng trưởng. Tuy nhiên, đây là nguồn thu
từ đóng góp, là nguồn tiền dùng để chi các chế độ BHXH cho người tham gia, vì
vậy, cần phải có sự quản lý chặt chẽ theo chế độ quản lý tài chính để đảm bảo vừa

17


tăng trưởng, vừa đảm bảo an toàn quỹ.
Quản lý thu bảo hiểm xã hội là gì?
Trước hết, xuất phát từ khái niệm quản lý: Quản lý là sự tác động có tổ chức,
có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra.
Nói đến quản lý thu BHXH là nói đến mối quan hệ giữa Nhà nước, người sử
dụng lao động, người lao động, cơ quan BHXH. Trong đó, người lao động và người
sử dụng lao động là đối tượng quản lý; Nhà nước giao cho cơ quan BHXH là chủ
thể để quản lý trực tiếp. Nhà nước điều tiết và quản lý BHXH dưới hình thức: Một
là thông qua Quốc hội đề ra Luật BHXH, thông qua Chính phủ đề ra các quy định
về BHXH; Hai là thông qua các cơ quan Nhà nước để thực hiện nộp BHXH cho

người lao động hưởng lương từ NSNN (phần đơn vị sử dụng lao động đóng); Ba là
thành lập và quản lý đối với BHXH Việt Nam- là cơ quan chuyên trách để thực hiện
chính sách BHXH.
Để quản lý thu BHXH theo đúng quy định của Nhà nước, cơ quan BHXH
phải xây dựng các biện pháp, kế hoạch, tổ chức các thao tác nghiệp vụ, phối hợp với
cơ quan hữu quan và hình thành hệ thống từ trung ương đến địa phương, thực hiện
theo một quy trình khép kín, chặt chẽ.
Như vậy, trong quản lý thu BHXH mối quan hệ giữa ba bên là người lao
động, người sử dụng lao động, và cơ quan BHXH được xác lập quyền, trách nhiệm
của mỗi bên do pháp luật BHXH quy định; các quy định này là căn cứ pháp lý mà
mỗi bên phải tuân thủ nghiêm túc.
Như vậy, có thể hiểu một cách khái quát: Quản lý thu BHXH là sự tác động
có tổ chức của chủ thể quản lý để điều chỉnh hoạt động thu BHXH. Sự tác động đó
được thực hiện bởi hệ thống các biện pháp hành chính, kinh tế, pháp luật nhằm đạt
được mục đích là thu đúng, thu đủ, thu kịp thời và không để thất thu tiền đóng
BHXH theo quy định của pháp luật.
1.1.2.2. Vai trò của quản lý thu bảo hiểm xã hội
Thứ nhất: Tạo sự thống nhất trong hoạt động thu BHXH.
Hoạt động thu BHXH có tính chất đặc thù khác với các hoạt động khác: Đối

18


tượng thu đa dạng và phức tạp do đối tượng tham gia BHXH nằm ở tất cả các ngành
nghề, độ tuổi, thu nhập khác nhau, khác nhau về vị trí địa lý, về vùng miền nên cần
có sự thống nhất để hoạt động thu BHXH có hiệu quả và đảm bảo công bằng. Yếu
tố quản lý giúp tạo sự thống nhất ý chí trong hệ thống BHXH, giữa các cấp trong
quá trình tổ chức để thực hiện thu BHXH. Thông qua hoạt động quản lý, những nội
dung quan trọng trong hoạt động thu BHXH được thống nhất: về đối tượng thu, hồ
sơ, quy trình thu...

Thứ hai: Đảm bảo hoạt động thu BHXH bền vững, hiệu quả
BHXH được xem là trụ cột chính trong hệ thống an sinh xã hội. Vì vậy, đảm
bảo tính ổn định, bền vững, hiệu quả của hoạt động thu BHXH là mục tiêu mà bất
kỳ một quốc gia nào cũng mong muốn đạt được. Muốn vậy, hoạt động thu BHXH
phải được định hướng một cách đúng đắn, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của mỗi
quốc gia trong từng thời kỳ khác nhau; đồng thời, hoạt động thu phải được điều hòa, phối
hợp nhịp nhàng. Quá trình quản lý giúp định hướng công tác thu BHXH - cơ sở xác định
mục tiêu chung: thu đúng, thu đủ, không để thất thu; từ đó hướng mọi nỗ lực của cá
nhân, tổ chức vào mục tiêu chung đó. Việc quản lý thu tốt sẽ huy động được tối đa từ các
nguồn thu, đảm bảo cân đối nguồn quỹ BHXH. Đồng thời, công tác quản lý thu tốt,
nguồn quỹ BHXH sẽ tăng và nhờ đó có thể đảm bảo thực hiện tốt các quyền lợi cho
người lao động và có điều kiện để mở rộng các chế độ được hưởng.
Thứ ba: Quản lý thu giúp Nhà nước có thể kiểm tra, đánh giá hoạt động
thu BHXH
Thu BHXH là một nội dung tài chính BHXH và dễ gây thất thoát, vô ý hoặc
cố ý làm sai trái. Nhờ hoạt động quản lý, kiểm tra, các quy định về thu BHXH sẽ
được thực hiện nghiêm túc, đồng thời giúp đánh giá hoạt động một cách kịp thời,
toàn diện và gắn với thực tiễn thu BHXH.
1.2. Nội dung quản lý thu bảo hiểm xã hội
Quản lý thu BHXH bao gồm nhiều nội dung như: Tổ chức quản lý đối tượng
tham gia BHXH, quản lý tiền lương làm căn cứ đóng BHXH, quản lý về quy trình
thu, phương thức đóng cũng như quản lý về tiền thu BHXH.

19


×