Tải bản đầy đủ (.docx) (22 trang)

Kinh nghiệm rèn kĩ năng sống cho HS bằng việc thiết kế sáng tạo bài giảng điện tử trong dạy học khoa học lớp 4b trường TH lam sơn 1

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.2 MB, 22 trang )

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỈM SƠN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

KINH NGHIỆM RÈN KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH LỚP
4B TRƯỜNG TIỂU HỌC LAM SƠN 1 BẰNG VIỆC THIẾT
KẾ SÁNG TẠO BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ SINH ĐỘNG TRONG
DẠY HỌC KHOA HỌC LỚP 4

Người thực hiện: Đặng Thị Hạnh
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Lam Sơn 1
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Khoa học

THANH HÓA NĂM 2017
1
1


MỤC LỤC

2
2


I. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong nền hội nhập kinh tế quốc tế, nền giáo dục Việt Nam đã thực sự đổi
mới về căn bản và toàn diện. Đó là “Giáo dục con người Việt Nam phát triển
toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân;


yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả.”
Trong những năm qua, Bộ giáo dục và Đào tạo đã phát động các cuộc vận
động và phong trào thi đua, đặc biệt là phong trào: “Xây dựng trường học thân
thiện, học sinh tích cực”. Trong đó giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng hòa nhập cho
học sinh là tiêu chí để đánh giá hoạt động xây dựng trường học thân thiện, học
sinh tích cực. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác giáo dục rèn kỹ năng
sống cho học sinh, Sở Giáo dục và đào tạo Thanh Hóa đã chỉ đạo cho các cơ sở
giáo dục tích cực đẩy mạnh các hoạt động giáo dục rèn kỹ năng sống cho học
sinh gắn liền với phong trào xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực
thông qua các hoạt động trong giờ lên lớp và hoạt động ngoài giờ lên lớp một
cách thường xuyên, liên tục. Phòng Giáo dục và đào tạo Bỉm Sơn chỉ đạo các
trường học tích cực đưa nội dung giáo dục rèn kỹ năng sống cho học sinh thông
qua hình thức khai thác các nội dung giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng hòa nhập
cho các em trong các môn học bằng việc tích cực và sáng tạo trong đổi mới
phương pháp dạy học.
Năm học 2016-2017 cũng là năm học tiếp tục đẩy mạnh thực hiện phong
trào “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) và Tin học trong dạy
học”. Đồng thời là năm học đẩy mạnh rèn kĩ năng sống cho học sinh. Hưởng
ứng phong trào thi đua đó, bản thân tôi và tập thể cán bộ, giáo viên trường Tiểu
học Lam Sơn 1 đã nhận thức được rằng: việc ứng dụng CNTT phục vụ cho việc
đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao hiệu quả giáo dục, phát triển năng lực
thực hành ứng dụng cho các em là một trong những hướng tích cực và hiệu quả
nhất. Nên tôi đã cố gắng tìm tòi, học hỏi để ứng dụng CNTT trong công tác
giảng dạy. Làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy học? Làm thế nào để giúp
học sinh ngay từ cấp học đầu tiên - bậc Tiểu học, thông qua các hoạt động trong
giờ lên lớp và hoạt động ngoài giờ lên lớp, giáo viên giáo dục cho các em những
kiến thức, giá trị, thái độ và kĩ năng phù hợp. Trên cơ sở đó hình thành cho học
sinh những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực; loại bỏ những hành vi, thói
quen tiêu cực trong các mối quan hệ, các tình huống và hoạt động hàng ngày.
Cũng như giúp các em tự tin, tích cực, chủ động và sáng tạo trong mỗi giờ học?

Đó là điều mà tôi luôn trăn trở. Nên tôi đã mạnh dạn nghiên cứu: “Kinh nghiệm
rèn kĩ năng sống cho học sinh lớp 4B trường Tiểu học Lam Sơn 1 bằng việc
thiết kế sáng tạo bài giảng điện tử sinh động trong dạy học môn Khoa học lớp
4”. Qua đó góp một phần nhỏ vào thực hiện phong trào thi đua mà Bộ Giáo dục
và Đào tạo đã và đang phát động.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở dạy học sao cho học sinh vẫn đảm bảo phát huy tối đa tính tích
cực, chủ động sáng tạo của người học, giáo viên chỉ tổ chức, hướng dẫn. Chính
3
3


vì thế tôi đã Nghiên cứu sách “Khoa học lớp 4” để nắm được nội dung chương
trình, trên cơ sở lí luận thực tiễn, phân tích những ưu điểm tồn tại để tìm ra
những biện pháp, giải pháp hữu ích nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy rèn kĩ
năng sống cho học sinh. Qua đó tạo sự tự tin, tích cực, chủ động và hứng thú
học tập cho các em và thay đổi những sai lầm, thiếu sót về kĩ năng sống cho học
sinh khi học môn Khoa học.
3. Đối tượng nghiên cứu
Rèn kĩ năng sống cho học sinh lớp 4B trường Tiểu học Lam Sơn 1 bằng
việc thiết kế sáng tạo bài giảng điện tử sinh động trong dạy học môn Khoa học
lớp 4 chính là đối tượng nghiên cứu của đề tài này.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục đích đề ra của sáng kiến: “Kinh nghiệm rèn kĩ năng sống
cho học sinh lớp 4B trường Tiểu học Lam Sơn 1 bằng việc thiết kế sáng tạo bài
giảng điện tử sinh động trong dạy học môn Khoa học lớp 4”, tôi đã xử dụng các
phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu lí luận.
- Phương pháp khảo sát.
- Phương pháp thống kê.

- Phương pháp phân tích tổng hợp.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
- Phương pháp kiểm tra đánh giá.
- Phương pháp trò chuyện.
- Ứng dụng công nghệ thông tin

4
4


II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Như chúng ta đã biết, kể từ Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa
XI ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW (04/11/2013) về đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Trong đó nêu
rõ giải pháp thực hiện “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo
hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến
thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ
máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để
người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển
từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt
động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ
thông tin và truyền thông trong dạy và học”.
Vì vậy chúng ta cần phải đồng thời quan tâm đặc biệt đến cả hai vấn đề,
đó là: ứng dụng CNTT đổi mới phương pháp dạy học bằng nhiều hình thức
nhằm giúp cho học sinh phát triển năng lực tư duy, óc sáng tạo, có ý chí tự lực
trong quá trình lĩnh hội kiến thức; đồng thời cũng cần phải phát triển kĩ năng
sống cho học sinh.
Trước hết, chúng ta cần hiểu khả năng giáo dục kĩ năng sống trong môn

Khoa học ở Tiểu học: môn Khoa học giúp học sinh tìm hiểu các kiến thức khoa
học đơn giản, cơ bản về con người và sức khoẻ, về tự nhiên, con người với thế
giới tự nhiên, chú trọng đến việc hình thành và phát triển kĩ năng như quan sát,
dự đoán, nêu thắc mắc, đặt câu hỏi, tìm kiếm thông tin, phân tích, so sánh để
giải đáp thắc mắc… đặc biệt chú trọng đến kĩ năng vận dụng kiến thức để ứng
xử thích hợp trong cuộc sống. Với những đặc điểm về đối tượng và phương
pháp nghiên cứu như vậy môn Khoa học ở Tiểu học có khả năng lớn trong giáo
dục kĩ năng sống cho học sinh. Thực hiện tốt giáo dục KNS trong dạy học môn
Khoa học sẽ góp phần chuyển các kiến thức thành thái độ và hành vi tích cực,
phù hợp, giúp học sinh có thể xử trí có hiệu quả các tình huống thực tế trong
cuộc sống, giúp cho việc học tập môn Khoa học có ý nghĩa, mặt khác giúp các
em nắm vững kiến thức khoa học. Để thực hiện tốt được vấn đề này cần hình
thành cho các em tình yêu đối với khoa học. Nội dung dạy học mô phỏng sinh
động kiến thức khoa học và cách thức hình thành và phát triển năng lực ứng
dụng cho học sinh trong dạy học môn khoa học ở trường Tiểu học mang tính
quyết định đối với việc hình thành những KNS.
2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Hiện nay, ở các trường Tiểu học nói chung, hầu hết các giáo viên dạy học
Khoa học lớp 4 chưa thực sự sáng tạo trong việc tổ chức cũng như tìm ra
phương pháp dạy học giúp học sinh ứng dụng những kiến thức khoa học đó vào
cuộc sống của các em (hình thành KNS thông qua tiết học). Hầu hết giáo viên
chưa nhận thức đúng đắn được vai trò quan trọng này trong dạy học. Việc rèn
5
5


luyện kỹ năng sống cho trẻ chưa thu hút được trẻ và các bậc phụ huynh cùng
tham gia vào công tác giáo dục rèn kỹ năng sống cho các em. Đặc biệt có rất ít
giáo viên đầu tư thời gian, công sức vào việc soạn giảng giáo án điện tử trong
dạy học nhằm mục đích phát triển và nâng cao kỹ năng sống cho học sinh. Vì

vậy mà dạy học môn Khoa học lớp 4 chỉ dừng lại ở việc giúp cho các em nắm
bắt một cách sơ giản mà chưa sâu sắc bản chất của các kiến thức khoa học đó.
Chưa thúc đẩy học sinh học tập tích cực, phát huy sự sáng tạo, tìm tòi của các
em, nhất là phần ứng dụng kiến thức khoa học của các em vào cuộc sống còn
nhiều hạn chế. Như vậy là chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới của nền giáo dục
Việt Nam trong thời đại mới.
Học sinh lớp tôi chủ nhiệm vẫn chưa thực sự chủ động, tích cực trong học
tập và hoạt động nhóm, đặc biệt học sinh thiếu khả năng ứng dụng kiến thức
khoa học vào thực tế cuộc sống cũng như chưa có niềm đam mê khoa học. Dẫn
đến chất lượng dạy học môn Khoa học lớp 4B tôi phụ trách nói chung chưa đáp
ứng được nhiều so với nhu cầu đổi mới giáo dục hiện nay. Cụ thể, khi mới nhận
lớp, tôi đã khảo sát theo phiếu với nội dung tìm hiểu về sở thích học tập môn
học và một số kĩ năng ứng dụng kiến thức khoa học đơn giản vào cuộc sống trên
24 học sinh lớp 4B trường Tiểu học Lam Sơn 1 tôi phụ trách, kết quả thu được
như sau:
Kĩ năng sống tốt
Tổng HS
24

SL
4

%
16,7

Kĩ năng sống khá
tốt
SL
11


%
45,8

Kĩ năng sống chưa
tốt
SL
9

%
37,5

Từ kết quả thực trạng trên cho thấy năng lực ứng dụng kiến thức khoa học
vào cuộc sống của học sinh lớp tôi còn nhiều hạn chế. Các em chưa có những kĩ
năng cơ bản trong cuộc sống cũng như chưa có niềm đam mê học tập môn học,
nhất là sự tìm tòi, sáng tạo trong thực hành ứng dụng các kiến thức khoa học
được học trên ghế nhà trường vào phục vụ bản thân, gia đình và xã hội còn yếu.
Chính vì vậy mà tôi đã mạnh dạn đưa một số giải pháp trong thực tiễn giảng dạy
và công tác giúp các em hình thành và phát triển niềm đam mê nghiên cứu khoa
học ngay từ cấp Tiểu học đồng thời hình thành và rèn các kĩ năng sống tốt cho
học sinh. Như vậy các em sẽ hứng thú và say mê học tập môn học này, đáp ứng
được yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.
3. Các giải pháp đã sử dụng để rèn kĩ năng sống cho học sinh bằng việc
thiết kế sáng tạo bài giảng điện tử sinh động trong dạy học môn Khoa học
lớp 4
Thực hiện “Rèn kĩ năng sống cho học sinh bằng việc thiết kế, sáng tạo bài
giảng điện tử trong dạy học môn Khoa học lớp 4” để giúp học sinh có kiến thức
cơ bản, ban đầu về con người và sức khỏe, cách chăm sóc bản thân; hiểu bản
6
6



chất của một số hiện tượng tự nhiên, các quá trình phát triển, trao đổi chất của
thực vật và động vật. Hình thành và phát triển năng lực thực hành vận dụng
những kiến thức khoa học vào cuộc sống, giúp các em có niềm đam mê học tập,
nghiên cứu khoa học ngay từ nhỏ để phục vụ bản thân, gia đình và quê hương
mình. Từ đó sẽ tạo một môi trường học tập có ích thúc đẩy học sinh phát triển
toàn diện. Để thực hiện được điều đó tôi đã tiến hành một số giải pháp sau:
3.1. Tìm hiểu khả năng giáo dục các kĩ năng sống phù hợp với độ tuổi học
sinh và môn học Khoa học lớp 4
Ai cũng muốn gặt hái được những thành công trong cuộc sống, muốn có
cuộc sống bình an, hạnh phúc. Những để đạt được điều đó, ngoài việc có tri
thức, có sức khỏe, có đạo đức,…con người còn cần phải có kỹ năng sống.
Nhưng kĩ năng sống không phải là có sẵn. Kĩ năng sống chỉ được hình thành và
phát triển trong quá trình học tập, rèn luyện và thực hành trải nghiệm trong cuộc
sống hằng ngày ở trường, ở gia đình và ngoài xã hội.
Việc giáo dục KNS trong môn Khoa học lớp 4 giúp hình thành và phát
triển cho học sinh các KNS sau:
+ Kĩ năng nhận thức: Khả năng tự nhận thức về bản thân, xác định được
các điểm mạnh, điểm yếu của bản thân; nhận thức được vai trò, vị trí của bản
thân trong gia đình, nhà trường và xã hội; Tự trọng; suy nghĩ tích cực, tự tin, làm
chủ bản thân để có quyết định, hành vi thích nghi, phù hợp ứng phó trước tình
huống khó khăn trong cuộc sống.
+ Kĩ năng giao tiếp và hợp tác: lắng nghe và phản hồi tích cực; trình bày
suy nghĩ của bản thân; cảm thông chia sẻ; Xử lí cảm xúc và ứng xử phù hợp
trong một tình huống có liên quan đến sức khoẻ của bản thân, gia đình và cộng
đồng; Cùng nhau hợp tác bảo vệ môi trường xung quanh.
+ Kĩ năng tư duy bình luận: Phản ánh và trình bày, bày tỏ ý kiến của bản
thân về các tác nhân của tự nhiên, xã hội có hại với sức khoẻ; vận dụng những
kiến thức khoa học về con người, về tự nhiên để so sánh, phân tích nhận diện
những dấu hiệu chung và riêng của một số sự vật hiện tượng đơn giản trong tự

nhiên; Phân tích và phán đoán những tình huống có nguy cơ với bản thân, tự
nhiên.
+ Kĩ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề: Khả năng quan sát, tìm
kiếm các thông tin, phân tích và đánh giá các lựa chọn, từ đó phán đoán các
nguy cơ, tư duy sáng tạo để ứng xử thích hợp trong một số tình huống có liên
quan đến sức khoẻ của bản thân, gia đình và môi trường xung quanh.
+ Kĩ năng làm chủ bản thân: Khả năng tự phục vụ; đặt mục tiêu; lập kế
hoạch cho bản thân; đảm nhận trách nhiệm, tự giác thực hiện các quy tắc vệ
sinh, an toàn cho bản thân, gia đình và cộng đồng, tích cực thời gian bảo vệ môi
trường xung quanh, kiểm soát cảm xúc, ứng phó phù hợp; tự bảo vệ bản thân
trước các tác nhân từ môi trường.
Khả năng giáo dục KNS trong môn Khoa học lớp 4 không chỉ thể hiện ở
nội dung môn học ở từng bài học cụ thể mà còn được thể hiện ở phương pháp
dạy học đặc trưng, đổi mới của môn học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động
7
7


và sáng tạo của người học. Đặc biệt để giáo dục và phát triển KNS cho học sinh
một cách hiệu qủa nhất thì vai trò quan trọng lại ở sự sáng tạo, linh hoạt trong
vận dụng phương pháp và hình thưc tổ chức lớp học của giáo viên.
3.2. Vận dụng linh hoạt và sáng tạo xây dựng và thiết kế giáo án trình chiếu
phù hợp để phát triển kĩ năng sống cho học sinh lớp 4
Không phải bài học nào cũng làm được đồ dùng dạy học và giáo án trình
chiếu. Chính vì vậy, giáo viên phải chọn lựa nội dung, kiến thức phù hợp trong
việc ứng dụng CNTT để tạo ra những đoạn clip ảnh hay tạo các slide hình, slide
chữ sinh động, hấp dẫn phù hợp đặc điểm lứa tuổi học sinh, với nội dung bài
học. Từ đó, giúp học sinh chủ động, tích cực học tập, yêu thích môn học, có kĩ
năng sống tốt. Đồng thời hiểu rõ tầm quan trọng của việc hình thành và phát
triển KNS phù hợp với lứa tuổi. Như vậy sẽ tạo được hiệu quả giờ học cao nhất.

Phải biết khai thác và sử dụng Internet tìm kiếm thông tin, tư liệu, hình
ảnh để chọn lựa thông tin, tư liệu làm đồ dùng dạy học và soạn giáo án trình
chiếu. Đặc biệt sử dụng hình ảnh, tư liệu về những việc làm, những kĩ năng sống
liên quan đến bản thân học sinh ở gia đình, trường học hay địa phương giúp học
sinh có sự liên hệ thực tế, tạo mối quan hệ thân thiện, nhẹ nhàng, gần gũi với
cuộc sống học sinh. Có như vậy việc hình thành và phát triển KNS cho các em
mới đạt hiệu quả cao
Dạy học Khoa học ở Tiểu học, nhất là ở lớp 4 giáo viên cần phải cố gắng
tạo và rèn cho mình một tác phong nhẹ nhàng, gần gũi. Ngôn ngữ trong sáng,
truyền cảm, cử chỉ dịu dàng, thân thiện; đánh giá tích cực, công bằng. Đặc biệt
là phải trau dồi kiến thức về các lĩnh vực liên quan đến tâm lí lứa tuổi và các
phương pháp, hình thức tổ chức linh hoạt, sáng tạo cũng như nắm rõ về các
KNS cần rèn cho học sinh.
Chúng ta cần phải hiểu đúng về “bài giảng điện tử”, là để hỗ trợ trong dạy
học chứ không phải dùng “bài giảng điện tử” biến thành một buổi trình chiếu cho
học sinh xem. Qua thực tế tiến hành các bài giảng điện tử cho thấy rằng việc sử
dụng các bài giảng điện tử cũng cần có những thiết bị truyền thống hỗ trợ như
bảng viết, lời giải thích, lời liên kết, chuyển ý hay những câu hỏi nhỏ. Vì không
phải những gì diễn ra trong giờ học đều được đưa vào “bài giảng điện tử”. Có
những bài giảng cần thiết kế sáng tạo mô phỏng các clip động liên quan đến một
hoạt động của bài để khắc sâu kiến thức và kĩ năng cần hình thành cho học sinh
Khi sử dụng bài giảng điện tử thì hình thức tổ chức dạy học truyền thống
đã được thay đổi. Các phương tiện dạy học hiện đại hơn, các thiết bị ngoại vi
cũng đòi hỏi nhiều hơn và đặc biệt là giáo viên phải đầu tư rất nhiều công sức để
soạn các bài giảng điện tử. Tuy nhiên các bài giảng điện tử sau khi đã đáp ứng
được yêu cầu và đưa vào sử dụng thì dễ dàng bổ sung, sửa đổi và hoàn thiện và
đặc biệt thuận lợi trong việc chuyển giao, phổ biến đến cho học sinh và đồng
nghiệp.
3.3. Một số thiết kế sáng tạo bài giảng điện tử nhằm phát triển và rèn kĩ năng
sống cho học sinh khi học môn Khoa học

8
8


3.3.1. Thiết kế sáng tạo sinh động một số hiện tượng tự nhiên trong bài giảng
điện tử
Hiện tượng tự nhiên là những hiện tượng diễn ra trong thế giới tự nhiên
như gió, mưa, sấm chớp, mây, bão, lũ, động đất, sóng thần,… Song sự hình
thành và phát triển của những hiện tượng tự nhiên này luôn là những bí ẩn thú vị
mà con người mong muốn khám phá và chế ngự nó. Ở chương trình môn khoa
học lớp 4, để giúp học sinh hiểu biết được bản chất của một số hiện tượng tự
nhiên như: mây được hình thành như thế nào? Nước mưa từ đâu ra? Vòng tuần
hoàn của nước trong tự nhiên diễn ra như thế nào?,... cũng không mấy đơn giản.
Vậy làm thế nào để việc dạy học các kiến thức khoa học này đạt hiệu quả cao và
hình thành kĩ năng ứng dụng trong cuộc sống con người, tôi đã thiết kế và thực
hiện một số bài giảng điện tử trong dạy học môn Khoa học lớp 4 như sau:
Mô phỏng qua bài 23 “Sơ đồ vòng tuần hoàn của nước trong tự nhiên” Khoa
học 4 - (trang 48-49)
Qua việc tổ chức cho học sinh quan sát và đọc kĩ thông tin các hình 1-2
trong SGK Khoa học 4, trang 48-49 ( Các em đã có hiểu biết ban đầu về sự hình
thành của mây là do hơi nước bốc lên từ biển, hồ, ao,..gặp lạnh ngưng tụ thành
mây, còn các hạt nước rơi xuống từ những đám mây đó thì gọi là mưa qua bài
22 SGK Khoa học 4 trang 46-47). Từ đó, tôi yêu cầu các nhóm tái hiện lại
những công việc mình đã làm bằng cách đóng vai trong nhóm (vai nước, mây và
mưa) mô tả lại sự hình thành của mây, mưa. Sau đó tôi giúp các em nắm rõ lại
bản chất của sự hình thành mây, mưa và vòng tuần hoàn hoàn của nước trong tự
nhiên một cách cụ thể, rõ ràng hơn bằng việc tạo một clips khoa học sinh động
trình chiếu cho học sinh quan sát và kết hợp cho đại diện nhóm thể hiện nhập vai
“Tôi là giọt nước nhỏ bé, đáng yêu”.


9
9


Đoạn clip về Vòng tuần hoàn của nước trong tự nhiên
Đường dẫn: />Qua việc được quan sát kết hợp nhập vai thể hiện lại kiến thức khoa học
trên một đoạn clip khoa học vui sinh động mà tôi đã tạo ra, tôi thấy học sinh có
khả năng giải thích các hiện tượng như sự hình thành mây, mưa và vòng tuần
hoàn của nước trong tự nhiên rất cụ thể, các em nắm rất rõ thuộc tính của các
hiện tượng khoa học này (Dưới tác động của ánh sáng mặt trời, nước từ biển,
sông, hồ,…bay hơi thành hơi nước. Hơi nước bay lên cao, gặp lạnh ngưng tụ
thành mây (mây trắng). Các hạt nước trong những đám mây (mây đen) kết hợp
với nhau, to và nặng dần rơi xuống và thành mưa. Hiện tượng nước bay hơi
thành hơi nước, rồi từ hơi nước ngưng tụ thành nước xảy ra lặp đi, lặp lại, tạo
thành vòng tuần hoàn của nước trong tự nhiên), ngay cả những em trước đó
chưa thực sự tự tin thì sau cũng đã chủ động và tự tin lên nhiều.
Để giúp học sinh có khả năng vận dụng kiến thức khoa học “Nước mưa
từ đâu ra?” khi dự đoán thời tiết nhằm nâng cao năng lực tự phục vụ hay kĩ
năng ra quyết định, làm chủ bản thân, tôi đã tạo một chùm ảnh bầu trời trình
chiếu các em quan sát và đưa ra nhiệm vụ cho các nhóm cùng nhau chia sẻ: Em
dự đoán thời tiết sẽ như thế nào với mỗi ảnh bầu trời sau?, ví dụ:

10
10


Chùm ảnh học sinh quan sát bầu trời để dự đoán thời tiết
Sau khi cho học sinh chia sẻ dự đoán trong nhóm, tôi thấy các em có khả
năng nhìn mây trên bầu trời để dự đoán thời tiết rất tốt. Cụ thể: Ảnh 1: Thời tiết
mát mẻ, dễ chịu ; Ảnh 2: Thời tiết sương mù; Ảnh 3: Gió bão; Ảnh 4: Thời tiết

sẽ nắng; Ảnh 5: Trời sẽ có mưa to, gió lớn. Điều đặc biệt hơn là sau bài học, các
em đã có năng lực tự phục vụ bản thân, thể hiện là các em chủ động trong việc
chuẩn bị cho mình trang phục, mũ nón, áo mưa trước khi đi học hay sắp xếp
công việc trong gia đình cho phù hợp với thời tiết. Ngoài ra, để giúp học sinh
hiểu thêm được vẻ đẹp kì lạ và cũng rất huyền bí của thiên nhiên, tôi đã tạo thêm
những slises hình ảnh mây sinh động cho các em quan sát như: ảnh mây có hình
dáng giống con người, giống đĩa bay,…
Thông qua việc mô phỏng sinh động những kiến thức khoa học về sự hình
thành mây, mưa trong tự nhiên để trình chiếu cho học sinh quan sát, mô tả lại
những kiến thức khoa học ứng dụng đó trong tiết học, tôi thấy học sinh không
chỉ nắm rõ bản chất và thuộc tính của mây, mưa, vòng tuần hoàn nước trong tự
nhiên mà các em còn có khả năng phán đoán thời tiết và nâng cao năng lực tự
phục vụ bản thân, gia đình trong cuộc sống thường nhật. Hơn nữa, các em còn
rất thích thú học tập, thích khám phá và giải thích các hiện tượng tự nhiên.
3.3.2. Thiết kế sáng tạo mô phỏng sinh động một số thí nghiệm khoa học ứng
dụng trong thực tiễn cuộc sống cho học sinh lớp 4.
Trong chương trình khoa học lớp 4, có những kiến thức khoa học khi
cung cấp cho học sinh chúng ta cần giúp các em trải nghiệm, khám phá những
kiến thức khoa học ấy bằng việc thực hành làm những thí nghiệm. Song, có một
11
11


số thí nghiệm khi tiến hành thực hiện lại gặp khó khăn do đồ dùng thí nghiệm
thiếu thốn hay việc thực hiện phức tạp, tính an toàn thấp. Chính vì vậy mà việc
tạo ra những hình ảnh động hay những clips khoa học nhằm mô phỏng lại quá
trình thí nghiệm đó là giải pháp tối ưu nhất trong dạy học kiến thức khoa học
này.
Mô phỏng qua bài 27 “Một số cách làm nước sạch” SGK Khoa học 4trang 56-57
Để giúp học sinh nắm được một số cách làm nước sạch như lọc nước, khử

trùng và đun sôi, tôi tạo hiệu ứng động cho thí nghiệm lọc nước, tạo clip khử
trùng bằng nước gia-ven trình chiếu cho các nhóm quan sát, sau đó thảo luận,
chia sẻ trong nhóm để rút ra kết quả của thí nghiệm tranh 1, tranh 2

Mô hình lọc nước sạch

Clip khử trùng bằng nước giaven

Qua quá trình quan sát thí nghiệm, thảo luận kết quả thí nghiệm trên, học
sinh hiểu được một số cách làm nước sạch đơn giản là lọc nước, khử trùng và
đun sôi và cần phải đun sôi nước trước khi uống.
Điều quan trọng nhất trong dạy học khoa học là giáo viên phải giúp học
sinh dựa vào những kiến thức khoa học học được để hình thành và phát triển
năng lực ứng dụng khoa học vào đời sống cho các em. Hiểu được điều này khi
giới thiệu cho học sinh biết về sơ đồ dây chuyền sản xuất và cấp nước sạch tôi
đã trình chiếu mô hình 3D sinh động thể hiện một cách cụ thể và dễ hiểu về dây
chuyền sản xuất và cấp nước sạch này để trình chiếu cho học sinh quan sát, cụ
thể:

12
12


Quy trình sản xuất nước sạch
Đường dẫn: />Tiếp theo tôi cho học sinh chia sẻ trong nhóm một số cách làm nước sạch ở
các gia đình chưa có điều kiện xử dụng nước máy. Phần liên hệ thực tế, tôi tạo
những chùm hình ảnh mô phỏng lại một số cách xử lí nước ô nhiễm, nước nhiễm
phèn, đá vôi của một số người dân ở địa phương cho các em quan sát, cụ thể:

Chùm ảnh người dân địa phương xử lí lọc nước nhiễm phèn, đá vôi

Có thể nói, khi áp dụng cách dạy này trong môn khoa học lớp 4 đã phát
huy năng lực ứng dụng khoa học của học sinh, huy động được cộng đồng cùng
tham gia tích cực vào công tác giáo dục đồng thời động viên, khích lệ học sinh
có thêm niềm đam mê học tập môn học, hình thành sở thích nghiên cứu khoa
học từ nhỏ. Cụ thể, các em đã thành lập “Nhóm bạn yêu thích khoa học”, ban
đầu chỉ có số ít học sinh trong lớp tham gia, sau đó đã có thêm nhiều học sinh
không chỉ ở lớp mà còn ở các khối lớp khác cùng tham gia, đổi tên là “Câu lạc
bộ bạn yêu khoa học”. Hàng tuần, trong giờ sinh hoạt ngoại khóa, các em dành
thời gian cùng nhau trao đổi, làm một số thí nghiệm hay ghi một số câu hỏi đố
vui liên quan đến môn học lên bảng Đội, kết hợp với cô Tổng phụ trách và các
13
13


cô giáo chủ nhiệm hướng dẫn đã mang lại hiệu quả rất tốt. Ví dụ như: làm thí
nghiệm lọc nước sạch từ nước có cặn bẩn; làm bè cây xanh làm sạch nguồn
nước ao, hồ;…
3.3.3. Thiết kế sáng tạo mô phỏng sinh động kiến thức về vật chất và năng
lượng trong bài giảng điện tử môn Khoa học lớp 4
Chủ đề Vật chất và năng lượng trong môn khoa học lớp 4 là chủ đề cung
cấp những kiến thức về các điều kiện vật chất và năng lượng phục vụ con người
và sản xuất. Trong tự nhiên, nguồn nước sạch đang ngày càng bị ô nhiễm, ngày
càng hạn hẹp do ý thức người dân trong sử dụng quá lãng phí nguồn nước sạch
này. Vì vậy làm thế nào để hình thành ý thức tiết kiệm nước của học sinh, nâng
cao trách nhiệm trong việc nhắc nhở mọi người xung quanh cùng tham gia công
việc tiết kiệm nước sạch hàng ngày, hàng giờ một cách trực quan và tạo hiệu quả
nhanh nhất, đó là điều mà tôi quan tâm trong dạy học môn khoa học 4.
Khi dạy bài 29 “Tiết kiệm nước” - SGK Khoa học 4 - trang 60-61, để giúp
cho học sinh có những suy ngẫm về thực tế nguồn nước và cách sử dụng nước trong
sinh hoạt của con người, từ đó hiểu được vì sao chúng ta lại phải tiết kiệm nguồn

nước sạch, tôi đã tạo một clip về câu chuyện sử dụng nước sạch giữa hai gia đình ở
nông thôn và thành thị trong sự đối lập, tương phản (một bên gia đình ở thành thị sử
dụng quá lãng phí nguồn nước sạch trong sinh hoạt hàng ngày; còn một gia đình ở
nông thôn lại phải sử dụng nguồn nước bẩn trong mọi sinh hoạt hàng ngày của họ),
khéo léo dẫn dắt vấn đề và trình chiếu cho học sinh xem, như sau:

Clip về việc sử dụng nguồn nước
Đường dẫn: />
Qua việc được trải nghiệm qua đoạn clip trên, tôi thấy các em vô cùng
phấn khích trong tiết học. Đặc biệt, sau bài học, các em có ý thức và trách nhiệm
cao trong việc tiết kiệm nước sạch, thể hiện bằng những việc làm hàng ngày các
em chia sẻ trong nhóm như: tắm, rửa, giặt giũ, nấu nướng đủ lượng nước cần,
khóa van vòi nước khi đã dùng xong hay dùng nước rửa rau, vo gạo để tưới cây,
… Nhất là ý thức uống nước trên lớp, sử dụng nguồn nước ở nhà trường của tất
14
14


cả các em đã cải thiện rõ rệt ngay sau bài học này, không còn em nào để nước
thừa trong cốc, nếu thừa thì đổ vào chậu của lớp, các em chỉ lấy đủ nước vào
chậu để giặt sạch giẻ lau bảng... Và các em đã nâng cao ý thức, trách nhiệm
trong việc cùng nhắc nhở nhau và tuyên truyền việc tiết kiệm nước tới học sinh
trong trường qua hoạt động đề xuất lên Đội “Hành động vì một ngày mai đủ
nước sạch” bằng vẽ tranh cổ động và ghi lại những điều nhắc nhở các bạn cách
tiết kiệm nước và đã được các bạn trong trường hưởng ứng tích cực
3.3.4. Thiết kế sáng tạo mô phỏng sinh động quá trình trao đổi chất của thực
vật và động vật trong thế giới tự nhiên lớp 4
Trong thế giới tự nhiên không thể thiếu các loài thực vật và động vật. Quá
trình trao đổi chất của thực vật và động vật giúp cân bằng hệ sinh thái trong tự
nhiên. Đặc biệt, thông hiểu quá trình này sẽ giúp học sinh vận dụng những kiến

thức về nhu cầu nước, ánh sáng, không khí, chất khoáng của động thực vật trong
việc chăm sóc cây trồng, vật nuôi. Vì vậy, tôi đã thiết kế và thực hiện một số bài
giảng điện tử mô phỏng sinh động các kiến thức đó, cụ thể là:
a) Mô phỏng qua bài 60 “Nhu cầu về không khí của thực vật?” (SGK Khoa học
lớp 4 – trang 120-121.
Quá trình trao đổi khí của thực vật trong quang hợp có vai trò quan trọng
đối với đời sống của mọi sinh vật trên trái đất, trong đó có con người. Nó đảm
bảo sự cân bằng ô-xi và khí các-bô-níc thuận lợi cho các hoạt động sống của mọi
sinh vật. Để giúp học sinh hiểu rõ quá trình trao đổi khí trong quang hợp của
thực vật, sau khi cho các em thảo luận trong nhóm, tôi tạo hiệu ứng sinh động
mô phỏng lại quá trình này trình chiếu cho học sinh quan sát và giúp các em
Các-bô-níc
khắc sâu, nắm vững quá trình trao đổi khí của thực
vật.
Các-bô-níc

Hình 1

Sơ đồ sự trao đổi khí
trong
hô hấp
Sơ đồ
sự trao
đổi của
khí thực
trongvật.
quang hợp của thực vật.

Ô-xi


Hiệu ứng động về quá trình trao đổi khí của thực vật
Có thể nói, bằng việc tạo ra các hiệu ứng sinh động mô phỏng lại quá
trình trao đổi khí của thực vật, tôi thấy học sinh hiểu bài nhanh, thích thú trong
tiết học, chủ động khám phá kiến thức khoa học. Các em đã biết vận dụng các
kiến thức đó vào chăm sóc cây trồng ở gia đình và ở trường thông qua hoạt động
chia sẻ những việc đã làm như: chăm sóc cây rau, cây ăn quả, bồn hoa cây cảnh,
hay vườn cây thuốc nam đúng cách, thật xanh tốt phục vụ rau quả sạch trong
15
15


cuộc sống hàng ngày. Đồng thời học sinh đã biết vận dụng quá trình trao đổi khí
trong quang hợp của thực vật trong bố trí trồng các loại hoa và cây cảnh xung
quanh nhà, chứ không đặt trong nhà để tạo ra một môi trường sống trong lành,
xanh- sạch-đẹp.
b) Mô phỏng qua bài 62 “Động vật cần gì để sống” (SGK Khoa học lớp 4 –
trang 124-125).
Trong hệ sinh thái tự nhiên cũng như trong đời sống xã hội, động vật đóng
một vai trò quan trọng, có tác dụng cân bằng sinh thái và là nguồn lương thực,
thực phẩm cho đời sống con người. Tại sao động vật sinh trưởng và phát triển
bình thường được? Đó là nhờ có quá trình trao đổi chất diễn ra ở động vật. Hàng
ngày, động vật thường xuyên lấy từ môi trường thức ăn, nước, khí ô-xi và thải ra
các chất cặn bã, khí các-bô-ních, nước tiểu,…Để giúp học simh hiểu được nhu
cầu sống ở động vật một cách cụ thể và sinh động nhất, tôi đã tạo hiệu ứng động
(hình vẽ ) trình chiếu cho các em quan sát sau khi đã được thảo luận đưa ra dự
đoán của thí nghiệm trong nhóm ( SGK trang 124-125)

Kết quả thí nghiệm

Sẽ chết sau con chuột trong


Sẽ chết sau con chuột trong hộp 4 và hộp 2

Hộp 2

Hộp 1

Sống bình thường

Hộp 3

Sống không khỏe m

Sẽ chết trước tiên

Hộp 4

Hộp 5

Hiệu ứng động thể hiện kết quả thí nghiệm chứng tỏ động vật cần gì để sống?
Qua được quan sát các hiệu ứng sinh động kết hợp với sự tư duy phong
phú của mình, tôi thấy các em rất hứng thú và tập trung cao vào bài học, nhanh
chóng nắm bắt được nội dung yêu cầu của hoạt động, các kĩ năng hợp tác của
học sinh cũng được nâng cao.
Để giúp học sinh có thêm khả năng ứng dụng kiến thức đã học vào thực
tiễn cuộc sống bản thân, phần liên hệ thực tế tôi đã yêu cầu các nhóm thảo luận,
16
16



chia sẻ những kinh nghiệm khi chăm sóc vật nuôi ở nhà của gia đình mình. Kết
quả cho thấy các em hoạt động nhóm rất tích cực và chia sẽ cách nuôi vật nuôi
rất hay như: em Chiến (chia sẻ về cách nuôi chim bồ câu: Bố mình làm chuồng
bằng nan tre. Chuồng nuôi luôn có ánh sáng mặt trời, khô ráo, thoáng mát,
sạch sẽ, tránh gió lùa. Chuồng được chia thành các ô nhỏ cho mỗi cặp chim.
Phía trước ô khoét lỗ to bằng miệng bát cơm để chim có thể ra vào. Máng ăn và
máng uống cho chim nên đảm bảo vệ sinh. Thức ăn cho chim có thể dùng ngô,
đậu xanh, thóc,… Ngoài ra cần thả chim đẻ nó có thể tự tìm kiếm những thức ăn
trong tự nhiên). Còn em Giang (Chia sẻ trong nhóm cách nuôi vịt: Nhà mình
nuôi vịt đàn, có ao cho vịt tắm và kiếm thêm thức ăn. Vịt uống rất nhiều nước.
Nước uống cho vịt phải đảm bảo nước trong sạch và thường xuyên cho vịt uống
cả ngày lẫn đêm. Trước khi cho vịt ăn phải dọn máng, quét bỏ những thức ăn
thừa, hôi, thối và mốc, cho vịt ăn làm nhiều lần trong ngày để tránh rơi vãi và ôi
chua, tách những con nhỏ cho ăn riêng để vịt được đều. Chuồng nuôi phải
thoáng, sáng, không có gió lùa),….
Khi được cùng nhau chia sẻ những hiểu biết về cách chăn nuôi ở gia đình,
tôi thấy học sinh vô cùng thích thú, tích cực và chủ động khám phá, hiểu sâu sắc
hơn về vai trò của không khí, thức ăn, nước uống và ánh sáng ở động vật được
ứng dụng trong chăn nuôi thực tế, các em tự cùng nhau học tập, trao đổi hiểu
biết của mình. Điều quan trọng là các em thấy được các kiến thức mình học
được của môn học đã giúp ích cho cuộc sống hàng ngày của chính các em thành
kĩ năng sống thực tế hàng ngày của các em.
Việc ứng dụng CNTT thiết kế, sáng tạo sinh động kiến thức khoa học lớp
4 cho giờ dạy tại lớp 4B trường Tiểu học Lam Sơn 1, tôi khẳng định rằng học
sinh lớp tôi nắm rất vững nội dung, kiến thức và bản chất của các hiện tượng tự
nhiên, về vật chất và năng lượng và về động thực vật trong mỗi bài học. Đặc biệt
hơn nữa là các em đã được bồi dưỡng kĩ năng sống, khả năng ứng dụng những
kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống, phục vụ cho bản thân, gia đình và cộng
đồng.
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản

thân, đồng nghiệp và nhà trường.
Sau khi áp ứng dụng công nghệ thông tin vào đổi mới phương pháp dạy
học “rèn kĩ năng sống cho học sinh lớp 4B trường Tiểu học Lam Sơn 1 bằng
việc thiết kế sáng tạo bài giảng điện tử sinh động trong dạy học môn Khoa học
lớp 4” tôi thấy mỗi giờ học khoa học lớp 4 đã thực sự hấp dẫn người học, học
sinh tiếp thu bài nhanh, kiến thức được khắc sâu, mở rộng; Các em thực sự tự
giác, tích cực và sáng tạo trong mỗi giờ học và các giờ ngoại khóa, trong việc
hợp tác cùng nhau làm các thí nghiệm ứng dụng; Các kĩ năng như: hoạt động
nhóm, giao tiếp, làm chủ bản thân, tự phục vụ, đặt câu hỏi và giải quyết vấn đề,
…ở học sinh ngày một nâng cao. Ngoài ra, các em còn biết cách chăm sóc bản
thân, thu vén gia đình, tiết kiệm nước trong sinh hoạt,…hay có ý thức và yêu
thích chăm sóc cây trồng, vật nuôi trong nhà, thích tạo môi trường sống xanhsạch-đẹp. Đặc biệt, các em đã yêu thích môn học, thích được khám phá kiến
17
17


thức khoa học tự nhiên bổ ích. Do đó chất lượng dạy học môn học được nâng
lên một cách rõ rệt, đồng thời kĩ năng sống của các em tốt lên rất nhiều.
Từ kết quả trên cho thấy việc thiết kế sáng tạo bài giảng điện tử sinh động
mô phỏng kiến thức khoa học lớp 4 nhằm rèn kĩ năng sống cho học sinh mà tôi
đã tiến hành thực sự đem lại hiệu quả như mong đợi, góp phần nâng cao chất
lượng giáo dục toàn diện cho học sinh lớp 4B trường Tiểu học Lam Sơn 1 tôi
phụ trách. Điều đó được thể hiện ở bảng thống kê sau:
Tổng số
HS
24

Kĩ năng sống tốt
SL
15


%
62,5

Kĩ năng sống khá tốt
SL
9

%
37,5

Kĩ năng sống chưa
tốt
SL
0

%
0

Từ kết quả trên cho thấy việc thiết kế sáng tạo bằng bài giảng điện tử sinh
động nâng cao hiệu quả rèn kĩ năng sống cho học sinh trong khi học môn khoa
học mà tôi đã thực hiện là hoàn toàn đúng đắn.

III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Qua thời gian nghiên cứu và thử nghiệm trong dạy học môn Khoa học
lớp 4 bằng việc thiết kế sáng tạo bài giảng điện tử sinh động đã đem lại sự
thành công nhất định. Được sự giúp đỡ chỉ đạo của Ban giám hiệu cùng với
18
18



các đồng nghiệp trong trường, tôi thực sự phấn khởi vì đã hình thành và bồi
dưỡng cho học sinh các kĩ năng sống chăm sóc sức khoẻ, thân thiện và có ý
thức trách nhiệm cao với xây dựng và bảo vệ môi trường xanh, sạch, đẹp , ý
thức bảo vệ nguồn nước, kĩ năng làm việc hợp tác, kĩ năng giải quyết vấn
đề,… Các em hứng thú học tập môn học, nắm bài nhanh và vững kiến thức .
Như vậy thông qua các bài giảng điện tử được thiết kế sáng tạo và sinh
động trong dạy học môn Khoa học lớp 4, giáo viên đã thực sự tạo được sự thân
thiện, gần gũi hơn với học sinh, giúp các em có ý thức và trách nhiệm với bản
thân và môi trường sống xung quanh, thêm yêu cuộc sống và thiên nhiên. Hầu
hết các em đều tự tin, hứng thú và tích cực trong học tập. Từ đó cho thấy muốn
giờ học sinh động, hấp dẫn và đạt hiệu quả thì mỗi giáo viên phải biết lựa chọn,
thiết kế và vận dụng linh hoạt, sáng tạo các phương pháp và hình thức tổ chức
dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin một cách khéo léo, khoa học và hợp lí để
giúp học sinh thấy rõ được ý nghĩa và vai trò của môn học, qua đó rèn kĩ năng
sống ứng dụng trong cuộc sống hằng ngày. Đó chính là chúng ta đã cùng nhau
góp phần làm cho các phong trào thi đua đạt nhiều kết quả tốt đẹp.
2. Kiến nghị
Để rèn kĩ năng sống cho học sinh bằng việc thiết kế sáng tạo bài giảng
điện tử sinh động trong dạy học môn Khoa học lớp 4 được đồng bộ hoá ở các
nhà trường, tôi xin đề xuất một số vấn đề sau:
- Mỗi giáo viên cần linh hoạt trong đổi mới phương pháp dạy học để giáo
dục ý thức và trách nhiệm cho học sinh. Đi đôi với giáo dục kỹ năng sống cho
học sinh. Vì hiệu quả giáo dục thông qua môn học muốn bền vững thì phải hình
thành cho các em sự tự giác, những thói quen tốt, những kỹ năng sống liên quan
đến kiến thức học tập.
- Các cơ quan ban ngành, nhà trường và phụ huynh học sinh cần tạo điều
kiện giúp đỡ để nâng cao về cơ sở vật chất như: máy tính, máy chiếu,
máy photocopy, máy scan, máy ảnh, ….để nhiều giáo viên có thể ứng dụng

CNTT trong dạy học, góp phần đẩy mạnh công tác xã hội hoá trong thực hiện
phong trào.
- Công tác thi đua khen thưởng cần được đẩy mạnh mới khuyến khích
giáo viên tích cực sáng tạo để ứng dụng CNTT trong giáo dục.
Trên đây là một số giải pháp mà tôi đã thực hiện “Kinh nghiệm rèn kĩ
năng sống cho học sinh lớp 4B trường Tiểu học Lam Sơn 1 bằng việc thiết kế
sáng tạo bài giảng điện tử sinh động trong dạy học môn Khoa học lớp 4”.
Trong quá trình tiến hành thực hiện, do điều kiện thời gian có hạn, điều kiện cơ
sở vật chất còn thiếu thốn, tôi đã không thể minh hoạ được qua nhiều bài học.
Các giải pháp được rút ra trong quá trình nghiên cứu và thực nghiệm chắc chắn
vẫn còn nhiều hạn chế, thiếu sót. Tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến của các
đồng chí lãnh đạo cấp trên, của Ban Giám hiệu nhà trường và các đồng nghiệp
để giải pháp mà tôi thực hiện sẽ đạt được hiệu quả cao nhất.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
19
19


XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ

Bỉm Sơn, ngày 30 tháng 3 năm 2017
Tôi xin cam đoan SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của
người khác.
Người viết

Đặng Thị Hạnh

XÁC NHẬN CỦA HĐ SK THỊ XÃ BỈM SƠN


TÀI LIỆU THAM KHẢO
STT
TÊN TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
Khoa học 4
20

TÁC GIẢ
Bộ GD&ĐT
20


2
3
4
5
6
7
8

Sách giáo viên Khoa học 4
Phương pháp dạy học các môn học ở lớp 4- tập 2
Module TH 39
Module TH 40
Module TH 41
Giáo dục kĩ năng sống trong các môn học ở Tiểu
học – Lớp 4- Dành cho giáo viên
Internet


Bộ GD&ĐT
Bộ GD&ĐT
Lưu Thu Thuỷ
Lưu Thu Thuỷ
Trần Thị Tố Oanh
Bộ GD&ĐT

DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Đặng Thị Hạnh
Chức vụ và đơn vị công tác: giáo viên trường Tiểu học Lam Sơn 1, Bỉm Sơn.
21
21


TT

1.
2.
3.
4.
5.

Tên đề tài SKKN
Hướng dẫn học sinh lớp 4 sử
dụng bản đồ trong tiết học Địa lí.
Dạy học sinh đổi đơn vị đo diện
tích lớp 5.

Kinh nghiệm rèn học sinh hiếu
động mất tập trung chú ý.
Hướng dẫn học sinh lớp 4 giải
bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng.
Kinh nghiệm về các hình thức tổ
chức trò chơi trong dạy học Toán 5.
Rèn kĩ năng sử dụng quan hệ từ

Kết quả
đánh giá
xếp loại
(A, B,
hoặc C)

Năm học
đánh giá
xếp loại

A

2007-2008

B

2009-2010

Phòng GDĐT Nga Sơn

C


2010-2011

Phòng GDĐT Nga Sơn

B

2011-2012

Phòng GDĐT Nga Sơn

B

2012-2013

Phòng GDĐT Nga Sơn

B

2013-2014

Phòng GDĐT Nga Sơn

B

2015-2016

Cấp đánh
giá xếp loại
(Phòng, Sở,
Tỉnh...)

Phòng GDĐT Nga Sơn
Phòng GDĐT Nga Sơn

qua việc xây dựng các dạng bài
6.

tập thực hành về quan hệ từ trong
dạy phân môn Luyện từ và câu
lớp 5.
Nâng cao hiệu quả dạy-học một

7.

số dạng Toán có lời văn cho học
sinh lớp 5.

22
22



×