ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ĐÀ NẴNG
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
GIÁO DỤC TÌNH YÊU THIÊN NHIÊN CHO HỌC SINH TIỂU
HỌC QUA TẬP THƠ GÓC SÂN VÀ KHOẢNG TRỜI CỦA
TRẦN ĐĂNG KHOA
Giáo viên hướng dẫn: Th.s Võ Thị Bảy
Sinh viên thực hiện : Võ Thị Như Vy
Lớp
: 14STH
Đà Nẵng, tháng 1 năm 2018
Để hồn thành được khóa luận tốt nghiệp này, trước tiên em xin
tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến quý thầy cô khoa Giáo dục tiểu học. Đặc
biệt là cô giáo Võ Thị Bảy đã tạo điều kiện, giúp đỡ, hướng dẫn em
trong suốt thời gian qua.
Do bước đầu làm quen với khóa luận nên kiến thức, trình độ
chun mơn cịn hạn chế, vì thế khóa luận khơng tránh khỏi những
thiếu sót. Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến q báu từ thầy cơ
để khóa luận em được hồn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn.
Đà Nẵng, tháng 1 năm 2018
Sinh viên
Võ Thị Như Vy
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .................................................................................................. 1
1. Lí do chọn đề tài ................................................................................................ 1
2. Lịch sử vấn đề ................................................................................................... 4
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu ........................................................................ 6
3.1 Mục đích nghiên cứu ....................................................................................... 6
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu ...................................................................................... 6
4. Đóng góp của đề tài........................................................................................... 7
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ..................................................................... 7
6. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................... 7
7. Cấu trúc đề tài ................................................................................................... 7
PHẦN NỘI DUNG .............................................................................................. 8
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI ............ 8
1.1. Khái quát chung về văn học thiếu nhi ........................................................... 8
1.1.1. Khái niệm văn học thiếu nhi ....................................................................... 8
1.1.2 Văn học thiếu nhi Việt Nam trong chương trình Tiểu học .......................... 9
1.1.3 Vai trò và ý nghĩa của văn học thiếu nhi.................................................... 11
1.2. Đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh Tiểu học ................................................ 13
1.2.1. Tính cách ................................................................................................... 13
1.2.2. Nhu cầu nhận thức..................................................................................... 13
1.2.3. Tình cảm .................................................................................................... 14
1.3. Nhà thơ Trần Đăng Khoa và tập thơ “Góc sân và khoảng trời” .................. 15
1.3.1. Cuộc đời và sự nghiệp của nhà thơ Trần Đăng Khoa ............................... 15
1.3.2. Tập thơ “Góc sân và khoảng trời” ............................................................ 18
1.3.2.1. Sơ lược về tập thơ “Góc sân và khoảng trời” ........................................ 18
1.3.2.2. Giá trị nội dung ...................................................................................... 19
1.3.2.3. Giá trị nghệ thuật .................................................................................... 21
Chương 2: TÌM HIỂU BÀI HỌC GIÁO DỤC TÌNH YÊU THIÊN NHIÊN
CHO HỌC SINH TIỂU HỌC QUA TẬP THƠ GÓC SÂN KHOẢNG TRỜI
CỦA NHÀ THƠ TRẦN ĐĂNG KHOA .......................................................... 23
2.1. Khái niệm về tình yêu thiên nhiên ............................................................... 23
2.1.1. Khái niệm thiên nhiên ............................................................................... 23
2.1.2. Biểu hiện của tình yêu thiên nhiên : .......................................................... 24
2.1.3. Mục tiêu giáo dục tình yêu thiên nhiên cho học sinh tiểu học.................. 26
2.2. Nội dung giáo dục tình yêu thiên nhiên trong tập thơ Góc sân và khoảng trời
............................................................................................................................. 27
2.2.1. Biết u thương, ni nấng, bảo vệ động vật: .......................................... 28
2.2.2. Thích trồng trọt, yêu lao động, chăm sóc cây cối ..................................... 45
2.2.3. Khám phá, yêu thích vũ trụ, thế giới xung quanh: .................................... 52
2.2.3.1. Thân thiết làm bạn với Trăng ................................................................. 52
2.2.3.2. Luôn thích thú, quan sát các hiện tượng thiên nhiên về thời tiết và khí
hậu ....................................................................................................................... 57
2.2.4. Bồi dưỡng tình u thiên nhiên quê hương – nơi ta sinh sống và đặt chân
qua ....................................................................................................................... 63
3. Nhận xét .......................................................................................................... 73
Chương 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC TÌNH YÊU
THIÊN NHIÊN CHO HỌC SINH TIỂU HỌC .............................................. 76
3.1. Cơ sở đề xuất biện pháp ............................................................................... 76
3.1.1. Căn cứ vào đặc điểm tâm lí của học sinh .................................................. 76
3.1.2. Căn cứ vào tập thơ Góc sân và khoảng trời .............................................. 76
3.2. Biện pháp giáo dục tình yêu thiên nhiên cho học sinh tiểu học................... 77
3.2.1 Mục tiêu giáo dục ....................................................................................... 77
3.2.2 Biện pháp giáo dục tình yêu thiên nhiên cho học sinh tiểu học................. 78
3.2.2.1 Giáo dục thơng qua dạy tích hợp vào các mơn học trong chương trình
Tiểu học ............................................................................................................... 79
3.2.2.2 Giáo dục cho học sinh những phẩm chất đạo đức tốt đẹp để trở thành
người yêu quý và bảo vệ thiên nhiên .................................................................. 84
3.2.2.3 Giáo dục thông qua các hoạt động ngồi giờ lên lớp về giữ gìn thiên
nhiên, bảo vệ môi trường .................................................................................... 88
PHẦN KẾT LUẬN ............................................................................................ 93
1. Kết luận ........................................................................................................... 93
2. Một số đề xuất ................................................................................................. 95
2.1 Đối với giáo viên ........................................................................................... 95
2.2 Đối với gia đình và xã hội ............................................................................. 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................... 97
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
“Trẻ em hơm nay , thế giới ngày mai” là một câu nói quen thuộc trong sự
nghiệp giáo dục nước ta. Câu nói thể hiện vai trò của các em trong sự nghiệp
xây dựng và kiến thiết nước nhà mai sau ,trẻ thơ được coi như tương lai của đất
nước, một đất nước có phồn thịnh được hay khơng là nhờ vào những thế hệ
tương lai ấy.Việc định hướng những mầm non tương lai phát triển một cách tồn
diện ln là nhiệm vụ cấp bách của ngành giáo dục, đặc biệt là đối với một nước
Việt Nam đang phát triển. Trong đó, giáo dục tình u thiên nhiên chính là một
trong những hoạt động giáo dục thường xuyên và xuyên suốt trong quá trình
giáo dục mỗi trẻ em, bồi dưỡng nơi trẻ tình yêu thiên nhiên, cây cỏ, vật nuôi
trong môi trường sống xung quanh.
Đất nước chúng ta đang ngày một phát triển, nền nơng nghiệp lúa nước
dần dần khơng cịn chiếm phần lớn giá trị kinh tế nữa, một phần là vì cạnh tranh
từ các nước khác, một phần vì lạc hậu, nghèo nàn trong phương tiện sản xuất.
Thay vào đó các ngành công nghiệp và dịch vụ đang vươn lên mạnh mẽ, kéo
theo đó là hàng loạt hệ lụy mà mơi trường thiên nhiên chính là “nạn nhân”.
Chúng ta sẽ khơng thể quên được Sự cố Formosa cá chết hàng trăm tấn ở biển
Hà Tĩnh và các tỉnh lân cận vì chất thải độc hại năm 2016, vụ việc gây thiệt hại
khơng chỉ tiền bạc mà cịn làm ơ nhiễm một vùng biển rộng lớn- nơi cư trú của
hàng trăm loại hải sản, nơi sinh sống của hàng triệu dân cư Việt Nam. Từ sai
lầm của một bộ phận thiếu ý thức đạo đức, thờ ơ với những hậu quả mà mình
gây ra đã phải đánh đổi một cái giá quá lớn mà trên thực tế phải mất hàng chục
năm thậm chí hàng trăm năm để khơi phục lại một hệ sinh thái biển tự nhiên,
điều này chẳng khác gì làm tăng thêm gánh nặng trách nhiệm cho các thế hệ trẻ
tương lai . Người da đỏ có một ngạn ngữ thấm thía: “Hãy đối xử tử tế hơn với
Trái Đất. Cha mẹ chúng ta không mang Trái Đất đến cho chúng ta, mà chúng ta
đang vay nợ Trái Đất từ chính con cháu của mình. Chúng ta khơng thừa kế Trái
1
Đất từ tổ tiên, mà chúng ta vay mượn nó từ thế hệ kế tiếp chúng ta”,những gì
chúng ta mượn nên trả lại một cách tồn vẹn khơng tổn hại. Thiên nhiên chính là
nguồn sống, là đời sống của vạn vật. Ích lợi của thiên nhiên là vơ hạn nhưng
thiên nhiên là hữu hạn.Việc giáo dục cho các em biết tầm quan trọng của thiên
nhiên, môi trường sống tự nhiên xung quanh ngay từ khi vào trường Tiểu học
không những tạo nên một tư tưởng, một tình cảm mà cịn phải là một thói quen
khơng thể xóa bỏ trong suốt cuộc đời.
Trong nội dung kiến thức mà các em được học từ sách vở, có thể nhận
thấy có rất nhiều bài học về cách bảo vệ môi trường hay xa hơn là thiên nhiên,
bên cạnh đó Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có Chỉ thị 02/2005/CT-BGDĐT ngày
31 tháng 01 năm 2005 về việc “Tăng cường công tác giáo dục bảo vệ mơi
trường” chứng tỏ việc giáo dục tình u thiên nhiên với các em học sinh thực sự
được chú trọng. Tuy nhiên hiệu quả dường như vẫn chưa đủ, trong thực tế, nhiều
em học sinh vẫn chưa có ý thức bảo vệ, chăm sóc cây cỏ, chưa có trách nhiệm
hay tình u với vật ni hoặc có thái độ khơng tích cực, thiếu hào hứng khi tiếp
xúc với thế giới tự nhiên như khi đi tham quan, khi tham gia các hoạt động vệ
sinh…nhất là khi trong thời đại cơng nghệ, niềm u thích của các em khi khám
phá thế giới tự nhiên bên ngoài bị giảm đi rất nhiều. Thay đổi những phương
pháp giáo dục khiến trẻ tiếp cận với thế giới tự nhiên một cách gần gũi, sinh
động, gợi được niềm hào hứng ở trẻ sẽ là điều cần thiết. Đối với nhận thức của
học sinh Tiểu học, khi ngơn từ đơn giản giàu hình ảnh là điều dễ hiểu và dễ tiếp
nhận nhất, giáo dục tình yêu thiên nhiên qua thơ chính là một phương pháp hiệu
quả. Những bài thơ ngắn, giàu hình ảnh, nhạc điệu đi vào trong trí nhớ trẻ em dễ
dàng hơn nhiều so với bất cứ một đoạn văn dài dịng, khơ khan nào.
Bên cạnh những tác giả lớn nổi bật trong văn học thiếu nhi như Võ
Quảng, Phạm Hổ, Nguyễn Huy Tưởng,…cái tên Trần Đăng Khoa nổi lên như
một hiện tượng văn học lúc bấy giờ, bởi ông bắt đầu tham gia sáng tác lúc chỉ
mới có tám tuổi thậm chí được mọi người dành tặng danh hiệu “thần thồng thơ
2
trẻ”. Tập thơ đầu tay Từ góc sân nhà em (sau được tái bản, bổ sung đổi tên thành
Góc sân và khoảng trời) được đón nhận nồng nhiệt, một phần có lẽ là do Trần
Đăng Khoa là số ít nhà thơ viết cho thiếu nhi nhưng độ tuổi tác giả lúc đó cũng
thuộc hàng lứa thiếu nhi. Tập thơ Góc sân và khoảng trời sau này của ông cũng
thành công vang dội và trở thành một trong những tác phẩm đáng nhớ nhất trong
cuộc đời sự nghiệp của ơng.
Đọc Góc sân và Khoảng trời, chúng ta sẽ thấy hiện lên cả một thế giới
con người và sự vật, cảnh vật thiên nhiên mà trong đó con người nào cũng đều
để lại một dấu ấn tốt đẹp trong con mắt của thi sĩ tí hon Trần Đăng Khoa; cịn sự
vật thì hầu như tất cả đều đã được nhân cách hóa, trở thành những bạn bè thân
thiết, không thể xa rời, và điều đặc biệt là tất cả đều nằm trong tầm nhìn của tác
giả, tầm nhìn của đơi mắt trẻ thơ. Một điểm nổi bật từ tập thơ là cảm hứng thiên
nhiên từ một vùng quê thanh bình, trong trẻo, khiến người đọc như sống trong
thế giới thiên nhiên ấy cùng tác giả. Tuổi thơ tôi lớn lên với những vần thơ của
Trần Đăng Khoa, từ Ị…ó…o, Kể cho bé nghe đến Hạt gạo làng ta lúc đó cịn
nhỏ dù chưa thực sự hiểu hết được cái hay trong thơ ông nhưng tôi vẫn cảm
tượng tưởng ra được cái thế giới thiên nhiên kì thú của Trần Đăng Khoa, tràn
ngập âm thanh, hình ảnh mà gần gũi hết sức.
Một bài thơ hay không chỉ tạo ấn tượng sâu sắc mà cịn đọng lại lâu dài
trong tâm trí người đọc. Việc kết hợp giáo dục thông qua một bài thơ khiến điều
này càng ý nghĩa hơn. Giáo dục tình yêu thiên nhiên cho học sinh tiểu học
không phải là điều một sớm một chiều mà phải là một quá trình lâu dài, không
chỉ được thể hiện bằng các hoạt động sinh hoạt hằng ngày, việc này cịn được
tích hợp thơng qua các môn học, đặc biệt là các tác phẩm văn học thiếu nhi mà
tiêu biểu là tập thơ Góc sân và khoảng trời của Trần Đăng Khoa. Chúng tôi tin
rằng những vần thơ của ông sẽ không chỉ in dấu sâu sắc trong tâm trí các thế hệ
bạn đọc từ trước đến nay mà còn thẳng bước chinh phục hàng nghìn độc giả nhỏ
tuổi thế hệ trẻ trong tương lai.
3
Chính vì những lí do trên, chúng tơi mạnh dạn chọn đề tài “Giáo dục tình
yêu thiên nhiên cho học sinh tiểu học qua tập thơ Góc sân và khoảng trời
của Trần Đăng Khoa” để nghiên cứu. Hi vọng qua đề tài này chúng tơi sẽ có
thể góp thêm một cái nhìn, cách tìm hiểu mới trong những bài học về tình yêu
thiên nhiên mà tác giả mang lại.
2. Lịch sử vấn đề
Giáo dục tình u thiên nhiên ln là điều được quan tâm trong nhiều
năm qua. Nguồn cảm hứng để tác giả sáng tác tập thơ Góc sân và khoảng trời
một phần lớn là từ thiên nhiên rộng lớn như về con vật, cây cối, các hiện tượng
thiên nhiên, vầng trăng… Chính vì vậy đã có rất nhiều cơng trình nghiên cứu, ý
kiến đánh giá liên quan đến đề tài và từ nhiều hướng và mức độ khác nhau,
chúng tôi xin được điểm qua bên dưới.
Trần Đăng Xuyền, tạp chí Văn học số 4, năm 2003, đã chỉ ra những yếu
tố góp phần làm nên hồn thơ cũng như đặc điểm trong cái nhìn của Trần Đăng
Khoa: …gia đình, cảnh sắc thiên nhiên ở làng quê, ảnh hưởng của nhà thơ Xn
Diệu, bạn bè, thầy cơ và khơng khí ở thời đại, “Thơ Trần Đăng Khoa chạm đến
bản chất, cái cốt lõi của làng quê”[11]... Tuy nhiên bài phân tích này chưa thực
sự đi sâu vào cái đẹp thiên nhiên hay tình yêu thiên nhiên mà Trần Đăng Khoa
thể hiện trong tập thơ.
PGS.TS Lã Thị Bắc Lý, Giáo trình văn học trẻ em, nhà xuất bản Đại học
Sư phạm, năm 2003, đã nêu ra những nội dung cơ bản của thơ Trần Đăng Khoa,
trong đó nội dung hàng đầu là thiên nhiên ở nông thôn bởi theo tác giả thì “đây
là mảng nội dung nổi bật nhất trong thơ Trần Đăng Khoa” Sự vật trong thiên
nhiên thì hầu như ai cũng biết, cũng nhận thấy nhưng khơng ai có được cái nhìn
như Trần Đăng Khoa. Đó là một cái nhìn ngộ nghĩnh, đáng yêu mà lại rất sâu
sắc: “Thơ Trần Đăng Khoa luôn gợi cho bạn đọc cảm nhận về một thiên nhiên
nông thôn thuần nhất, tinh nguyên và hết sức thơ mộng… thiên nhiên trong thơ
Trần Đăng Khoa khơng chỉ là sự n tĩnh thơ mộng mà cịn đầy sức sống, luôn
4
luôn vận động và phát triển”.[3] Tuy chỉ một phần nào đó nói về cảm nhận và
phân tích của tác giả với thế giới thiên nhiên trong thơ Trần Đăng Khoa nhưng
đây thực sự là một nguồn tài liệu tham khảo hữu ích đối với đề tài nghiên cứu
của chúng tôi.
Nhà thơ Xuân Diệu, một trong những nhà thơ lớn dìu dắt Trần Đăng
Khoa, đã viết tựa cho tập thơ Góc sân và khoảng trời với những thích thú về
cách miêu tả thiên nhiên của Trần Đăng Khoa, ông cho rằng “Chính tâm hồn
bên trong của con người quy tụ cảnh vật bên ngoài vào quanh một cái trục, biến
vật vơ tri thành ra tình cảm” với một thái độ trân trọng, quý mến.[5; trang 6]
Vân Thanh, ủy ban khoa học xã hội nhà thơ Việt Nam, nhà xuất bản khoa
học xã hội, năm 1984 nhận xét: “Thơ Khoa nắm bắt được nhiều màu sắc, âm
thanh, hương vị của thế gới bên ngoài, của thiên nhiên cây cỏ, của sinh hoạt quê
hương đồng nội. Cảnh vật dưới ngòi bút của Khoa có hình nét và có cả tâm
hồn. Thế giới loài vật trong thơ Khoa thật đa dạng với những đường nét độc
đáo. Chỉ có con mắt trẻ thơ mới có những nhận xét đến kì lạ như vậy”.[8]
Bên cạnh đó, cũng có một số nghiên cứu về giáo dục tình yêu thiên nhiên
cho học sinh Tiểu học:
Bài viết Dạy trẻ yêu thiên nhiên của Trường Panakids ở Việt Nam có nêu:
Thế giới tự nhiên mang đến hình ảnh, âm thanh, mùi vị và cảm giác khơng thể
có ở đâu khác. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng việc trẻ em được cho tiếp xúc
với thiên nhiên từ sớm sẽ có được nhiều lợi ích về sức khỏe và trí tuệ, cũng như
cho trí tưởng tượng và sự sáng tạo của trẻ. [10; trang 1] Bài viết đưa ra các biện
pháp giáo dục tình u thiên nhiên cho trẻ thơng qua những ví dụ gần gũi giữa
trẻ và cha mẹ. Đây là tài liệu hữu ích để chúng tơi tham khảo trong quá trình
thực hiện đề tài nghiên cứu của mình.
Tiểu luận Bồi dưỡng tình yêu thiên nhiên, đất nước cho học sinh lớp 1,2,3
trong dạy học chủ đề Tự nhiên của môn Tự nhiên xã hội, Nguyễn Thu Thủy, đưa
5
ra nội dung và phương pháp bồi dưỡng tình yêu thiên nhiên cho học sinh cùng
những nghiên cứu, phân tích, thống kê khá chi tiết, đầy đủ. Tuy nhiên công trình
này giới hạn chỉ ở các lớp 1,2,3 và ở mơn Tự nhiên xã hội.
Như vậy, có thể thấy chưa có cơng trình nào nghiên cứu đi sâu về giáo
dục tình u thiên nhiên qua tập thơ Góc sân và khoảng trời, hầu hết các nghiên
cứu về tập thơ thường quan tâm về giá trị nghệ thuật hoặc các hình ảnh nhân vật,
tác giả. Hoặc là các cơng trình nghiên cứu về bồi dưỡng tình u thiên nhiên qua
một mơn học hạn chế hoặc là bài viết còn chung chung chưa cụ thể. Tuy vậy các
cơng trình nghiên cứu trên vẫn là nguồn tài liệu tham khảo bổ ích cho chúng tơi
trong q trình thực hiện đề tài này.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Chúng tơi chọn đề tài “ Giáo dục tình yêu thiên nhiên cho học sinh Tiểu
học qua tập thơ Góc sân và khoảng trời của Trần Đăng Khoa” với mong muốn
tìm hiểu việc giáo dục tình yêu thiên nhiên cho thiếu nhi qua tập thơ. Trên cơ sở
đó đề xuất một số biện pháp nhằm giáo dục tình yêu thiên nhiên cho học sinh
Tiểu học.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, đề tài đề ra một số nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Tìm hiểu những biểu hiện về tình yêu thiên nhiên trong tập thơ Góc sân và
khoảng trời của Trần Đăng Khoa.
- Tìm hiểu những bài học giáo dục tình yêu thiên nhiên cho thiếu nhi qua tập thơ
Góc sân và khoảng trời của Trần Đăng Khoa.
- Đề xuất một vài biện pháp giáo dục tình yêu thiên nhiên cho học sinh Tiểu
học.
6
4. Đóng góp của đề tài
Giáo dục tình u thiên nhiên qua tập thơ Góc sân và khoảng trời giúp
cho học sinh hình thành những phẩm chất đạo đức tốt đẹp để trở thành người có
ý thức ,trách nhiệm với bảo vệ mơi trường thiên nhiên, thái độ tích cực khám
phá thiên nhiên xung quanh. Ngoài ra, đề tài cũng là nguồn tài liệu bổ ích cho
sinh viên và giáo viên Tiểu học trong quá trình tìm hiểu và giáo dục tình yêu
thiên nhiên cho học sinh.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Giáo dục tình yêu thiên nhiên cho học sinh Tiểu học
qua tác phẩm Góc sân và khoảng trời của Trần Đăng Khoa.
- Phạm vi nghiên cứu: Tập thơ Góc sân và khoảng trời của Trần Đăng Khoa.
6. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp thống kê, phân loại
7. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết Luận, Danh mục tài liệu tham khảo thì phần Nội
dung chúng tơi chia làm 3 chương.
Chương 1: Những vấn đề chung liên quan đến đề tài
Chương 2: Tìm hiểu bài học giáo dục tình yêu thiên nhiên cho học sinh Tiểu học
qua tập thơ Góc sân và khoảng trời của nhà thơ Trần Đăng Khoa
Chương 3: Đề xuất một số biện pháp giáo dục tình yêu thiên nhiên cho học sinh
Tiểu học
7
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Khái quát chung về văn học thiếu nhi
1.1.1. Khái niệm văn học thiếu nhi
Theo Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán, văn học thiếu nhi theo
nghĩa hẹp gồm những tác phẩm văn học hoặc phổ cập khoa học dành riêng cho
thiếu nhi. Tuy vậy, khái niệm văn học thiếu nhi cũng thường bao gồm một phạm
vi rộng rãi những tác phẩm văn học thông thường (cho ngưới lớn) đã đi vào
phạm vi đọc của thiếu nhi…
Bách khoa thư Văn học thiếu nhi Việt Nam quan niệm về văn học thiếu
nhi tường tận hơn, chi tiết hơn. Khái niệm văn học thiếu nhi được nhận diện ở
nhiều góc độ: chủ đề sáng tác, nhân vật trung tâm, mục đích sáng tác, đối tượng
tiếp nhận…Cụ thể:
- Mọi tác phẩm được mọi nhà sáng tạo ra với mục đích giáo dục, bồi
dưỡng tâm hồn, tính cách cho thiếu nhi. Nhân vật trung tâm của nó là thiếu nhi,
và đôi khi cũng là người lớn, hoặc là một cơn gió, một lồi vật, một đồ vật, một
cái cây… Tác giả của văn học thiếu nhi khơng chỉ là chính các em mà cũng là
các nhà văn thuộc mọi lứa tuổi. [10; trang 6]
- Những tác phẩm mà thiếu nhi thích thú tìm đọc. Bởi vì các em đã tìm
thấy trong đó cách nghĩ cách cảm cùng những hành động gần gũi với cách nghĩ
cách cảm và cách hành động của chính các em, hơn thế, các en cịn tìm được ở
trong đso một lời nhắc nhở, một sự răn dạy, với những nguồn động viên khích
lệ, những sự dẫn dắt ý nhị, bổ ích… trong q trình hồn thiện tính cách của
mình. [10; trang 6]
8
Như vậy, văn học thiếu nhi là những tác phẩm văn học mà nhân vật trung
tâm hoặc là thiếu nhi, hoặc là người lớn, hoặc là thế giới tự nhiên… nhưng được
nhìn bằng đơi mắt trẻ thơ, có nội dung gần gũi, quen thuộc với vốn trải nghiệm
của trẻ, được các em thích thú, say mê và có tác dụng hoàn thiện đạo đức, tâm
hồn cho trẻ.
1.1.2 Văn học thiếu nhi Việt Nam trong chương trình Tiểu học
Những tác phẩm văn học thiếu được biên soạn trong chương trình Tiếng
Việt Tiểu học đa phần là các tác phẩm văn học hồn chỉnh hoặc một phần trích
đoạn từ tác phẩm văn học của các tác giả Việt Nam và thế giới. Văn học thiếu
nhi có vai trị to lớn trong việc giáo dục toàn diện cho thiếu nhi về đạo đức, trí
tuệ, và thẩm mỹ. Trong đó, các tác phẩm văn học thiếu nhi Việt Nam chiếm một
phần lớn trong chương trình học. Văn học thiếu nhi Việt Nam trong chương
trình Tiểu học đa số là thơ, các đoạn trích văn xi của một số tác giả Việt Nam
ngồi ra cịn có mảng văn học dân gian phân bố ở các khối lớp theo từng chủ
điểm. Ở đây chúng tôi xin chỉ nêu cụ thể về phần thơ trong sách giáo khoa Tiếng
Việt từ lớp 1 đến lớp 5.
Lớp 1: Ở học kì 1 do đặc điểm là các em mới học cách đánh vần, ghép chữ và
làm quen đọc trơn văn bản, nên trong SGK chưa có các bài thơ hồn chỉnh mà
chỉ có những đoạn thơ ngắn ứng dụng cho bài mới. Kì 2, gồm 20 bài thơ, với
nhiều thể thơ: 3 chữ, 4 chữ, 5 chữ, thất ngôn tứ tuyệt. Ví dụ: “Ai dậy sớm”,”
Mời vào” (Võ Quảng), “Xỉa cá mè” (Phạm Hổ), “Kể cho bé nghe” (Trần Đăng
Khoa), “Tặng cháu” (Hồ Chí Minh)…các bài thơ thuộc các chủ điểm Gia đình,
Nhà trường và Thiên nhiên đất nước giáo dục cho các em tình cảm gia đình, tình
thầy trị, tình bạn, cùng với đó là xây dựng bồi dưỡng tình yêu thiên nhiên, quê
hương đất nước.
Lớp 2: gồm 23 bài thơ, với nhiều thể thơ: 4 chữ, 5 chữ, 7 chữ, lục bát. Ví dụ:
“Cái trống trường em” (Thanh Hào), “Thương ơng” (Tú Mỡ), “Ơng và cháu”
(Phạm Cúc), “Cháu nhớ Bác Hồ” (Thanh Hải),…các bài thơ thuộc các chủ điểm
9
Em là học sinh, Bạn bè, Trường học, Thầy cô, Ông bà, Cha mẹ, Anh em, Bạn
trong nhà hoặc các chủ điểm liên quan đến thiên nhiên như Bốn mùa, Chim
chóc,…cùng con người như Bác Hồ, Nhân dân. Thơng qua các bài thơ ở các chủ
điểm khác nhau, tiếp tục xốy sâu vào các mối quan hệ gia đình, mối quan hệ xã
hội của học sinh, từ đó giáo dục đạo đức, tình cảm, cách ứng xử. Bên cạnh đó,
bồi dưỡng tình yêu thiên nhiên, tình yêu con người, Bác Hồ.
Lớp 3: gồm 37 bài thơ, các thể thơ như 4 chữ, 8 chữ, lục bát. Ví dụ: “Vẽ quê
hương” (Định Hải), “Hai bàn tay em” (Huy Cận), “Nhớ Việt Bắc” (Tố Hữu),…
thuộc các chủ điểm Măng non, Mái ấm, Tới trường, Cộng đồng, Quê
hương,…giáo dục các em tình yêu gia đình, trường lớp, quê hương, cách đối xử
chân thành với mọi người qua đó rèn luyện các phẩm chất đạo đức tốt đẹp.
Lớp 4: gồm 25 bài thơ, các thể thơ như 4 chữ, 5 chữ,6 chữ, 7 chữ, 8 chữ, lục bát.
Ví dụ: “Đơi que đan” (Phạm Hổ), “Nếu chúng mình có phép lạ” (Định Hải),
“Đồn thuyền đánh cá” (Huy Cận),…thuộc các chủ điểm Thương người như thể
thương thân, Trên đôi cánh ước mơ, Khám phá thế giới, Tình yêu cuộc
sống,…qua các bài thơ, học sinh học tập được những phẩm chất đạo đức đáng
quý, cách sống hòa đồng bên cạnh đó khơi gợi niềm đam mê, sáng tạo, tìm tịi
những điều mới lạ về cuộc.
Lớp 5: gồm 24 bài thơ với các thể thơ như 4 chữ, 7 chữ, lục bát, tự do,…
Ví dụ: “Sắc màu em yêu” (Phạm Đình Ân), Chú đi tuần (Trần Ngọc), “Đất
nước” (Nguyễn ĐÌnh Thi), “Về ngơi nhà đang xây” (Đồng Xn Lan),…thuộc
các chủ điểm Việt Nam- Tổ quốc em, Cánh chim hịa bình, Con người với thiên
nhiên,…tiếp tục giáo dục, rèn luyện cho các em những phẩm chất đạo đức tốt
đẹp, giúp các em nhận thức được quyền và trách nhiệm của mình khi đang là
một học sinh Tiểu học, bồi dưỡng tình yêu thiên nhiên, quê hương đất nước.
Riêng đối với nhà thơ Trần Đăng Khoa, ơng có rất nhiều tác phẩm được
đưa vào sách giáo khoa Tiếng Việt của Tiểu học như: “Ị…ó…o”, “Kể cho bé
nghe”, “Khi mẹ vắng nhà”, “Hạt gạo làng ta”, “Trăng ơi từ đâu đến”,… Các
10
tác phẩm dàn trải đều từ lớp 1 đến lớp 5 đủ cho ta thấy tầm quan trọng, sức ảnh
hưởng của thơ Trần Đăng Khoa đối với nền văn học thiếu nhi Việt Nam.
1.1.3 Vai trò và ý nghĩa của văn học thiếu nhi
Văn chương nuôi dưỡng tâm hồn, tư tưởng, tình cảm của con người. Định
nghĩa nổi tiếng của nhà văn hiện thực Nga Macxim Gorki: “Văn học là nhân học
trước hết nhấn mạnh đến mục đích của văn học là giúp con người hiểu được bản
thân mình; nâng cao niềm tin vào bản thân và làm nảy sinh khát vọng đi tìm
chân lí, dũng cảm đấu tranh chống lại cái xấu, cái ác, hướng tới cái đẹp, cái
thiện của cuộc đời”. Văn chương chân chính phải phục vụ con người, phải phản
ánh đời sống vật chất, tinh thần của con người với những niềm vui, nỗi đau đời
thường. Nhà thơ Tố Hữu nhận xét: “Văn học không chỉ là văn chương mà thực
chất là cuộc đời. Văn học sẽ khơng là gì cả nếu khơng vì cuộc đời mà có”. Cuộc
đời là nơi xuất phát, cũng là nơi đi tới của văn học. Nói đến chức năng giáo dục
của văn học là nói đến khả năng dẫn dắt và định hướng. Văn học đến với con
người bằng con đường tình cảm. Nó đem lại cho người đọc những rung cảm sâu
xa trước khung cảnh tươi đẹp của quê hương, đất nước, trước trạng thái muôn
màu muôn vẻ của cuộc sống xung quanh và nhất là trước sự phong phú, đa dạng
của thế giới tâm hồn.
Văn chương chân chính có khả năng cảm hóa, nhân đạo hóa con người.
Nó góp phần vào việc hình thành nhân cách, hồn thiện đạo đức, giúp con người
sống tốt đẹp hơn. Các tác phẩm văn học đích thực có khả năng giáo dục rất lớn,
xứng đáng là những người thầy, người bạn đáng tin cậy của chúng ta.
Đối với thiếu nhi nói chung, học sinh Tiểu học nói riêng, văn học nghệ
thuật giữ một vai trị vơ cùng quan trọng trong việc hình thành và phát triển
nhân cách của các em. Kha-li-nin nói: “Vấn đề giáo dục là một trong những vấn
đề khó khăn nhất, những nhà sư phạm ưu tú nhất đều cơng nhận nó khơng
những là một khoa học mà cịn là một nghệ thuật”. Vậy thì trong quá trình giáo
dục cho học sinh Tiểu học, bên cạnh các bộ môn khác như Đạo đức, Mỹ thuật,
11
Tự nhiên- Xã hội…, cần thấy được và phát huy tối đa sức mạnh giáo dục của
các tác phẩm văn học, đặc biệt là các tác phẩm được trích trong Sách giáo khoa.
Như nhà thơ Hữu Thỉnh đã nhận định: “Văn học thiếu nhi rất quan trọng và
không thể thiếu. Mỗi tác phẩm có giá trị được ví như một người thầy khơng
những bồi dưỡng tâm hồn mà cịn định hướng cho các em”. Từ văn học dân gian
đến văn học viết, từ văn học nước nhà đến văn học thế giới, mỗi tác phẩm như
một bài ca dịu ngọt, như một dòng suối mát lành tưới vào tâm hồn trẻ thơ. Ở lứa
tuổi mà ý thức đang hình thành, nhân cách đang được định hình, tâm hồn và suy
nghĩ còn ngây thơ, trong sáng, tư duy còn gắn liền với liên tưởng và tưởng
tượng thì khơng gì gây tác động mạnh mẽ bằng những vần thơ, những áng văn
giàu chất nhân văn và lấp lánh giá trị của nghệ thuật ngơn từ. Tình u thiên
nhiên, u con người, u quê hương làng xóm cũng từ đó mà đâm chồi nảy lộc.
Cảm nhận cuộc sống, thu thập kiến thức qua văn học chính là con đường tích
cực và nhẹ nhàng để giáo dục học sinh Tiểu học trở thành những con người có
sự phát triển tồn diện về nhân cách.
Văn học đã mang đến cho các em những cái đẹp, những cái cao thượng,
những tấm lòng nhân ái…để các em biết học hỏi những điều hay lẽ phải và trở
thành người có ích cho cuộc sống. Nhưng song song đó các em còn biết phân
biệt cái xấu, cái ác; cũng biết buồn vui giận hờn thâm chí căm ghét các nhân vật
trong tác phẩm. Từ đó, trẻ có cái nhìn chân thực về cuộc sống, rút ra những bài
học làm người, cách đối nhân xử thế. Đến với văn học, trẻ biết nỗi khổ, vất vả
của người nông dân (“Hạt gạo làng ta”- Trần Đăng Khoa), biết khiêm tốn,
không kiêu ngạo (“Dế mèn phiêu lưu kí”- Tơ Hồi), biết q trọng tình cảm
(“Khơng gia đình”- Héc tơ Malo), biết dũng cảm, nghị lực vượt khó (“Những
tấm lịng cao cả”- Edmondo De Amicis),.. Bước vào thế giới văn học, trẻ có thể
bước vào một thế giới hấp dẫn và từ đây văn học sẽ ươm mầm cho những ước
mơ của trẻ. Chính vì vậy, các tác phẩm văn học thực sự là một người bạn đồng
hành, người đối thoại với các em và chức năng giáo dục trong văn học là chức
năng cơ bản nhất.
12
1.2. Đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh Tiểu học
1.2.1. Tính cách
Nét tính cách của trẻ đang dần được hình thành, đặc biệt trong mơi trường
nhà trường cịn mới lạ, trẻ có thể nhút nhát, rụt rè, cũng có thể sơi nổi, mạnh
dạn...Sau 5 năm học, "tính cách học đường" mới dần ổn định và bền vững ở trẻ.
Nhìn chung việc hình thành nhân cách của học sinh tiểu học mang những
đặc điểm cơ bản sau: Nhân cách của các em lúc này mang tính chỉnh thể và hồn
nhiên, trong q trình phát triển trẻ ln bộc lộ những nhận thức, tư tưởng, tình
cảm, ý nghĩ của mình một cách vô tư, hồn nhiên, thật thà và ngay thẳng; nhân
cách của các em lúc này cịn mang tính tiềm ẩn, những năng lực, tố chất của các
em còn chưa được bộc lộ rõ rệt, nếu có được tác động thích ứng chúng sẽ bộc lộ
và phát triển; và đặc biệt nhân cách của các em cịn mang tính đang hình thành,
việc hình thành nhân cách khơng thể diễn ra một sớm một chiều, với học sinh
tiểu học còn đang trong q trình phát triển tồn diện về mọi mặt vì thế mà nhân
cách của các em sẽ được hồn thiện dần cùng với tiến trình phát triển của mình.
Hiểu được những điều này mà cha mẹ hay thầy cô giáo tuyệt đối không
được "chụp mũ" nhân cách của trẻ, trái lại phải dùng những lời lẽ nhẹ nhàng
mang tính gợi mở và chờ đợi, phải hướng trẻ đến với những hình mẫu nhân cách
tốt đẹp mà khơng đâu xa, chính cha mẹ và thầy cơ là những hình mẫu nhân cách
ấy.
1.2.2. Nhu cầu nhận thức
Trong những năm đầu của bậc Tiểu học, nhu cầu nhận thức của học sinh
phải phát triển rõ nét, đặc biệt là nhu cầu tìm hiểu thế giới xung quanh, khát
vọng hiểu biết. Đầi tiên là nhu cầu tìm hiểu những sự việc riêng lẻ, những hiện
tượng riêng biệt (lớp 1, lớp 2); sau đó đến nhu cầu gắn liền với sự phát hiện
nguyên nhân, quy luật, các mối liên hệ và quan hệ phụ thuộc giữa các hiện
tượng (lớp 3, lớp 4 và đặc biệt là lớp 5).
13
Nhu cầu nhân thức là một trong những nhu cầu tinh thần. Đối với học
sinh Tiểu học, nhu cầu này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển
của trí tuệ. Nhu cầu nhận thức là nguồn năng lượng tinh thần để định hướng và
tiến lên trong nhiều tình huống, cảnh ngộ khó khăn, trên con đường khám phá
những kho tàng tri thức của nhân loại. Quá trình nhận thức khơng tách khỏi hoạt
động thực tiễn của trẻ thơ. Vì thế nhu cầu nhận thức của học sinh Tiểu học được
hình thành và phát triển nhờ các hoạt động mn màu, mn vẻ trong trường,
ngồi xã hội và trong gia đình.
Giáo viên Tiểu học phải biết cách làm cho trẻ tin vào khả năng nhận thức
của mình. Vì vậy, ngay từ bậc học Tiểu học cần hình thành nhu cầu nhận thức
cho học sinh. Khi có nhu cầu nhận thức, các em sẽ khắc phục được khó khăn để
tự mình chiếm lĩnh, tự học suốt đời.
1.2.3. Tình cảm
Tình cảm của học sinh tiểu học mang tính cụ thể trực tiếp và luôn gắn liền
với các sự vật hiện tượng sinh động, rực rỡ,...Lúc này khả năng kiềm chế cảm
xúc của trẻ còn non nớt, trẻ dễ xúc động và cũng dễ nổi giận, biểu hiện cụ thể là
trẻ dễ khóc mà cũng nhanh cười, rất hồn nhiên vơ tư...Vì thế có thể nói tình cảm
của trẻ chưa bền vững, dễ thay đổi (tuy vậy so với tuổi mầm non thì tình cảm
của trẻ tiểu học đã "người lớn" hơn rất nhiều).
Trong quá trình hình thành và phát triển tình cảm của học sinh tiểu học
ln ln kèm theo sự phát triển năng khiếu: Các em có thể xuất hiện các năng
khiếu như thơ, ca, hội họa, kĩ thuật, khoa học,...khi đó cần phát hiện và bồi
dưỡng kịp thời cho trẻ sao cho vẫn đảm bảo kết quả học tập mà khơng làm thui
chột năng khiếu của trẻ.
Chính vì thế, việc giáo dục tình cảm cho học sinh tiểu học cần ở nhà giáo
dục sự khéo léo, tế nhị khi tác động đến các em; nên dẫn dắt các em đi từ hình
ảnh trực quan sinh động, hấp dẫn và đặc biệt phải luôn chú ý củng cố tình cảm
14
cho các em thông qua các hoạt động cụ thể như trị chơi nhập vai, đóng các tình
huống cụ thể, các hoạt động tập thể ở trường lớp.
1.3. Nhà thơ Trần Đăng Khoa và tập thơ “Góc sân và khoảng trời”
1.3.1. Cuộc đời và sự nghiệp của nhà thơ Trần Đăng Khoa
Trần Đăng Khoa (sinh ngày 24 tháng 4 năm 1958), quê làng Trực Trì, xã
Quốc Tuấn, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương là một nhà thơ, nhà báo, biên tập
viên Tạp chí Văn nghệ Quân đội, hội viên của Hội Nhà văn Việt Nam. Hiện là
trưởng ban Văn nghệ Đài tiếng nói Việt Nam.
Từ nhỏ ơng đã được nhiều người biết đến là một “thần đồng thơ trẻ”. Lên
8 tuổi, ơng đã có thơ được đăng báo, đó chính là những vần thơ đầu đời của
Trần Đăng Khoa qua con mắt của ơng về vạn vật xung quanh mình, là những
con vật vùng nông thôn gần gũi hay bức tranh thiên nhiên đầy mới lạ. Năm
1968, khi mới 10 tuổi, tập thơ đầu tiên của ơng “Từ góc sân nhà em” (sau nhiều
lần tái bản và chỉnh sửa đổi tên là “Góc sân và khoảng trời”) được nhà xuất bản
Kim Đồng xuất bản. Có lẽ tác phẩm nhiều người biết đến nhất của ông là bài
thơ “Hạt gạo làng ta” mà đến bây giờ vẫn nhiều người thuộc làu làu, sáng tác
năm 1968, được thi sĩ Xuân Diệu hiệu đính, sau được nhạc sĩ Trần Viết Bính
phổ nhạc (1971). Thơ ông cũng được dịch và in ở nhiều nước trên thế giới như:
Pháp, Liên Xô, Thụy Điển, Tiệp Khắc, Đức, Bungari,…
Điều khiến thơ của Trần Đăng Khoa “vượt hơn” so với các cây bút cùng
trang lứa, đó là thơ, văn của cậu bé thần đồng không chỉ hay ở tài quan sát, ở óc
tưởng tượng, mà hay ở khả năng cảm nhận về "bề sâu, bề xa" của đời sống, ở sự
"biết nghĩ" trước những vấn đề lớn gắn bó mật thiết với cuộc sống của cộng
đồng. Nhà thơ Tố Hữu đã từng nói "Giời đã mượn cái miệng trẻ con của Khoa
để làm thơ cho người lớn đọc" . Trần Đăng Khoa được các nhà văn, nhà thơ nổi
tiếng tận tình dìu dắt như Xuân Diệu, Tố Hữu, Chế Lan Viên, Tơ Hồi, Huy
15
Cận. Tư duy nghệ thuật của ơng nhanh chóng trưởng thành trong công việc làm
thơ.
Đi qua tuổi thơ, Trần Đăng Khoa trưởng thành trong những năm tháng
chiến tranh liên miên. Tháng 2/1975, cậu học trò bỏ dở lớp 10 để ra trận. Nhắc
đến đây, ông ngậm ngùi: "Bạn bè một thời bây giờ chỉ cịn tơi và một người nữa
sống sót qua chiến tranh. Nhiều người đã nằm lại trên chiến trường và khơng
tìm được hài cốt". Từng đi học ở nước ngoài, nhiều năm làm việc tại Hà Nội,
Trần Đăng Khoa vẫn tự nhận mình là kẻ nhà quê đến tận cùng bản chất. Đây
cũng là lý do vì sao ông làm thơ về vùng nông thôn lại hay đến vậy.
Trần Đăng Khoa khơng có nhiều tác phẩm, và danh hiệu "thần đồng thơ
trẻ" của nhà thơ thời thơ ấu không hề liên quan hay được nối tiếp đến quãng đời
về sau khi nhà thơ vào lính, theo học ở Nga, khi về nước làm biên tập viên, làm
báo. Ðề tài ông quan tâm là các nhà văn và những vấn đề của văn học Việt Nam
đương đại. Thi hứng một thời, hiển nhiên, không là động lực cho xúc cảm khi
tác giả đã cao tuổi. Trước sự tiếc nuối của nhiều độc giả khi hiện tại Trần Đăng
Khoa khơng cịn làm thơ về trẻ con, ơng lý giải: "Tơi khơng bí thơ, bỏ thơ. Tơi
lựa chọn sự trải nghiệm trong những thể loại mới như phê bình, báo chí. Tơi
nghĩ điều này cũng đơn giản như việc ngồi vào mâm cơm, người dùng đũa
nhưng kẻ khác lại cầm thìa mà thơi".
Những tác phẩm lớn nhất của Trần Đăng Khoa cịn được mọi người biết
đến: “Từ góc sân nhà em”, 1968; “Góc sân và khoảng trời”, tập thơ, 1968, tái
bản khoảng 30 lần, được dịch và xuất bản tại nhiều nước trên toàn thế giới;
“Khúc hát người anh hùn”, trường ca, 1974.; “Bên cửa sổ máy bay”, tập thơ,
1986; “Chân dung và đối thoại”, tiểu luận phê bình, Hà Nội: Nxb Thanh niên,
1998, tái bản nhiều lần, gây tiếng vang trên văn đàn những năm bế tắc của phê
bình văn học Việt Nam.
16
Ông 3 lần được tặng giải thưởng thơ của báo Thiếu niên Tiền phong (các
năm 1968, 1969, 1971), Giải nhất báo Văn nghệ (1982) và Giải thưởng Nhà
nước (năm 2000).
Những nhận định về Trần Đăng Khoa của các nhà thơ nổi tiếng
“ Trần Ðăng Khoa, tác giả của nhiều bài thơ hay mà bản thân tôi đã hai lần viết
bài giới thiệu và bình luận, là nhà thơ 10 tuổi năm 1968, mà tơi đã sung sướng
hướng dẫn đồn truyền hình Pháp về quay phim "Thế giới nhỏ của em Khoa" tại
xã Quốc Tuấn - Hải Hưng; tơi cịn là người đầu tiên dịch thơ Trần Ðăng Khoa
ra tiếng Pháp, đưa cho nữ đồng chí Madeleine Riffaud. Chị Riffaud về đăng lên
báo Nhân đạo (Humanité) của Ðảng Cộng sản Pháp; sau đó tơi lại dịch cả một
tập thơ Khoa ra Pháp văn, từ đó giới thiệu thơ Trần Ðăng Khoa, dịch ra nhiều
tiếng trên thế giới. Tôi lại giới thiệu và giúp đỡ nhà thơ Cuba Félix Pi la
Rodriguez dịch ra tiếng Tây Ban Nha, và tơi đã bình hai bài thơ Mưa và Em kể
chuyện này ở rất nhiều nơi trên miền bắc, ở Sài Gòn và các thành thị phía nam
(1975-1976).”
(Xn Diệu - Cơng việc làm thơ, 1984)
“ Ðọc thơ Trần Ðăng Khoa, chúng ta thấy rất rõ điều này: Thơ Trần Ðăng
Khoa chủ yếu viết bằng tình cảm, bằng lòng yêu thương... Yêu thương từ cây cỏ
đến loài vật, từ người thân trong nhà đến bà con trong làng. Từ Bác Hồ kính
u đến các thầy cơ giáo các bạn bè cùng lớp..., các anh bộ đội, các cô bác công
nhân đào than...
Một trong những yếu tố giúp cho Trần Ðăng Khoa có được những cái riêng, từ
những quan sát nhỏ đến những tình cảm, những ý nghĩ lớn, đó là sức liên tưởng
phong phú và mạnh mẽ của em...”
(Phạm Hổ - Ðọc thơ Trần Ðăng Khoa, 1995)
17
“ Có lẽ cịn lâu mới lại có được một thần đồng tám tuổi lại thành một nhà thơ để
lại được sự nghiệp trong nền thơ Việt Nam như Trần Ðăng Khoa.
Thơ Khoa gắn với cái vườn, ngôi nhà, cánh đồng và làng xóm quanh Khoa. Nay
mai làng hóa phố, hoặc thành những trang trại lớn, thơ Trần Ðăng Khoa còn
giá trị biết mấy...
Sau này Trần Ðăng Khoa chuyển sang viết chân dung. Tập Chân dung và đối
thoại của Khoa cũng là một tác phẩm góp vào văn nghiệp của thần đồng xưa.
Nhưng thơ Thần đồng thì mọi người vẫn rất dễ nhất trí, yêu thích, và tự hào,
mến phục.
Thật sung sướng cho một nhà thơ được mãi mãi hồn nhiên và đẹp với một hồn
thơ thời tám, chín tuổi...”
(Ngơ Văn Phú)
1.3.2 Tập thơ “Góc sân và khoảng trời”
1.3.2.1 Sơ lược về tập thơ “Góc sân và khoảng trời”
Ngay từ khi còn đi học lớp 1, mới lên 8 tuổi, thơ Trần Đăng Khoa đã
được đăng báo và những bài thơ của ông thời ấy đã được tập hợp để in thành
một tập thơ dày dặn cũng đã rất nổi tiếng. Tập thơ có tên “Góc sân và Khoảng
trời”. Tập thơ được viết từ năm 1966-1973, vào những năm tháng nước sôi lửa
bỏng của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước nên chứa đựng nhiều yếu tố của
thời đại. Cảm hứng chủ đạo của nhà thơ là tình cảm của Trần Đăng Khoa dành
cho quê hương, đất nước, con người Việt Nam. Đó là tình cảm u thương, gắn
bó, tự hào, lạc quan và tin tưởng vào ngày toàn thắng của cách mạng. Tập thơ
còn thể hiện năng lực quan sát nhạy bén của trần Đăng Khoa đối với cảnh vật,
cuộc sống ở nông thôn. Tuy nhỏ tuổi, nhưng ông đã biết sử dụng nhiều cách
biểu hiện khác nhau để khắc họa, miêu tả thế giới sự vật vô cùng phong phú, đa
dạng và sinh động. Tất cả đều rất gần gũi, thân thương. Trần Đăng Khoa, với đôi
18
mắt trẻ thơ , tài năng thi phú thiên bẩm, cùng sự học tập, lao động, nghiêm túc
đã viết nên những vần thơ thật hay mà trải qua gần nửa thế kỉ, tập thơ vẫn luôn
là một trong những quyển sách gối đầu giường của hàng vạn độc giả cả nước.
“Góc sân và khoảng trời” là tập thơ của Trần Đăng Khoa được xuất bản
lần đầu tiên năm 1968 khi tác giả mới 10 tuổi. Tập thơ mới đầu có tên là “Từ
góc sân nhà em”, sau nhiều lần tái bản và chỉnh sửa, nay tập thơ tên là “Góc sân
và khoảng trời”. Tập thơ như là những trang ký ức, nhật ký của tác giả thời thơ
ấu. Tập thơ “Góc sân và Khoảng trời” được in lần đầu, gồm 52 bài với số lượng
10.000 cuốn; năm 1973, “Góc sân và Khoảng trời” được bổ sung thành 66 bài,
in với số lượng lên tới 50.000 bản. Từ đấy, tập thơ này mỗi năm đều được bổ
sung thêm và in lại nhiều lần ở nhiều nhà xuất bản khác nhau. Đến lần in năm
2002 là lần thứ 50, một con số có lẽ là kỷ lục cho những cuốn sách được tái bản
nhiều lần ở nước ta. Tập thơ “Góc sân và khoảng trời” mà chúng tôi đang sử
dụng để nghiên cứu và tham khảo là phiên bản in lần thứ 127 (theo thống kê của
tác giả) do Nhà xuất bản Văn học phát hành.
1.3.2.2 Giá trị nội dung
Thơ Trần Đăng Khoa hay không phải ở nội dung phản ánh hiện thực. Dù
giới hạn một cách khiêm tốn trong góc sân và khoảng trời của riêng Trần Đăng
Khoa, nhưng tập thơ đã dàn trải ra đủ các loại đề tài, từ chuyện nhỏ đến chuyện
lớn như đồ vật, loài vật, người thân, cho đến cuộc sống sản xuất và đấu tranh
trong những năm chống Mỹ, cả tình cảm đối với Đảng và Bác Hồ vĩ đại. Khơng
có gì chắc chắn để nói rằng đề tài rộng thơ mới có tầm vóc lớn. Sức mạnh của
thơ Trần Đăng Khoa, nói như Xuân Diệu: “ Chính tâm hồn bên trong của con
người qui tụ cảnh vật bên ngoài vào quanh một cái trục, biến vật vơ tri thành ra
xúc cảm, tình cảm”. Cần phải nói thêm rằng, cái hay của thơ Trần Đăng Khoa
nằm ở khả năng trực giác đến kỳ lạ được biểu đạt qua một thế giới ngôn từ lung
linh, sống động và nhạc điệu đa âm, đa sắc.
19
Đọc “Góc sân và Khoảng trời”, chúng ta sẽ thấy hiện lên cả một thế giới
con người và sự vật mà trong đó con người nào cũng đều để lại một dấu ấn tốt
đẹp trong con mắt của thi sĩ tí hon Trần Đăng Khoa; cịn sự vật thì hầu như tất
cả đều đã được nhân cách hóa, trở thành những bạn bè thân thiết, không thể xa
rời, và điều đặc biệt là tất cả đều nằm trong tầm nhìn của tác giả, tầm nhìn của
đơi mắt trẻ thơ.Đó là con bướm vàng, cái sân, dịng sơng Kinh Thầy, con chim,
con gà, vườn cải, cây đa, con trâu, cây trầu... và nhất là ánh trăng của làng quê.
Với tuổi thơ trong “Góc sân và Khoảng trời” của Trần Đăng Khoa, ông trăng
cũng ngây thơ như trẻ con, cũng thích khoe khn mặt trịn, cũng nhoẻn miệng
cười thích thú khi nhìn thấy chuối, thấy xôi; và thú vị nhất là cũng biết thập thị
ngồi cửa khi rủ bạn đi chơi.
Thơ trong “Góc sân và Khoảng trời” là thơ của tuổi thơ viết về tuổi thơ.
Nhưng đó là tuổi thơ của một thời mà đất nước ta đang trong chiến tranh chống
xâm lăng, lửa đạn nổ ngút trời.Đó là cái thời mà từ những anh trai làng đến các
sinh viên đại học, và cả những người thầy của tác giả Trần Đăng Khoa cũng đều
lên đường ra trận.
Cảm nhận “Góc sân và khoảng trời”, ta thấy thơ Trần Đăng Khoa thuở
tuổi lên 10 thật là trẻ con nhưng cũng thật là người lớn.Nếu lấy con mắt của
người đọc là trẻ em hôm nay để nói thì đấy là tập thơ của một chú bé già trước
tuổi. Hay nói cách khác là Trần Đăng Khoa đã thành người lớn từ khi còn là trẻ
con. Nhưng vấn đề là chúng ta phải đặt tập thơ khi nó ra đời vào hồn cảnh lịch
sử xã hội bấy giờ của đất nước, một đất nước đang chiến tranh, người người đi
ra trận, đến cả chú chó vàng thân yêu của tác giả cũng bị chết vì bom Mỹ thì sự
ra đời của những bài thơ như trong “Góc sân và khoảng trời” là điều tất yếu.
Chính những bài thơ được tập hợp lại trong “Góc sân và khoảng trời” đã
làm nên một thần đồng thơ Trần Đăng Khoa ngày nào. Năm 2002, “Góc sân và
khoảng trời” là một trong ba tập thơ của Trần Đăng Khoa được trao giải thưởng
Nhà nước về văn học nghệ thuật.
20