Tải bản đầy đủ (.doc) (16 trang)

Rèn kỹ năng viết đoạn văn nghị luận xã hội cho học sinh lớp 12 THPT

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (115.85 KB, 16 trang )

MỤC LỤC

1.MỞ ĐẦU ……………………………………………… ……. Trang 2-4
1.1. Lí do chọn đề tài……………………………………………Trang 2
1.2. Mục đích nghiên cứu……………. ……………………… Trang 3
1.3. Đối tượng nghiên cứu…………………………………… . Trang 3
1. 4. Phương pháp nghiên cứu ……………………………… Trang 3
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN …………………………………. Trang 4 - 15
2.1. Cơ sở lí luận của SKKN ………………… ……………… Trang 3 - 4
2.2. Thực trạng vấn đề
…………………………………….. Trang 4 - 5
2.3. Các giải pháp
…………………………………….. Trang 5- 15
2.4. Hiệu quả của SKKN
………………… ……………… Trang 15
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
…………………………. Trang 16

1


RÈN KỸ NĂNG VIẾT ĐOẠN VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
CHO HỌC SINH LỚP 12
1. MỞ ĐẦU:
1.1. Lý do chọn đề tài:
Những năm gần đây Bộ GD&ĐT ngày càng chú trọng nhiều hơn đến việc
nâng cao chất lượng giáo dục ở các cấp học nhằm cung cấp tri thức toàn diện cho
người học , đặc biệt là nâng cao chất lượng dạy và học Ngữ văn trong trường PT.
Trên cơ sở đó rèn luyện năng lực cảm thụ văn học, bồi dưỡng tình cảm tâm hồn
nhân cách chuẩn bị cho các em hành trang tri thức vào đời. Trong xu thế đổi mới
việc dạy và học Ngữ văn nói chung cụ thể là đổi mới chương trình và SGK sau một


thời gian thí điểm từ năm học 2006-2007 Bộ GD&ĐT đã đưa vào sử dung bộ sách
giáo khoa mới theo chương trình phân ban đại trà áp dụng cho các trường THPT
toàn quốc. Các bộ SGK mới ( Chuẩn – Nâng cao )có nhiều thay đổi : bỏ đi một số
tác phẩm không phù hợp, một số văn bản mới được đưa vào để phù hợp với tình
hình phát triển chung của xã hội. Đồng thời kiểu bài nghị luận xã hội được đưa vào
chương trình Ngữ văn. Khi làm bài nghị luận văn học các em đã được trang bị kiến
thức từ những tiết đọc hiểu văn bản. Còn văn nghị luận xã hội học sinh gặp không
ít khó khăn cả về nội dung và phương pháp.Từ năm 2009 đề thi học kỳ và Tốt
nghiệp THPT , tuyển sinh Đại học Cao đẳng đều có câu nghị luận xã hội – chiếm 3
điểm trong tổng số 10 điểm toàn bài. Nhưng thực tế nhiều học sinh làm câu nghị
luận xã hội không tốt, hoặc có làm được thì chất lượng không cao, ảnh hưởng đến
điểm toàn bài thi ,ảnh hưởng đến chất lượng chung.
Theo yêu cầu của Bộ Giáo dục & Đào tạo về đổi mới kiểm tra đánh giá học
sinh THPT , kỳ thi THPTQG từ năm 2017 đề thi Ngữ văn yêu cầu học sinh viết
đoạn nghị luận xã hội ( khoảng 200 chữ) thay cho một bài nghị luận xã hội . Trước
đây học sinh đang quen với việc viết bài văn nghị luận xã hội, nay với yêu cầu đổi
mới viết một đoạn văn, học sinh sẽ có những lung túng, bỡ ngỡ. Với học sinh việc
viết một bài văn nghị luận xã hội đã khó, nay phải viết đoạn nghị luận xã hội lại
càng khó hơn. Đây quả là một thử thách đối với học sinh THPT.
Là một giáo viên Ngữ văn đang trực tiếp giảng dạy khối 12, chúng ta phải làm
gì để giúp học sinh có được kỹ năng cần thiết viết đoạn văn nghị luận xã hội tốt
nhất. Nỗi băn khoăn của tôi cũng là cũng là của tất cả giáo viên Ngữ văn THPT,
mong muốn học sinh tiếp cận vấn đề, giải quyết vấn đề đặt ra và viết tốt đoạn nghị
luận xã hội để làm bài thi THPTQG đạt hiệu quả cao .Từ đó bồi dưỡng cho các em
lòng yêu thích môn học Ngữ văn, giúp các em hiểu đời, hiểu người, có đời sống
tình cảm tâm hồn thêm phong phú và hình thành được kỹ năng sống cần thiết cho
học sinh. Đồng thời những vấn đề đặt ra từ đề làm văn nghị luận xã hội góp phần
thực hiện mục đích giáo dục hoàn thiện nhân cách cho học sinh giúp các em có
thêm tri thức để bước vào cuộc sống.
2



Đó là lý do tôi chọn đề tài “ Rèn kỹ năng viết đoạn văn nghị luận xã hội cho
học sinh lớp 12 THPT ”.
1.2. Mục đích nghiên cứu:
Người viết SKKN nghiên cứu đề tài với mục đích giúp học sinh vận dụng
hiểu biết kiến thức xã hội để làm văn nghị luận xã hội, có kỹ năng viết đọan văn
nghị luận xã hội nhằm đáp ứng yêu cầu việc đổi mới kiểm tra đánh giá của Bộ
GD&ĐT.
1.3. Đối tượng nghiên cứu:
- Phân môn làm văn trong nhà trường THPT, cụ thể là văn nghị luận xã hội
- Cấu trúc một đoạn văn .
- Cách viết một đoạn văn nghị luận xã hội về tư tưởng đạo lý hoặc một hiện
tượng đời sống.
- Học sinh THPT nhất là học sinh khối 12 chuẩn bị tham gia kỳ thi THPTQG
1.4 . Phương pháp nghiên cứu.
Với đề tài này người viết SKKN sử dụng phương pháp:
- Phương pháp nghiên cứu xây dụng cơ sở lý thuyết
- Phương pháp khảo sát thực tế.
2.NỘI DUNG SÁNG KIẾN:
2.1. Cơ sở lí luận:
2.1. 1. Vai trò, vị trí của văn nghị luận xã hội :
a. Trong đời sống: Nghị luận xã hội được ứng dụng rộng rãi trong đời sống, các
bài bình luận về xã hội về một hiện tượng vấn đề thuộc lĩnh vực chính trị xã hội,
văn hóa, kinh tế.. Dù tồn tai ở dạng nói hay dạng viết thì nó luôn có vai trò và vị trí
quan trọng trong đời sống xã hội. Nó giúp con người nhìn nhận một cách đầy đủ
cập nhật khách quan các vấn đề lien quan trực tiếp đến đời sống hang ngày. Từ đó
xác định hướng tốt cho sự phát triển tích cực của con người theo quy luật vần xã
hội. Nghị luận xã hội thực sự cần thiết trong đời sống đặc biệt là học sinh THPT. Vì
qua đó giáo viên có thể kiểm tra đánh giá chính xác năng lực của học sinh , tránh

được tình trạng lệ thuộc vào sách vở của học sinh.
b. Trong nhà trường THPT: Trong chương trình Ngữ văn THPT phần văn nghị
luận xã hội được đặc biệt quan tâm. Ngay từ lớp 11học sinh được thực hành khá
kỹ . Ở khối 12 học sinh còn được học hai bài lý thuyết : Nghị luận về một tư tưởng
đạo lý và một hiện tượng đời sống. Ngoài ra học sinh còn được thực hành viết khá
nhiều: ở các bài thi học kỳ, các kỳ thi khảo sát chất lượng và giáo viên ra các đề
cho học sinh luyện tập . Như vậy ta thấy rằng nghị luận xã hội có vị trí rất quan
trọng trong nhà trường THPT . Ở đó học sinh không chỉ được tiếp cận các dạng
nghị luận xã hội mà còn được thực hành tạo lập văn bản, giúp các em hoàn thiện
kiến thức và kỹ năng làm văn.
2.1.2. Những thay đổi của văn nghị luận xã hội trong đề thi hiện nay.
Trước đây trong các kỳ thi tốt nghiệp THPT, kỳ thi đại học , câu nghị luận
chiếm 30% tổng số điểm và yêu cầu học sinh viết bài văn nghị luận xã hội. Với
những đổi mới của đề thi THPTQG từ năm 2017 do Bộ GD&ĐT ban hành thì cấu
3


trúc đề thi Ngữ văn có sự thay đổi : Thời gian làm bài thi từ 180 phút, nay xuống
còn 120 phút. Câu nghị luận xã hội 3 điểm viết bài văn nay viết một đoạn văn
khoảng 200 chữ . Câu đọc hiểu và nghị luận xã hội có sự tích hợp theo hướng vận
dụng cao. Điều này gây không ít khó khăn cho học sinh. Nhiều em đã quen với việc
viết bài văn nghị luận xã hội nên sẽ lúng túng khi đề bài yêu cầu viết đoạn văn
nghị luận xã hội.
Viết sáng kiến kinh nghiệm này, bản thân tôi muốn rèn cho học sinh kỹ năng viết
đoạn văn nghị luận xã hội để bài thi THPTQG của các em đạt hiệu quả.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi viết sáng kiến:
2.2. 1. Thuận lợi:
- Từ khi đổi mới chương trình thay sách SGK( 2006-2007), SGK từ THCS đến
THPT được chuyển tiếp liền mạch thống nhất trong hệ thống kiến thức môn học.
Được sự chỉ đạo thống nhất của Bộ GD&ĐT, Sở GD thường xuyên tổ chức các lớp

tập huấn hàng năm cho giáo viên với mục đích giúp giáo viên nắm vững tinh thần
đổi mới của chương trình sách giáo khoa và dạy học tốt hơn.
- Bắt đầu từ khi đổi mới chương trình thay SGK, ( 2006 - 2007), các bộ SGK,
SGV được in ấn kịp thời, các phương tiện truyền thông : báo, đài, internet…rộng
khắp đã giúp học sinh chủ động, hứng thú hơn trong việc học tập Ngữ văn.
- Hiện nay với sự phát triển của đời sống xã hội thì nghị luận xã hội đóng vai trò
quan trọng. Cái hay của dạng văn này là học sinh không phải học thuộc làu làu,
không phụ thuộc tài liệu mà được tự do trình bày suy nghĩ, quan điểm của bản thân
về một vấn đề cụ thể, từ đó rút ra những bài học nhận thức và hành động. Vì vậy
học sinh cũng có hứng thú hơn khi làm bài nghị luận xã hội .
2.2.2. Khó khăn:
Bài nghị luận xã hội đóng vai trò vị trí quan trọng, học sinh cũng được rèn luyện
nhiều nhưng kết quả bài làm của học sinh chưa thực sự tốt. Điều này có nhiều
nguyên nhân:
+ Do tuổi đời học sinh còn ít nên nhận thức và sự đánh giá nhìn nhận vấn đề của
các em còn hạn chế, chưa tòan diện chưa có chiều sâu.
+ Việc tìm hiểu văn nghị luận xã hội trong nhà trường còn hạn chế. ở khối 10
phần làm văn chỉ ôn lại văn tự sự ,thuyết minh. Ở khối 11 phần nghị luận xã hội
mang tính tích hợp với một số văn bản đọc hiểu. Chương trình khối 12 nghị luận
xã hội được tái hiện qua hai bài lí thuyêt: nghị luận về tư tưởng đạo lý và hiện
tượng đời sống. Các bài văn nghị luận xã hôi học sinh được viết ít . Trong giảng
day, giáo viên chỉ chủ yếu rèn cho học sinh kỹ năng làm văn nghị luận văn học vì
liên quan trực tiếp đến các tác phẩm trong chương trình. Vì thế học sinh còn mơ hồ
về phương pháp làm bài nghị luận xã hội.
- Trước năm 2016, học sinh chủ yếu viết bài văn nghị luận xã hội, trong các kỳ thi
học sinh đã quen thuộc với cách làm phần nghị luận xã hội viết thành một bài văn
vói bố cục ba phần. Năm 2017 , với yêu cầu đổi mới trong cấu trúc đề thi của Bộ
GD&ĐT , học sinh viết một đoạn văn nghị luận xã hội, điều này khiến các em lúng
4



túng, bỡ ngỡ . Viết một bài nghị luận tốt với các em đã khó, nay phải viết đoạn văn
nghị luận xã hội thì lại càng khó hơn.
Đây là một vấn đề đang được nhiều người quan tâm.
2.3. Các giải pháp cụ thể
2.3.1.Văn nghị luận xã hội.
- Nghị luận xã hội là phương pháp nghị luận lấy đề tài từ các lĩnh vực : chính trị,
đạo đức, xã hội….làm nội dung bàn bạc nhằm làm sáng tỏ cái đúng , sai, tốt, xấu,
của vấn đề nêu ra. Từ đó đưa ra những cách hiểu thấu đáo về vấn đề nghị luận cũng
như vận dụng nó vào đời sống.
- Nghị luận xã hội gồm có 2 dạng cơ bản.
+ Nghị luận về một tư tưởng đạo lí
+ Nghị luận về một hiên tượng đời sống. [ 1 ]
a.Nghị luận về tư tưởng đạo lý.
*Khái niệm: Nghị luận về tư tưởng đạo lý là dạng nghị luận kết hợp các thao tác
lập luận để làm sáng tỏ các vấn đề tư tưởng đạo lý trong đời sống. Cụ thể ;
+ Nghị luận về quan điểm đạo đức,lối sống. lý tưởng sống
+ Nghị luận về một quan niệm quan điểm, về các vấn đề văn hóa giáo dục,
dân tộc…
+ Nghị luận về phương pháp tư tưởng, …
+ Nghị luận về mối quan hệ giữa con người – con người, gia đình và ngoài
xã hội…[ 1]
*Kỹ năng làm bài:
+ Tìm hiểu đề;
- Đọc kỹ đê bài, chú ý những từ quan trọng, những khái niệm, nghĩa đen , nghĩa
bóng, chia vế ngăn đoạn, mối tương quan giauwx các vế...
- Về nội dung: vấn đề nghị luận là gì, có bao nhiêu ý, các ý cần triển khai…
- Thao tác lập luận : Sử dụng các thao tác lập luận nào; giải thích, phân tích,
bình luận, chứng minh….
- Phạm vi tư liệu dẫn chứng : Dẫn chứng từ thực tế - Từ tác phẩm văn học.

+ Lập dàn ý:
- Giải thích ý kiến : chú ý các khái niệm, ,các vế, rút ra ý khái quát của vấn đề.
Cần giới thiệu một cách ngắn gọn, rõ ràng, tránh trình bày chung chung.
- Phân tích bàn bạc vấn đề trên các phương diện đúng - sai, tốt – xấu, tích cựctiêu cực, đóng góp – hạn chế….( Cần kết hợp dẫn chứng để chứng minh)
- Khẳng định ý nghĩa của vấn đề trong lí luận và đời sống thực tiễn.
- Liên hệ bản thân rút ra bài học nhận thức và hành động.
b.Nghị luận về hiện tượng đời sống.
* Khái niệm:
Nghị luận về hiện tượng đời sống là bài nghị luận có sử dụng các thao tác lập
luận để làm người đọc hiểu rõ , đúng, hiểu sâu về những hiện tượng đời sống có
ý nghĩa xã hội. Có các dạng như sau;
5


+ Nghị luận về hiện tượng lien quan đến môi trường sống tự nhiên của con
người,
+ Nghị luận về một hiện tượng lien quan đến môi trường sống xã hội.
+ Nghị luận về một sự việc hiện tương tích cực đáng biểu dương hoặc tiêu cực
đáng phê phán…[ 1 ]
* Kỹ năng làm bài:
+ Tìm hiểu đề;
- Đọc kỹ đê bài, chú ý những từ quan trọng, những khái niệm, nghĩa đen , nghĩa
bóng, chia vế ngăn đoạn, mối tương quan giữa các vế...
- Về nội dung: vấn đề nghị luận là gì, có bao nhiêu ý, các ý cần triển khai…
- Thao tác lập luận : Sử dụng các thao tác lập luận nào; giải thích, phân tích,
bình luận, chứng minh….
- Phạm vi tư liệu dẫn chứng : Dẫn chứng từ thực tế - Từ tác phẩm văn học.
+ Lập dàn ý:
- Giải thích phân tích chứng minh biểu hiện, nguyên nhân và hậu quả của sự
việc hiện tượng .

- Bình luận về hiện tượng: nhận xét, nêu thái độ về hiện tương. Đánh giá hiện
tượng tốt, xấu, lợi, hại như thế nào? Phương hướng, hành động….
- Rút ra bài học tư tưởng đạo lý….
2.3.2.Khái lược về đoạn văn.
- Đoạn văn là một phần của văn bản, nó diễn đạt một ý hoàn chỉnh. Các câu
trong đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau góp phần thể hiện nội dung.
- Đoạn văn được bắt đầu bằng chữ cái viết hoa lùi đầu dòng và kết thúc bằng
dấu chấm xuống dòng.
- Các loại đoạn văn: đoạn văn diễn dịch, đoạn quy nạp, đoạn móc xích, đoạn
song hành, đoạn tổng phân hợp.
2.3.3.Kỹ năng viết đoạn văn nghị luận xã hội:
Theo tinh thần của đổi mới đề thi ngữ văn trong kỳ thi THPTQG , đề thi Ngữ
văn được ra theo hướng tích hợp. Phần nghị luận xã hội được lấy từ bài đọc hiểu và
yêu cầu học sinh viết đoạn nghị luận xã hội khoảng 200 chữ.
Để làm tốt câu nghị luận xã hội, học sinh cần chú ý các bước sau:
*Bước 1: Đọc kỹ đề và tìm hiểu
Theo như đề thi mẫu năm 2017: Phần nghị luận xã hội chủ yếu được lấy từ bài đọc
hiểu( hoặc có thể không) và yêu cầu học sinh viết một đoạn văn nghị luận xã hội
khoảng 200 chữ.
Nếu đề nghị luận xã hội nằm trong phần đọc hiểu thì trước hết các em phải tiến
hành tìm hiểu các nội dung sau:
- Đọc kỹ bài đọc hiểu , nắm được nội dung cốt lõi của đoạn văn bản
- Xác định xem phần đọc hiểu bàn về vấn đề gì? – nhất là phải xác định được
vấn đề đó thuộc tư tưởng đạo lý hay hiện tượng đời sống.
- Xác định được các thao tác lập luận
- Xác định hệ thống dẫn chứng tiêu biểu.
6


- Xác định đoạn văn sẽ viết theo kiểu nào? Diễn dich, quy nạp, hay tổng- phânhợp…..Giaó viên nên định hướng cho học sinh viết đoạn văn theo Tổng –

Phân – Hợp
Đọc đoạn đọc hiểu sau:
“ Leo lên đỉnh núi không phải là để cắm cờ mà là để vượt qua thách thức tận
hưởng bầu không khí và ngắm nhìn quang cảnh rộng lớn xung quanh. Leo lên đỉnh
cao là để các em có thể nhình ngắm thế giới chứ không phải để thế giới nhận ra
các em. Hãy đến Paris để tận hưởng cảm giác đắm chìm trong Paris chứ không
phải lướt qua đó để ghi Paris vào danh sách các địa điểm các em đã đi qua và tự
hào mình là con người từng trải. Tập luyện những suy nghĩ độc lập, sáng tạo, và
táo bạo không phải để mang lại sự thỏa mãn cho bản thân mà là đề đem lại lợi ích
cho 6,8 tỉ người trên trái đất của chúng ta. Rồi các em sẽ phát hiện ra sự thật thú
vị và vĩ đại mà những kinh nghiệm trong cuộc sống mang lại, đó là lòng vị tha mới
chính là điều tốt đẹp nhất mà các em có thể làm cho bản thân mình. Niềm vui lớn
nhất trong cuộc đời thực ra lại đến vào lúc các em nhận ra các em chẳn có gì đặc
biệt cả. Bởi tất cả mọi người đêu như thế” .
( Trích bài phát biểu tại
buổi lễ tốt nghiệp trường trung học Wellesley của thầy Hiệu trưởng Dvid
McCullough)
Câu nghị luận xã hội được cho là : Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200
chữ ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến được nêu trong đoạn trích ở
phần đọc hiểu : . “Leo lên đỉnh cao là để các em có thể nhìn ngắm thế giới chứ
không phải để thế giới nhận ra các em”.
Như vậy phần nghị luận xã hội được tích hợp trong phần đọc hiểu . Vậy để
làm tốt phần nghị luận xã hội, học sinh phải đọc kỹ phần đọc hiểu để hiểu được câu
trên nằm trong một chỉnh thể mà ở đó tác giả đã dạy chúng ta về cách cảm nhận thế
giới và thái độ ứng xử văn hóa trước thế giới trước cuộc đời.
*Bước 2: Xây dựng phần mở đoạn
- Phần mở đoạn viết khoảng 1-3 câu, thể hiện cái nhìn tổng quát, khái quát được
nội dung vấn đề cần nghị luận mà đề bài yêu cầu.
- Nên viết theo hướng: nêu khái quát nội dung- dẫn câu nói vào ( hoặc trích cụm
từ khóa)

- Ví dụ theo đề trên ta viết như sau:
“ Thành công luôn là khát khao của mỗi người trên hành trình chinh phục
những ước mơ và khát vọng- nhưng khi lên đến đỉnh của thành công , điều
quan trọng nhất vẫn là để “ngắm nhìn thế giới” chứ không phải để cho ai đó
nhận ra mình.”
*Bước 3: Xây dựng phần thân đoạn
Đối với đề nghị luận về tư tưởng đạo lý:
- Phải giải thích được cụm từ khóa, giải thích được cả câu( cần ngắn gọn, đơn
giản)
- Bàn luận;
7


+ Đặt ra các câu hỏi : Vì sao lại khẳng định như vậy?, Có ý nghĩa như thế
nào?,
+ Khẳng định tính đúng đắn của ý kiến.
+ Dẫn chứng xác thực, phù hợp.
+ Đưa ra phản đề, phê phán mặt trái của ý kiến.
- Rút ra bài học nhận thức và hành động, liên hệ bản thân.
Đối với đề nghị luận về hiện tượng đời sống:
- Giải thích, phân tích, chứng minh biểu hiện, nguyên nhân và hậu quả của sự
việc hiện tượng .( Trình bày ngắn gọn, cô đọng theo yêu cầu đề bài)
- Bình luận, đánh giá về hiện tượng: nêu thái độ đối với hiện tượng. Đánh giá
hiện tượng tốt, xấu, lợi, hại như thế nào? Phương hướng, hành động….
- Rút ra bài học nhận thức về tư tưởng đạo lý
*Bước 4: Xây dựng phần kết đoạn
- Khẳng định lại vấn đề cần nghị luận
- Có thể trình bày bài học nhận thức hành động, liên hệ bản thân ở phần kết
đoạn.
*Bước 5: Viết đoạn văn

- Khi viết đoạn văn nghị luận phải đáp ứng được cả yêu cầu về hình thức và nội
dung:
+ Về hình thức : Đoạn văn phải được bắt đầu bằng chữ cái viết hoa lùi dòng
cho đến dấu chấm kết thúc. Dung lượng đoạn văn khoảng 200 – không thừa
quá nhiều so với yêu cầu đề bài.
+Về nội dung : Đoạn văn phải đáp ứng được các nội dung đã trình bày ở các
bước như trên đã hướng dẫn.
Như vậy việc rèn kỹ năng viết đoạn văn nghị luận xã hội cho học sinh được
tiến hành qua 5 bước. Trong quá trình hướng dẫn học sinh viết đoạn văn, giáo viên
đi từng bước và hướng dẫn học sinh cụ thể để rèn cho các em kỹ năng viết đoạn
văn nghị luận xã hội theo yêu cầu đề thi THPTQG của Bộ GD&ĐT. Để các em
làm tốt đoạn văn này, giáo viên nên định hướng cho học sinh viết đoạn văn TổngPhân –Hợp
2.4. Nội dung thực nghiệm và kết quả.
Một số đề bài cụ thể - Hướng dẫn cách viết đoạn văn:
Đề số 1:
Đọc đoạn trích sau:
“ 2.10.1971
Nhiều lúc mình không ngờ nổi rằng mình đã đến đây. Không ngờ rằng trên mũ là
một ngôi sao. Trên cổ áo là quân hàm đỏ. Cuộc đời bộ đội đến với mình tự nhiên
quá, bình thản quá và cũng đột ngột quá.
Thế là thế nào? Cách đây ít lâu mình còn là sinh viên. Bây giờ thì xa vời lắm rồi
những ngày cắp sách lên giảng đường, nghe thầy Đường, thầy Đạo…Không biết
bao giờ mình sẽ trở lại những ngày như thế! Hay chẳng bao giờ nữa.! Có thể lắm.
8


Mình đã lớn rồi. Học bao lâu, mà đã làm được gì đâu, đã sống được gì đâu? Chỉ
còm cõi vì trang sach, gầy xác đi vì mộng mị hão huyền.
28 ngày trong quân ngũ, mình hiểu được nhiều điều có ích. Sống được nhiều ngày
có ý nghĩa. Dọc đường hành quân, có dịp xem lại lòng mình, soát lại lòng mình.

Mình đã bắt đầu sống có trách nhiệm từ đâu, từ lúc nào? Có lẽ từ 9.3.1971, tháng
3 của hoa nhãn ban trưa, của hoa sấu, hoa bằng lăng nước.
….Trên mũ là ngôi sao. Ta lặng ngắm ngôi sao, như hồi nào ta chỉ cho bạn : kia là
ngôi sao Hôm yêu dấu…nhưng khác hơn một chút. Bây giờ ta đọc trong ngôi sao
ấy, ánh lửa cầu vồng của trận công đồn, màu đỏ của lửa, của máu…
Ta như thấy trong màu kỳ diệu ấy có cả hồng cầu của trái tim ta.[ 4 ]
(Trích Mãi mãi tuổi hai mươi, nhật ký của liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc)
Câu nghị luận xã hội là : Viết đoạn văn nghị luận xã hội (khoảng 200 chữ) trình
bày suy nghĩ của anh/chị về trách nhiệm của tuổi trẻ ngày nay với việc bảo vệ
Tổ Quốc.
Để học sinh làm tốt câu nghị luận xã hội, giáo viên hướng dẫn thực hiện các bước
sau :
*Bước 1 : Đọc kỹ đề và tìm hiểu
- Yêu cầu học sinh đọc kỹ phần Đọc hiểu – Xác định được vấn đề cần nghị
luận : « trách nhiệm của tuổi trẻ ngày nay với việc bảo vệ Tổ Quốc. »
- Xác định các thao tác lập luận được vận dụng : giải thích, phân tích, chứng
minh, bình luận.
- Xác định đoạn văn viết theo hướng Tổng – Phân - Hợp
*Bước 2 : Xây dựng phần mở đoạn :
- Nêu khái quát nội dung- dẫn câu nói vào, nêu tinh thần chung của đoạn trích
hoặc trích cụm từ khóa
Với đề bài trên có thể viết mở đoạn : « Bảo vệ Tổ Quốc là trách nhiệm của tất cả
mọi người dân Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ. Mỗi người phải nêu cao trách
nhiệm, có ý thức bảo vệ Tổ Quốc dù trong bất cứ hoàn cảnh nào »
*Bước 3 : Xây dựng thân đoạn
- Giải thích :
+Tuổi trẻ là những người độ tuổi thanh thiếu niên.
+ Tuổi trẻ cần xác định ý thức trách nhiệm bảo vệ tổ Quốc.
- Bàn luận :
+ Thế hệ trẻ cần xác định tư tưởng tình cảm, lý tưởng sống….

+ Yêu quê hương đất nước, tự hào tự tôn dân tộc, có ý thức bảo vệ chủ
quyền lãnh thổ quốc gia, bảo vệ tinh hoa văn hóa, truyền thống của dân
tộc…
+ Tích cực lao động ,học tập để khẳng định bản thân phục vụ đất nước, sẵn
sàng lên đường khi Tổ Quốc cần.
+ Quan tâm đến tình hình chng của đất nước, tỉnh táo chống lại luận điệu
xuyên tạc, âm mưu và hành động thù địch chống phá Đảng và Nhà nước.
9


+ Phê phán những hành vi ích kỷ , cá nhân, thiếu trách nhiệm với Tổ Quốc.
*Bước 4 : Xây dựng kết đoạn :
- Liên hệ bản thân, bài học nhận thức hành động :Tuổi trẻ xây dựng lý tưởng
sống…, ý thức sâu sắc trách nhiệm với Tổ Quốc.
*Bước 5: Viết đoạn văn
- Khi viết đoạn văn nghị luận phải đáp ứng được cả yêu cầu về hình thức và nội
dung:
+ Về hình thức : Đoạn văn phải được bắt đầu bằng chữ cái viết hoa lùi dòng
cho đến dấu chấm kết thúc. Dung lượng đoạn văn khoảng 200 chữ - không thừa
quá nhiều so với yêu cầu đề bài.
+Về nội dung : Đoạn văn phải đáp ứng được các nội dung đã trình bày ở các
bước như trên theo hướng dẫn.
Đề số 2 :
Đọc đoạn văn bản về nữ sinh lớp 7 ở Trà Vinh bị đánh hội đồng :
« Một nữ sinh lớp 7 ở Trà Vinh bị các bạn trong lớp dồn vào góc tường và đánh túi
bụi, nhiều học sinh khác trong đó có cả học sinh nam đã lấy ghế nhựa đập vào đầu
cô bé. Thế nhưng không một ai can ngăn dù nạn nhân khóc thét van xin… »
( Theo Quỳnh Trân- Tri thức trẻ, ngày 10-3-2015)
Câu nghị luận xã hội : « Viết đoạn văn nghị luận xã hội (khoảng 200 chữ) thể
hiện quan điêmt « noí không với bạo lực học đường »

Giáo viên hướng dẫn học sinh làm bài theo các bước sau :
*Bước 1 : Đọc kỹ đề và tìm hiểu
- Đọc kỹ đoạn văn bản ở phần Đọc hiểu – xác định vấn đề nghị luận là : « Nói
không với bạo lực học đường »- Nghị luận về hiện tượng đời sống.
- Xác định thao tác lập luận : giải thích, phân tích, bình luận…
- Tìm hệ thống dẫn chứng :
- Xác định đoạn văn viết theo Tổng – Phân – Hợp
* Bước 2 : Xây dựng phần mở đoạn :
- Giới thiệu được vấn đề nghị luận : « nói không với bạo lực học đường »
Theo đề ra , có thể viết như sau :
« Tình trạng bạo lực học đường đang là vấn đề nhức nhối được cả xã hội quan tâm.
Vụ nữ sinh lớp 7 ở Trà Vinh bị đánh khiến dư luận xã hội bức xúc. Mọi người hãy
lên tiếng nói không với bạo lực học đường »
*Bước 3 : Xây dựng phần thân đoạn
- Làm rõ thực trạng :
+ Tình trạng bạo lực học đường đang gia tăng và phức tạp, xảy ra ở tất cả
các cấp học, nhiều mức độ….khiến dư luận xã hội quan tâm.
+ Nói không với bạo lực học đường : là muốn nói đến thái độ của mỗi người
đối với tình trạng bạo lực. hãy quan tâm, ngăn chặn và đấu tranh cho môi
trường học đường thực sự trở thành ngôi nhà chung ấm áp, thân thiện, an toàn
cho tất cả các thành viên.
- Bàn luận :
10


+ Bày tỏ thaí độ đồng tình với vấn đề được nêu « Nói không với bạo lực học
đường »( Thực tế rất nhiều vụ bạo lực học đường : Vụ đánh hội đồng ở cần
Thơ. Cô giáo Thường Tín cho 43 học sinh tát một học sinh…)
+ Tình trạng này để lại hậu quả đáng lo ngại cả về sức khỏe và tinh thần của
con người

+ Biện pháp : Bản thân mỗi người phải có ý thức, cần nghiêm khắc xử lý với
những hình phạt đích đáng, tuyên truyền động viên mọi người…
- Bài học bản thân : Ngăn chặn, tố giác những hành vi bạo lực…
*Bước 4: Xây dựng phần kết đoạn :
- Bài học bản thân : Ngăn chặn, tố giác những hành vi bạo lực…
*Bước 5: Viết đoạn văn
- Khi viết đoạn văn nghị luận phải đáp ứng được cả yêu cầu về hình thức và nội
dung:
+ Về hình thức : Đoạn văn phải được bắt đầu bằng chữ cái viết hoa lùi dòng
cho đến dấu chấm kết thúc. Dung lượng đoạn văn khoản 200 chữ - không thừa
quá nhiều so với yêu cầu đề bài.
+Về nội dung : Đoạn văn phải đáp ứng được các nội dung đã trình bày ở các
bước như trên đã hướng dẫn.
Đề số 3 :
Đọc mẩu chuyện sau :
« Có một con kiến đang tha chiếc lá trên lưng. Chiếc lá lớn hơn con kiến gấp
nhiều lần. Đang bò ,kiến gặp phải một vết nứt trên nền xi măng. Nó dừng lại
trong giây lát , đặt chiếc lá ngang vết nứt, rồi vượt qua bằng cách bò lên trên
chiếc lá. Đến bờ bên kia con kiến lại tiếp tục tha chiếc lá và tiếp tục cuộc hành
trình. »
Câu nghị luận xã hội : Viết đoạn văn ( khoảng 200 chữ) trình bày suy
nghĩ của anh/ chị về bài học cuộc sống được rút ra từ câu chuyện trên .
Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu qua các bước :
*Bước 1 : Đọc kỹ đề và tìm hiểu
- Đọc kỹ câu chuyện ở phần Đọc hiểu, nắm được nội dung câu chuyện – Xác
định vấn đề cần nghị luận : Cuộc sống nhiều khó khăn thử thách đòi hỏi mỗi
người phải có ý chí, nghị lực, sự dũng cảm, niềm tin để vượt qua.
- Xác định thao tác lập luận : giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận.
- Tìm các dẫn chứng tiêu biểu.
- Xác định loại đoạn văn :Tổng- Phân – Hợp

* Bước 2 : Xây dựng phần mở đoạn
- Giới thiệu vấn đề cần nghị luận trong câu chuyện : Cuộc sống nhiều khó khăn
thử thách đòi hỏi mỗi người phải có ý chí, nghị lực, sự dũng cảm, niềm tin để
vượt qua. Câu chuyện đã nêu lên bài học sâu sắc về cách sống, cách ứng phó
của con người trước khó khăn thử thách.
*Bước 3 : Xây dựng phần thân đoạn
- Ý nghĩa câu chuyện :
11


+ Chiếc lá và vết nứt : biểu tượng cho khó khăn , vất vả, biến cố có thể xảy ra
với con người.
+Hành động của con kiến : Dừng lại suy nghĩ trong giây lát, đặt ngang chiếc
lá…biểu tượng cho con người biết chấp nhận khó khăn thử thách, dũng cảm, có
niềm tin và sự sáng tạo vượt qua khó khăn thử thách. Con người phải có ý chí
nghị lực…
- Bàn luận :
+ Cuộc sống vốn không ít khó khăn thử thách xảy đến với con người ở bất cứ
lúc nào. Trong hoàn cảnh ấy con người phải có bản lĩnh, linh hoạt để ứng
phó….
+ Khó khăn thử thách chính là điều kiện để tôi luyện ý chí , bản lĩnh của mỗi
người giúp họ trưởng thành hơn.
Dẫn chứng cụ thể : Nguyễn Ngọc Ký, những thương binh tàn mà không phế….
+ Phê phán nhũng người thiếu ý chí nghi lực dễ dàng đầu hàng hoàn cảnh, số
phận…
*Bước 4 : Xây dựng phần kết đoạn
- Bài học nhận thức và hành động : Cần rèn luyện bản lĩnh, ý chí vượt khó
khăn thử thách… Câu chuyện là bài học có ý nghĩa sâu sắc đối với mỗi người
trong cuộc sống.
*Bước 5: Viết đoạn văn

- Khi viết đoạn văn nghị luận phải đáp ứng được cả yêu cầu về hình thức và nội
dung:
+ Về hình thức : Đoạn văn phải được bắt đầu bằng chữ cái viết hoa lùi dòng
cho đến dấu chấm kết thúc. Viết khoảng 200 chữ - không thừa quá nhiều so với
yêu cầu.
+Về nội dung : Đoạn văn phải đáp ứng được các nội dung đã trình bày ở các
bước như trên đã hướng dẫn.
Đề 4 :
Đọc đoạn trích sau :
Giọt nước mắt “lạ” của Ánh Viên
Sau khi giành huy chương vàng và phá kỷ lục SEA Games ở nội dung 200m
tự do, Ánh Viên- người hùng của thể thao Việt Nam đã khiến tất cả ngỡ ngàng khi
cô khóc. Một cô gái cứng rắn, được mệnh danh là “cô gái thép” liệu có dễ “nhỏ
nước mắt” vì hạnh phúc?
Không phải, Ánh Viên khóc là bởi cô chưa hài lòng về chính mình về những
gì đã đạt được. Cô nói: “Tôi khóc không phải vì giành huy chương vàng và phá kỷ
lục SEA Games mà vì trong lúc thi đấu đã mắc một số lỗi. Tôi không hài lòng khi
bản thân lại có sai lầm như vậy, ngay cả khi chiến thắng. Tôi sẽ không ngừng phấn
đấu. Nếu tôi hài lòng với những gì đã đạt được, tôi là kẻ thất bại ngay từ bây giờ,
chứ không phải chờ tới ngày mai. Tôi không nhớ đến chiến thắng, mỗi ngày đều
nỗ lực như chưa giành được gì” – Đó là Ánh Viên, vận động viên bơi lội Việt Nam
đã bước vào ngôi nhà SEA Games.
12


(Dẫn theo Thọ Nghĩa, , ngày 11-6-2015)
Hãy viết một đoạn văn khoảng 200 chữ, trình bày suy nghĩ của anh/ chị về
câu nói của Ánh Viên:“Nếu tôi hài lòng với những gì đã đạt được, tôi là kẻ thất
bại ngay từ bây giờ, chứ không phải chờ tới ngày mai”.
Giáo viên hướng dẫn học sinh làm bài theo các bước sau :

*Bước 1 : Đọc kỹ đề và tìm hiểu
- Đọc kỹ đoạn văn bản ở phần Đọc hiểu – xác định vấn đề nghị luận là :
Tuổi trẻ phải có bản lĩnh, ý chí nghị lực, có tinh thần phấn đấu và rèn luyện
- Xác định thao tác lập luận : giải thích, phân tích, bình luận…
- Xác định đoạn văn viết theo Tổng – Phân – Hợp
* Bước 2 : Xây dựng phần mở đoạn :
- Giới thiệu được vấn đề nghị luận : Tuổi trẻ phải có bản lĩnh, ý chí nghị lực, có
tinh thần phấn đấu và rèn luyện...
*Bước 3 : Xây dựng phần thân đoạn
- Ý nghĩa lời tâm sự của Ánh Viên.
+. Lời tâm sự thể hiện sự khiêm tốn của một tài năng trẻ. Cô không tỏ ra tự cao,
tự mãn trước chiến tích của bản thân trên đấu trường khu vực ;
+. Lời tâm sự thể hiện ý chí, nghị lực, bản lĩnh phi thường của tuổi trẻ Việt
Nam cuộc sống hôm nay. Họ có ý thức học tập và rèn luyện không mệt mỏi để
đóng góp lớn cho ngành thể thao nói riêng, trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
nói chung. Đây là kết quả của quá trình mà cô gái Ánh Viên được nuôi dưỡng từ
gia đình, giáo dục của nhà trường, của môi trường quân đội…và truyền thống của
quê hương, đất nước.
- Bàn luận: Phê phán những biểu hiện trái ngược với suy nghĩ của Ánh Viên +.
Một bộ phận giới trẻ có thái độ tự cao, tự mãn, ngủ quên trong chiến thắng. Một khi
đã đạt được thành tích, họ không tiếp tục rèn luyện nên nhận thất bại.
+. Ngoài ra, vẫn còn một bộ phận giới trẻ thiếu bản lĩnh, không có ý chí, nghị
lực vươn lên trong cuộc sống.
*Bước 4: Xây dựng phần kết đoạn :
- Bài học bản thân : - Cần hiểu được giá trị của bản thân. Không ngừng học
tập, rèn luyện đạo đức, tích cực hoạt động xã hội.
*Bước 5: Viết đoạn văn
- Khi viết đoạn văn nghị luận phải đáp ứng được cả yêu cầu về hình thức và nội
dung:
+ Về hình thức : Đoạn văn phải được bắt đầu bằng chữ cái viết hoa lùi dòng

cho đến dấu chấm kết thúc. Dung lượng đoạn văn khoản 200 chữ - không thừa
quá nhiều so với yêu cầu đề bài.
+Về nội dung : Đoạn văn phải đáp ứng được các nội dung đã trình bày ở các
bước như trên đã hướng dẫn.
Kết quả :
13


Trên tinh thần hướng dẫn học sinh viết đoạn văn nghị luận xã hội theo 4
bước như trên, tôi áp dụng vào một đề bài cụ thể ( Đề bài số 1), kết quả khảo sát
như sau :
*Trước khi áp dụng SKKN:
STT Lớp/Sĩ số
1
12A/42
2
12H/42

Giỏi
9 – 21,4%
5- 11,9%

Khá
21- 50,2%
19- 45,3%

TB
11- 26,1%
15 – 35,7%


Yếu
1- 2,3%
3- 7,1%

*Sau khi áp dụng SKKN:
STT Lớp/Sĩ số

Giỏi

Khá

TB

Yếu

1
2

13- 30,9%
8- 19,1%

25- 59,6%
24 -57,1%

4- 9,5%
10 – 23,8%

0
0


12A/42
12H/42

Như vậy, từ bảng so sánh kết quả bài làm của học sinh hai lớp trước và sau
khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm, tôi nhận thấy học sinh đã biết cách viết đoạn
văn nghị luận xã hội.Từ nội dung sáng kiến kinh nghiệm, tôi đã hướng dẫn học sinh
viết một đoạn văn nghị luận xã hội, thường xuyên rèn luyện kỹ năng viết cho học
sinh. Vì vậy các em đã có những kỹ năng cần thiết, biết cách làm câu nghị luận xã
hội là viết một đoạn văn. Cùng với việc vận dụng kiến thức làm phần đọc hiểu và
nghị luận văn học học sinh có thể làm tốt bài thi THPTQG năm 2019.
3.KẾT LUẬN :
Đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá học sinh, là việc
làm cần thiết để nâng cao chất lượng giáo dục ở các cấp học, đặc biệt là bậc THPT.
Có như vậy mới đạt được những mục tiêu giáo dục của đất nước trong thời kỳ hội
nhập. Mỗi giáo viên cần phải ý thức sâu sắc được điều đó và tích cực đổi mới
phương pháp dạy học, vận dụng các kỹ thuật dạy học tích cực, đổi mới cách thức
kiểm tra đánh giá học sinh.
Với những yêu cầu về đổi mới kiểm tra đánh giá của Bộ GD&ĐT từ kỳ thi
THPTQG năm 2017. Cấu trúc đề thi có sự thay đổi, thời gian làm bài cũng có
những thay đổi, giáo viên Ngữ văn THPT, nhất là giáo viên đang trực tiếp dạy khối
12 bên cạnh việc ôn tập bổ sung kiến thức, cần rèn cho học sinh những kỹ năng
cần thiết để làm bài thi THPT đạt hiệu quả cao nhất. Đó là kỹ năng làm phần đọc
hiểu, kỹ năng làm bài nghị luận xã hội và nghị luận văn học- đặc biệt là kỹ năng
làm phần nghị luận xã hội.

14


Viết sáng kiến kinh nghiệm này, bản thân tôi muốn rèn cho học sinh lớp 12
kỹ năng viết đoạn văn nghị luận xã hội. Bài viết chắc chắn còn nhiều hạn chế thiếu

xót. Tôi rất mong nhận được những góp ý chân thành của các đồng nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ

Thanh Hóa, ngày 28 tháng 05 năm 2019
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người
khác
Người viết sáng kiến:

Trần Thị Nguyệt

15


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
3.
4.

Thực hành làm văn lớp 12- NXBGD ( GS.TS. LÊ A )
Sách giáo khoa Ngữ văn 12- NXBGD
Sách giáo viên Ngữ văn 12- NXBGD
Nhật kí Mãi mãi tuổi hai mươi (Nguyễn Văn Thạc)

5. Các tài liệu từ internet :+
+ http: tailieuhocsinh.com


16



×