Tải bản đầy đủ (.pdf) (9 trang)

Khảo sát sự thay đổi phương pháp đánh giá thực tập lâm sàng của sinh viên vật lý trị liệu, khoa điều dưỡng kỹ thuật y học, Bệnh viện Đại học Y Dược

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (441.46 KB, 9 trang )

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 4 * 2013 

Nghiên cứu Y học

KHẢO SÁT SỰ THAY ĐỔI PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ  
THỰC TẬP LÂM SÀNG CỦA SINH VIÊN VẬT LÝ TRỊ LIỆU,  
KHOA ĐIỀU DƯỠNG KỸ THUẬT Y HỌC, ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP.HCM 
Nguyễn Ánh Chí *, Nguyễn Thị Cẩm Phượng** 

TÓM TẮT  
Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát sự thay đổi phương pháp đánh giá thực tập lâm sàng tại các bệnh viện của 
sinh viên VLTL năm thứ ba trước và sau khi điều chỉnh nội dung của phiếu đánh giá thực tập lâm sàng, xây 
dựng quy trình hướng dẫn thực tập chuyên ngành Vật lý trị liệu tại các bệnh viện theo phương pháp dạy học 
tích cực. 
Phương pháp và đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 66 sinh viên 
năm thứ ba của Bộ môn Vật lý trị liệu, gồm 32 sinh viên hệ chính qui khóa 2007, 8 sinh viên khóa 2009 và 26 
sinh viên hệ liên thông khóa 2010.  
Kết quả nghiên cứu: Kết quả nghiên cứu cho thấy sinh viên chưa thật sự hài lòng cách đánh giá cũ như: 
thời gian hơi ngắn không đủ để theo dõi người bệnh và không được thực tập đầy đủ (46,9%); một số bệnh viện 
vẫn chưa đáp ứng những mong muốn theo mục tiêu của thực tập lâm sàng đề ra (37,5 %). Sinh viên chưa đạt 
mục tiêu thực tập, bị lúng túng và còn nhiều thiếu sót (21,9%); gặp khó khăn trong việc tham khảo hồ sơ bệnh án 
trước khi điều trị (43,7%); chưa thể thực hiện các bài tập cho người bệnh hiệu quả và đúng kỹ thuật (53,1%); 
sinh viên học tập lâm sàng còn thụ động, ít suy nghĩ về việc thực hiện kỹ năng (71,9%); sinh viên không quan 
tâm đến việc tái lượng giá hiệu quả khi ứng dụng chương trình điều trị trên người bệnh (68,7%); sinh viên chưa 
có kinh nghiệm và tự tin trong việc giao tiếp một cách trình tự, lô gích, đầy đủ và rõ ràng để làm an lòng người 
bệnh khi cần hoặc cho lời khuyên về chuyên môn (65,6%); sinh viên chưa được giảng viên hướng dẫn thiết lập kế 
hoạch và giao nhiệm vụ cụ thể, rõ ràng và phù hợp (34,3%); không được giảng viên giải thích rõ ràng về kết quả 
đạt được sau mỗi đợt thực tập (65,7%), giảng viên chưa cung cấp đầy đủ thông tin đánh giá sinh viên dẫn đến 
việc các sinh viên thắc mắc về điểm đánh giá mỗi cuối đợt thực tập (34,3%). Kết quả khảo sát giai đoạn 2 khi sử 
dụng cách đánh giá mới cho thấy các tỉ lệ khảo sát đạt từ 88,2% đến 100%. Tỉ lệ này chứng tỏ có sự thay đổi rõ 
rệt trong cách đánh giá thực tập, thể hiện sự tiến bộ và thay đổi tốt qua các hoạt động thực tập lâm sàng, nhận 


thức và thái độ của sinh viên.  
Kết luận: Sinh viên cần phải chủ động tham gia vào việc thiết kế quá trình học cho bản thân (6), cùng phối 
hợp với giảng viên hướng dẫn lâm sàng để hình thành mục tiêu học tập và lập kế hoạch thực tập (6,7). Tăng cường 
tập huấn về phát triển các kỹ năng hướng dẫn lâm sàng và cải thiện vai trò của người giảng viên là điều cần 
thiết nhằm giúp cho sinh viên có năng lực thực hiện công việc nghề nghiệp ngày càng hiệu quả hơn(7,8,10). 
Từ khoá: Kiến thức, Nhận thức, Thái độ, Hoạt động Thực tập lâm sàng, Phương pháp đánh giá, Vật lý 
trị liệu.  

* Bộ môn Vật lý trị liệu, Khoa Điều dưỡng ‐ Kỹ thuật y học, Đại học Y Dược TP HCM 
** Trung tâm đào tạo nhân lực y tế theo nhu cầu xã hội, Đại học Y Dược TP HCM. 
Tác giả liên lạc: CN Nguyễn Ánh Chí 
ĐT: 0975465425 
Email:  

Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học

275


Nghiên cứu Y học 

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 4 * 2013

ABSTRACT 
RESEARCH ON METHODS OF EVALUATION IN CLINICAL PRACTICE 
 OF PHYSIOTHERAPY STUDENTS, FACULTY OF NURSING – MEDICAL TECHNOLOGY, 
UNIVERSITY OF MEDICINE AND PHARMACY AT HOCHIMINH CITY  
Nguyen Anh Chi, Nguyen Thi Cam Phuong 
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 4 ‐ 2013: 275‐  283 
Objectives: Research on methods of evaluation in clinical practice of the third year physiotherapy students 

before  and  after  adjust  the  content  of  the  clinical  internship  evaluation  form,  building  process  of  specialized 
practice of physical therapy in hospitals according to the active teaching methods. 
Material  and  Method:  A  cross  –  sectional  study  were  made  on  66  the  third  year  students  of  the 
Department of physical therapy, consisting of 32 full‐time students 2007, 8 full‐time students 2009, and 26 in 
service training students 2010.  
Results:  The  results  conducted  students  have  not  really  satisfied  how  reviews  such  as:  time  was  not 
enough to follow up patients and not the full internship (46.9%); some hospitals still do not meet the desired 
objectives of the clinical internship (37.5%). Students had not reached the target, were embarrassing and also 
many  shortcomings  (21.9%);  they  had  difficulty  in  getting  patient  record  references  before  treatment 
(43,7%);  could  not  able  to  perform  the  effective  and  technically  exercises  for  patients  (53.1%);  the  clinical 
study is also passive, less thinking about making skills (71.9%). Students were not interested in re‐evaluate 
the effect when applying the treatment on the patient (68.7%).The students had not enough experiences and 
were not self‐confident in communication with patients (65.6%, they were not instructed by preceptors to set 
up  the  plan  of  treatment,  and  to  assign  with  specific,  clear  and  consistent  (34.3%).  The  teachers  were  not 
explained  clearly  about  the  results  after  each  practical  phase  (65,7%),  and  had  not  provided  adequate 
information to assessment, led to questions of students about their practical scores(34.3%). The second phase 
survey results when using a new assessment showed that the rates reaching from 88.2% to 100%. This ratio 
demonstrated that the change in how to evaluate practice, showing the progress and change through clinical 
practice activities, awareness and attitude of the student. 
Conclusion:  Conclusion  students  need  to  be  actively  involved  in  the  design  of  the  course  of  study  for 
themself partnership with clinical instructors to form the learning objectives and planning practice. Strengthen 
training on developing the skills of clinical guidelines and improve the role of the teacher is essential in order to 
help students have the capacity to make the work more efficient and more professional. 
Keywords:  Knowledge,  Knowledge,  Awareness,  Attitudes,  Clinical  practice  activities,  Methods  of 
assessment, Physical therapy. 
lâm sàng cần được cải thiện và phát triển các kỹ 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
năng hướng dẫn lâm sàng cho phù hợp(7).  
Giáo dục lâm sàng là một  phần  quan  trọng 
Trước đây bộ môn Vật lý trị liệu chỉ áp dụng 

trong chương trình đào tạo chuyên ngành Vật lý 
phương  pháp  dạy  học  tích  cực  tại  phòng  thực 
trị  liệu  (VLTL)  nhằm  giúp  sinh  viên  có  cơ  hội 
hành ở bộ môn. Khi bắt đầu thực hành lâm sàng, 
vận dụng lý thuyết vào kỹ năng thực hành, chủ 
các  sinh  viên  thường  rất  háo  hức  và  mong  chờ 
động trong quá trình học tập và từng bước hoàn 
được đi thực tập bệnh viện. Rất nhiều sinh viên 
thiện kỹ thuật một cách thành thạo(4).  Bên  cạnh 
học  rất  tốt  các  môn  học  khoa  học  cơ  bản,  các 
đó, nhằm đáp ứng với nhu cầu học tập cho sinh 
môn  y  học  cơ  sở;  nhưng  khi  chuyển  sang  thực 
viên  vai  trò  của  người  giảng  viên  hướng  dẫn 
tập  lâm  sàng  lại  không  đạt  được  kết  quả  như 

276

Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học  


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 4 * 2013 
mong đợi (9). Có nhiều lý do như cơ sở thực hành 
chật  hẹp,  thiếu  thốn  trang  thiết  bị,  khó  khăn 
trong  tổ  chức  học  tập  lâm  sàng…  nhưng  qua 
theo  dõi  kết  quả  đào  tạo  của  những  năm  vừa 
qua cho thấy lý do chủ yếu là do sinh viên chưa 
biết cách học lâm sàng và giảng viên hướng dẫn 
chưa  biết  phát  huy  hết  vai  trò  hướng  dẫn  lâm 
sàng. Điều đó dẫn đến hậu quả là sinh viên gặp 
khó  khăn,  lúng  túng  trong  việc  lĩnh  hội  kiến 

thức, kinh nghiệm, chưa biết vận dụng lý thuyết 
và kiến thức cơ bản đã học vào các kỹ năng thực 
hành  VLTL,  chưa  tự  chủ  động  trong  thực  tập 
lâm sàng.  
Dựa  vào  phương  pháp  học  tập  thực 
nghiệm của David A. Kolb là một trong những 
phương pháp học  tích  cực  giúp  sinh  viên  vận 
dụng quy trình học tập thực nghiệm bằng cách 
rút ra từ trải nghiệm thực tiễn, quan sát, phản 
ánh từ các bối cảnh khác nhau và thử nghiệm 
lâm sàng những điều đã học được trong hoàn 
cảnh mới(4).  Các  hình  thức  học  đã  được  mô  tả 
cách  học  tập  và  cách  sinh  viên  giải  quyết  các 
vấn  đề,  ý  kiến  cũng  như  các  tình  huống  lâm 
sàng(4,6).  Từ  đó  giúp  sinh  viên  hiểu  được 
phương thức học nào có ý nghĩa và biết được 
những  điểm  mạnh,  yếu  của  mình  trong  học 
tập. Đồng thời, giúp cho giáo viên hướng dẫn 
lâm sàng dễ dàng xác định loại hình học tập có 
liên quan đến đánh giá sinh viên đưa ra những 
vấn đề và nhận xét thực hiện nhiệm vụ cụ thể 
qua  thiết  kế  các  hoạt  động  học  tập,  kỹ  năng 
thực  hành  kỹ  thuật  ngày  càng  đạt  hiệu  quả 
hơn(6). 
Với  mong  muốn  nâng  cao  chất  lượng  thực 
tập  lâm  sàng  cho  sinh  viên,  Bộ  môn  Vật  lý  trị 
liệu áp dụng phương pháp dạy học tích cực tại 
các đơn vị thực hành nhằm tạo mối tương quan 
hiệu  quả  trong  quá  trình  thực  tập  giữa  giảng 
viên  và  sinh  viên.  Qua  đó,  phát  triển  kỹ  năng 

hướng dẫn lâm sàng của giảng viên, hoàn thiện 
các bước quy trình thực tập chuyên ngành VLTL 
tại các bệnh viện. Đây là nhu cầu cần thiết và có 
vai trò quan trọng trong việc giáo dục lâm sàng 

Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học

Nghiên cứu Y học

đáp  ứng  với  chuẩn  năng  lực  cơ  bản  trong 
chương trình đào tạo của chuyên ngành VLTL.  

Mục tiêu nghiên cứu 
Mục tiêu tổng quát 
Khảo sát sự thay đổi phương pháp đánh giá 
thực tập lâm sàng tại các bệnh viện của sinh viên 
VLTL  năm  thứ  ba  trước  và  sau  khi  điều  chỉnh 
nội dung của phiếu đánh giá thực tập lâm sàng. 
xây dựng quy trình hướng dẫn thực tập chuyên 
ngành  Vật  lý  trị  liệu  tại  các  bệnh  viện  theo 
phương pháp dạy học tích cực. 
Mục tiêu cụ thể 
Xác định các yếu tố liên quan. 
Nội  dung  thực  tập  của  sinh  viên  tại  các 
bệnh viện. 
Hoạt động thực tập lâm sàng tại các đơn vị 
thực tập. 
Nhận  thức,  thái  độ  học  tập  thực  tập  lâm 
sàng của sinh viên. 
Tình hình hướng dẫn lâm sàng của giảng viên. 


PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Thiết kế nghiên cứu 
Mô tả cắt ngang trên 2 nhóm khảo sát trước 
và  sau  khi  sau  khi  điều  chỉnh  nội  dung  của 
phiếu đánh giá thực tập lâm sàng. 

Đối tượng nghiên cứu 
Sinh  viên  năm  thứ  3  Vật  lý  trị  liệu  (VLTL) 
bắt đầu đi thực tập bệnh viện, cụ thể như sau 
Đợt  1:  32  sinh  viên  VLTL  khóa  2007  (năm 
học  2010‐2011)  đi  thực  tập  lâm  sàng  trong  thời 
gian 16 tuần. 
Đợt 2: 08 sinh viên năm thứ 3 VLTL hệ chính 
qui  khóa  2009  (năm  học  2011‐2012)  và  26  sinh 
viên  năm  thứ  3  VLTL  hệ  liên  thông  khóa  2010 
(năm học 2012‐2013) đi thực tập lâm sàng trong 
thời gian 16 tuần. 
Trong  đợt  2  có  tham  khảo  18  ý  kiến  của 
giảng viên hướng dẫn thực hành lâm sàng, gồm 
có 11 giảng viên của bộ môn và 7 giảng viên lâm 
sàng tại các bệnh viện có sinh viên đến thực tập. 

277


Nghiên cứu Y học 

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 4 * 2013


Cỡ mẫu nghiên cứu 

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 

Tổng cộng 2 đợt là 66 sinh viên. 

Địa điểm nghiên cứu 
6  bệnh  viện:  Chợ  Rẫy,  An  Bình,  Chấn 
thương chỉnh hình, Nhân dân Gia định, Đại học 
Y dược cơ sở 2, Trung tâm chỉnh hình và Phục 
hồi chức năng. 

Thời gian thực hiện 
tháng 5 năm 2010 đến tháng 02 năm 2013 

Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 
Sử dụng phần mềm SPSS 14.0  

Đợt 1 
Đặc điểm nhóm nghiên cứu  
Bảng 1: Đặc điểm nhóm nghiên cứu 
Đặc điểm nhóm nghiên cứu (N=32)
Nhỏ nhất
Tuổi
Lớn nhất
Trung bình
Nữ
Giới tính
Nam
Tự chọn

Chọn ngành học
Vật lý trị liệu
Người khác chọn giúp

N (%)
21
28
22 (53.1%)
17 (53.1 %)
15 (46.9 %)
24 (75 %)
8 (25%)

Câu hỏi Khảo sát về mục tiêu, địa điểm và thời gian thực tập 
Bảng 2: Phần khảo sát chung 
STT
1
2
3
4
5
6
7
8

Nội dung (N=32)
Mục tiêu của đợt thực tập lâm sàng 1 có phù hợp với nội dung
của các môn đã học không?
Mục tiêu của đợt thực tập lâm sàng 1 có đáp ứng được
những điều bạn mong muốn khi đi thực tập không?

Mức độ yêu cầu của đợt thực tập lâm sàng 1 có quá khó đối với bạn không?
Địa điểm thực tập có đáp ứng mục tiêu thực tập không?
Địa điểm thực tập có đáp ứng với nội dung thực tập không?
Thời gian cho mỗi đợt thực tập có đủ không?
Số lượng người bệnh có đáp ứng đủ yêu cầu thực tập của bạn không?
Bạn có nắm rõ mục tiêu, nội dung và yêu cầu
của mỗi đợt thực tập tại các bệnh viện không?



Không

Ý kiến khác

25 (78,1%)

0

7 (21,9%)

20 (62,5%)

8 (25%)

4 (12,5%)

4 (12,5%) 25 (78,1%)
31 (96,9%)
0
30 (93,8%) 1 (3,1%)

17 (53,1%) 11 (34,4%)
20 (62,5%) 8 (25%)

3 (9,4%)
1 (3,1%)
1 (3,1%)
4 (12,5%)
4 (12,5%)

25 (78,1%)

3 (9,4%)

4 (12,5%)

Câu hỏi khảo sát về nội dung thực tập 
Bảng 3: Nội dung thực tập 
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11


278

Nội dung thực tập (N=32)
Bạn có tham khảo hồ sơ bệnh án trước khi điều trị người bệnh không?
Bạn có thực hiện được kỹ năng khám lượng giá VLTL
cho người bệnh trong quá trình điều trị không?
Bạn có liên hệ ghi nhận giữa các dấu hiệu, triệu chứng
để đưa ra chẩn đoán VLTL phù hợp không?
Bạn có thể tự lập kế hoạch điều trị VLTL thích hợp với người bệnh không?
Khi lập kế hoạch điều trị VLTL bạn có quan tâm đến các khía cạnh
về điều kiện của người bệnh không?
Bạn có thực hiện các bài tập cho người bệnh một cách hiệu quả
và đúng kỹ thuật không?
Bạn có theo dõi đáp ứng của người bệnh với điều trị các kỹ thuật
trên người bệnh không?
Bạn có điều chỉnh chương trình cho phù hợp với đáp ứng và điều kiện
của người bệnh không?
Khi thực hiện quy trình các kỹ thuật điều trị bạn có sáng tạo
dựa trên các trang thiết bị sẵn có của bệnh viện và tại nhà người bệnh không?
Bạn có hướng dẫn, giáo dục người bệnh và người huấn luyện
biết cách tập luyện một cách hiệu quả không?
Bạn có tham khảo ý kiến giảng viên hướng dẫn và các nhân viên


Không Ý kiến khác
18 (56,3%) 3 (9,4%) 11 (34,3%)
24 (75%)

5 (15,6%)


3 (9,4%)

28 (87,4%) 2 (6,3%)

2 (6,3%)

19
59,4%
20 (62,5%)

2 (6,3%) 11 (34,3%)
8 (25%)

4 (12,5%)

15 (46,9%) 6 (18,8%) 11 (34,3%)
28 (87,5%)

0

25 (78,1%) 4 (12,5%)
9 (28,1%)

15
(46,9%)

30 (93,8%) 1 (3,1%)
32 (100%)

0


4 (12,5%)
3 (9,4%)
8
(25%)
1
(3,1%)
0

Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học  


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 4 * 2013 
STT

Nội dung thực tập (N=32)
trong các khoa, phòng thực tập khi cần thiết không?
Bạn có tái lượng giá sự tiến bộ của người bệnh và có kế hoạch điều trị
tại nhà kịp thời cho người bệnh không?
Bạn có giao tiếp một cách trình tự, lô gíc, đầy đủ, rõ ràng để làm an lòng
người bệnh khi cần hoặc cho lời khuyên về chuyên môn không?
Bạn có cố gắng để đạt được sự hợp tác thường xuyên
của người bệnh không?
Bạn có tạo được sự thoải mái, an tâm của người bệnh
khi tham gia điều trị không?

12
13
14
15


Nghiên cứu Y học

10 (31,3%)
21
(65,6%)
31
(96,9%)
28
(87,5%)

Không Ý kiến khác
17
(53,1%)
5
(15,6%)

5
(15,6%)
6
(18,8%)
1
(3,1%)
4
(12,5%)

0
0

Ý kiến về việc hướng dẫn thực hành của giảng viên 

Bảng 4: Nhận xét về Giảng viên hướng dẫn lâm sàng 
STT

Ý kiến nhận xét



1
2

Bạn có được GV hướng dẫn đề ra các mục tiêu thực tập cụ thể không?
Bạn có được GV hướng dẫn thiết lập kế hoạch
và giao nhiệm vụ cụ thể, rõ ràng và phù hợp không?
Bạn có được GV hướng dẫn và cung cấp thông tin
khi thực hiện các quy trình điều trị người bệnh không?
Bạn có được GV hướng dẫn đưa ra nhận xét
khi thực hiện các kỹ năng điều trị không?
Bạn có được GV góp ý xây dựng khách quan,
giữ thể diện và tôn trọng lẫn nhau không?
Bạn có được GV góp ý những sai sót của bạn sau mỗi cuối đợt thực tập không?
Bạn có được GV giải thích về kết quả đạt được sau đợt thực tập không?

25 (78,1%)
21 (65,6%)

3
4
5
6
7


Để  đánh  giá  các  mức  độ  của  đối  tượng 
nghiên cứu, mỗi câu trả lời có được cho 1 điểm, 
câu  trả  lời  không  được  cho  2  điểm  và  ý  kiến 
khác được cho 3 điểm. 
Kết quả cho thấy điểm của nhóm trong đợt 1 
đạt  điểm  trung  bình  (tối  thiểu:  1.03đ;  tối  đa: 
1.90đ; trung bình: 1.4250)   

Đợt 2  
Qua khảo sát đợt 1, chúng tôi ghi nhận còn 
một số vấn đề bất cập trong phương pháp đánh 
giá thực tập bệnh viện của sinh viên năm thứ 3 
khi  đi  thực  tập  lâm  sàng  tại  các  bệnh  viện  áp 
dụng chưa thật cụ thể và rõ ràng. Vì thế, chúng 
tôi đã tiếp tục tiến hành khảo sát đợt 2, dựa trên 
ý kiến nhận xét: có đồng ý, không đồng ý và ý 

Ý kiến
khác
3 (9,4%) 4 (12,5%)
6 (18,8%) 5 (15,6%)
Không

30 (93,8%)

0

2 (6,3%)


29 (90,6%)

1 (3,1%)

2 (6,3%)

28 (87,5%)

1 (3,1%)

3 (9,4%)

27 (84,4%)
0
5 (15,6%)
11 (34,3%) 14 (43,8%) 7 (21,9%)

kiến khác để khảo sát mức độ hài lòng của sinh 
viên  sau  khi  bộ  môn  VLTL  đã  điều  chỉnh  lại 
phiếu  đánh  giá  sinh  viên  về  môn  học  thực  tập 
lâm sàng; đồng thời tham khảo ý kiến nhận xét 
của 18 giảng viên tham gia hướng dẫn sinh viên 
thực hành tại các bệnh viện. 

Đặc điểm nhóm nghiên cứu 
Bảng 5: Đặc điểm nhóm nghiên cứu (đợt 2) 
Đặc điểm nhóm nghiên cứu (N=34)
Nhỏ nhất
Tuổi
Lớn nhất

Nữ
Giới tính
Nam
Tự chọn
Chọn ngành học
Vật lý trị liệu
Người khác chọn giúp

N (%)
21
45
18 (52.9 %)
16 (47.1 %)
34 (100 %)
0

Các hoạt động thực tập lâm sàng 
Bảng 6: Hoạt động thực tập lâm sàng 
STT

Nội dung (N=34)

1

Phiếu đánh giá thực tập lâm sàng đưa ra các yêu cầu hoạt động cụ thể, rõ ràng giúp sinh
viên (SV) đạt được mục tiêu thực tập phù hợp theo từng giai đoạn.

2
3




33
(97,1%)
31
Phiếu đánh giá thực tập lâm sàng phù hợp với mục tiêu học tập của sinh viên
(91,2%)
Phiếu đánh giá thực tập lâm sàng giúp sinh viên nắm rõ mục tiêu, nội dung và yêu cầu của
32

Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học

Không
0
0
1

Ý kiến
khác
1
(2,9%)
3
(8,8%)
1

279


Nghiên cứu Y học 
STT


4
5
6
7
8
9
10

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 4 * 2013

Ý kiến
khác
mỗi đợt thực tập tại các bệnh viện
(94,1%) (2,9%) (2,9%)
Phiếu đánh giá thực tập lâm sàng dựa trên yêu cầu kỹ năng hiện có của sinh viên từ đơn
33
1
0
giản đến phức tạp.
(97,1%)
(2,9%)
31
1
2
Phiếu đánh giá thực tập lâm sàng thích ứng với nhiệm vụ và trình độ của sinh viên.
(91,2%) (2,9%) (5,9%)
30
1
3

Phiếu đánh giá thực tập lâm sàng giúp SV thành thạo dần các kỹ năng kỹ thuật thực tập.
(88,2%) (2,9%) (8,8%)
32
1
1
Phiếu đánh giá thực tập lâm sàng giúp SV tự đánh giá năng lực học tập của mình.
(94,1%) (2,9%) (2,9%)
Phiếu đánh giá thực tập lâm sàng giúp SV đánh giá tính hiệu quả của các phương pháp điều 31
3
0
trị trên người bệnh.
(91,2%)
(8,8%)
Phiếu đánh giá thực tập lâm sàng giúp SV được phản hồi lời nhận xét thực tập trực tiếp của
32
2
0
GV: cụ thể, đúng thời điểm và các hoạt động thực tập.
(94,2%)
(5,9%)
Phiếu đánh giá thực tập lâm sàng giúp SV tự độc lập dần về: các kỹ năng thực hiện, thiết lập 33
1
0
kế hoạch và chương trình điều trị cho người bệnh.
(97,1%)
(2,9%)
Nội dung (N=34)




Không

Về nhận thức thái độ học tập 
Bảng 7: Nhận thức thái độ học tập 
STT
1
2
3
4
5

Nội dung
Những điều mà SV được đánh giá rất có ích cho việc giải quyết các vấn đề
thực hành.
SV được cho những lời hướng dẫn chính xác giúp giải quyết được các nhiệm
vụ, kỹ thuật thực hiện.
SV tự cố gắng áp dụng các lý thuyết được học vào các tình huống thực tế trên
lâm sàng.
SV biết được những gì quan trọng và ít quan trọng hơn trong quá trình thực
tập lâm sàng.
SV được GV hỗ trợ, khuyến khích để tìm ra nguyên nhân, những khó khăn và
giải pháp thực hiện khi gặp khó khăn trong quá trình thực tập.

6

SV tự kiểm tra quá trình học tập, làm chủ được việc học tập của mình.

7

SV thu thập những thông tin cần thiết, có liên quan đến nhiệm vụ thực tập có

thể ứng dụng tức thời hoặc lâu dài.

8

SV có nhu cầu làm việc cùng với các sinh viên khác trong thực tập lâm sàng.

9

SV được GV góp ý xây dựng khách quan, giữ thể diện và tôn trọng lẫn nhau.

10

SV được GV góp ý những sai sót và giải thích về kết quả đạt được sau mỗi
cuối đợt thực tập.

Tương tự trong nhóm 2, mỗi câu trả lời có sẽ 
được cho 1 điểm, câu trả lời  không  được  cho  2 
điểm và ý kiến khác được cho 3 điểm. 
Kết quả cho thấy điểm của nhóm trong đợt 2 
chỉ  đạt  điểm  trung  bình  (tối  thiểu:  1đ;  tối  đa: 
2,05; trung bình: 1,0824) 

BÀN LUẬN 
Đặc điểm nhóm nghiên cứu đợt 1 
Tổng  số  đối  tượng  tham  gia  nghiên  cứu 
trong đợt 1 là 32 sinh viên trong đó có 46.9% là 
nam và 53,1% là nữ trong độ  tuổi từ  21 đến 28 

280



33
97,1%
33
97,1%
33
97,1%
33
97,1%
34
100%
30
88,2%
34
100%
34
100%
34
100%
34
100%

Không
0
0

Ý kiến khác
1
2,9%
1

2,9%

1
2,9%

0

0

1
2,9%

0

0

1
2,9%

3
8,8%

0

0

0

0


0

0

0

0

tuổi,  tuổi  trung  bình  là  22  tuổi.  Ngành  VLTL 
tương đối mới và ít người biết nhưng qua nhóm 
nghiên cứu đợt 1 cho thấy, hầu hết các sinh viên 
đều  tự  chọn  chuyên  ngành  chiếm  tỷ  lệ  75%  vì 
thế  sinh  viên  càng  yên  tâm  học  tập  hơn  với 
ngành nghề đã chọn. 

Khảo sát chung về kiến thức môn học thực 
tập lâm sàng 
Đa  số  các  sinh  viên  78,1%  đều  đồng  ý  mục 
tiêu của đợt thực tập lâm sàng phù hợp với nội 
dung  của  các  môn  đã  học  và  đáp  ứng  được 

Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học  


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 4 * 2013 
những mong muốn của sinh viên là 62,5%. Như 
thế, mức độ yêu cầu của đợt thực tập không quá 
khó  đối  với  sinh  viên  (78,1%);  chỉ  những  kỹ 
thuật  chưa  biết  áp  dụng  được  là  do  sinh  viên 
chưa  được  học  ở  trường  (21,9%).  Hầu  hết  các 

bệnh viện đều đáp ứng với mục tiêu (96,9%) và 
nội  dung  yêu  cầu  của  đợt  thực  tập  (93,8%).  Số 
lượng người bệnh tại các bệnh viện gần như đáp 
ứng đủ yêu cầu thực tập của sinh viên (62,5%), 
tuy  nhiên  số  lượng  người  bệnh  đôi  lúc  bị  dao 
động  tăng  giảm  tùy  theo  các  tháng  trong  năm. 
Nhìn chung, sinh viên được các giảng viên sinh 
hoạt nắm rõ mục tiêu, nội dung và yêu cầu của 
mỗi đợt thực tập tại các bệnh viện (78,1%), một 
số sinh viên chưa được giảng viên hướng dẫn cụ 
thể (21,9%). 
Tuy  nhiên,  sinh  viên  chưa  hài  lòng  về  thời 
gian  cho  mỗi  đợt  thực  tập  với  46,9%  sinh  viên 
cho  rằng  do  thời  gian  hơi  ngắn  (4  tuần)  không 
đủ để theo dõi người bệnh và không được thực 
tập đầy đủ ở các khoa phòng/trại. Bên cạnh đó, 
trong  đợt  thực  tập  đầu  tiên,  một  vài  bệnh  viện 
vẫn chưa đáp ứng những mong muốn theo mục 
tiêu của thực tập lâm sàng đề ra (37,5 %). Ngoài 
ra,  21,9%  sinh  viên  vẫn  chưa  đạt  đầy  đủ  mục 
tiêu  thực  tập  đa  phần  là  do  chưa  được  học  hết 
một  số  môn  về  chuyên  ngành  nên  khi  đi  thực 
tập  lần  đầu  tại  bệnh  viện  các  em  vẫn  bị  lúng 
túng và còn nhiều thiếu sót. Điều này cho thấy 
cần chú trọng thêm vai trò của giảng viên hướng 
dẫn trong công việc chuẩn bị ban đầu, đánh giá 
khả  năng  và  xác  định  mục  tiêu  của  từng  sinh 
viên trước khi thiết lập kế hoạch thực hành lâm 
sàng cho sinh viên. 


Nội dung thực tập 
Hầu  hết  75%  sinh  viên  đều  thực  hiện  được 
các  kỹ  năng  khám,  lượng  giá  VLTL  cho  người 
bệnh trước khi điều trị và 87,4% sinh viên có liên 
hệ  ghi  nhận  giữa  các  dấu  hiệu,  triệu  chứng  để 
đưa  ra  chẩn  đoán  VLTL  phù  hợp.  Từ  đó,  sinh 
viên có thể tự lập kế hoạch điều trị VLTL thích 
hợp với người bệnh đạt 59,4%. Khi lập kế hoạch 
điều trị VLTL, 62,5% sinh viên có quan tâm đến 
các khía cạnh về điều  kiện  của  người  bệnh,  chỉ 

Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học

Nghiên cứu Y học

có  37,5%  chưa  được  sinh  viên  thiết  lập  đầy  đủ 
do tùy vào một số dạng bệnh khá phức tạp cần 
áp  dụng  các  kỹ  thuật  mà  sinh  viên  chưa  được 
học hoặc thực hiện còn thiếu sót và không hiệu 
quả. Hầu hết 100% các sinh viên đều phải tham 
khảo  ý  kiến  các  giảng  viên  hướng  dẫn  và  các 
nhân viên trong các khoa, phòng thực tập để có 
thể  hướng  dẫn,  giáo  dục  người  nhà  và  người 
bệnh biết cách tập luyện một cách hiệu quả hơn 
(93,8%). Nhìn chung, đa số sinh viên có cố gắng 
hoàn thiện các kỹ thuật điều trị khi thực tập lâm 
sàng  (96,9%)  để  đạt  được  sự  hợp  tác  thường 
xuyên  và  tạo  được  sự  thoải  mái,  an  tâm  của 
người bệnh với tỷ lệ khá cao 87,5%. 
Một  số  sinh  viên  gặp  khó  khăn  trong  việc 

tham  khảo  hồ  sơ  bệnh  án  trước  khi  điều  trị 
(43,7%). Do một số bệnh viện, đa phần sinh viên 
được  thực  tập  điều  trị  tại  khoa  phòng  VLTL  là 
các  bệnh  nhân  ngoại  trú,  các  bệnh  nhân  này 
thường chỉ có hồ sơ lưu tóm tắt các thông tin cần 
thiết ở sổ nhận bệnh hoặc sinh viên không được 
phép  xem  hồ  sơ  bệnh  án  khi  không  có  giảng 
viên hướng dẫn ở các trại bệnh. Ngoài ra, 40,6% 
sinh viên còn thiếu tự tin khi chưa được học hết 
các  kỹ  thuật  ở  trường  nên  rất  cần  đến  vai  trò 
hướng  dẫn  của  giảng  viên  lâm  sàng  trong  việc 
cung  cấp  các  thông  tin  cho  sinh  viên  trước  khi 
thực  hiện  kỹ  năng  tại  bệnh  viện.  Vì  thế,  điều 
đáng quan tâm  là  sinh  viên  chưa  thể  thực  hiện 
các bài tập cho người bệnh một cách hiệu quả và 
đúng  kỹ  thuật  chiếm  tỷ  lệ  khá  cao  53,1%;  thể 
hiện thiếu sự giám sát của giảng viên lâm sàng 
không  đưa  ra  những  lời  nhận  xét  mỗi  khi  sinh 
viên thực hiện các kỹ năng. Tuy đa phần 87,5% 
sinh  viên  đều  có  theo  dõi  đáp  ứng  của  người 
bệnh trong quá trình điều trị các kỹ thuật và biết 
điều  chỉnh  chương  trình  cho  phù  hợp  với  đáp 
ứng  và  điều  kiện  của  người  bệnh  đạt  78,1%; 
nhưng chỉ có 28,1% sinh viên có khả năng sáng 
tạo  các  quy  trình  kỹ  thuật  dựa  trên  các  trang 
thiết  bị  sẵn  có  của  bệnh  viện  để  hướng  dẫn 
chương  trình  tại  nhà  cho  người  bệnh.  Có  thể 
thấy rằng 71,9% sinh viên học tập lâm sàng còn 
khá  thụ  động,  ít  suy  nghĩ  về  việc  thực  hiện  kỹ 
năng  và  68,7%  sinh  viên  không  quan  tâm  đến 


281


Nghiên cứu Y học 

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 4 * 2013

việc  tái  lượng  giá  hiệu  quả  khi  ứng  dụng 
chương trình điều trị trên người bệnh và 65,6% 
sinh  viên  chưa  có  kinh  nghiệm  và  tự  tin  trong 
việc giao tiếp một cách trình tự, lô gích, đầy đủ 
và  rõ  ràng  để  làm  an  lòng  người  bệnh  khi  cần 
hoặc cho lời khuyên về chuyên môn.  

Về giảng viên hướng dẫn lâm sàng 
Để chuẩn bị phân công thực hành lâm sàng 
cho  sinh  viên,  các  giảng  viên  đều  có  sinh  hoạt 
hướng dẫn và đề ra các mục tiêu thực tập cụ thể 
cho  từng  sinh  viên  trước  khi  đi  bệnh  viện 
(78,1%). Hầu hết, sinh viên đều được giảng viên 
hướng dẫn và cung cấp thông tin khi thực hiện 
các quy trình điều trị người bệnh (93,8%); được 
đưa ra nhận xét khi thực hiện các kỹ năng thực 
hành  (93,8%)  và  góp  ý  những  sai  sót  của  sinh 
viên sau mỗi cuối đợt thực tập rất tôn trọng và 
khách  quan  (87,5%).  Tuy  nhiên,  vẫn  còn  tình 
trạng một ít bệnh viện, có khoảng 34,3% các sinh 
viên vẫn chưa được giảng viên hướng dẫn thiết 
lập kế hoạch và giao nhiệm vụ cụ thể, rõ ràng và 

phù hợp cho sinh viên khi thực tập. Điều đáng 
quan tâm là các sinh viên đều không được giảng 
viên giải thích rõ ràng về kết quả điểm đạt được 
sau  mỗi  đợt  thực  tập  (65,7%).  Một  số  sinh  viên 
không  hài  lòng  với  kết  quả  của  điểm  đánh  giá 
(34,3%),  do  một  vài  giảng  viên  không  thường 
xuyên hay chưa cung cấp đầy đủ thông tin đánh 
giá  sinh  viên  trong  suốt  thời  gian  thực  tập  vào 
các buổi nhận xét nên thường dẫn đến việc các 
sinh  viên  hay  thắc  mắc  về  điểm  đánh  giá  mỗi 
cuối đợt thực tập.  

Đặc điểm nhóm nghiên cứu đợt 2 
Do số sinh viên năm 3 trong nhóm này quá 
ít (chỉ có 8 SV hệ chính qui) nên đã kết hợp với 
26 sinh viên của hệ liên thông cùng tham  gia. 
Chính  vì  thế  100%  các  sinh  viên  đều  tự  chọn 
chuyên  ngành  và  càng  yên  tâm  học  tập  hơn 
với nghề nghiệp của mình. Tổng số đối tượng 
tham  gia  nghiên  cứu  là  34  sinh  viên  trong  đó 
có 47.1% là nam  và  52,9%  là  nữ  trong  độ  tuổi 
từ 21 đến 45 tuổi. 
Qua bộ câu hỏi khảo sát ở đợt 1, với những 
vấn đề còn bất cập được nêu trên, bộ môn VLTL 

282

đã kịp thời thay đổi và bổ sung thêm các chi tiết 
trong  nội  dung  của  phiếu  đánh  giá  thực  hành 
bệnh  viện.  Đồng  thời,  từng  bước  tập  huấn  cho 

giảng  viên  hoàn  chỉnh  theo  các  bước  quy  trình 
hướng  dẫn  thực  hành  và  thực  hiện  phương 
pháp đánh giá điểm thực tập của sinh viên được 
chính  xác  hơn.  Dựa  vào  kết  quả  đạt  được  qua 
khảo  sát  ý  kiến  đợt  2  cho  thấy  phiếu  đánh  giá 
thực tập đã thể hiện sự tiến bộ và thay đổi khá 
tốt qua các hoạt động thực tập lâm sàng và nhận 
thức thái độ học tập, cụ thể như sau 

Về hoạt động thực tập lâm sàng 
Với tỷ lệ 97,1% các sinh viên cho rằng phiếu 
đánh  giá  thực  tập  lâm  sàng  đã  đưa  ra  các  yêu 
cầu hoạt động cụ thể và rõ ràng giúp sinh viên 
(SV)  đạt  được  mục  tiêu  thực  tập  phù  hợp  theo 
từng giai đoạn; đồng thời giúp SV nắm rõ mục 
tiêu, nội dung và yêu cầu của mỗi đợt thực tập 
(94,1%).  Đó  chính  là  nhờ  giảng  viên  đã  tăng 
cường tiến hành tập trung vào việc định hướng, 
thảo  luận  với  sinh  viên  vào  buổi  thực  tập  đầu 
tiên  vì  đây  là  cơ  hội  rất  quan  trọng  để  tạo  mối 
quan  hệ  thân  thiện  và  lòng  tin  cho  sinh  viên. 
Điều  quan  trọng  hơn  hết  là  88,2%  sinh  viên 
thành thạo dần các kỹ năng kỹ thuật thực tập và 
tự đánh giá năng lực học tập của mình (94,1%) 
thay  vì  khảo  sát  đợt  1  chỉ  có  65,6%.  Qua  đó, 
(94,2%) SV được GV thường xuyên góp ý, nhận 
xét trực tiếp vào phiếu đánh giá về các kỹ năng 
thực hiện, thiết lập kế hoạch, chương trình điều 
trị  cho  người  bệnh  và  giúp  SV  ngày  tự  hoàn 
thiện  và  tự  độc  lập  dần  khi  thực  hiện  các  kỹ 

năng (97,1%). 

Nhận thức, thái độ học tập 
Hầu  hết  97,1%  sinh  viên  đều  đồng  ý  rằng 
những điều mà SV được GV đánh giá quá trình 
thực  tập  đều  rất  có  ích  cho  việc  giải  quyết  các 
vấn đề thực hành kỹ thuật; biết được những gì 
quan trọng và ít quan trọng hơn trong quá trình 
thực tập lâm sàng. Đồng thời, 88,2% SV có thể tự 
kiểm  tra  quá  trình  học  tập,  làm  chủ  được  việc 
học tập của mình. Điều thay đổi đáng kể hơn hết 
là  100%  các  sinh  viên  đều  cho  rằng  trong  quá 
trình thực tập, GV đã luôn hỗ trợ SV phân tích 

Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học  


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 4 * 2013 
tìm ra những nguyên nhân, khó khăn, giải pháp 
thực  hiện,  góp  ý  những  sai  sót  trong  sự  tôn 
trọng và giải thích rõ ràng về kết quả điểm mà 
SV đạt được sau mỗi cuối đợt thực tập. 

KIẾN NGHỊ 
Do việc lượng giá và hình thành kế hoạch 
thực  tập  cho  sinh  viên  là  vấn  đề  thiết  yếu  để 
đạt  được  kết  quả  học  tập  mong  muốn(10).  Vì 
thế,  giảng  viên  hướng  dẫn  lâm  sàng  cần  chú 
trọng hơn công việc chuẩn bị ban đầu cho sinh 
viên khi bắt đầu đến thực tập, cụ thể như đánh 

giá  khả  năng  và  xác  định  mục  tiêu  của  từng 
sinh viên (hàng ngày hay hàng tuần) trước khi 
thiết  lập  kế  hoạch  thực  hành  lâm  sàng  để  xác 
định  các  hoạt  động  học  tập  mà  sinh  viên  nên 
tham gia. 

năng lực thực hiện công việc nghề nghiệp ngày 
càng hiệu quả hơn(8).  

HƯỚNG NGHIÊN CỨU TRONG TƯƠNG LAI 
Sẽ mở rộng phạm vi nghiên cứu về các mối 
tương  quan  trong  thực  hành  lâm  sàng  giữa 
giảng viên và sinh viên nhằm nâng cao hiệu quả 
chất  lượng  dạy  –  học  trong  lâm  sàng(9).  Đồng 
thời  càng  phát  triển  chất  lượng  hướng  dẫn  của 
giảng viên lâm sàng ngày càng được nâng cao. 
Sử dụng kết quả nghiên cứu để có thể củng 
cố  và  đưa  ra  các  chỉ  tiêu  đánh  giá  sinh  viên  cụ 
thể trong thực hành lâm sàng thông qua sự hài 
lòng của cả sinh viên và giảng viên hướng dẫn. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1.

Tổ chức thực hành lâm sàng trên nhóm nhỏ 
(5‐10 sinh viên) để có thể đánh giá tốt hơn(6). 
2.

Trong  quá  trình  thực  tập  của  sinh  viên  tại 
bệnh viện, cần sự giám sát của giảng viên lâm 

sàng nhiều hơn, cụ thể phương pháp lượng giá 
cho  sinh  viên  nên  đánh  giá  và  đưa  ra  những 
lời  nhận  xét  thường  xuyên  mỗi  khi  sinh  viên 
thực  hiện  các  kỹ  năng,  nhận  xét  đúng  thời 
điểm, không nên chờ đợi đến cuối kỳ thực tập 
mới  nhận  xét  sinh  viên  đã  làm  những  điều 
không đúng(7). 

3.
4.

5.

KẾT LUẬN  
6.

Sinh  viên  cần  phải  tích  cực  hơn,  chủ  động 
tham gia vào việc thiết kế quá trình học cho bản 
thân để thực hành ngày càng tự tin hơn và độc 
lập thực hiện tốt các kỹ năng(5,6,7). 

7.

8.

Cần  có  sự  hợp  tác,  phối  hợp  cùng  làm  việc 
giữa  giảng  viên  hướng  dẫn  lâm  sàng  và  sinh 
viên trong việc hình thành mục tiêu học tập và 
lập kế hoạch thực tập để đạt kết quả tốt sau mỗi 
đợt thực tập(1,5,6,7). 

Tăng cường tập huấn cho các giảng viên trẻ 
về  phát  triển  các  kỹ  năng  hướng  dẫn  lâm  sàng 
phù hợp(2,3) và vai trò của người giảng viên cần 
được  cải  thiện  nhằm  đáp  ứng  với  nhu  cầu  học 
tập của sinh viên, tạo thuận lợi cho sinh viên có 

Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học

Nghiên cứu Y học

9.

10.

Dương Tấn Tân và cộng sự (2010). Các yếu tố ảnh hưởng đến 
sự hài lòng của sinh viên năm 3 và năm 4 tại trường Đại học 
Kinh tế, Đại học Đà Nẵng. Tuyển tập Báo cáo Hội nghị Sinh viên 
Nghiên cứu Khoa học lần thứ 7 Đại học Đà Nẵng năm 2010. Trang 
100‐106. 
Feldman, R.S. (2013). P.O.W.E.R. Learning: Strategies for Success 
in College and Life. (6/e). New York: McGraw‐Hill.  
Feldman,  R.S.  (2013). P.O.W.E.R.  Learning  and  Your  Life: 
Essentials of Student Success. (2/e). NY: McGraw‐Hill. 
Kolb,  A.  and  Kolb  D.  A.  (2001)  Experiential  Learning  Theory 
Bibliography  1971‐2001,  Boston,  Ma.:  McBer  and  Co. 
/>y.htm. 
Kolb, A. Y. & Kolb, D. A. (2009). Experiential learning theory: 
A  dynamic,  holistic  approach  to  management 
learningeducation  and  development.  Chapter  3  in 
Armstrong,  S.  J.  &  Fukami,  C.(Eds.)  Handbook  of 

Management  Learning,  Education  and  Development. 
London: Sage Publications. 
Margaret M.P. & Maryanne D. (2011). Teaching and learning 
in  physical  therapy  from  classroom  to  clinic,  Slack 
Incorporated. 1:3‐22. 
Mary Beth W. & Alice S. (1999). Phát triển kỹ năng cho giảng 
viên  hướng  dẫn  lâm  sàng  Vật  lý  trị  liệu,  Tổ chức Thầy thuốc 
tình nguyện hải ngoại (HVO). 
Nguyễn Ngọc Bích. Phương pháp dạy học Đại học. Đại Học 
Quốc Gia Hà Nội. 
Những điều sinh viên cần biết ‐ Làm thế nào để học lâm sàng 
tốt 
hơn. 
/>nv=news&op=Nhung‐dieu‐sinh‐vien‐can‐biet/Lam‐the‐nao‐
de‐hoc‐lam‐sang‐tot‐hon‐381. 
Vụ  Khoa  học  và  công  nghệ  ‐  Bộ  giáo  dục  và  đào  tạo 
(2008).Định  hướng  phát  triển  khoa  học  và  công  nghệ  năm 
2009 nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đại học. 

 
Ngày nhận bài   
 
 
Ngày phản biện nhận xét bài báo 
Ngày bài báo được đăng: 
 

 16/07/2013. 
 05/09/2013. 
18/10/2013 


283



×