ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
––––––––––––––––––
TRỊNH HOÀNG ANH
ĐẢNG BỘ HUYỆN TRIỆU SƠN (TỈNH THANH HÓA)
LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội - 2015
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
––––––––––––––––––
TRỊNH HOÀNG ANH
ĐẢNG BỘ HUYỆN TRIỆU SƠN (TỈNH THANH HÓA)
LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 66 22 03 15
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ VĂN THỊNH
Hà Nội - 2015
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dƣới sự
hƣớng dẫn của PGS.TS Lê Văn Thịnh. Các số liệu, tài liệu trong luận văn là
trung thực, đảm bảo tính khách quan và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trƣớc Hội đồng khoa học về luận văn
của mình.
Hà nội,tháng 06 năm 2015
Học viên
Trịnh Hoàng Anh
3
LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn các đồng
chí lãnh đạo và các cán bộ thuộc Văn phòng Huyện uỷ, Ban Tuyên giáo,
UBND huyện Triệu Sơn, Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện
Triệu Sơn, Chi cục thống kê huyện Triệu Sơn, Thƣ viện huyện Triệu Sơn đã
cung cấp thông tin, tƣ liệu, tạo điều kiện và đóng góp ý kiến quý báu cho tôi
trong quá trình thực hiện đề tài này.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy, cô giáo Bộ môn
Lịch sử Đảng, Khoa Lịch sử - Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Hà Nội. Đặc biệt, là PGS.TS. Lê Văn Thịnh, thầy đã rất tận tình chỉ bảo,
hƣớng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu.
Mặc dù đã có những cố gắng song luận văn khó tránh khỏi những thiếu
sót, hạn chế. Kính mong quý thầy giáo, cô giáo cùng toàn thể bạn bè đóng góp
ý kiến, bổ sung để đề tài đƣợc hoàn thiện hơn.
4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCH:
Ban Chấp hành
CNH, HĐH:
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Ctr/HU:
Chƣơng trình Huyện ủy
HTX:
Hợp tác xã
KHKT:
Khoa học kỹ thuật
KHCN:
Khoa học công nghệ
NQ/HU
Nghị quyết huyện ủy
NN & PTNT:
Nông nghiệp và phát triển nông thôn
QĐ/UB
Quyết định Ủy ban
UBND:
Ủy ban nhân dân
5
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.............................. ...................................................................................... 2
Chƣơng 1. ĐẢNG BỘ HUYỆN TRIỆU SƠN LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN
KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005 ........................... 11
1.1. Những nhân tố tác động đến công tác lãnh đạo phát triển kinh tế
nông nghiệp của Đảng bộ huyện Triệu Sơn..................................................... 11
1.1.1. Thực trạng kinh tế nông nghiệp huyện Triệu Sơn trước năm 2001 ...... 11
1.1.2. Chủ trương của Đảng và Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa ............................... 27
1.2. Đảng bộ huyện Triệu Sơn lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ
năm 2001 đến năm 2005 .................................................................................... 35
1.2.1. Chủ trương của Đảng bộ huyện Triệu Sơn ............................................ 35
1.2.2. Quá trình tổ chức thực hiện của Đảng bộ huyện Triệu Sơn .................. 37
Chƣơng 2. ĐẢNG BỘ HUYỆN TRIỆU SƠN LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH PHÁT
TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2010 ................... 51
2.1. Chủ trƣơng của Đảng và của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa………………. 51
2.1.1. Chủ trương của Đảng ............................................................................... 51
2.1.2. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa .............................................. 56
2.2. Đảng bộ huyện Triệu Sơn lãnh đạo đẩy mạnh phát triển kinh tế nông
nghiệp từ năm 2006 đến năm 2010………………. .......................................... 60
2.2.1. Chủ trương của Đảng bộ huyện Triệu Sơn ............................................. 60
2.2.2. Quá trình tổ chức thực hiện của Đảng bộ huyện Triệu Sơn .................. 63
Chƣơng 3. MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM.......................................... 75
3.1. Nhận xét chung………………. ................................................................... 75
3.1.1. Về ưu điểm…………. ................................................................................. 75
3.1.2. Về hạn chế…………. .................................................................................. 85
3.2. Một số kinh nghiệm chủ yếu ...................................................................... 89
KẾT LUẬN......................... ..................................................................................... 96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................... 99
PHỤ LỤC......................... ...................................................................................... 112
6
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nông nghiệp, nông thôn và nông dân đƣợc coi là nền tảng và là động lực
cho sự phát triển kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới. Điều đó lại càng có
ý nghĩa đối với nƣớc ta, một đất nƣớc khoảng 70% dân số sản xuất nông
nghiệp và sinh sống ở nông thôn. Nhận thức rõ tầm quan trọng của kinh tế
nông nghiệp, Đảng và Nhà nƣớc ta đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết nhằm
đổi mới chính sách phát triển nông nghiệp. Đặc biệt, trong thời kỳ đẩy mạnh
CNH, HĐH phát triển nông nghiệp theo hƣớng toàn diện và bền vững đƣợc
Đảng coi là “một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu”.
Sau gần 30 năm thực hiện đƣờng đối đổi mới, dƣới sự lãnh đạo của
Đảng, nông nghiệp nƣớc ta đã đạt đƣợc thành tựu khá toàn diện và to lớn.
Nông nghiệp tiếp tục phát triển với tốc độ khá cao theo hƣớng sản xuất hàng
hoá, nâng cao năng suất, chất lƣợng và hiệu quả; đảm bảo vững chắc an ninh
lƣơng thực quốc gia; một số mặt hàng xuất khẩu chiếm vị thế cao trên thị
trƣờng thế giới. Nông nghiệp phát triển làm cho nền kinh tế đất nƣớc đƣợc ổn
định; góp phần xóa đói giảm nghèo; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn
xã hội. Tuy nhiên, những thành tựu đạt đƣợc chƣa tƣơng xứng với tiềm năng,
lợi thế và chƣa đồng đều giữa các vùng. Nông nghiệp vẫn chƣa thật sự phát
triển bền vững, tốc độ tăng trƣởng có xu hƣớng giảm dần, sức cạnh tranh thấp,
chƣa phát huy tốt nguồn lực cho phát triển sản xuất; nghiên cứu, chuyển giao
khoa học - công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế. Năng suất, chất
lƣợng, giá trị nhiều mặt hàng thấp. Đó là những khó khăn, hạn chế đối với
phát triển kinh tế nông nghiệp đòi hỏi Đảng, Nhà nƣớc, chính quyền các địa
phƣơng và nhân dân cùng chung tay góp sức khắc phục.
7
Triệu Sơn là một huyện thuộc vùng chuyển tiếp giữa đồng bằng và miền
núi tỉnh Thanh Hóa với nghề sản xuất chính là nông nghiệp.Từ khi thành lập
đến nay, Đảng bộ Triệu Sơn đã lãnh đạo quần chúng nhân dân tiến lên trong
sự nghiệp bảo vệ quê hƣơng, đất nƣớc. Những thành quả mà Triệu Sơn đạt
đƣợc hôm nay là một minh chứng về vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng bộ
Triệu Sơn, đặc biệt trong xây dựng và phát triển kinh tế.
Tìm hiểu quá trình Đảng bộ huyện Triệu Sơn lãnh đạo phát triển kinh tế
nông nghiệp của huyện trong giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2010 là một
trong những vấn đề quan trọng góp phần làm rõ những biến đổi trong nông
nghiệp, nông thôn của một huyện thuần nông trong quá trình thực hiện, đƣa
đƣờng lối đổi mới của Đảng vào cuộc sống, cũng nhƣ những tác động bƣớc
đầu của quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn đối với Triệu Sơn.
Những kết quả mà nông nghiệp Triệu Sơn đạt đƣợc trong giai đoạn này là
không nhỏ, song quá trình đó cũng không tránh khỏi những yếu kém, bất cập.
Nghiên cứu quá trình Đảng bộ huyện Triệu Sơn lãnh đạo phát triển kinh
tế nông nghiệp nhằm khẳng định những thành tựu to lớn đã đạt đƣợc, rút ra
những hạn chế, bất cập, những bài học kinh nghiệm phục vụ sự lãnh đạo của
Đảng bộ huyện với kinh tế nông nghiệp hiện nay. Với những lý do trên, tôi
chọn đề tài “Đảng bộ huyện Triệu Sơn (tỉnh Thanh Hóa) lãnh đạo phát triển
kinh tế nông nghiệp từ năm 2001 đến năm 2010” làm luận văn tốt nghiệp thạc
sỹ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam tại trƣờng Đại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn Hà Nội.
8
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng trong việc phát triển kinh tế nông
nghiệp đặc biệt là thời kỳ đổi mới là đề tài rộng lớn, thu hút sự quan tâm của
đông đảo các nhà khoa học nói chung và sử học nói riêng. Có thể tổng hợp các
công trình nghiên cứu thành những nhóm sau:
Nhóm các bài viết của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nƣớc về phát
triển kinh tế nông nghiệp. Thủ tƣớng chính phủ Nguyễn Tấn Dũng: “Công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, nhiệm vụ quan trọng hàng
đầu trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (Báo Nhân dân,
ngày 19/03/2002);“Để nông nghiệp, nông thôn phát triển bền vững, người dân
giàu lên” (Tạp chí Cộng sản, số 20, tháng 10/2002); “Công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nông nghiệp, nông thôn, thành tưu và giải pháp” (Báo Nhân dân,
ngày 28/07/2005); Phan Diễn - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thƣ Trung ƣơng
Đảng: “Tạo bước chuyển biến nông nghiệp hơn nữa tiến trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn” (Tạp chí Cộng sản, số 28, tháng
10/2002).
Nhóm các công trình nghiên cứu về nông nghiệp, nông thôn bao gồm
một loạt các công trình đã đƣợc công bố: “Lịch sử nông nghiệp Việt Nam”
của Ban Biên tập Lịch sử nông nghiệp Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội,
1994; “Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới” của Nguyễn Hữu
Tiến, Nxb Thống kê, 2008; “Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau 20 năm
đổi mới và phát triển” của Đặng Kim Sơn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 2006;
“Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn: một số vấn đề lý
luận và thực tiễn”của Hồng Vinh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998;
“Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn ở Việt Nam: con
9
đường và bước đi” của Nguyễn Kế Tuấn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2006; “Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Việt
Nam” của Ban Tƣ tƣởng Văn hóa Trung ƣơng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002; “Chính sách kinh tế và vai
trò của nó đối với phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn Việt Nam” của
Nguyễn Văn Bích, Chu Quang Tiến, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996;
“Chính sách nông nghiệp, nông thôn Việt Nam nửa cuối thế kỷ XX và một số
định hướng đến năm 2020” của Trần Ngọc Bút, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2002; “Phát triển nền nông nghiệp hàng hóa ở Việt Nam thực trạng và
giải pháp” của Trần Văn Châu, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003; “Nông
nghiệp nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới (1986 – 2002)” của Nguyễn Sinh
Cúc, Nxb Thống kê, Hà Nội, 2003; “Thực trạng CNH, HĐH nông nghiệp,
nông thôn Việt Nam” của Lê Mạnh Hùng, Nxb Thống kê, Hà Nội, 1998; “Con
đường CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Việt Nam” của Lê Huy Ngọ, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002; “Đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông
thôn trong thời kỳ mới” của Lê Quang Phi, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2007; “Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Việt
Nam” của Đào Duy Quát, Nguyễn Viết Thông, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2002; “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn Việt Nam và
Chương trình đẩy mạnh xuất khẩu nông sản” của Nguyễn Hữu Khải, Nxb
Thống kê, Hà Nội, 2003.
Một số luận văn, luận án khác nhƣ: “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn từ 1991 –
2002” của Lê Quang Phi, Học viện Chính trị quân sự, Hà Nội, 2006; “ Đường
lối phát triển nông nghiệp, nông thôn của Đảng trong những năm 1986 –
10
2006” của Lê Thị Thu Hƣơng, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà
Nội, 2008; “Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng CNH, HĐH giai đoạn 1997 – 2003” của Đào Thị Vân, Đại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội, 2004; “ Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lãnh đạo
phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn trong những năm 1997 – 2006” của
Nguyễn Tuấn Thành, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội, 2009.
Nghiên cứu về phát triển kinh tế nông nghiệp tỉnh Thanh Hóa còn một số
luận án, luận văn nhƣ: “Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông
thôn ở tỉnh Thanh Hoá” của Nguyễn Văn Thụ, Trung tâm đào tạo, bồi dƣỡng
giảng viên lý luận chính trị, 2004.“Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo phát
triển nông nghiệp ( 1986 - 2005)”của Lê Văn Thuận, Đại học Khoa học Xã
hội & Nhân văn Hà Nội, 2007. “Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá lãnh đạo chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ 1986 đến 2005” của Nguyễn Văn Vinh,
Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, 2010 và “Chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn 2000-2010” của
Lê Kim Chi, Đại học Sƣ phạm Hà Nội, 2012.
Những công trình nghiên cứu này ở những góc độ khác nhau đều khẳng
định vai trò to lớn của nông nghiệp, nông thôn trong nền kinh tế quốc dân.
Một số tác phẩm đã phân tích khá sâu thực trạng, dự kiến xu hƣớng phát triển
và đề ra những giải pháp chung nhất cho quá trình phát triển kinh tế nông
nghiệp. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên với phạm vi toàn quốc hoặc
một vùng kinh tế của đất nƣớc. Song cho tới nay chƣa có một luận văn, công
trình nào nghiên cứu, phân tích có hệ thống về tình hình phát triển nông
nghiệp của huyện và đề cập đến vai trò, quá trình lãnh đạo của Đảng bộ Triệu
Sơn đối với những thành tựu trong phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2001
- 2010.
11
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu:
Làm rõ quá trình Đảng bộ huyện Triệu Sơn vận dụng chủ trƣơng, chính
sách của Đảng trong lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp trên địa bàn
huyện.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Bƣớc đầu trình bày hệ thống quá trình Đảng bộ huyện Triệu Sơn vận
dụng quan điểm, đƣờng lối của Đảng để lãnh đạo phát triển kinh tế nông
nghiệp từ 2001 đến 2010 trên địa bàn toàn huyện.
Dựa trên những thành quả đạt đƣợc trong nông nghiệp để phân tích, làm
rõ những thành tựu, hạn chế trong quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp từ
2001 đến 2010 ở Triệu Sơn.
Từ đó rút ra một số kinh nghiệm, nhằm nâng cao hiệu quả sự lãnh đạo
hơn nữa của Đảng bộ huyện Triệu Sơn trong phát triển kinh tế nông nghiệp
theo đƣờng lối của Đảng và điều kiện thực tế tại địa phƣơng.
4.Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
4.1.Đối tượng nghiên cứu
Sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ huyện Triệu Sơn đối với phát triển
kinh tế nông nghiệp trong những năm 2001 - 2010.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
+ Về mặt nội dung: Luận văn tìm hiểu về sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng
bộ huyện Triệu Sơn đối với vấn đề phát triển kinh tế nông nghiệp.
12
Kinh tế nông nghiệp có nhiều nội dung, trong phạm vi luận văn thạc sỹ,
tôi tập trung nghiên cứu, làm rõ: Kinh tế ngành, kinh tế vùng, kinh tế thành
phần và sự vận dụng các tiến bộ KHCN trong sản xuất nông nghiệp của Đảng
bộ.
+ Về mặt không gian: huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa
+ Về mặt thời gian: từ năm 2001 đến năm 2010
Tuy nhiên, để thấy đƣợc quá trình phát triển nông nghiệp huyện Triệu
Sơn từ năm 2001 - 2010, đề tài có đề cập ở mức độ nhất định đến thời gian
trƣớc năm 2001.
5. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Nguồn tư liệu:
Để nghiên cứu đề tài này, tác giả đã khai thác, sử dụng nhiều nguồn tài
liệu khác nhau, bao gồm các nguồn sau:
+ Các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết về nông nghiệp, nông
thôn.
+ Các Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt
Nam lần thứ VI, VII, VIII, IX, X; Các nghị quyết của Hội nghị Trung ƣơng và
các Chỉ thị của Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng liên quan đến kinh tế nông
nghiệp.
+ Các Báo cáo Nghị quyết, Chỉ thị của BCH Đảng bộ huyện Triệu Sơn,
UBND huyện Triệu Sơn, Phòng NN & PTNT Triệu Sơn, các báo cáo hàng
năm của các ban ngành trong huyện.
13
+ Một số sách và công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
5.2. Phương pháp nghiên cứu:
Phƣơng pháp nghiên cứu chủ yếu đƣợc vận dụng trong luận văn là
phƣơng pháp lịch sử kết hợp với phƣơng pháp lôgíc nhằm tái hiện một cách
chân thực và khoa học quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp của
Đảng bộ huyện Triệu Sơn trong những năm 2001 - 2010.
Luận văn còn sử dụng một số phƣơng pháp: phân tích, so sánh, thống kê
để đánh giá sự phát triển của kinh tế nông nghiệp Triệu Sơn qua từng giai
đoạn, nhằm thể hiện rõ vai trò lãnh đạo và quá trình đổi mới tƣ duy của Đảng
bộ huyện Triệu Sơn trong công cuộc đổi mới và nhất là lãnh đạo phát triển
kinh tế ở địa phƣơng.
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ cơ sở phƣơng pháp luận của Chủ nghĩa Mác Lênin, Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, chủ trƣơng chính sách của Đảng về vấn đề
phát triển nông nghiệp. Luận văn trình bày một cách tƣơng đối hệ thống, hoàn
chỉnh tình hình phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện Triệu Sơn trong giai
đoạn 2001 - 2010. Từ thực tiễn đó, luận văn làm rõ sự chuyển biến, thành tựu
nổi bật cũng nhƣ những hạn chế của nông nghiệp Triệu Sơn dƣới sự lãnh đạo
của Đảng bộ huyện. Nghiên cứu vấn đề này chúng ta có thêm cơ sở thực tiễn
trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.
Từ những chuyển biến trong ngành nông nghiệp huyện, luận văn
góp phần chứng minh và khẳng định sự đúng đắn của những chủ trƣơng,
đƣờng lối đổi mới của Đảng và Nhà nƣớc lấy nông nghiệp làm “mặt trận
14
hàng đầu”, làm “khâu đột phá” trong phát triển kinh tế - xã hội qua việc
nghiên cứu thực tế ở một địa phƣơng cụ thể.
Luận văn còn góp phần cung cấp thêm tƣ liệu cho việc giảng dạy lịch sử
địa phƣơng. Qua đó giáo dục cho học sinh, sinh viên truyền thống yêu
quê hƣơng, đất nƣớc, tự hào về dân tộc, địa phƣơng của mình.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn
đƣợc bố cục làm 3 chƣơng:
Chƣơng I: Đảng bộ huyện Triệu Sơn lãnh đạo phát triển kinh tế nông
nghiệp từ năm 2001 đến năm 2005.
Chƣơng II: Đảng bộ huyện Triệu Sơn lãnh đạo đẩy mạnh phát triển kinh
tế nông nghiệp từ năm 2006 đến năm 2010.
Chƣơng III: Một số nhận xét và kinh nghiệm chủ yếu
15
Chƣơng 1
ĐẢNG BỘ HUYỆN TRIỆU SƠN LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN
KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005
1.1. Những nhân tố tác động đến công tác lãnh đạo phát triển kinh tế
nông nghiệp của Đảng bộ huyện Triệu Sơn
1.1.1. Thực trạng kinh tế nông nghiệp huyện Triệu Sơn trước năm
2001
* Điều kiện tự nhiên
Về vị trí địa lý: Triệu Sơn là một huyện đồng bằng tiếp nối với vùng
miền núi phía tây Thanh Hóa. Huyện thành lập ngày 25-2-1965 theo quyết
định số 177 ngày 04/12/1964 của Chính phủ, trên cơ sở sát nhập 20 xã bắc
Nông Cống và 13 xã nam Thọ Xuân.
Triệu Sơn nằm trên tọa độ địa lí từ 19º42’- 19º52’ vĩ độ Bắc và 105º34’105º42’ kinh độ Đông. Phía bắc giáp huyện Thọ Xuân và Thiệu Hóa, phía
nam giáp huyện Nhƣ Thanh và Nông Cống, phía tây giáp huyện Thƣờng
Xuân, phía đông giáp huyện Đông Sơn [1, tr.15].
Hiện nay, huyện có 36 xã, thị trấn trong đó có bốn xã miền núi: Bình
Sơn, Thọ Bình, Thọ Sơn, Triệu Thành. Là huyện chuyển tiếp giữa vùng đồng
bằng và miền núi phía tây của Thanh Hóa, Triệu Sơn là đầu mối giao thông
giữa vùng xuôi và miền ngƣợc.
Về đƣờng bộ với quốc lộ 47 và tỉnh lộ 506, 514, 517 chạy qua, chính là
yếu tố thuận lợi cho hoạt động liên hệ giao lƣu của huyện Triệu Sơn với nhiều
16
địa bàn trong và ngoài tỉnh. Dọc theo quốc lộ 47 ngƣợc về phía tây là khu
công nghiệp động lực Sao Vàng - Lam Sơn và vùng kinh tế miền núi. Từ
Triệu Sơn đi theo đƣờng Nông Cống - Nhƣ Thanh - Nhƣ Xuân là đến Nghệ
An. Theo đƣờng Hồ Chí Minh, khoảng cách từ Triệu Sơn đến Hà Nội khoảng
130km. Đặc biệt từ Triệu Sơn, sang nƣớc Lào qua cửa khẩu Na Mèo chỉ
khoảng 160km. Bên cạnh đó, phía đông lại nối liền với Quốc lộ 1A và đƣờng
sắt xuyên Việt, gặp ngay Thành phố Thanh Hóa, trung tâm chính trị, kinh tế,
văn hóa của tỉnh. [69, tr.17].
Về địa hình: Là huyện đồng bằng - bán sơn địa nằm ở phía tây - nam của
Châu thổ sông Mã - sông Chu tỉnh Thanh Hóa, tiếp giáp với các huyện miền
núi Thƣờng Xuân và Nhƣ Thanh nên Triệu Sơn đã hình thành hai dạng địa
hình cơ bản, đó là:
- Địa hình trung du - miền núi gồm các xã Bình Sơn, Thọ Bình, Thọ Sơn,
Triệu Thành, Vân Sơn, Thái Hòa, Tân Ninh với diện tích tự nhiên 8.851ha
(chiếm 30,3% tổng diện tích tự nhiên của toàn huyện). Độ cao trung bình so
với mặt nƣớc biển từ 70 - 80m, nơi cao nhất là núi Nƣa với đỉnh cao 538m (ở
địa phận xã Tân Ninh).
- Địa hình đồng bằng gồm các 28 xã nằm trong vùng trọng điểm lúa của
tỉnh và huyện, có diện tích tự nhiên là 20.349ha (chiếm 69,7% diện tích tự
nhiên của toàn huyện). Độ cao trung bình của vùng là trên 10m, bị chia cắt, xé
lẻ bởi sông Hoàng, sông Nhơm. Đặc điểm địa hình dễ nhận thấy ở vùng này là
xen giữa các cánh đồng bằng phẳng lại có các đồi đất thấp và núi đá sót đứng
độc lập. Trong 28 xã đồng bằng vẫn thấy có nhiều vùng trũng cục bộ thƣờng
bị ngập úng khi có bão lụt, trong đó có các xã Đồng Thắng, Đồng lợi và Đòng
Tiến là những nơi có đồng trũng thấp điển hình.
17
Về khí hậu: Trong số 36 xã, thị trấn của Triệu Sơn, chỉ có Thọ Bình,
Bình Sơn, Thọ Sơn, Triệu Thành và khu vực núi Nƣa là thuộc tiểu vùng khí
hậu trung du, còn tất cả đều thuộc tiểu vùng khí hậu đồng bằng Thanh Hóa.
Đặc điểm của tiểu vùng khí hậu đồng bằng ở Triệu Sơn nói riêng và
Thanh Hóa nói chung là có nền nhiệt độ cao, mùa đông không lạnh lắm, mùa
hè tƣơng đối nóng, mƣa ở mức trung bình, bị ảnh hƣởng gió tây (còn gọi là
gió Lào) khô nóng và hạn nhƣng có thể khắc phục bằng thủy lợi hóa. Thiên tai
nguy hiểm, nhất là rét đậm kéo dài.
Đặc điểm khí hậu tiểu vùng trung du của Triệu Sơn (gồm các xã Thọ
Bình, Bình Sơn, Thọ Sơn, Triệu Thành và khu vực núi Nƣa) là có mùa hè
tƣơng đối nóng, gió tây khô nóng và mạnh, mƣa nhiều. Mùa mƣa đến sớm và
kéo dài.Trung tâm mƣa là khu vực núi Nƣa dẫn đến lụt úng cho các vùng chân
núi.Mùa đông tƣơng đối lạnh và rất ẩm vào thời kỳ cuối mùa. Thiên tai cần đề
phòng là mƣa lớn, gió tây khô nóng, rét đậm, sƣơng muối, sƣơng giá, gió bão,
giông tố và lũ lụt [69, tr. 48-49].
Về tài nguyên nước: Huyện Triệu Sơn có nguồn tài nguyên nƣớc phong
phú, gồm cả hệ thống sông và nguồn nƣớc ngầm. Hệ thống sông gồm có hai
con sông lớn của huyện đó là hệ thống sông Nhơm (còn gọi là sông Lãng
Giang hay sông Lãn Giang) và sông Hoàng (mà dân gian vẫn gọi là sông nhà
Lê)
Sông Nhơm là sông nội địa phát nguyên từ vùng rừng núi Hàm Đôn Nhƣ Xuân có độ cao so với mực nƣớc biển là 150m chảy qua Triệu Sơn, Nông
Cống. Sông Nhơm có diện tích lƣu vực là 268km2. Tổng chiều dài của sông là
66,9km, trong đóđoạn chạy qua Triệu Sơn dài 31,6 km; tổng lƣợng chảy cả
18
năm đạt 378 triệu m3. Đây là nguồn tƣới tiêu quan trọng của huyện, song vào
mùa mƣa lũ lại là tác nhân gây ra tình trạng ngập úng trầm trọng [69, tr.5152].
Sông Hoàng là sông nội địa phát nguyên từ vùng núi phía tây huyện Thọ
Xuân chảy qua các huyện Triệu Sơn, Nông Cống,Đông Sơn. Đoạn chảy qua
Triệu Sơn dài khoảng 40km. Diện tích lƣu vực của sông là 336km2. Tuy chịu
ảnh hƣởng nƣớc triều và vật ứ của sông Yên song tốc độ dòng chảy nhỏ và
xuống rất chậm.Mùa mƣa lũ, lƣu lƣợng dòng chảy lớn nhất là 67,5 m3/ giây,
mùa kiệt là 0,1 m3/ giây. Sông Hoàng thực hiện tiêu úng là chính, nhƣng vì độ
uốn khúc lớn, tốc độ chảy chậm nên khi gặp mƣa lớn (trên 200mm) thƣờng
gây ngập úng cục bộ cho các vùng trũng thấp (nhƣ Đồng Thắng, Đồng Lợi,
Đồng Tiến) [69, tr. 52].
Vùng bán sơn địa có tới 51 hồ, đập lớn nhỏ nhƣ: hồ Thọ Bình dung
lƣợng 2,3 triệu m3 nƣớc, hồ Ngô Công (xã Thọ Vực) rộng 45ha, hồ Ao Lốc
(xã Hợp Thành) rộng 20ha. Các xã đồng bằng cũng có rất nhiều ao, hồđóng
vai trò vô cùng quan trọng cung cấp nguồn nƣớc phục vụ sản xuất nông
nghiệp và chăn nuôi.
Về tài nguyên đất: Đất đai của huyện Triệu Sơn đƣợc hình thành một
cách rõ nét trong quá trình phong hóa của các loại đá mẹ và mẫu chất tích tụ
từ tác động sông - biển. Từ điều tra nông hóa, thổ nhƣỡng đất đai của Triệu
Sơn đã đƣợc chia ra thành 6 nhóm đất cụ thể nhƣ: Nhóm đất phù sa không
đƣợc bồi đắp hàng năm, diện tích 13.735ha (chiếm 47,05% diện tích tự nhiên
của toàn huyện) phân bố tập trung ở các xã đồng bằng; Nhóm đất lầy thụt,
than bùn, diện tích 396ha (chiếm 1,26% diện tích tự nhiên toàn huyện) phân
bố ở thung lũng chân đồi; Nhóm đất bạc màu, rửa trôi, diện tích 1.772ha
19
(chiếm 4,01% diện tích tự nhiên toàn huyện), phân bố tập trung ở các xã vùng
bán sơn địa; Nhóm đất dốc tụ, diện tích 400ha (chiếm 1,3% diện tích toàn
huyện), phân bố tập trung ở các xã vùng bán sơn địa - nơi vị trí đồi, gò; Nhóm
đất đen (chủ yếu từ núi Nƣa), diện tích 643ha (chiếm 2,17% diện tích tự nhiên
toàn huyện) phân bố chủ yếu ở các xã trung du, miền núi nhƣ: Tân Ninh, Thái
Hòa, Vân Sơn; Nhóm đất đỏ vàng, diện tích 5.382ha (chiếm 18,42% đất tự
nhiên toàn huyện), phân bố chủ yếu ở các xã có địa hình trung du, miền núi.
Từ các loại đất trên, Triệu Sơn có điều kiện thuận lợi để phát triển đa
dạng các loại cây trồng và phát triển kinh tế trang trại theo mô hình nông - lâm
kết hợp, đồng thời để đầu tƣ thâm canh, tăng vụ, tăng sản lƣợng, tạo bƣớc tăng
trƣởng nhanh và bền vững.
Về tài nguyên rừng:Theo số liệu điều tra mà Phòng Tài nguyên Môi
trƣờng cung cấp (29-6-2009) thì tài nguyên rừng của huyện Triệu Sơn hiện có
3.876,69ha (chiếm 13,28% diện tích tự nhiên), trong đó có 3.221,69ha rừng
trồng sản xuất, 655,00ha rừng trồng phòng hộ. Nhìn chung, rừng của huyện
Triệu Sơn chỉ mới thật sự phục hồi hơn 10 năm trở lại đây nên rất nghèo về
dộng, thực vật. Cây trồng mới chủ yếu là bạch đàn, keo tai tƣợng, bồ đề...xanh
tốt quanh năm. Riêng rừng luồng, tre, nứa đƣợc phân bố chủ yếu ở các xã
Bình Sơn, Thọ Sơn, Thọ Bình, Triệu Thành...
Có thể nói, tài nguyên rừng của Triệu Sơn chƣa phải là lớn so với các
huyện miền núi khác, nhƣng chỉ với diện tích hiện có đã góp phần quan trọng
đến việc cải thiện môi sinh, môi trƣờng ở trong huyện, đồng thời mở ra một
hƣớng phát triển kinh tế mới rất hiệu quả trên cơ sở nhân rộng các mô hình
trang trại nông - lâm kết hợp. Và tài nguyên rừng sẽ là một động lực giúp kinh
tế và đời sống của đồng bào vùng miền núi, trung du, bán sơn địa của Triệu
20
Sơn sẽ không ngừng đƣợc cải thiện nhiều hơn. Cũng nhờ việc phát triển rừng
mà hạn chế đƣợc tình trạng xói mòn, rửa trôi, bảo vệ cho đất giữ đƣợc độ phì
để sản xuất các loại cây trồng có năng suất một cách bền vững.
Về khoáng sản: Triệu Sơn là vùng đất đƣợc thiên nhiên đã ban tặng cho
nhiều tiềm năng, khoáng sản. Mỏ Crômit (Tân Ninh, Triệu Sơn) là mỏ sa
khoáng lớn đƣợc phát hiện vào năm 1923, khai thác vào năm 1932. Theo một
số tài liệu cho biết mỏ Crômit Cổ Định vào loại lớn nhất Đông Nam Á. Quặng
Crômit Cổ Định tham gia vào các quá trình luyện kim tạo ra loại thép rắn và ít
bị gỉ chế tạo các thiết bị máy móc cao cấp và hàm chứa nhiều kim loại quý
hiếm nhƣ: Niken, Cooban, Amiăng sản xuất vật liệu cách điện, cách nhiệt
[1, tr.21]. Mỏ Sétpentin Triệu Sơn cung cấp Sétpentin (đá xà vân ở xã Đồng
Thắng) là nguyên liệu chính sản xuất phân lân nung chảy cho các xí nghiệp
Hàm Rồng, Trƣờng Yên, Văn Điển (Hà Nội). Nguyên liệu sành, sứ, thủy tinh
nhƣ: cao lin có ở Hợp Thành; Mácsalít có ở Đồng Khang trữ lƣợng 436.000
tấn. Vật liệu xây dựng nhƣ Sétbentônít phân bố rộng ở vùng núi Nƣa với trữ
lƣợng hàng triệu m3. Nguồn nguyên liệu than bùn có ở Thọ Tiến,Thọ Bình,
Minh Sơn… [1, tr.21-22].
* Điều kiện kinh tế - xã hội
Dân cư : Theo số liệu điều tra năm 2008, dân số toàn huyện là 225.167
ngƣời. Trong đó, ngƣời Kinh (Việt) có 218.637 ngƣời, ngƣời Mƣờng có 3.378
ngƣời, ngƣời Thái có 2.815 ngƣời và các dân tộc khác là 337 ngƣời. Dân tộc
ngƣời Kinh chiếm đại đa số và cƣ trú ở hầu hết các xã trên địa bàn huyện.Dân
tộc ngƣời Mƣờng, ngƣời Thái sống ở vùng bán sơn địa, xen kẽ với ngƣời
Kinh, chủ yếu ở hai xã Thọ Bình, Thọ Sơn. Mật độ dân cƣ phân bố không đều,
vùng đồng bằng dân cƣ tập trung đông đúc, bình quân 545 ngƣời/km2, vùng
21
bán sơn địa miền núi đất đai rộng nhƣng dân số ít, bình quân chỉ có 270
ngƣời/ km2 [69,tr. 517].
Cùng chung sống trong một khu vực song mỗi dân tộc lại mang một bản
sắc văn hóa với phƣơng thức sản xuất cũng nhƣ đời sống tinh thần riêng biệt,
góp phần tạo nên nền văn hóa phong phú, đặc sắc cho huyện Triệu Sơn.
Nguồn lao động: Dân số Triệu sơn thuộc loại có độ tuổi trung bình trẻ, số
ngƣời trong độ tuổi lao động có chiều hƣớng tăng dần, năm 2005 là 83.164 lao
động, năm 2009 là 95.864 lao động.Tỷ lệ lao động trong độ tuổi lao động có
việc làm thƣờng xuyên là 74,2%, số ngƣời không có việc làm ngày càng tăng.
Lực lƣợng lao động đƣợc đào tạo nghề chiếm tỷ lệ thấp là 39,7%, chủ yếu làm
việc ở các cơ quan nhà nƣớc, lao động trong nông- lâm nghiệp chƣa đƣợc
quan tâm đào tạo và tiếp thu KHKT. Lao động nông nhàn chiếm khoảng 30%
quỹ thời gian lao động, số lao động năm 2009 làm việc trong ngành sản xuất
nông, lâm nghiệp chủ yếu khoảng 72.624 ngƣời chiếm tới 75% tổng số lao
động đang làm việc, tỷ lệ này đang có chiều hƣớng gia tăng, nhƣng không lớn.
Cơ sở hạ tầng: Cơ sở hạ tầng của huyện Triệu Sơn khá đầy đủ cả về
chất và lƣợng, cơ bản phục vụ tốt cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh, trao
đổi hàng hoá, nông sản trong và ngoài huyện. Đây cũng là những tiền đề thuận
lợi cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo
hƣớng sản xuất hàng hoá và phát triển nông nghiệp bền vững.
Về giao thông, đến cuối năm 2009 toàn huyện có 16,5 km quốc lộ 47 đi
qua đã đƣợc trải nhựa chất lƣợng cao, tỉnh lộ 514 cầu Thiều đi Sao Vàng, tỉnh
lộ 506 Nƣa - Gốm, Tỉnh lộ 517 Đu đi Thọ Vực với tổng chiều dài là 58 km đã
đƣợc nhựa hoá, nhƣng độ rộng còn hẹp, chỉ có từ 5m - 6,5 m, đƣờng liên xã
hơn 220 km, một số tuyến đƣờng đã đƣợc trải nhựa và bê tông hoá, chiều rộng
22
từ 5- 6 m, Một số tuyến đƣờng còn lại đƣợc rải cấp phối, lúc mƣa gió đi lại
còn khó khăn. đƣờng ô tô vào tận trung tâm của 36/ 36 xã, thị trấn kể cả ở xã
xa trung nhất nhƣ xã Bình Sơn [1. tr. 219]. Nhƣ vậy, hệ thống giao thông trên
địa bàn Triệu Sơn đã đƣợc đấu tƣ nâng cấp thành một mạng lƣới hoàn chỉnh,
tạo điều kiện giao lƣu kinh tế giữa các xã với các huyện lân cận.
Hệ thống các công trình thuỷ lợi đƣợc quan tâm đầu tƣ và đã phát huy tác
dụng. Tổng diện tích lúa đƣợc tƣới là 10.500 ha, trong đó tƣới chủ yếu bằng
hệ thống thuỷ nông sông Chu 6.251 ha, tƣới chủ động bằng hồ, đập (có 11 xã)
1.767 ha trên một vụ. Tƣới chống hạn bằng bơm điện là 1.886 ha/ vụ, Cấp xã
đảm nhiệm tƣới là 13 xã, với diện tích là 605 ha/ vụ. Ngoài ra còn có kênh
tƣới cấp 1 là 44 km, kênh tƣới cấp 2 là 59 km, kệnh tƣới cấp 3 kể cả các kênh
trạm bơm là 42 km, kênh mƣơng nội đồng hàng trăm km, các kênh tƣới đã
đƣợc kiên cố hoá đến cuối năm 2009 đƣợc gần 300 km phục vụ tƣới cho hàng
trăm ha lúa, màu, vƣờn tạp [1. tr. 219].
Mạng lƣới điện rộng khắp 36/36 xã, thị trấn, không ngừng đƣợc đầu tƣ
nâng cấp và phát triển. Trên địa bàn huyện có 2 trạm 35/10 KV ở Quán Giắt
và Đà, 22 trạm phân phối 35/0,4 KV, 66 trạm 10/0,4 KV, 53 km đƣờng dây 35
KV, 112 km đƣờng dây 10 KV và 400 km đƣờng dây 0,4 KV.
Về giáo dục: Giáo dục đào tạo đã có bƣớc phát triển toàn diện cả quy mô
và chất lƣợng. Hệ thống trƣờng lớp đƣợc quan tâm đầu tƣ phát triển ở tất cả
các bậc học, ngành học. Huyện Triệu Sơn có 6 trƣờng trung học phổ thông, 1
trƣờng dân lâp, 1 trung tâm giáo dục thƣờng xuyên, các xã đều có các trƣờng
trung học cơ sở và tiểu học mầm non. Cùng với đó huyện đã đẩy manh công
tác xã hội hóa giáo dục, 36 xã, thị trấn đã có Trung tâm học tập cộng đồng
23
hoạt động bƣớc đầu có kết quả, đã và đang tạo điều kiện và cơ hội cho mọi
ngƣời đƣợc tham gia học tập [38, tr. 5].
Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ giảng dạy, học tập đƣợc tăng
cƣờng, tỷ lệ phòng học kiên cố 991/1558, đạt 63%. Đội ngũ giáo viên đƣợc
chuẩn hóa, chất lƣợng giáo dục ngày càng đƣợc nâng lên. Huyện đạt chuẩn
phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và đạt chuẩn trung học cơ sở, toàn
huyện có 23 trƣờng đạt chuẩn quốc gia.Trong 5 năm (2005 - 2010), toàn
huyện có 8.120 học sinh thi đỗ vào các trƣờng đại học, cao đẳng, tăng gấp 5
lần so với 5 năm trƣớc. Các trƣờng đào tạo nghề, trung tâm học tập cộng đồng
hoạt động mạnh mẽ, coi trọng cả về số lƣợng ngƣời đƣợc đào tạo và chất
lƣợng lao động sau đào tạo. Với sự hoạt động hiệu quả của loại hình đào tạo
này, hàng vạn ngƣời lao động đã đƣợc học tập, chuyển giao KHKT mới, đƣợc
phổ biến kiến thức văn hóa và pháp luật.
Về tăng trưởng kinh tế và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Thực hiện công
cuộc đổi mới kinh tế của huyện có bƣớc phát triển tƣơng đối nhanh, tốc độ
tăng trƣởng GDP thời kỳ 2001 - 2005 tăng 8% và thời kỳ 2005 - 2010 tăng
12,3%. Ngành nông lâm ngƣ nghiệp tốc độ tăng trƣởng giảm (từ 5,5% thời kỳ
2001 - 2005 xuống 5,3% thời kỳ 2006 - 2010), ngành công nghiệp - xây dựng
(từ 17,6% thời kỳ 2001 - 2005 lên 18,2% thời kỳ 2006 - 2010), ngành thƣơng
mại - dịch vụ (từ 14,3% thời kỳ 2001 - 2005 lên 17,1% thời kỳ 2006 - 2010)
nên đã đóng góp đáng kể cho sự tăng trƣởng nền kinh tế quốc dân của huyện.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm giải quyết công ăn việc làm cho nhân dânđã
đƣợc ban lãnh đạo huyện thƣờng xuyên quan tâm và chỉ đạo đúng hƣớng,
chuyển dịch theo hƣớng tích cực, các ngành công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp, dịch vụ, thƣơng mại đều tăng về giá trị và tỷ trọng trong cơ cấu GDP.
24
Lĩnh vực nông lâm ngƣ nghiệp tăng về giá trị nhƣng giảm về tỷ trọng trong cơ
cấu GDP (bảng 1.1).
Bảng 1.1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 2000 - 2010
TT
Đ.V.T Năm 2000
Chỉ tiêu
Năm 2005
Năm 2010
1
Cơ cấu GDP
%
100
100
100
2
Nông - Lâm - Thuỷ sản
%
55
48,4
35
%
20
24,6
31,7
%
25
27
33,3
3
4
Công nghiệp - TTCN - XDCB
Thƣơng mại - Dịch vụ
(Nguồn:Huyện ủy huyện Triệu Sơn) [38, tr. 9]
* Thực trạng kinh tế nông nghiệp huyện Triệu Sơn trước năm 2001
Triển khai thực hiện đƣờng lối CNH, HĐH của Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ VIII tháng 5 - 1996, Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa tiến hành Đại hội lần thứ
XIV, tổng kết 10 năm đổi mới, đề ra chủ trƣơng, giải pháp tiến hành CNH,
HĐH quê hƣơng Thanh Hóa. Đại hội xác định các giải pháp cơ bản: “Chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn, phát triển công
nghiệp và thủ công nghiệp nhanh, mạnh, vững chắc, phát huy tiềm năng lợi
thế của mỗi vùng, tạo ra cơ cấu kinh tế hợp lý, đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ
tầng kinh tế - xã hội, mở rộng thương mại, dịch vụ và du lịch, huy động vốn,
sử dụng công nghệ tiến bộ, tiếp tục đổi mới quan hệ sản xuất” [6, tr. 22].
Triển khai thực hiện đƣờng lối CNH, HĐH của Đảng trong điều kiện cụ
thể của huyện, tháng 3 - 1996, Đảng bộ huyện Đại hội lần thứ XIII đánh giá
những thành tựu đạt đƣợc, chỉ ra những khó khăn, hạn chế cần khắc phục, xác
định phƣơng hƣớng, nhiệm vụ, mục tiêu, giải pháp phấn đấu trong những năm
1996 - 2000. Đại hội chỉ rõ “Cơ cấu kinh tế biến đổi chậm và chưa thoát khỏi
25