Tải bản đầy đủ (.doc) (21 trang)

De cuong ôn thi môn triết cao học 2013

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (231.89 KB, 21 trang )

1

Câu 1: Trình bày sự khác nhau giữa Triết học Phương Đông và Triết học Phương Tây? (4 điểm)
* Giống nhau: Đều là những tư tưởng, nội dung thể hiện quan niệm của con người về tự nhiên, XH
và con người. Đều được hình thành và phát triển trên những điều kiện lịch sử tương ứng (nó quy định nội
dung triết học). Đều đề cập đến các lĩnh vực căn bản của triết học như đều có những quan niệm về thế
giới, con người, chính trị - xã hội…
* Khác nhau:
Triết học là một hình thái ý thức xã hội, là sự phản ánh tồn tại của xã hội và đặc biệt sự tồn tại này
ở xã hội phương Đông khác hẳn với phương Tây về cả điều kiện tự nhiên, địa lý, dân số, phương thức của
sản xuất khác nhau do đó triết học phương đơng và triết học phương tây có những điểm khác biệt nhau:
- Thứ nhất: TH phương tây là triết học hướng ngoại còn triết học phương đông là TH hướng nội.
TH Phương đông do xuất phát từ “thiên nhân hợp nhất” nên lấy con người làm đối tượng nghiên
cứu chủ yếu – tính chất hướng nội. Nhưng ngược lại triết học phương Tây lại đặt trọng tâm nghiên cứu
vào thế giới – tính chất hướng ngoại; còn vấn đề con người chỉ được nghiên cứu để giải thích thế giới.
Cho nên phương Tây bàn đậm nét về bản thể luận của vũ trụ.
Ngay trong vấn đề con người phương Đông cũng quan niệm khác phương Tây:
Ở Phương Đông người ta đặt trọng tâm nghiên cứu mối quan hệ người với người và đời sống tâm
linh, ít quan tâm đến mặt sinh vật của con người, chỉ nghiên cứu mặt đạo đức thiện hay ác theo lập trường
của giai cấp trống trị cho nên nghiên cưú con người khơng phải là để giải phóng con người mà là để cai
trị con người.
Ở Phương Tây họ lại ít quan tâm đến mặt xã hội của con người, đề cao cái tự nhiên – mặt sinh vật
trong con người, chú ý giải phóng con người về mặt nhận thức, không chú ý đến nguyên nhân kinh tế – xã
hội, cái gốc để giải phóng con người.
- Thứ 2: TH phương Đông nhấn mạnh sự thống nhất trong mối quan hệ giữa con người với tự
nhiên “thiên nhân hợp nhất” (con người gắn bó với tự nhiên). Triết học phương Tây lại tách con người ra
khỏi tự nhiên, coi con người là chủ thể độc lập để nghiên cứu chinh phục tự nhiên.
- Thứ 3: Cuộc đấu tranh giữa CNDV và CNDT ở phương đông không rõ rang, các tư tưởng duy
vật và duy tâm thường đan xen trong hệ thống triết học còn phương tây cuộc đấu tranh giữa CNDV và
CNDT diễn ra gay gắt suốt các giai đoạn lịch sử.
- Thứ 4, ở phương Đông triết học ít khi tồn tại dưới dạng thuần tuý mà thường đan xen với các


hình thái ý thức xã hội khác đặc biệt là tôn giáo; triết học và tôn giáo gắn bó chặt chẽ với nhau, triết học
chịu sự ảnh hưởng nhiều của tơn giáo. Cịn triết học phương tây thì triết học và tơn giáo tách biệt nhau.
- Thứ 5, Phương Đông triết học phát triển theo lối trầm tích cịn triết học phương tây phát triển
theo hướng liên tục, ln có những trường phái mới trên cơ sở phê phán cái cũ, phủ định cái cũ.
Ở Ấn độ, cũng như Trung quốc các trường phái có từ thời cổ đại vẫn giữ nguyên tên gọi cho tới
ngày nay (từ thế kỷ VIII – V trước công nguyên đến thế kỷ 19).
Ngược lại ở phương Tây lại có điểm khác biệt. Ở mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ, bên cạnh các trường
phái cũ lại có những trường phái mới ra đời có tính chất vạch thời đại như thời cố đại bên cạnh trường
phái Talét, Hêraclit... đến Đêmôcrit rồi thời đại khai sáng Pháp, CNDV ở Anh, Hà lan, triết học cổ điển
Đức
- Thứ 6 khác nhau về hình thức phạm trù:
Về bản thể luận: Phương Tây dùng thuật ngữ “giới tự nhiên”, “bản thể”, “vật chất”. Còn ở
phương Đông lại dùng thuật ngữ “thái cực” đạo sắc, hình, vạn pháp,... hay ngũ hành: Kim, Mộc, Thuỷ,
Hoả, Thổ... Để nói về bản chất của vũ trụ đặc biệt là khi bàn về mối quan hệ giữa con người và vũ trụ thì
phương Tây dùng phạm trù khách thể – chủ thể; con người với tự nhiên, vật chất với ý thức, tồn tại và tư
duy. Cịn phương Đơng lại dùng Tâm – vật, năng – sở, lí – khí, hình – thần. Trong đó hình thần là những
phạm trù xuất hiện sớm và dùng nhiều nhất.
Nói về tính chất, sự biến dổi của thế giới: phương Tây dùng thuật ngữ “biện chứng” siêu hình,
thuộc tính, vận động, đứng im nhưng lấy cái đấu tranh cái động là chính. Đối với phương Đông dùng
thuật ngữ động – tĩnh, biến dịch, vơ thường, thường cịn, vơ ngã và lấy cái thống nhất, lấy cái tĩnh làm
gốc.
Khi diễn đạt về mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng trên thế giới thì phương Tây dùng thuật
ngữ “liên hệ”, “quan hệ” “quy luật”. Cịn phương Đơng dùng thuật ngữ “đạo” “lý” “mệnh” “thần”.
- Thứ 7: Khác nhau về phép biện chứng: triết học phương đơng là nhịp nhàng, tuần hồn đều cịn
triết học phương tây là đi lên khơng ngừng theo hình xoắn ốc.
1


2


- Thứ 8: Triết học phương đông gắn với khoa học tự nhiên khơng rõ rệt cịn triết học phương tây
gắn với khoa học tự nhiên rõ rệt hơn.
Ở phương Đơng thì triết học thường ẩn dấu đằng sau các khoa học.
Ở phương Tây ngay từ thời kỳ đầu triết học đã là một khoa học học độc lập với các môn khoa học
khác mà các khoa học lại thường ẩn dấu đằng sau triết học. Và thời kỳ Trung cổ là điển hình: khoa học
muốn tồn tại phải khốc áo tơn giáo, phải tự biến mình thành một bộ phận của giáo hội.
- Thứ 9, Sự phân chia trường phái triết học cũng khác:
Ở phương Đông đan xen các trường phái, yếu tố duy vật, duy tâm biện chứng, siêu hình khơng rõ
nét.
Ngược lại triết học phương Tây thì sự phân chia các trường phái rõ nét hơn và các hình thức tồn
tại lịch sử rất rõ ràng như duy vật chất phác thô sơ đến duy vật siêu hình rồi đến duy vật biện chứng.
- Thứ 10, Tuy cả triết học phương Đông và phương Tây đều nhằm giải quyết vấn đề cơ bản của
triết học nhưng phương Tây nghiêng nặng về giải quyết mặt thứ nhất còn mặt thứ hai chỉ giải quyết
những vấn đề có liên quan. Ngược lại ở phương Đông nặng về giải quyết mặt thứ hai cho nên dẫn đến hai
phương pháp tư duy khác nhau.
Phương Tây đi từ cụ thể đến khái quát cho nên là tư duy tất định – tư duy vật lý chính xác nhưng
lại khơng gói được cái ngẫu nhiên xuất hiện.
Cịn phương Đơng đi từ khái qt đến cụ thể bằng các ẩn dụ triết học với những cấu cách ngơn,
ngụ ngơn nên khơng chính xác nhưng lại hiểu cách nào cũng được, nó gói được cả cái ngẫu nhiên mà
ngày nay khoa học gọi là khoa học hỗn mang – dự báo.(...)

2


3

Câu 2: Trình bày cuộc đấu tranh giữa CNDV và CNDT trong các giai đoạn Triết học trước Mác?
(4 điểm) (Nếu câu hỏi trình bày cuộc đấu tranh giữa CNDV và CNDT trong giai đoạn triết học Hy
Lạp cổ đại thì chỉ trình bày phần 1)
. Căn cứ vào việc giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học đã chia triết học thành 2 trường

phái:CNDV và CNDT. Trong lịch sử triết học luôn diễn ra cuộc đấu tranh giữa CNDV và CNDT
- CNDV: là những người cho rằng vật chất giới tự nhiên là cái có trước và quyết định ý thức con
người; học thuyêt của họ hợp thành các môn phái khác nhau của CNDV.
- CNDT: là những người cho rằng ý thức, tinh thần có trước giới tự nhiên,học thuyêt của họ hợp
thành các mơn phái khác nhau của CNDT.
Để tìm hiểu cuộc đấu tranh của Chủ Nghĩa Duy Vật và Chủ Nghĩa Duy Tâm chúng ta có thể đi
qua một số giai đoạn và một số nhân vật tiêu biểu ở những thời kỳ nhất định và cuộc đấu tranh giữa
chúng.
1. Cuộc đấu tranh giữa CNDV và CNDT trong giai đoạn triết học Hy Lạp cổ đại:
Chủ nghĩa duy vật gắn với bộ phận chủ nơ q tộc cịn chủ nghĩa duy tâm gắn với chủ
nô dân chủ
Triết gia tiêu biểu như Talet, Anaximen, Pitago, Dênon, Socrate, Đêmôcrit, Platon, Anatago. Am pê
đốc lơ hay Ê pi crát .v.v...
Cuộc đấu tranh giữa Chủ Nghĩa Duy Vật và Chủ Nghĩa Duy Tâm thời kỳ này là cuộc đấu tranh
giữa trường phái Duy Vật của Đêmôcrit và Duy Tâm của Platon là tiêu biểu và điển hình hơn cả.
Đêmơcrit (460-370 TCN) là “một trong những nhà Duy Vật lớn của thời kỳ cổ đại chiếm vị trí nổi
bật trong triết học Duy Vật Hy Lạp cổ đại” ơng đã có q trình tích luỹ kiến thức qua việc đi qua các
nước ở phương đông, Babilon, là người am hiểu rất nhiều lĩnh vực. Platon là đại diện cho trường phái
Duy tâm, ông là người đầu tiên xây dựng hệ thống hoàn chỉnh cảu Chủ Nghĩa Duy Tâm khách quan đối
lập với thế giới quan Duy Vật. Ông là người đã tiến hành đấu tranh gay gắt chống lại Chủ Nghĩa Duy Vật
đặc biệt là chống lại những đại biểu của Chủ Nghĩa Duy Vật thời bấy giờ như Hê ra crít hay Đêmơcrit.
- Về bản thể luận
:+ Đêmôcrit: Đứng trên lập trường duy vật vô thần, ông cho rằng khởi nguyên của thế giới là nguyên tử,
là dạng vậtchất nhỏ nhất, không thể phân chia được nữa, nó là cơ sở của thế giới, của sự vật hiện tượng.
Nguyên tử nàykhông màu, không mùi, không vị, khơng nóng, khơng lạnh, nó khơng khác nhau về chất,
nó chỉ khác nhau về hìnhdáng, về cấu tạo, về tư thế sắp xếp và các nguyên tử này luôn luôn vận động
trong chân không. Các sự vật hiện tượng khác nhau là do sự liên kết giữa các nguyên tử có hình dáng
khác nhau, tư thế khác nhau, cấu tạo khác nhau.Các ngun tử vận động khơng ngừng và chính sự đa
dạng của các nguyên tử tạo nên sự đa dạng của thế giới sựvật và sự hình thành của vũ trụ+ Đối lập với
Democrit,

+Platon: Đứng trên lập trường duy tâm, ông khẳng định rằng bản nguyên của thế giới là“thế giới ý niệm”,
thế giới ý niệm tồn tại một cách chân thật, vĩnh cửu và bất biến. Ông chia thế giới thành hai bộ phận là
thế giới ý niệm và thế giới vật cảm tính. Thế giới ý niệm là thế giới có trước và sinh ra thế giới vật
cảmtính. Thế giới vật cảm tính là thế giới khơng chân thật, không đúng đắn và luôn luôn thay đổi, là thế
giới có sau vàlà cái bóng của thế giới ý niệm.
- Về con người:
+ Đêmôcrit bác bỏ quan niệm thần thánh sinh ra con người. Ông cho rằng con người xuất hiện trên trái
đất là kếtquả của sự tiến hóa tự nhiên và linh hồn được cấu tạo từ nguyên tử.
+ Platon thì cho rằng con người gồm thể xác và linh hồn tồn tại độc lập với nhau. Trong đó thể xác được
tạo thànhtừ đất, nước, lủa và khơng khí cịn linh hồn do Thượng đế tạo ra và nó là bất tử, tồn tại vĩnh
hằng.
- Về nhận thức luận:
+ Đêmôcrit chia nhận thức thành hai dạng: nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính. Nhận thức cảm tính
là dạngnhận thức mờ tối, do giác quan đem lại. Nhận thức lý tính là dạng nhận thức thơng qua những
phán đốn logic, làdạng trí tuệ. Ơng đã thấy được mối quan hệ giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý
tính và ơng chỉ ra phải bằngnhận thức lý tính thì con người mới phát hiện được ngun tử tức là nguồn
gốc của thế giới.
+ Platon cho rằng nhận thức cảm tính có sau nhận thức lý tính nên ông cho rằng nhận thức là sự hồi tưởng
củalinh hồn về thế giới ý niệm có trước vật chất. Ông cho rằng nhận thức cảm tính chỉ là sự nhận thức cái

3


4

bóng của ýniệm, chỉ cho ta những quan niệm, chứ khơng phải là tri thức chân thực. Chỉ có nhận thức lý
tính, tức nhận thứckhái niệm mới đạt đến tri thức chân thực.
- Về chính trị - xã hội
+ Đêmơcrit đứng trong lập trường của phái chủ nô dan chủ, kịch liệt chống lại phái chủ nơ q tộc. Ơng
ra sức bảo vệ và tuyên truyền cho chế độ dân chủ của chủ nơ trong đó thể hiện quyền lợi của mình gắn

liền với sự phát triển ngày càng một mạnh mẽ của thương mại và cơng nghiệp. Ơng đề cao, ca ngợi cổ vữ
cho tình thân ái, tính ơn hồ lợi ích chung và quyền lợi chung của cơng dân tự do. Theo ơng “ cần phải ưa
thích cái nghèo trong một Nhà nước dân chủ hơn so với cái gọi là cuộc sống hạnh phúc trong chế độ
chuyên chế tựa như là tự do tốt hơn nô lệ” (3). Đương nhiên là do xuất thân từ tầng lớp chủ nơ dân chủ
Đe mo-rít chỉ đề cập đến nền dân chủ của chủ nơ, cịn bản thân nơ lệ thì cũng như các nhà tư tưởng khác,
ơng cho rằng phải biết tn theo người chủ nơ.
Ơng đề cao Nhà nước, chính Nhà nước đóng vai trị duy trì trật tự và điều hành xã hội. Theo Đe
mo-crít cần phải trừng trị nghiêm khắc những kẻ vi phạm pháp luật hay chuẩn mực đạo đức nào đó.
Phương châm tư tưởng của Đe mo-crít là thà sống nghèo khổ cịn hơn là giàu có nhưng mất tự do dân
chủ. Mục tiêu của con người là sống hạnh phúc nhưng hạnh phúc khơng đơn thuần chỉ là giàu có. Ơng
khẳng định hạnh phúc là sự thanh thản trong tâm hồn và được tự do. Chỉ có người biết bằng lịng với sự
hưởng lạc vừa phải thì mới được hạnh phúc.
+ Cịn Platon: ông đề cao vai trò của chế độ quý tộc đứng trên lập trường của phái chủ nô quý tộc chống
lại chế độ dân chỉ tiến bộ của xã hội. Ông cho rằng linh hồn gồm các bộ phận lý tính, ý chí và cảm tính
trong xã hội có các hạng người tương ứng với các bộ phận của linh hồn. Lý tính là cơ sở của các đức tính
cao cả chỉ có được ở những nhà triết học, các nhà thơng thái ; ý chí là cơ sở của đức tính can đảm. Nó thể
hiện ở trong những người lính, những chiến binh. Cảm tính là cơ sở của các đức tính thận trọng. Đức tính
này thường có ở những người dân tự do, những người thợ thủ công. Platon đặc biệt miệt thị nô lệ. Theo
ông nô lệ không phải là người mà chỉ là động vật biết nói, khơng có đạo đức.
Platon chủ trương duy tri các hạng người trong xã hội, cũng có nghĩa là duy trì sự bất bình đẳng
giữa mọi người. Nhà nước ra đời là để đáp ứng những nhu cầu đó. Theo Platon hình thức cộng hồ là
“Nhà nước lý tưởng”. Trong đó quyền thống trị tuyệt đối về tầng lớp chủ nơ q tộc. Nhà nước, đó là
hiện thân của cả ba đức tính đó là thơng thái, can đảm và thận trọng. Trong “Nhà nước lý tưởng”, ông
chia xã hội ra thành 3 đẳng cấp dựa vào đặc trưng đạo đức. Đẳng cấp thứ nhất là các nhà triết học, các
nhà thơng thái, giữ vai trị lãnh đạo xã hội ; đẳng cấp thứ hai là quân nhân có trách nhiệm bảo vệ “Nhà
nước lý tưởng”; đẳng cấp thứ ba là dân lao động tự do, thợ thủ công và những người tự do khác làm ra
sản phẩm nuôi sống Nhà nước.
Như vậy, chúng ta thấy ngay từ khi ra đời triết học Hy Lạp cổ đại đã xảy ra cuộc đấu tranh mạnh
mẽ giữa Chủ Nghĩa Duy Vật và Chủ Nghĩa Duy Tâm mà đại biểu tiêu biểu nhất là Đe mo-crít của phái và
Platon của phái duy tâm.

Có thể thấy rằng ngay từ thời cổ đại nhận thức của con người tuy còn nhiều hạn chế song giữa
Chủ Nghĩa Duy Vật và Chủ Nghĩa Duy Tâm đã hình thành nên cuộc đấu tranh gay gắt không thể điều hoà
được về mọi mặt trong xã hội .
2. Cuộc đấu tranh giữa CNDV và CNDT thời kỳ trung đại
Chủ nghĩa kinh viện ra đời đã trở thành nét đặc trưng của triết học Tây Âu thời trung cổ. Chủ
nghĩa kinh viện là triết học chính thức chiếm độc quyền giảng dạy trong nhà trường. Triết học này khi ra
đời là đã xác định nhiệm vụ: “Đầy tớ của thần học và bảo vệ trật tự phong kiến”. Vấn đề này được các
nhà kinh viện quan tâm nhất đó là mối quan hệ giữa “cái chung” và “cái riêng”, cái nào có trước cái nào
có sau. Cuộc đấu tranh giữa các quan điểm khác nhau kéo dài vào thế kỷ và phân chia thành hai phái
“phái duy danh” và “phái cuy thực”. Đây là cuộc đấu tranh xuyên suốt toàn bộ lịch sử triết học Tây Âu
thời trung cổ.
Phái duy thực cho rằng cái chung cái phổ biến các khái niệm chung là tồn tại thực là cái có trước.
Nó là một thực thể tinh thần không phụ thuộc vào sự vật cụ thể. Phái duy thực lấy triết học Platon làm cơ
sở lý luận và phái này về sau họ cịn dựa vào học thuyết “ hình thức của Đrít xtốt. Chẳng hạn con người
nói chung là sự tồn tại ý niệm về con người. Từ đó, nó quyết định sự tồn tại của con người đơn nhất.
Phái duy danh quan niệm rằng cái chung, khái niệm cái chung cái phổ biến không tồn tại thực,
không độc lập với con người. Nó chỉ là những tên gọi đơn giản mà con ngưới sáng tạo ra. Khơng có “con
người” hay “cái nhà” nói chung mà chỉ có con người hay cái nhà tồn tại thực.

4


5

Cuộc đấu tranh giữa hai trường phái trên là sự thể hiện hai khuynh hướng đối lập nhau trong lịch
sử triết học : Chủ Nghĩa Duy Tâm và Chủ Nghĩa Duy Vật. ẩn dấu đằng sau cái vỏ thần học là sự tồn tại
khách quan mà con người có thể cảm nhận được, là biểu hiện của phái duy danh. Trái lại, nhận thức, tư
tưởng, khái niệm có trước sự vật là biểu hiện của phái duy thực. Như vậy chúng ta có thể dễ dàng nhận
thấy các nhà triết học duy danh gần gũi với Chủ Nghĩa Duy Vật còn các nhà triết học duy thực là biểu
hiện của Chủ Nghĩa Duy Tâm. Như vậy cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy thực với chủ nghĩa duy danh ở

triết học Tây Âu thời trung cổ thực chất là cuộc đấu tranh giữa Chủ Nghĩa Duy Vật và Chủ Nghĩa Duy
Tâm. Mặc dù vậy trong thời kỳ này Chủ Nghĩa Duy Tâm thắng thế nhờ sự ủng hộ của thiên chúa giáo và
kinh viện .
Trong thời kỳ trung cổ triết học Tây Âu có rất nhiều những đại biểu, đại diện cho cả hai phái duy
danh và duy thực. Và sau đây là quan điểm của một số đại biểu tiêu biểu nhất của cả hai phái.
- Tô Mát Đa Canh: Ông là đại biểu xuất sắc nhất của phái duy thực trong thời kỳ triết học trung cổ
Tây Âu. Học thuyết của ông được thiên chúa giáo coi là triết học chính thức của giáo hội thiên chúa.
Tơ Mát Đa Canh nghiên cứu nhiều lĩnh vực thần học, triết học, pháp quyền... với 18 quyển sách
trong tuyển tập của ông hợp thành bộ bách khoa toàn thư về hệ thông tư tưởng thông trị thời trung cổ
hưng thịnh. Tô Mát Đa Canh nghiên cứu mối quan hệ giữa triết học và thần học, giữa lý trí và niềm tin.
Ơng khẳng định rõ ràng nhưng lại không đối lập nhau thần học và triết học. Ranh giới đó thể hiện ở chỗ
nếu như đối tượng nghiên cứu của triết học là chân lý của lý trí thì đối tượng nghiên cứu của thần học là
chân lý của niềm tin. Nhưng theo ơng cả hai đều có một đối tượng chung đó là thượng đế. Chúng khơng
hề đối lập với nhau nhưng cuối cùng Tô Mát Đa Canh lại hạ thấp triết học và ơng nâng cao vai trị và vị
trí của thần học. Ông quan niệm rằng triết học chỉ là tôi tớ phục vụ cho thần học mà thôi. Ơng nói rằng
“khơng phải mọi chân lý của niềm tin tơn giáo đều có thể đạt được bằng sự chứng minh hợp lý”. Chân lý
tôn giáo không phải là điểm yếu mà triết học dễ thâm nhập vào được bởi vì trí tuệ của con người là có hạn
và thấp hơn sự anh minh của thượng đế.
- Quan điểm duy tâm thần bí cịn được thể hiện trong nghiên cứư giới tự nhiên. Ơng cịn cho rằng
tồn bộ giới tự nhiên cùng trật tự của nó đều được quyết định bởi sự thông minh của thượng đế đều trải
qua sự hợp lý hoá của thượng đế bởi thượng đế là mục đích tối cao và là quy luật vĩnh viễn đứng trên mọi
cái và quyết định mọi cái.
- Khi giải quyết vấn đề bản chất của cái chung thì Tơ Mát Đa Canh theo chủ nghĩa duy thực ơn
hồ (có sự dung hoà với chủ nghĩa duy danh).
Về lý luận nhận thức: ơng chịu ảnh hưởng của học thuyết hình dạng của Arit xtốt. Theo Tô Mát
Đa Canh mọi nhận thức đều diễn ra chủ thể tiếp thu khách thể nhưng không phải mọi sự nhận thức của
khách thể đều được tiếp nhận mà chỉ tiếp nhận những hình ảnh của khách thể tức là hình dạng của nó mà
thơi bởi bản thân khách thể khi gia nhập vào tinh thần của cái nhận thức (chủ thể) thì cái được nhận thức
bị mất đi tính vật chất của mình và chỉ tồn tại với tư cách là hình dạng tức là hình ảnh của nhận thức.
- Về sự tiếp nhận xã hội Tô Mát Đa Canh ca ngợi chế độ bất bình đẳng và trật tự đẳng cấp trong

xã hội. Ông cho rằng cuộc sống trần thế chỉ là tạm thời, là sự chuẩn bị cho cuộc sống tương lai vĩnh viễn
ở thế giới bên kia. Ông là người theo chủ nghĩa quân chủ cho nên ông cho rằng quốc vương khơng chỉ là
người điều khiển mà cịn là người sáng tạo ra thế giới. Nhưng quốc vương cũng là người của đức chúa
Giê-su, thực hiện mọi yêu cầu của nhà thờ và trừng phạt một cách dã man những người tà đạo bởi vì nhà
thờ là tối cao. Đối lập với quan điểm duy thực của Tô Mát Đa Canh là quan điểm duy danh luận của Đơn
xcốt, đại biểu xuất sắc của phái duy danh thời kỳ trung cổ.
Đơn xcốt sinh ra ở nước Anh. Ông là một nhà duy danh luận rất nổi tiếng, ông sống ở thế kỷ XIII
Khi giải quyết vấn đề mối quan hệ giữa thần học và triết học ông cho rằng đối tượng của thần học
là thượng đế còn đối tượng của triết học là tồn tại khách quan. Ông đề cao vai trị lịng tin tơn giáo hơn so
với lý trí bởi vì lý trí chỉ nhận thức được tồn tại cịn thượng đế là tối cao vơ tận, phi vật chất, là lịng tin
khơng thể nhận thức được.
Xuất phát từ thế giới quan của những nhà duy danh luận, ông cho rằng cái chung không chỉ là sản
phẩm của tư duy mà còn là cơ sở trong bản thân sự vật. Cái chung tồn tại trong sự vật với tính cách là bản
chất vừa tồn tại sau sự vật bởi tính cách là khái niệm trừu tượng hố trong tư duy tách khỏi bản chất của
sự vật.
Về lý luận nhận thức Đơn xcốt nhấn mạnh yếu tố tinh thần và cho rằng, nó là hình thức của thân
thể con người, gắn bó thân thể con người mới sinh ra. Yếu tố tinh thần tuy có sức mạnh to lớn nhưng phụ
thuộc vào đối tượng nhận thức. Xuất phát từ yếu tố tinh thần và đối tượng nhận thức mà tri thức con
5


6

người hình thành. Ơng cũng dề cập đến vai trị của lý trí và ý chí. ý chí cao hơn lý trí và thống trị mọi
dạng hoạt động của con người. ở thượng đế ý chí trở thành tự do.
Khi giải quyết vấn đề cái chung thì Đơn xcốt cho rằng cái chung không phải là sản phẩm của lý trí
mà nó nằm ngay trong chính bản thân các sự vật. Nó vừa tồn tại trong các sự vật như là bản chất của
chúng lại vừa tồn tại sau các sự vật. Với tư cách là những khái niệm được lý trí con người trừu tượng hố,
khái qt hố khỏi các sự vật riêng lẻ.
Như vậy trong học thuyết của mình Đơn xcốt đứng về phía thần học và cho rằng triết học khơng

xuất phát từ ý chí của thượng đế nên triết học không thể chứng minh được bản chất của thượng đế, sự
sáng tạo ra thế giới. Mặc dù vẫy những cống hiến của Đơn xcốt đã đưa ông lên vị trí là nhà duy danh
luận nổi tiếng nhất thời trung cổ.
3. Cuộc đấu tranh giữa CNDV và CNDT thời kỳ cận đại
Cuộc đấu tranh giữa Chủ Nghĩa Duy Vật và Chủ Nghĩa Duy Tâm thời lỳ này diễn ra gay gắt. ở
thời kỳ này Chủ Nghĩa Duy Vật là thế giới quan của giai cấp tư sản, giai cấp tiến bộ đang trong quá trình
đấu tranh để hình thành phương thức sản xuất của mình. Cịn Chủ Nghĩa Duy Tâm là thế giới quan của
tôn giáo, giai cấp quý tộc, phong kiến, giai cấp lạc hậu và phản động đang ra sức kéo dài cơn hấp hối của
mình.
Để thấy rõ được sự đấu tranh giữa Chủ Nghĩa Duy Vật và Chủ Nghĩa Duy Tâm thời kỳ này chúng
ta có thể tìm hiểu thơng qua một số triết gia tiêu biểu như Bru nô,Galiê, Bê cơn, Hôp pơ, Đê các tơ, Xpi
nô đa, Lốc cơ, Béc cơ li, Hium....
Brunơ(1548-1600):
Ơng là một đại diện xuất sắc của chủ nghĩa duy vật vô thần.
Phạm trù trung tâm của triết học Brunô là cái duy nhất(UNO) được ông lấy từ phái Platon mới và
diễn giải dưới ngôn ngữ tự nhiên thần luận của mình. UNO chính là thượng đế tồn tại dưới dạng tự nhiên.
Nó là một thế giới độc lập không được tạo ra và cũng không bị tiêu diệt. Nó tồn tại vĩnh viễn. Ơng đồng
nhất thượng đế với tự nhiên nhưng ông chỉ thừa nhận thượng đế trên danh nghĩa và điều đó được thể hiện
rõ khi ơng quan niệm cái duy nhất là giới tự nhiên thượng đế chứ không phải người. Theo ông mọi sinh
vật chỉ là một dạng biểu hiện của cái duy nhất. Các sự vật biến đổi khơng ngừng, tức là có sinh ra tồn tại
và mất đi nhưng cái duy nhất lại là bất biến.
Trong triết học của Brunơ có chứa nhiều yếu tố biện chứng của thời cổ đại. Ông cho rằng UNO là
sự thống nhất giữa các mặt đối lập như cực đại, cực tiểu cái tối thiểu và cái tối đa, tính thống nhất và tính
nhiều vẻ, khả năng và hiện thực, cái yêu đi liền với cái ghét, thuốc chữa bệnh đồng thời là cái giết người.
Cái duy nhất là tất cả đồng thời cũng khơng là gì cả, nó tồn tại trong mọi cái đồng thời cũng không ở đâu
cả.
Tư tưởng biện chứng của Brunô đã vượt xa các nhà triết học Hy Lạp cổ đại. Vì ông đã dựa trên
thành tựu của toán học và cơ học của thời đại mình. Theo ơng trong cái duy nhất vật chất và hình dạng
khơng có “ vật chất đầu tiên” hay “hình dạng thuần túy” như quan niệm của Arit xtốt được ông cho rằng
vật chất phải là cái tích cực, cái cổ nhất là thực tế của mọi vật cịn hình dạng phải là hình dạng của vật

chất.
Ơng khẳng định tính thống nhất của thế giới và tính vơ cùng, vơ tận của nó. Ơng quan niệm rằng
mọi sinh vật đều nằm trong vũ trụ và vũ trụ nằm trong tất thảy mọi vật. Chúng ta ở trong vũ trụ và vũ trụ
nằm trong chúng ta hay ông còn khẳng định vũ trụ là một thể bao gồm vơ vàn các hành trình trong đó trái
đất hay mặt trời thì cũng chỉ là một trong những hành tinh ấy vì vậy khơng có hành tinh nào là trung tâm
của vũ trụ theo nghĩa tuyệt đối của nó cả.
Brunơ cịn xây dựng học thuyết đơn tử. Theo học thuyết này, tất cả nói chung cả vũ trụ đều được
cấu tạo từ các đơn tử.
Về nhận thức luận: Brunô cho rằng đối tượng của nhận thức là giới tự nhiên và ơng đánh giá thấp
vai trị của nhận thức cảm tính. Theo ơng hạn chế lớn nhất của cảm tính là khơng thấy được cái vơ cùng
hay, vơ cùng không phải là đối tượng của cảm giác, ông đề cao vai trị của trí tuệ con ngườivà chỉ thừa
nhận một chân lý do triết học và khoa học đem lại. Theo ông con đường nhận thức phải từ cảm giác đến
lý trí và cuối cùng là trí tuệ.
Qua những quan điểm của Brunô ta thấy rằng ông là một đại diện tiêu biểu của Chủ Nghĩa Duy
Vật thời kỳ này chống lại Chủ Nghĩa Duy Tâm. Ơng đã khơng ngừng tuyên truyền các tư tưởng khoa học
và Chủ Nghĩa Duy Vật triết học và do hoảng sợ toà án giáo hội đã thiêu sống ông. Đây là bằng chứng cho
thấy cuộc đấu tranh gay gắt giữa Chủ Nghĩa Duy Vật và Chủ Nghĩa Duy Tâm thời kỳ này.
6


7

Phran xi Bê cơn(1561-1627) :
Ông là người dáng lập ra triết học Duy Vật Anh Bê cơn thừa nhận sự tồn tại khách quan của vật
chất. Bê cơn là người phê phán gay gắt chủ nghĩa kinh viện, coi chủ nghĩa kinh viện chỉ là vơ ích, chỉ là
những lập luận trừu tượng khơng có nội dung, khoa học mới sẽ đem lại sức mạnh cho con người trong
việc chinh phục thế giới tự nhiên. Để đạt được điều đó nhận thức khoa học phải dựa trên các sự kiện và từ
đó khái quát thành những lý luận, phương pháp quy nạp dựa trên các quan sát, phân tích, so sánh thực
nghiệm là phương pháp chủ yếu để nhận thức chân lý. Song để có được phương pháp trước hết phải loại
bỏ những “nhầm lẫn” cản trở côn đường nhận thức như “ nhầm lẫn của chúng tôi”, nhầm lẫn của hang

động.
Bê cơn là người đã đưa ra được các quan điểm duy vật. Ông quan niệm rằng vật chất là tổng hợp
của các hạt và cho rằng giới tự nhiên là tổng hợp của các vật thể đa dạng về chất, cũng đa dạng và là
thuộc tính khơng tách rời của vật chất. Những tư tưởng Duy Vật của Bê cơn có ý nghĩa chống lại Chủ
Nghĩa Duy Tâm và tôn giáo. Các Mác viết: “ ở Bê cơn con người đầu tiên sáng tạo ra Chủ Nghĩa Duy Vật
cịn che dấu dưới những hình thức ngây thơ, những mầm mống của sự phát triển mọi mặt. Vật chất mỉm
cười với toàn bộ con người trong vẻ lộng lẫy của cái cảm tính nên thơ của nó”.(4)
Song Chủ Nghĩa Duy Vật của Bê cơn là siêu hình và khơng triệt để. Ông là người quá nhấn mạnh
đến phương pháp quy nạp, đề cao phân tích. Tuy chống lại chủ nghĩa kinh viện nhưng ông lại thừa nhận
tồn tại của thượng đế, thừa nhận lý luận về chân lý hai mặt.
Ơng khơng giám cơng khai xung đột với tơn giáo. Đó chính là sự thể hiện tính khơng triệt để của
Chủ Nghĩa Duy Vật của ông. Mặc dù triết học Duy Vật Bê cơn cũng giáng một đòn rất mạnh vào uy tín
của giáo hội và tơn giáo, thể hiện sự đấu tranh mạnh mẽ của Duy Vật với Duy Tâm.
Tô Mát Hốpxơ(1588-1679):
Hốp xơ là người tiếp tục phát triển tư tưởng Duy Vật trong triết học của Bê cơn. Ông là nhà triết
học nổi tiếng, là đại biểu xuất sắc của Chủ Nghĩa Duy Vật Anh thế kỷ XVII. Hốp xơ là người đã hệ thống
hoá Chủ Nghĩa Duy Vật của Bê cơn và ông đã tiếp tục cuộc đấu tranh của Bê cơn cho thế giới quan khoa
học và Duy Vật. Hốp xơ đã tiến hành cuộc đấu tranh rất gay gắt chống lại Chủ Nghĩa Duy Tâm và thần
học. Ơng cho rằng khơng có gì khác ngồi sợ hãi và ngu dốt sinh ra tơn giáo. Ơng chia triết học ra thành “
Triết học tự nhiên” và “Triết học thơng thường” ở mức độ nào đó ơng đã đồng nhất đối tượng của triết
học với đối tượng của khoa học cụ thể. Tuy nhiên cách đặt vấn đề của Hốp xơ về đối tượng và nhiệm vụ
của triết học lại theo hướng tiến bộ nhằm chống lại Chủ Nghĩa Duy Tâm. Hốp xơ kiên quyết chống lại
chủ nghĩa kinh viện và tơn giáo. Ơng bác bỏ “chân lý hai mặt” của Bê cơn, ông phê phán học thuyết đấu
tranh của Đề các tơ về “ý niệm bẩm sinh” và phát triển cảm giác luận Duy Vật trong lý luận nhận thức.
Ông cho rằng cảm giác kinh viện là ngu ngốc, của mọi tri thức song ông cũng khơng coi nhẹ vai trị của
lý tính. Hốp xơ đã phát triển tư tưởng đúng đắn cho rằng cơ sở của nhận thức là tri giác, cảm tính nhưng
do hạn chế về mặt lịch sử, Hốp xơ vẫn chưa hiểu được mối quan hệ biện chứng giữa cảm tính và lý tính.
Khi nêu ra quan điểm về con người và Nhà nước Hốp xơ cho rằng con người là một thể thống
nhất giữa tính tự nhiên và tính xã hội. Tính tự nhiên làm cho con người đều giống nhau về thể xác và tinh
thần. Khi con người còn nằm trong trạng thái tự nhiên thì tính ích kỷ hung ác chiếm vị trí thống trị. Để

khắc phục trạng thái tự nhiên, con người đi tới thoả thuận, ký kết khế ước xã hội và “trạng thái tự nhiên”
chuyển sang “trạng thái xã hội”. Như vậy, Nhà nước là do nhân dân lập ra chứ khơng hề có nguồn gốc
thần thánh.
Hốp xơ là một nhà triết học vô thần mọi lĩnh vực siêu nhiên đều bị loại ra khỏi triết học của ơng.
Nhưng ơng khơng triệt để. Ơng quan niệm con người và Nhà nước đều cần tôn giáo. Con người cần tơn
giáo vì con người cần có lịng tin, mà tơn giáo thì đưa lại niềm tin. Cịn Nhà nước tơn giáo làm cái “đầy
trói buộc xã hội ”.
Rơ nê Đê Các tơ(1596-1660)
Nếu như Bê cơn và Hốp xơ chỉ ra phương pháp cơ bản của khoa học là phương pháp thực nghiệm,
kinh nghiệm về thế giới tự nhiên thì ngược lại Đê các tơ lại đề cao vai trị của lý tính.
Triết học của Đê các tơ là triết học nhị ngun luận điển hình vì ơng cho rằng có hai thực thể đầu
tiên tồn tại độc lập với nhau. Thực thể vật chất có quảng tính hình thành nên thế giới vật chất còn thực thể
tinh thần có tư duy tạo nên thế giới tinh thần. Như vậy học thuyết vật chất và tinh thần của Đê các tơ cho
thấy triết học của ông lẫn lộn giữa Chủ Nghĩa Duy Vật và Chủ Nghĩa Duy Tâm.
Chủ Nghĩa Duy Vật của ông thể hiện qua học thuyết tự nhiên. Ông coi vật chất là một thực thể
duy nhất là cơ sở duy nhất của tồn tại và nhận thức. Cũng như Bê cơn, Đê các tơ đề cao vai trò của tri
7


8

thức trong việc thống trị giới tự nhiên trong sự hoàn thiện bản thân con người. Để đạt được điều đó theo
ơng cần phải nghi ngờ tất cả mọi thứ. Ơng nói: “Tơi tư duy vậy tơi tồn tại” và ông cho đó là nguyên lý bất
di bất dịch. ý nghĩa của nguyên lý trên là ở chỗ nó rất tiến bộ, nó đề cao vai trị của lý trí. Nó phủ nhận tất
cả những gì mà ta mê tín. Nhưng nguyên lý ấy lại biểu hiện tính chất duy tâm. Vì ơng đã khơng nhận thấy
rằng khơng thể tìm thấy tiền đề xuất phát của nhận thứ ngay trong nhận thức mà phải tìm từ bản thân thực
tiễn xã hội.
Đê các tơ là người sáng lập ra chủ nghĩa duy lý. Chủ nghĩa duy lý của ông ở một mức độ khá lớn
có quan hệ với Chủ Nghĩa Duy Tâm bởi vì theo ơng lý trí của con người có “những tư tưởng bẩm sinh”
độc lập với kinh nghiệm.

Tuy nhiên qua học thuyết tự nhiên của ông cũng bộc lộ những tư tưởng duy tâm: ông chưa nhận
thấy được sự khác nhau về chất giữa thế giới sinh vật, coi cơ thể sống chỉ là một cỗ máy phức tạp. Ông
cho rằng sự khác biệt giữa con người và động vật là ở chỗ. Con người không chỉ là một cơ thể vật chất
mà còn là một thực thể có lý trí. Nhưng lí trí theo ơng khơng phụ thuộc vào quá trình vật chất.
4. Cuộc đấu tranh giữa CNDV và CNDT thời kỳ cổ điển Đức
Điển hình cho Chủ Nghĩa Duy Vật trong thời kỳ này ở Đức đó là Lút-vích Phơ-bách. Ơng có cơng
lao vĩ đại trong cuộc đấu tranh chống lại thần học. Ông là người đã giáng một đòn mạnh mẽ vào triết học
duy tâm của Hê-ghen và Chủ Nghĩa Duy Tâm nói chung.
Phơ-bách chứng minh rằng thế giới là vật chất: giới tự nhiên khơng do ai sáng tạo ra, nó tồn tại
độc lập với ý thức và không phụ thuộc vào bất cứ triết học nào. Do đó cơ sở tồn tại của giới tự nhiên nằm
ngay trong lòng của giới tự nhiên. Chống lại hệ thống duy tâm của triết học Hê-ghen, hệ thống coi tự
nhiên là “tồn tại khác” của tinh thần. Phơ-bách cho rằng triết học mới này phải có tính chất nhân bản, phải
kết hợp khoa học với tự nhiên. Nguyên lý nhân bản của triết học Phơ-bách xoá bỏ sự tách rời giữa tinh
thần và thể xác do triết học duy tâm và triết học nhị nguyên luận tạo ra. Mặt tích cực của nguyên lý nhân
bản của Phơ-bách là ở chỗ ông đấu tranh chống lại các quan niệm của tôn giáo và thần học cho rằng
thượng đế sáng tạo ra thế giới, cơn người. Ơng khẳng định rằng con người sáng tạo ra thượng đế. Ông
cho rằng con người luôn luôn hướng tới cái chân, cái thiện. Nghĩa là hướng tới những gì đẹp nhất trong
hình tượng đẹp nhất về con người. Nhưng trên thực tế con người khơng đạt được những mong muốn đó
nên đã gửi gắm tất cả những ước muốn của mình vào hình tượng thượng đế. Từ đó Phơ-bách đã phủ nhận
mọi thứ tôn giáo và thần học về một vị thượng đế siêu nhiên đứng ngoài, sáng tạo ra con người và chi
phối cuộc sống con người.
Công lao to lớn của Phơ-bách là ở chỗ ông không chỉ đấu tranh chống lại Chủ Nghĩa Duy Tâm mà
ơng cịn đấu tranh chống lại Chủ Nghĩa Duy Vật tầm thường. Ơng có quan niệm rất đúng đắn là không
thể quy các hiện tượng tâm lý vào các q trình lý hố. Ơng cơng nhận con người có khả năng nhận thức
được thế giới. Ông phê phán kịch liệt những người theo chủ nghĩa hồi nghi và thuyết khơng thể biết.
Trong khi phát triển lý luận nhận thức Duy Vật Phơ-bách đã biết dựa vào thực tiễn nhưng ông chỉ mới
hiểu được thực tiễn là tổng hợp những yêu cầu của con người về tinh thần về sinh lý mà chưa nhận thức
nội dung cơ bản của thực tiễn là hoạt động vật chất của con người. Lao động sản xuất vật chất, đấu tranh
giai cấp trong xã hội của con người và hoạt động thực tiễn của nó là cơ sở của nhận thức cảm tính và lý
tính.

Như vậy, Phơ-bách đã có những đóng góp xuất sắc vào lịch sử đấu tranh của Chủ Nghĩa Duy Vật
chống lại Chủ Nghĩa Duy Tâm và tơn giáo. Ơng đã vạch rõ mối liên hệ giữa Chủ Nghĩa Duy Tâm và tơn
giáo. Từ đó ơng đã chỉ ra sự cần thiết phải đấu tranh loại bỏ tơn giáo hữu thần, coi đó là sự tha hố bản
chất của con người. Ơng đã có cơng khơi phục Chủ Nghĩa Duy Vật thế kỷ XVII, XVIII. Triết học của
Phơ-bách có ý nghĩa lịch sử lớn lao thơng qua việc đấu tranh chống lại Chủ Nghĩa Duy Tâm và tơn giáo.
Vì vậy, triết học duy tâm của Phơ-bách là một trong những nguồn gốc lý luận của triết học Mác.
Đối lập với quan điểm duy vật của Phơ-bách là quan điểm duy tâm của Hê-ghen (1770-1831).
Ông là nhà biện chứng đồng thời là nhà duy tâm khách quan. Triết học của Hê-ghen mang đầy những
mâu thuẫn. Nếu phương pháp biện chứng của ông là hạt nhân hợp lý chưa đựng tư tưởng thiên tài về sự
phát triển thì triết học duy tâm của ơng đã phủ nhận tính khách quan của những nguyên nhân bên trong
vốn có của sự phát triển tự nhiên xã hội. Ông cho rằng khởi nguyên của thế giới không phải là vật chất mà
là “ý niệm tuyệt đối” hay “tinh thần thế giới ”. Tính phong phú và đa dạng của giới tự nhiên là kết quả
của sự vận động sáng tạo của ý niệm tuyệt đối. ý niệm tuyệt đối tồn tại vĩnh viễn. Theo Lê-nin “ý niệm
tuyệt đối chỉ là một cách nói theo đường vịng, một cách khác nói về thượng đế mà thôi”. Cho nên triết
học Hê-ghen chẳng qua là sự biện hộ cho tôn giáo.
8


9

Hê-ghen đã phê phán tư duy siêu hình và ơng là người đầu tiên trình bày giới tự nhiên lịch sử và
tư duy dưới dạng một quá trình nghĩa là trong sự vận động và biến đổi không ngừng. Đồng thời trong hệ
thống triết học của mình Hê-ghen đã khơng chỉ trình bày các phạm trù như chất, lượng, phủ định, mâu
thuẫn mà cịn nói đến các quy luật như “lượng đổi dẫn đến chất đổi và ngược lại”, “phủ định của phủ
định” và quy luật mâu thuẫn. Nhưng tất cả cái đó chỉ là quy luật vận động và phát triển của bản thân tư
duy, của ý niệm tuyệt đối. Trong tư tưởng triết học duy tâm của Hê-ghen không phải ý thức tư tưởng phát
triển phụ thuộc vào sự phát triển của tự nhiên và xã hội. Mà ngược lại tự nhiên và xã hội phụ thuộc vào sự
phát triển của ý niệm tuyệt đối. ý niệm tuyệt đối và tinh thần thế giới là tính thứ nhất, giới tự nhiên là tính
thứ hai, do ý niệm tuyệt đối và tinh thần. Sau khi trải qua giai đoạn “tồn tại khác” ấy ý niệm tuyệt đối hay
tinh thần thế giới mới trở lại “bản chất mình” và đó là giai đoạn cao nhất, giai đoạn tột cùng được Hêghen gọi là “tinh thần tuyệt đối”.

Trong các quan điểm xã hội Hê-ghen đã đứng trên lập trường của chủ nghĩa Sô-vanh đề cao dân
tộc Đức, miệt thị các dân tộc khác, coi nước Đức là “ hiện thân của tinh thần vũ trụ mới”. Chế độ của Nhà
nước Phổ đương thời được ông xem như là đỉnh cao của sự phát triển Nhà nước và pháp luật.
Tóm lại Hê-ghen là một nhà duy tâm khách quan đồng thời ông là một nhà biện chứng. Đứng trên
lập trường duy tâm ông đã đấu tranh chống lại Chủ Nghĩa Duy Vật. Là nhà duy tâm khách quan Hê-ghen
quan niệm “ý niệm tuyệt đối” là cái có trước vật chất, tồn tại vĩnh viễn không phụ thuộc vào con người,
tạo ra thực tại khách quan. Giới tự nhiên chỉ là sự tồn tại khác của “ý niệm tuyệt đối”. Tính đa dạng của
thực tiễn được Hê-ghen xem như kết quả tác động và sáng tạo của ý niệm tuyệt đối. Là một nhà biện
chứng Hê-ghen đã có cơng nêu ra những phạm trù và quy luật cơ bản của phép biện chứng duy tâm. Cho
nên Mác gọi đó là phép biện chứng lộn ngược đầu xuống đất, vì đó chỉ là những quy luật của “ý niệm
tuyệt đối” mà thôi. Mặc dù vậy ơng chỉ là người đầu tiên trình bày giới tự nhiên lịch sử và tinh thần dưới
dạng một quá trình khơng ngừng vận động, biến đổi và phát triển, cố gắng vạch ra những mối liên hệ bên
trong của sự vận động và phát triển ấy. Các Mác và Enghen đã phê phán một cách triệt để tính chất phản
khoa học và thần bí của “ý niệm tuyệt đối” trong triết học Hê-ghen. Đồng thời hai ông tiếp thu và đánh
giá cao “hạt nhân hợp lí” trong phép biện chứng của Hê-ghen để xây dựng và phát triển học thuyết về
phép biện chứng của mình.

9


10

Câu 3: Trình bày thực chất, ý nghĩa cuộc cách mạng trong triết học biện chứng do Mác – Ăngghen
thực hiện? (4 điểm)
Triết học Mác là sự kế thừa có phê phán và chọn lọc những tư tưởng triết học của nhân loại trong quá
trình lịch sử. Đồng thời sự ra đời của triết học Mác-Lênin là một bước ngoặt vĩ đại trong sự phát triển tư
tưởng triết học của nhân loại. Triết học Mác có những cái mới về chất so với các hệ thống triết học trước
đó:
* Thực chất:
+ C. Mác và Ph. Ăngghen phát triển chủ nghĩa duy vật lên hình thức cao của nó là chủ nghĩa duy vật biện

chứngvà phát triển phép biện chứng lên hình thức cao của nó là phép biện chứng duy vật.
Trước Mác, chủ nghĩa duy vật thời cổ đại mang tính ngây thơ chất phác.
Thời cận đại mang tính chất siêu hình, máy móc. Nó chưa đưa được quan điểm pháttriển vào trong lý luận
của nó; nó lấy quy luật cơ học để giải thích sự vận động của thế giới, dùng quy luật cơ họcvà quy luật
sinh học để giải thích bản chất con người.
Cịn phép biện chứng trước Mác mà đỉnh cao của nó là phép biện chứng Hêghen thì lại là duy tâm, tức
ơng đã xuất phát từ quy luật vận động, phát triển của một ý niệm tuyệtđối nào đó có trước thế giới để giải
thích tất cả những gì đang tồn tại. Cho nên phép biện chứng của Hêghen là phép biện chứng duy tâm,
ngược đầu và đóng khung trong một một kết cấu tư biện, gượng gạo.Trên cơ sở kế thừa có phê phán và
chon lọc những thành tựu mà mà các nhà duy vật đã đạt được cũng như kế thừahạt nhân hợp lý trong
phép biện chứng của Hêghen, C. Mác và Ph. Ăngghen sáng lập ra chủ nghĩa duy vật biệnchứng và phép
biện chứng duy vật. Từ khi triết học Mác ra đời, chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng được kếthợp với
nhau thành một thể thống nhất.
+ Việc sáng lập ra chủ nghĩa duy vật lịch sử là biểu hiện quan trọng nhất của bước ngoặt cách mạng trong
sự phát triển tư tưởng triết học của nhân loại.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử là khoa học nghiên cứu những quy luật chung nhất, phổ biến nhất của
xã hội loài người
Trước Mác, các nhà triết học nếu có duy vật thì là duy vật về tự nhiên nhưng duy tâm về xã hội .
Họ đều cho rằngtinh thần, tư tưởng (ý niệm tuyệt đối, tinh thần thế giới, trời, thượng đế, hoặc ý thức chủ
quan của con người) làyếu tố quyết định trong lịch sử. Họ khơng thấy được vai trị quyết định của hoạt
động sản xuất vật chất, của đờisống vật chất.
C. Mác và Ph. Ăngghen đã vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng vào nghiên cứu đời sống xã
hội. Triết họcMác coi xã hội như là một cơ thể sống, một cấu trúc phức tạp bao gồm những cá nhân, gia
đình, giai cấp, dân tộcvới vơ số những mối quan hệ xã hội chằng chịt được hình thành trên cơ sở hoạt
động thực tiễn của họ. Triết họcMác coi sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của xã hội;
vạch ra những quy luật khách quan của sự phát triển xã hội không phụ thuộc ý muốn chủ quan của con
người; lấy cơ sở hạ tầng để giải thích kiến trúcthượng tầng, lấy tồn tại xã hội để giải thích ý thức xã
hội.Chính vì thế, triết học Mác là chủ nghĩa duy vật cân đối, hồn chỉnh và triệt để; nó bao quát cả tự
nhiên, xã hội và tư duy.
+ Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc cơ bản của triết học Mác-Lênin.

Triết học Mác - Lênin khơng chỉ giải thích thế giới mà vấn đề quan trọng là cải tạo thế giới. Trước Mác,
người ta chưa xác lập được mối quan hệ gắn bó với nhau giữa lý luận và thực tiễn. Lý luận nhiều khi chỉ
là sản phẩm của tưduy thuần túy, chỉ là kết quả của sự suy lý tư biện của các nhà lý luận. Người ta chưa
chỉ ra được một tiêu chuẩnkhách quan để phân biệt cái đúng và cái sai trong lý luận. Lý luận càng cao
siêu, càng xa rời thực tế thì càng đượcđánh giá cao.Lần đầu tiên trong lịch sử triết học, C. Mác và Ph.
Ăngghen vạch ra một cách đầy đủ và chính xác vai trị của hoạtđộng thực tiễn với tính cách là hoạt động
vật chất cải tạo tự nhiên và xã hội đối với quá trình nhận thức; khẳng định rằng thực tiễn là cơ sở, mục
đích, động lực của nhận thức, tiêu chuẩn của chân lý. Sự thống nhất giữa lý luậnvà thực tiễn là một
nguyên tắc căn bản của triết học Mác-Lênin.
* Ý nghĩa:
- Nó đã làm thay đổi căn bản về nhiệm vụ, vai trò của triết học. cụ thể: theo quan niệm của Mác –
Ăngghen triết học là một khoa học cung cấp thế giới quan và phương pháp luận đúng đắn để nhận thức và
cải tạo thực tiễn phục vụ con người…trước đó nhiệm vụ của triết học cổ đại giúp nhận thức thế giới và
giải thích thế giới, triết học phục hưng phục vụ tơn giáo….
- Triết học Mác-Lênin có sự thống nhất giữa tính cách mạng và tính khoa học

10


11

.Với sự ra đời của triết học Mác-Lênin, giai cấp vơ sản và nhân dân lao động có một lý luận triết học khoa
học đểgiải thích đúng đắn các hiện tượng tự nhiên và xã hội. Triết học Mác-Lênin còn là vũ khí lý luận
cách mạng củagiai cấp vơ sản và nhân dân lao động để đấu tranh xóa bỏ áp bức, bất cơng, xây dựng xã
hội khơng có giai cấp,khơng có người bóc lột người. Những quan điểm cách mạng trong triết học MácLênin, nhất là quan điểm về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộngsản không phải là những hoài bão chủ
quan của loài người, mà trái lại chúng có cơ sở khoa học vững chắc, dựa trên sự nghiên cứu nghiêm túc
và lơgíc chặt chẽ của triết học và các khoa học xã hội.
- Triết học Mác đã đem lại một quan niệm đúng đắn về đối tượng của triết học.
Trước đây quan niệm coi triết học là khoa học bao trùm tất cả các khoa học hay coi triết học chỉ cịn
“cơng cụ” của khoa học hoặc của hoạt động thực tiễn.Triết học Mác đã đưa ra một quan niệm đúng đắn

trong việc xác định đối tượng và vai trò của triết học. Đối với triết học Mác, triết học không đồng nhất với
các khoa học cụ thể, cũng không phải là “khoa học của các khoa học”,mà là học thuyết về những nguyên
lý chung nhất, là khoa học về những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội vàtư duy con người.Sau C.
Mác và Ăngghen, triết học Mác được Lênin bổ sung và phát triển một cách sáng tạo trong tình hình
mới.Lênin đã vận dụng sáng tạo học thuyết của Mác để giải quyết những vấn đề của cách mạng vô sản
trong thời đạichủ nghĩa đế quốc và bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội.
- Triết học Mác là thế giới quan của giai cấp công nhân – giai cấp tiến bộ và cách mạng nhất, một giai cấp
có lợi ích phù hợp với lợi ích cơ bản của nhân dân lao động và sự phát triển của xã hội. Sự kết hợp lý luận
của chủ nghĩa Mác với phong trào công nhân đã tạo nên bước chuyển biến về chất trong phong trào đấu
tranh của giai cấp công nhân từ tự phát lên tự giác.
- Triết học Mác ra đời làm chủ nghĩa xã hội từ không tưởng thành chủ nghĩa xã hội khoa học. Trước Mác
chúng ta đã có chủ nghĩa xã hội khơng tưởng, muốn biến nó thành hiện thực thì phải thơng qua đấu tranh
giai cấp, bạo lực cách mạng... và triết học Mác ra đời đã biến nó thành hiện thực.

11


12

Câu 4: Phân tích quan điểm khách quan và vận dụng vào hoạt động thực tiễn của bản thân? (6
điểm)
Quan điểm khách quan là một trong những nguyên tắc quan trọng của phương pháp biện chứng Mác xít.
Quan điểm khách quan là quan điểm mà khi xem xét sự vật, hiện tượng phải nghiên cứu nó một cách
khách quan như cái vốn có của nó và khơng phụ thuộc vào ý thức của con người.
* Cơ sở lý luận quan điểm khách quan: Có nhiều cơ sở để đưa ra quan điểm khách quan như toàn bộ
phép biện chứng duy vật, lý luận về nhận thức..nhưng cơ sở quan trọng nhất, trực tiếp nhất là mối quan hệ
biện chứng giữa vật chất và ý thức.
- Khái niệm:
+ Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong
cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.

+ Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng động, sáng tạo.ý
thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
- Mối quan hệ biện chứng vật chất và ý thức:
+ Thứ nhất, vật chất suy cho cùng quyết định ý thức (phân tích rõ phần này)
Vật chất quyết định sự ra đời của ý thức, do đó vật chất là có trước, ý thức là có sau, ý thức chỉ là sự
phản ánh của vật chất. Nguyên lý này biểu hiện về mặt xã hội là tồn tại xã hội có trước, ý thức xã hội có
sau và do tồn tại xã hội quyết định.
Vật chất quyết định nội dung của ý thức
Vật chất quyết định sự biến đổi của ý thức: vật chất thay đổi thì ý thức cũng thay đổi. Tồn tại xã hội
thay đổi thì sớm muộn ý thức xã hội cũng thay đổi theo.
+ Thứ hai, ý thức có tính độc lập tương đối và có thể tác động trở lại vật chất
Mặc dù ý thức do vật chất quyết định nhưng nó khơng phụ thuộc hồn tồn vào vật chất mà do có
tính năng động, sáng tạo nên ý thức có thể tác động trở lại vật chất, góp phần cải biến thế giới khách quan
thông qua hoạt động thực tiễn của con người theo hai hướng:
Tích cực: ý thức phản ánh đúng hiện thực khách quan có tác dụng thúc đẩy, tạo điều kiện hoạt
động thực tiễn của con người trong quá trình cải tạo thế giới vật chất.
Tiêu cực: ý thức phản ánh khơng đúng hiện thực khách quan có thể kìm hãm hoạt động thực tiễn
của con người trong quá trình cải tạo thế giới vật chất.
* Nội dung quan điểm khách quan (yêu cầu):
- Thứ nhất, trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ chính sự vật, chính những điều
kiện, những hồn cảnh thực tế, đặc biệt là từ điều kiện vật chất; phản ánh sự vật trung thành như bản thân
nó vốn có, tơn trọng sự thật khơng được lấy ý chí chủ quan áp đặt cho sự vật.
- Thứ hai, xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan.
Căn cứ vào những điều kiện cụ thể của cơ quan, đơn vị để từ đó đề ra kế hoạch, mục đích, chủ trương
cho hoạt động thực tiễn của bản thân.
Những quy luật không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người, những hành động không phù
hợp với quy luật sẽ phải trả giá do đó phải hành động theo quy luật. Vd chặt phá rừng quá mức thì lũ lụt
gia tăng...
- Thứ ba, tránh rơi vào “chủ nghĩa khách quan” tức là tuyệt đối hoá điều kiện vật chất, ỷ lại, trông chờ
vào điều kiện vật chất, khơng chịu cố gắng, tích cực, chủ động vượt khó, vươn lên.

Để nhận thức và cải tạo thế giới đúng đắn thì cần phải có sự vận dụng kết hợp các quan điểm toàn
diện, quan điểm lịch sử cụ thể, quan điểm thực tiễn…
* Vận dụng: Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn của bản thân cần tôn trọng và hành động theo
quy luật khách quan; (tự liên hệ bản thân)

12


13

Câu 5: Phân tích nguyên nhân, bản chất, phương hướng khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí? (6
điểm)
Bệnh chủ quan duy ý chí là một sai lầm kép, trong đó chủ thể tư duy vừa mắc phải chủ nghĩa chủ quan,
lại vừa rơi vào chủ nghĩa duy ý chí. Chủ nghĩa chủ quan chỉ thể hiện khuynh hướng tuyệt đối hố vai trị
của chủ thể trong quan niệm và hành động, phủ nhận hoàn toàn hay phần nào bản chất và tính quy luật
của thế giới vật chất, của hiện thực khách quan
* Khái niệm:
- Chủ quan nghĩa là hành động theo ý nghĩ của mình mà khơng cần biết kết quả, đề cập thực tế, điều kiện
thực tế.
- Duy ý chí nghĩa là đề cao quá mức ý chí, ý thức.
- Cái chung của chủ quan duy ý chí là khơng đánh giá đầy đủ điều kiện thực tế nên xuất phát từ nhận định
chủ quan, nguyện vọng của cá nhân, tình cảm cá nhân lấy cái này là xuất phất cho mọi chủ trương, đường
lối. Vd sai lầm trong cách mạng ruộng đất…
*Nguyên nhân bệnh chủ quan duy ý chí: cường điệu hố, tuyệt đối hố vai trò của ý thức đối với vật
chất.
* Bản chất: chủ nghĩa duy tâm trong nhận thức và hành động.
* Phương hướng khắc phục:quan triệt mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, thực hiện
nguyên tắc khách quan.
Câu 6: Phân tích quan điểm lịch sử cụ thể và vận dụng? (6 điểm)
Quan điểm lịch sử cụ thể là quan điểm khi xem xét sự vật phải chú ý đúng mức hoàn cảnh lịch sử

cụ thể đã phát sinh ra vấn đề đó; nghiên cứu nó trong điều kiện thời gian và không gian nhất định. Phải
nghiên cứu quá trình vận động của nó trong q khứ hiện tại và dự kiến tương lai.
* Cơ sở lý luận: Sự vật nào cũng tồn tại trong thời gian, thời điểm, mơi trường, hồn cảnh và
tham gia vào các mối liên hệ tương ứng, có sự phát triển. Cơ sở lý luận của quan điểm lịch sử cụ thể đó là
tồn bộ các nguyên lý, các quy luật, các cặp phạm trù của phép biện chứng duy vật. (trình bày nguyên lý
về mối liên hệ phổ biến hoặc nguyên lý về sự phát triển…)
- Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
Quan điểm duy vật biện chứng về mối liên hệ: Mối liên hệ là phạm trù triết học dùng để chỉ sự
quy định, sự tác động qua lại, sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay các mặt sự vật, của
một hiện tượng trong thế giới.
(1) Tính khách quan, phổ biến của mối liên hệ
- Mối liên hệ là khách quan, nó là cái vốn có của các sự vật, hiện tượng, không phụ thuộc vào ý muốn,
cảm giác, ý thức của con người bắt nguồn từ sự thống nhất vật chất – ý thức.
- Mọi sự vật, hiện tượng đều tồn tại trong mối liên hệ phổ biến, khơng có sự vật nào tồn tại một
cách cô lập.
- Sự vật nào cùng tồn tại trong mối liên hệ với những sự vật khác, hơn nữa tồn tại trong vô vàn
mối liên hệ.
- Cơ sở khách quan của mối liên hệ phổ biến là tính thống nhất vật chất của thế giới
- Mối liên hệ là phổ biến, thể hiện:Có ở mọi lĩnh vực trong cả tự nhiên, xã hội và tư duy.
(2) Bản chất của sự vật hình thành, biến đổi và bộc lộ thơng qua mối liên hệ phổ biến
(3) Các mối liên hệ khác nhau, có vị trí, vai trị khác nhau đối với sự vật.
- Mối liên hệ mang tính đa dạng và nhiều vẻ:
Sự vật hiện tượng trong thế giới là phong phú, đa dạng, vì vậy hình thức liên hệ giữa chúng cũng
rất đa dạng. Tuy nhiên, có thể căn cứ vào vị trí, phạm vi vai trị, tính chất mà phân chia ra thành những
mối liên hệ khác nhau như: mối liên hệ bên trong – mối liên hệ bên ngồi, mối liên hệ bản chất- mối liên
hệ khơng bản chất, mối liên hệ trực tiếp - mối liên hệ gián tiếp, trước mắt-lâu dài v.v… Nhưng sự phân
chia này cũng chỉ mang tính tương đối.
- Phủ nhận tính tương đối của các mối liên hệ.
- Nguyên lý về sự phát triển
Quan điểm duy vật biện chứng: phát triển là phạm trù triết học dùng để chỉ quá trình vận động

theo chiều hướng tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hồn thiện
hơn .
(1) tính khách quan của sự phát triển
13


14

(2) Phát triển là khuynh hướng chung, phổ biến
- Chung
* Cá thể có vịng đời hữu hạn
* Lồi ln phát triển
- Phổ biến
* Không phải tất cả mọi sự vật đều phát triển, và các giai đoạn của sự vật đều phát triển
* Không phải phát triển theo đường thẳng, mà theo đường dích zắc, quanh co.
(3) Phát triển là một q trình "tự thân"
- Có sự phát triển do sự tác động từ bên ngoài, nhưng sự phát triển như thế nhìn chung khơng bền vững,
hơn nữa là cái khoa học khơng quan tâm.
- Q trình "tự thân".
a. Nguồn gốc nằm ngay trong sự vật, đó là những mâu thuẫn.
b. Phương thức phát triển: từ sự biến đổi về lượng, dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược lại
c. Khuynh hướng của sự phát triển: cái mới phủ định một cách biện chứng cái cũ ( khuynh hướng theo
hình xoắn ốc).
- Phát triển mang tính khách quan, nó là cái vốn có của bản thân sự vật hiện tượng, không phụ
thuộc vào ý muốn chủ quan của con người. Nguồn gốc của sự phát triển là do mâu thuẫn ở bên trong bản
thân SVHT, trong quá trình tồn tại và vận động của SVHT luôn diễn ra quá trình giải quyết các mâu
thuẫn bên trong nhờ đó mà SVHT phát triển. Sự phát triển là quá trình khách quan, khơng phụ thuộc vào
ý muỗn, nguyện vọng, ý chí của con người.
- Phát triển mang tính phổ biến: phát triển ở mọi mặt, mọi khía cạnh, khơng chỉ là sự thay đổi về
mặt số lượng hay khối lượng mà nó cịn là sự thay đổi về chất . Phát triển diễn ra ở mọi lĩnh vực trong tự

nhiên, xã hội và tư duy ở bất kì sự vật hiện tượng nào của TGKQ.
- Phát triển mang tính đa dạng, nhiều vẻ: SVHT trong TGKQ rất phong phú và đa dạng, mỗi
SVHT có sự phát triển khác nhau. SVHT ở những khơng gian, thời gian khác nhau có sự phát triển khác
nhau đồng thời chịu sự tác động của các yếu tố, nhân tố khác nhau có thể thúc đẩy SVHT phát triển hoặc
kìm hãm sự phát triển
- Phát triển mang tính kế thừa nhưng trên cơ sở có sự phê phán, lọc bỏ, cải tạo và phát triển,
không kế thừa nguyên xi hay lắp ghép từ cái cũ sang cái mới một cánh máy móc, hình thức.
- Phát triển mang tính phức tạp: Tuỳ vào từng sự vật, hiện tượng, q trình cụ thể, phát triển cịn
bao gồm cả sự thụt lùi đi xuống nhưng khuynh hướng chung là đi lên, là tiến bộ. Theo quan điểm duy vật
biện chứng thì khuynh hướng của sự phát triển diễn ra theo đường xoáy ốc.
- Nguồn gốc của sự phát triển là ở trong bản thân sự vật hiện tượng, do mâu thuẫn của sự vật hiện
tượng quy định.
* Nội dung quan điểm (yêu cầu)
- Muốn xem xét rút ra bản chất sự vật phải đặt sự vào thời gian, môi trường mà sự vật diễn ra; hoàn
cảnh mà sự vật tồn tại. Vd: chúng ta thực hiện phong trào hợp tác hố với tư duy bây giờ thì sai nhưng
vào những năm 58-60 đến trước đổi mới và hoàn cảnh là đất nước đang có chiến tranh thì nó là đúng đắn.
- Khi xem xét và giải quyết các vấn đề do thực tiễn đặt ra đòi hỏi chúng ta phải chú ý đúng mức tới
hoàn cảnh lịch sử cụ thể đã làm phát sinh vấn đề đó, tới sự ra đời và phát triển của nó, tới bối cảnh hiện
thực – cả khách quan lẫn chủ quan. Khi quan sát một quan điểm, một luận điểm cũng phải đặt nó trong
những mối quan hệ như vậy. Chân lý sẽ trở thành sai lầm, nếu nó bị đẩy ra ngồi giới hạn tồn tại của nó.
Chẳng hạn, khi đánh giá mơ hình hợp tác xã nơng nghiệp ở miền bắc vào những năm 1960-1970, nếu
chúng ta khơng đặt nó vào hoàn cảnh miền bắc, đồng thời thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược, đặc biệt từ
những năm 1965 – khi Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền bắc, khơng đặt nó trong điều kiện chúng
ta cịn thiếu kinh nghiệm trong xây dựng CNXH, còn bị ảnh hưởng rất lớn của quan niệm về mơ hình chủ
nghĩa xã hội đã được xác lập ở 1 loạt các nước XHCN đi trước chúng ta, thì trước hết sẽ khơng thấy được
một số giá trị đích thực của mơ hình hợp tác xã trong điều kiện lịch sử đó, hai là sẽ không thấy hết những
nguyên nhân bên trong và bên ngồi dẫn đến việc duy trì q lâu mơ hình HTX, khi đất nước đã thay đổi.
- Tránh lấy tư duy hiện tại để áp đặt quá khứ, tránh lấy quan điểm đã qua để đánh giá hiện thực…
* Vận dụng: (Tự liên hệ vận dụng vào bản thân)


14


15

Câu 7: Phân tích quan điểm thực tiễn và rút ra ý nghĩa việc khắc phục bệnh giáo điều và bệnh kinh
nghiệm? (6 điểm)
Quan điểm thực tiễn là quan điểm cơ bản và quan trọng nhất trong triết học Mác. Toàn bộ hệ
thống lý luận của triết học Mác đã được xây dựng trên hòn đá tảng thực tiễn
* Cơ sở lý luận: Mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn
- Thực tiễn: Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử – xã hội của
con người nhằn cải biến tự nhiên và xã hội.
- Lý luận là hệ thống những tri thức được khái quát từ những kinh nghiệm thực tiễn, phản ánh
những mối liên hệ bản chất, tính quy luật của SV, HT trong TG.
- Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức, lý luận
+ Thực tiễn là cơ sở chủ yếu, trực tiếp nhất của nhận thức, lý luận.
Thực tiễn đề ra nhu cầu, nhiệm vụ, cũng như khuynh hướng phát triển của nhận thức. Chính con
người có nhu cầu khách quan là phải giải thích thế giới và cải tạo thế giới đó, cho nên đã buộc con người
trực tiếp tác động và các sự vật, hiện tượng bằng hoạt động thực tiễn của mình. Nhờ đó làm cho các sự
vật bộc lộ những thuộc tính, đặc điểm của mình, đem lại tài liệu cho nhận thức. Cho nên xét đến cùng
khơng có lĩnh vực tri thức nào lại không xuất phát từ thực tiễn. Vd q trình đổi mới ở Việt Nam....
Thơng qua hoạt động thực tiễn con người đúc rút, tích luỹ những kinh nghiệm và lý luận, khoa
học chính là sự khái quát từ những kinh nghiệm thực tiễn đó. Muốn xây dựng lý thuyết các nhà khoa học
phải thông qua nhiều thực nghiệm. VD để có đường lối đổi mới như ngày nay Đảng phải tổng kết những
kinh nghiệm...
Nhờ hoạt động thực tiễn mà các giác quan con người ngày càng phát triển, năng lực tư duy lơgíc
nâng cao; hơn nữa con người còn toạ ra những phương tiện hỗ trợ cho các giác quan đó cho phép nhận
thức được chính xác và sâu sắc hơn về sự vật.
+ Thực tiễn là động lực chủ yếu của nhận thức, lý luận
Thực tiễn luôn luôn mới, luôn làm nảy sinh những vấn đề mới làm nảy sinh những “tình huống có

vấn đề” buộc lý luận, khoa học phải lý giải và định hướng cho thực tiễn. VD chúng ta xây dựng nền
KTTT làm nảy sinh những vấn đề mới như: sự phân hoá giàu nghèo, các tệ nạn xã hội..buộc chúng ta
phải nghiên cứun để giải quyết thực tiễn đó để ddangr và Nhà nước điều chỉnh, định hướng cho KTTT
phát triển.
Chế tạo ra những công cụ nối dài các giác quan hỗ trợ cho tư duy. VDThực tiễn – máy vi tính hỗ
trợ chúng ta nhận thức tốt hơn.
+ Thực tiễn là mục đích của nhận thức. Hay nói cách khác thực tiễn định hướng cho sự phát triển
của nhận thức, lý luận.
Mục đích của nhận thức đầy đủ hiện thực khách quan là để áp dung vào hiện thực, cải tạo hiện
thực. Sự áp dụng đó khơng cịn cách nào khác là phải thơng qua thực tiễn, đó là sự vật chất hố những qui
luật, tính tất yếu đã nhận thức được.
Thế giới vơ cùng vơ tận do đó nhận thức cũng vô cùng vô tận mà nhận thức của một chủ thể lại có
giới hạn.
Nhận thức phải theo yêu cầu của thực tiễn thì mới có tác dụng thiết thực như học cái gì và khơng
học cái gì trong giáo dục.
+ Thực tiễn là tiêu chuẩn kiểm tra chân lý
Nhận thức chỉ là sự phản ánh (có thể đúng hoặc sai)do đó phải thơng qua thực tiễn
Thực tiễn là nguồn gốc, cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức, hình thành nên quá trình nhận
thức, cho nên việc kiểm tra tính đúng đắn của tri thức là phải dựa vào thực tiễn, chứ không phải theo lối
lập luận chủ quan. Thơng qua thực tiễn con người có thể so sánh, đối chiếu khảo nghiệm nhận thức của
mình trong TGKQ. VD chủ trương a có đúng hay sai phải thơng qua hoạt động thực tiễn..
Tuy vậy, lý luận có tính độc lập tương đối và tác động trở lại thực tiễn
Tích cực: Với những lý luận khoa học giúp con người có thêm cơng cụ để khám phá, cải tạo tự
nhiên để phục vụ cho lợi ích của con người.
Tiêu cực: Lý luận không đúng làm sai lệch nhận thức về thế giới khách quan.
* Nội dung quan điểm (yêu cầu):
- Nhận thức của con người phải bắt nguồn từ thực tiễn, phải luôn lấy thực tiễn là cơ sở, động lực, mục
đích, tiêu chuẩn để kiểm tra lý luận.
- Phải luôn luôn tổng kết thực tiễn để bổ sung và phát triển lý luận.
15



16

- Chống giáo điều.
- Vận dụng liên hệ( quá trình Đảng ta vận dụng lãnh đạo công cuộc đổi mới)
* Ý nghĩa việc khắc phục bệnh giáo điều và bệnh kinh nghiệm
* Bệnh giáo điều lý luận suông: là khuynh hướng tuyệt đối hố vai trị lý luận coi nhẹ thực tiễn.
- Cơ sở lý luận: quan hệ giữa lý luận và thực tiễn. Mqh giữa cái chung và cái riêng.
- Nguyên nhân: tuyệt đối hoá lý luận, xem thường, coi thường thực tiễn.
- Bản chất: chủ nghĩa duy tâm trong nhận thức và hành động.
- Biểu hiện:
+ Học, nghiên cứu lý luận dừng lại ở câu chữ (tầm chương, trích cú) khơng tiêu hố được kiến
thức sách vở, khơng nắm được thực chất khoa học của lý luận → giáo điều lý luận. Học kinh nghiệm của
1 nước, 1 địa phương, 1 lĩnh vực áp dụng vào đơn vị mình→giáo điều thực tiễn. VD....
+ Tuyệt đối hố vai trị của lý luận. Coi lý luận như 1 cái gì đã xong xuôi hẳn không cần phải bổ
sung phát triển (tơn giáo hố khoa học)
- Vận dụng lý luận và kinh nghiện đã có rập khn máy móc khơng tính đến ĐK LS cụ thể, khơng
tính đến trình độ của thực tiễn. VD Mác XD học thuyết về CNXH trong ĐK hoàn cảnh những nước
TBCN phát triển. Vận dụng vào nước ta có điều kiện và hồn cảnh khác thì chúng ta phải vận dụng cho
phù hợp.
* Bệnh kinh nghiệm: Là khuynh hướng tuyệt đối hố vai trị kinh nghiệm coi thường lý luận, ít
hiểu biết về lý luận.
- Cơ sở lý luận: quan hệ giữa lý luận và thực tiễn.
- Nguyên nhân: tuyệt đối hoá kinh nghiệm, xem thường lý luận.
- Bản chất: chủ nghĩa duy tâm trong nhận thức và hành động.
- Biểu hiện:
+ Thoả mãn với vốn liếng kinh nghiệm, chỉ đạo thực tiễn bằng kinh nghiệm, ngộ nhận kinh
nghiệm là lý luận, là quy luật VD trong hoạt động lãnh đạo quản lý trước đây chúng ta không coi lãnh đạo
quản lý là 1 ngành, nghề do đó khơng cần đào tạo chỉ cần qua thực tiễn do đó làm hạn chế hoạt động lãnh

đạo quản lý...
- Tiếp xúc với lý luận ở trình độ tư duy kinh nghiệm từ đó tầm thường hố, thơ tục hố lý luận,
biến lý luận thành cơng thức, đơn thuốc cứng nhắc dẫn đến xuyên tạc lý luận.
- Coi thường lý luận, khơng chịu khó vận dụng lý luận vào thực tiễn cuộc sống.
- Phương hướng khắc phục bệnh giáo điều và bệnh kinh nghiệm: Quán triệt mối quan hệ biện
chứng giữa lý luận và thực tiễn, nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Cụ thể:
+ Không được đề cao thực tiễn, hạ thấp vai trò của lý luận, vì như vậy dễ rơi vào CN thực dụng, CN
kinh nghiệm
+ Ngược lại không đề cao lý luận đến mức xa rời thực tế, rơi vào bệnh chủ quan, duy ý chí.

16


17

Câu8:Phân tích tính thống nhất vật chất của thế giới và ý nghĩa?
-khái niệm: Tính thống nhất của thế giới là các sự vật trong thế giới liên hệ với nhau, nương tựa
vào nhau, làm tiền đề cho nhau.
- Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm về tính thống nhất của thế giới: thế giới cũng thống nhất
nhưng là thống nhất do tinh thần quyết định. Một số nhà triết học Duy tâm cịn cho rằng thế giới khơng
thống nhất mà cịn bọ chia cắt.
Quan điểm của CNDV về tính thống nhất của thế giới: thế giới thống nhất ở tính vật chất của nó
chứ khơng phải tinh thần.
- Khuynh hướng chung của các trường phái duy vật là tìm nguồn gốc, bản chất sự thống nhất của
thế giới vật chất ngay trong bản thân nó. Trong suốt thời kỳ cổ đại đến thời kỳ cận đại việc phủ nhận lực
lượng siêu nhiên và thừa nhận sự thống nhất vật chất của thế giới không tách rời nhau. Nếu như các nhà
triết học tự nhiên thời kỳ cổ đại và phục hwng đã luận chứng nguyên tắc thống nhất vật chất của thế giới
bằng quy cái siêu tự nhiên về cái tự nhiên, về cái có thể thụ cảm cảm tính được thì các nhà duy vật thời kỳ
cận đại đã chứng minh sự thống nhất vật chất của thế giới phù hợp với nhất nguyên luận duy vật bằng
những thành tựu khoa học tự nhiên thời kỳ đó.

Nội dung của quan điểm tính thống nhất của thế giới: Chủ nghĩa duy biện chứng khẳng định:
bản chất của thế giới là vật chất, thế giới thống nhất ở tính vật chất. Điều này được thể hiện:
- Chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất là thế giới vật chất. Thế giới vật chất tồn tại khách
quan, có trước và độc lập với ý thức con người.
- Mọi bộ phận của thế giới vật chất đều có mối liên hệ thống nhất với nhau; chúng là những dạng
thể cụ thể, có mức độ kết cấu-tổ chức nhất định của vật chất, hoặc có nguồn gốc vật chất, do vật chất sinh
ra và cùng chịu sự chi phối của các quy luật khách quan phổ biến của thế giới vật chất.
- Thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn, vô hạn, vô tận, không được sinh ra và không bị mất đi. Trong
thế giới khơng có gì khác ngồi những q trình vật chất đang biến đổi và chuyển hố lẫn nhau, là nguồn
gốc, nguyên nhân và kết quả của nhau.
-> sở dĩ Thế giới thống nhất ở tính vật chất vì mọi sự vật hiện tượng đều là:
+ các dạng cụ thể của vật chất, có nguồn gốc vật chất, mọi sự vật hiện tượng đều có mối liên hệ
với nhau, chúng thường xuyên tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau.
+đều chịu sự quy định bởi quy luật khách quan của thế giới vật chất.
+ chúng đều có nguồn gốc vật chất. Ngay cả ý thức của con người cũng có nguồn gốc vật chất, đó
là hiện thực khách quan tác động vào bộ óc con người- cơ quan vật chất có tổ chức cao nhất.
Ý nghĩa:
- Trong hoạt động nhận thức: nhận thức sự vật hiện tượng trong tổng thể, khơng tách rời
trong q trình vận động, phát sinh phát triển.
Sự vật hiện tượng tồn tại trong không gian thời gian nhất định -> nên đánh giá sự vật hiện
tượng chỉ đúng trong hồn cảnh khơng gian và thời gian nhất định ->tránh dập khn máy móc.
- thế giới là 1 thể thống nhất, con người cũng là một thể thống nhất ( tiểu vũ trụ)-> thế
giưới tự nhiên là thân thể vô cơ tác động lên cuộc sống con người. Vậy nên con người vừa chinh phục cải
tạo tự nhiên nhưng cũng phải sống hài hòa với tự nhiên. Bảo vệ môi trường sống tự nhiên cũng chính là
bảo vệ chính bản thân con người, cuộc sống con người.

17


18


Câu 9: Chứng minh chủ trương phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nước ta hiện nay là
phù hợp với quy luật khách quan (QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX)? (6 điểm)
Quy luật khách quan ở đây chính là sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất. Trong hệ thống các quy luật xã hội thì quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật cơ bản nhất:
*Lực lượng sản xuất: Là thể thống nhất giữa tư liệu sản xuất (trước hết là công cụ lao động) và
người lao động để sản xuất ra sản phẩm.
- Kết cấu của lực lượng sản xuất bao gồm:
+ Người lao động
+ Tư liệu sản xuất / Công cụ lao động/ Đối tượng lao động / Phương tiện lao động
+ Khoa học công nghệ.
* Quan hệ sản xuất: Là biểu hiện mối quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản
xuất.
- Quan hệ sản xuất bao gồm:
+ Quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất
+ Quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất
+ Quan hệ trong phân phối sản phẩm lao động
*Vai trò quyết định của LLSX đối với QHSX
- Khuynh hướng của SXVC không ngừng vận động, biến đổi, phát triển và sự phát triển bao giờ
cũng bắt đầu từ LLSX (vì LLSX động nhất và cách mạng nhất)
- Mỗi một phương thức sản xuất mới ra đời chính là sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất. Đó chính là trạng thái mà các yếu tố cấu thành của quan hệ sản xuất
“tạo địa bàn đầy đủ” cho lực lượng sản xuất phát triển.
Như vậy ở trạng thái phù hợp thì cả ba mặt của quan hệ sản xuất phù hợp, thích ứng với trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất nên sẽ là cơ sở cho lực lượng sản xuất phát triển hết khả năng của nó.
- Mâu thuẫn giữu LLSX và QHSX luôn tồn tại và trong sự lặp đi lặp lại có tính quy luật của
SXVC ( phù hợp và không phù hợp) LLSX thường xuyên biến đổi còn QHSX tương đối ổn định và biến
đổi nên khi lực lượng sản xuất phát triển đến một trình độ nhất định làm cho quan hệ sản xuất từ chỗ phù
hợp trở thành khơng phù hợp, đó là trạng thái mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất,

mâu thuẫn này ngày càng gay gắt làm cho quan hệ sản xuất “trở thành xiềng xích của lực lượng sản xuất”.
- Song do yêu cầu khách quan của sự phát triển của lực lượng sản xuất tất yếu dẫn đến thay thế
quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới cho phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
để thúc đẩy lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển.
* Sự tác động trở lại của QHSX đối với LLSX
- Quan hệ sản xuất khơng phụ thuộc hồn tồn vào lực lượng sản xuất mà nó quy định mục đích
của sản xuất, có tác động đến thái độ của người lao động, đến tổ chức phân công lao động xã hội, đến sự
phát triển và ứng dụng của khoa học và cơng nghệ .. . nên từ đó tác động đến sự phát triển của lực lượng
sản xuất.
- Nếu quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất thì nó trở thành động lực thúc
đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Biểu hiện QHSX phù hợp LLSX: SX hàng hoá nhiều và tốt, năng suất
lao động tăng, người lao động hăng hái... Ngược lại, nếu quan hệ sản xuất lỗi thời, lạc hậu, hay “tiên tiến”
một cách giả tạo so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thì sẽ kìm hãm sự phát triển của lực
lượng sản xuất. Biểu hiện: QHSX lạc hậu, lỗi thời so với trình độ LLSX, QH sản xuất vượt xa trình độ
LLSX.
- Tuy nhiên, việc giải quyết mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất không phải
giản đơn mà phải thông qua nhận thức và hoạt động cải tạo xã hội của con người, trong xã hội có giai cấp
thì phải thơng qua đấu tranh giai cấp, thông qua cách mạng xã hội.
Chứng minh chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện nay là đúng đắn
phù hợp quy luật:
- Chính sách kinh tế nhiều thành phần là chính sách thừa nhận nhiều thành phần kinh tế cùng tồn
tại, như thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa, thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa, các thành phần kinh tế
trung gian trong thời kì quá độ...
- bản chất của nền kinh tế nhiều thành phần: đa quan hệ sản xuất và nhiều hình thức sở hữu khác
nhau.
18


19


- Chúng ta xét trên 3 mặt của quan hệ sản xuất:
* Về mặt sở hữu: Trình độ lực lượng sản xuất ở nước ta cịn nhiều yếu kém khơng đồng đều về
trình độ: giữa nơng thơn – thành thị; đồng bằng - miền núi thậm chí trong một nhà máy có nhiều trình độ
vừa tự động hóa vừa cơ khí vừa thủ cơng...: có trình độ thủ cơng, trình độ cơ khí, có cả trình độ tự động
hố..Do đó để phù hợp với trình độ đó thì cần có nhiều hình thức sở hữu, đa dạng hình thức sở hữu: sở
hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân -> từ đa hình thức sở hữu nên tất yếu phải tồn tại nhiều kiểu
quan hệ sản xuất.
* Về mặt tổ chức, phân công lao động xã hội: trước đổi mới 1986, chúng ta thực hiện theo kế
hoạch hố, tập trung. cịn hiện nay chúng ta thực hiện phân công quản lý trên cơ sở điều tiết của cơ chế
thị trường.
* Về mặt phân phối: trước đây phân phối theo bình quan bao cấp cịn hiện nay theo lao động, theo
mức góp vốn, theo an sinh xã hơi...như vậy là có nhiều hình thức phân phối khác nhau.
Như vậy: Hiện nay LLSX và QHSX tương đối phù hợp thể hiện trình độ LLSX ở nước ta hiện nay
nhìn chung thấp nhưng đa dạng, không đồng đều thể hiện công cụ lao động thấp kém, không đồng đều;
người lao động trình độ chưa cao,khoa học kỹ thật chưa phát triển...
QHSX cũng đa dạng thể hiện KT hàng hoá nhiều thành phần (5 thành phần kinh tế); nhiều hình
thức sở hữu (3 hình thức); nhiều hình thức phân phối (phân phối theo lao động, theo hiệu quả kinh tế,
theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác, theo phúc lợi XH, an sinh XH...)
Về cơ bản ở nước ta QHSX phù hợp với trình độ của LLSX mà biểu hiện rõ nhất đó là kinh tế
phát triển, đời sống nhân dân không ngừng được nâng cao.
-> từ những điều trình bày ở trên có thể chứng minh: chủ trương phát triển kinh tế nhiều
thành phần ở nước ta hiện nay là sự vận dụng đúng đắn phù hợp quy luật quan hệ sản xuất phù hợp
với trình độ của lực lượng sản xuất.

19


20

Câu 10: Tính phức tạp của cuộc đấu tranh giai cấp ở nước ta hiện nay? (6 điểm)

* Khái niệm:
- G/c là những tập đoàn người mà tập đoàn này thì có thể chiếm đoạt lao động của tập đồn khác do chỗ
các tập đồn đó có địa vị khác nhau trong 1 chế độ kinh tế, xã hội nhất định.
- Theo Lênin: Đấu tranh g.c là đấu tranh giữa những gc mà lợi ích căn bản đối lập và kết cục của cuộc
đấu tranh đó đi đến 1 cuộc cách mạng XH để thay đổi chế độ XH này bằng 1 chế độ khác tiến bộ hơn.
Chủ yếu đấu tranh gc là đấu tranh giữa gc bị bóc lột, bị áp bức, bị thống trị chống lại gc bóc lột, áp bức,
thống trị
* Nguyên nhân:
- Trực tiếp: Do địa vị đối lập nhau.
- Sâu xa: sự đối kháng gc xuất phát từ mâu thuẫn giữa LLSX mới với LLSX lỗi thời.
* Vai trò của đấu tranh gc:
Lịch sử XH kể từ khi xuất hiện gc đến nay là lịch sử đấu tranh gc. Trong XH có gc đối kháng thì gc là
1 trong những động lực thúc đẩy sự phát triển của XH. Vai trị đó thể hiện:
+ Thơng qua đấu tranh gc thì mâu thuẫn giữa LLSX mới & QHSX lỗi thời sẽ giải quyết. Thúc đẩy sự
phát triển của XH từ HTKT- XH này đến HTKT XH khác tiến bộ hơn.
Sự phát triển của XH xèt đến cùng là do sự phát triển của LLSX quyết định. LLSX mới mâu thuẫn với
QHSX lỗi thời, biểu hiện về mặt XH là mâu thuẫn giữa gc đại diện cho LLSX mới và gc đại diện cho
QHSX lỗi thời. Mâu thuẫn đó chỉ có thể giải quyết bằng cuộc đấu tranh gc mà đỉnh cao là CMXH nhằm
xóa bỏ QHSX cũ, thiết lập QHSX mới.
+ Đấu tranh gc là động lực phát triển XH. Trong XH có gc đối kháng khơng chỉ thể hiện trong thời kỳ
CMXH mà cịn thể hiện trong cả thời kỳ hịa bình. Vd: cuộc đấu tranh chống kéo dài thời gian lao động,
sử dụng kỹ thuật hoàn thiện hơn để nâng cao năng suất LĐ cho nhân công, đấu tranh trong nước và áp lực
của các nước khác để có những cải cách tiến bộ.
+ Đấu tranh gc khơng chỉ có tác dụng cải tạo XH mà cịn có tác động cải tạo bản thân gc cách mạng.
Qua đấu tranh gc , gc CM được tôi luyện và trưởng thành về lý tưởng, lý luận, tổ chức.
* Liên hệ với Việt Nam
Hoàn cảnh mới của đấu tranh giai cấp ở nước ta hiện nay
-Các giai cấp đang biến đổi.
-Tình hình chính trị phức tạp
-Hội nhập quốc tế.

-Sự điều chỉnh của CNTB
-KHCN phát triển
-Thắng lợi của CNXH ở Việt Nam, Trung Quốc
-Thời kỳ quá độ
-Phong trào đấu tranh ở các nước phát triển
Đấu tranh giai cấp ở Việt Nam
* Quan hệ giai cấp ở Việt Nam. Ở Việt Nam hầu như khơng có những yếu tố kinh tế - xã hội để
tạo ra sự phân biệt giai cấp sâu sắc. Vì vậy, ở Việt Nam, sự hòa đồng, hòa giải giữa các giai cấp thường
mạnh hơn tư tưởng kỳ thị, sắc tộc, phân biệt đẳng cấp (dễ tiến lên CNCS).
• Mâu thuẫn nếu có giữa các giai cấp lại được điều tiết bởi các yếu tố khác mạnh hơn như nhu cầu
đoàn kết chống giặc ngoại xâm, chống thiên tai, trị thủy, quan hệ dòng họ... Chính sự đan bện chằng
chéo các quan hệ, các lợi ích, lúc thống nhất, lúc mâu thuẫn, lúc xô đẩy, lúc bù trừ nên mâu thuẫn giai
cấp, mâu thuẫn xã hội khó đạt đến đỉnh điểm
• Đặc điểm của cuộc đấu tranh giai cấp ở Việt Nam (CCVS, đan xen cũ - mới, tập trung vào năng
suất lao động, có Đảng lãnh đạo, các giai cấp thống nhất, khơng có ranh giới rõ ràng)
• Đối tượng của đấu tranh giai cấp.
• Nội dung chủ yếu của cuộc đấu tranh giai cấp là “thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục tình trạng nước nghèo, kém phát triển, thực
hiện công bằng xã hội, chống áp bức, bất công, đấu tranh ngăn chặn và khắc phục những tư tưởng và
hành động tiêu cực, sai trái; đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực
thù địch, bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng nước ta thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh, nhân dân
hạnh phúc”

20



×