Tải bản đầy đủ (.docx) (7 trang)

Tổng quan về INCOTERMS

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (141.05 KB, 7 trang )

I. Tổng quan về INCOTERMS
1. Mục đích của INCOTERMS
Trong thương mại quốc tế, thông thường cần tới 3 hợp đồng vận tải hàng hóa,
đó là:
Hợp đồng 1: từ cơ sở người bán (xưởng, kho, bãi,…) đến người chuyên chở
quốc tế trong nội địa nước người bán.
Hợp đồng 2: từ người chuyên chở quốc tế tại nước người bán đến một địa điểm
quy định tại nước người mua (cảng, sân bay đích…)
Hợp đồng 3: từ địa điểm hàng đến (vd: cảng đích…) tại nước người mua đến cơ
sở của người mua.
Như vậy, điều căn bản là phải xác định rõ ràng trách nhiệm của người bán kết
thúc ở đâu ? Và trách nhiệm của người mua bắt đầu từ đâu ?
Căn cứ chính làm cơ sở phân đoạn trách nhiệm giữa người bán và người mua
là: Ai là người chịu trách nhiệm trả cước phí vận tải, mua bảo hiểm, làm thủ tục và
trả chi phí thông quan XK, NK, quá cảnh qua nước khác…Nếu không có sự phân
chia rõ ràng như vậy, thì sẽ rất khó khăn cho người bán và người mua định giá bán
và giá mua là như thế nào.
Hơn nữa, do thương mại quốc tế thưởng sử dụng ngôn ngữ khác nhau, chịu sự
điều tiết về tập quán, luật lệ địa phương khác nhau dẫn đến sự hiểu lầm, tranh chấp
kiện tụng giữa các bên tham gia. Để hạn chế những bất đồng và thúc đẩy thương
mại quốc tế, Phòng thương mại quốc tế (ICC) đã soạn thảo các “Điều kiện thương
mại quốc tế (International Commerce Terms – INCOTERMS)”
INCOTERMS là bộ qui tắc do Phòng Thương mại Quốc tế ( ICC ) phát hành để
giải thích các điều kiện về thương mại quốc tế.
Do INCOTERMS hội tụ được tập quán phổ biến trong thương mại quốc tế nên
được toàn thế giới công nhận và áp dụng. INCOTERMS quy định những quy tắc
có liên quan đến giá cả và trách nhiệm của các bên (bên bán và bên mua) trong một
hoạt động thương mại quốc tế.
Được ban hành lần đầu tiên vào năm 1936, và được sửa đổi bổ sung vào các
năm 1953, 1967, 1976, 1980, 1990, 2000 và bây giờ là INCOTERMS 2010.
INCOTERMS 2010 là phiên bản mới nhất của INCOTERMS, được ICC xuất bản


tháng 9/2010 với 11 quy tắc mới và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2011.
Như vậy, mục đích chính của INCOTERMS là:
- Cung cấp bộ quy tắc nhằm giải thích những Điều kiện Thương mại thông
dụng nhất trong Thương mại quốc tế.
- Giúp các bên tránh được hoặc hạn chế được đáng kể những rủi ro phát sinh
do những khác biệt trong cách giải thích các điều kiện INCOTERMS ở các
nước khác nhau. Khi hợp đồng tham chiếu đến INCOTERMS, các bên sẽ
xác định được rõ ràng nghĩa vụ tương ứng và hạn chế những rắc rối về mặt
pháp lý.
- Tạo điều kiện thuận lợi và thúc đẩy giao dịch thương mại quốc tế.
2. Phạm vi điều chỉnh và tính chất pháp lý tùy ý của INCOTERMS.
a. Phạm vi điều chỉnh
Phạm vi điều chỉnh của INCOTERMS được giới hạn, bao gồm:
- Trong những vấn đề về quyền và nghĩa vụ của các bên ký kết hợp đồng mua
bán lien quan đến việc giao hàng ( với nghĩa là hàng hữu hình, mà không
bao gồm hàng “vô hình” ví dụ như các phần mềm máy tính…)
- INCOTERMS chỉ giải quyết mối quan hệ giữa người mua và người bán theo
hợp đồng mua bán và chỉ điều chỉnh một số khía cạnh cụ thể trong hợp đồng
này. Một thương vụ hoàn thành cần liên quan đến nhiều hợp đồng khác
nhau: như hợp đồng vận tải, hợp đồng bảo hiểm và hợp đồng tài trợ thương
mại, trong khi đó INCOTERMS chỉ liên quan đến một hợp đồng đó là hợp
đồng mua bán hàng hóa. Tuy nhiên, khi đã thỏa thuận áp dụng
INCOTERMS, thì INCOTERMS cũng được áp dụng cho các hợp đồng có
liên quan. Ví dụ: với điều kiện CFR hoặc CIF thì người bán không thể thực
hiện nghĩa vụ bằng các phương thức vận tải khác với vận tải bằng đường
biển. Hơn nữa, tính phù hợp của bộ chứng từ thanh toán theo L/C phụ thuộc
vào chứng từ vận tải quy định trong L/C, nên không thể tùy ý lựa chọn
phương thức vận tải khác.
- Cho dù INCOTERMS là cực kì quan trọng cho việc thực hiện hợp đồng mua
bán, tuy nhiên có rất nhiều vấn đề mà INCOTERMS lại không điều chỉnh,

như việc chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc các quyền về tài sản khác, hành
vi vi phạm hợp đồng và hậu quả của những vi phạm đó cũng như quyền
miễn trách trong một số trường hợp. Những điều như vậy phải được điều
chỉnh bằng các quy định cụ thể trong hợp đồng mua bán và theo luật áp
dụng.
- Về bản chất, INCOTERMS được áp dụng khi mua bán hàng hóa qua biên
giới, do đó, nó bao gồm các điều kiện thương mại quốc tế. Nhưng vì
INCOTERMS là văn bản quy phạm pháp luật tùy ý, nên đôi khi người ta lại
dùng nó cho thương mai nội địa, điều này là không khuyến khích và phải
thận trọng khi áp dụng các điều khoản INCOTERMS cho thích hợp.
Trong thực tế, có hai cách hiểu sai lầm phổ biến về INCOTERMS. Thứ nhất,
INCOTERMS thường bị hiểu lầm là áp dụng cho hợp đồng vận tải mà không phải
là hợp đồng mua bán hàng hóa. Thứ hai, đôi lúc INCOTERMS bị coi là bộ quy tắc
về mọi nghĩa vụ mà các bên muốn đưa vào hợp đồng.
Ngoài ra, thuật ngữ INCOTERMS còn được gọi bằng các thuật ngữ khác đan
xen như “Shipment Terms”, “Terms of Delivery” hay “Trade Terms”
b. Tính chất pháp lý tùy ý của INCOTERMS:
INCOTERMS là văn bản do ICC phát hành, mà ICC là một tổ chức mang tính
xã hội (phi chính phủ) chứ không phải là một tổ chức liên chính phủ, do đó,
INCOTERMS không mang tính chất pháp lý bắt buộc đối với các hội viên cũng
như các bên liên quan. Tính chất pháp lý tùy ý của INCOTERMS thể hiện ở các
điểm chính:
- Tất cả các phiên bản INCOTERMS đều còn hiệu lực, nghĩa là phiên bản sau
không phủ nhận phiên bản trước. Do đó, khi dẫn chiếu INCOTERMS trong
hợp đồng mua bán phải nói rõ là áp dụng INCOTERMS nào.
- Chỉ khi trong hợp đồng mua bán có dẫn chiếu áp dụng INCOTERMS, thì nó
mới trở nên có hiệu lực pháp lý bắt buộc điều chỉnh các bên liên quan.
- Các bên có thể thỏa thuận trong các hợp đồng mua bán:
• Không thực hiện, hoặc thực hiện khác đi một hoặc một số điều không
quy định trong INCOTERMS.

• Bổ sung những điều khoản trong hợp đồng mà INCOTERMS không đề
cập.
- Nếu nội dung INCOTERMS có xung đột với luật quốc gia, thì luật quốc gia
vượt lên trên về mặt pháp lý. Điều này hàm ý, phán quyết của tòa án địa
phương có thể phủ nhận các điều khoản của INCOTERMS.
Do là văn bản pháp lý tùy ý, nên ICC sẽ được miễn trách khi có sai sót, tổn thất
phát sinh trong quá trình áp dụng. Các bên liên quan khi áp dụng INCOTERMS
cần phải hiểu thấu đáo nội dung, sử dụng thành thạo kĩ năng nghiệp vụ có liên
quan.
Do các mẫu hợp đồng mua bán thường được in sẵn, trong đó có điều khoản áp
dụng INCOTERMS, nên để tránh sự hiểu lầm, khi kí hợp đồng mua bán các bên
phải đặc biệt chú ý đến điều khoản áp dụng INCOTERMS. Nếu điều khoản
INCOTERMS in sẵn không thích hợp (phiên bản cũ), thì phải sửa lại theo ý chí của
các bên.
3. Lịch sử hình thành và phát triển của INCOTERMS:
Bộ Incoterms đầu tiên được ICC ban hành vào năm 1936 dưới tên gọi
INCOTERMS 1936. Ðể phù hợp với thực tế thương mại INCOTERMS đã được
sửa đổi bổ sung vào các năm 1953, 1967, 1976, 1980, 1990, 2000 và lần gần đây
nhất đã cho ra đời bộ INCOTERMS 2010.
INCOTERMS 1980
Gồm 14 điều kiện: Ex Works; Free Carrier; Free on Rail/Free on Truck; Fob
Airport; Free alongside Ship; Free on Board; Cost and Freight; Cost, insurance and
freight; Freight Carriage paid to; Freight Carriage and insurance paid to; Ex Ship;
Ex Quay; Delivered at frontier; Delivered Duty paid.
INCOTERMS 1990
Gồm 13 điều kiện: EXW; FCA; FAS; FOB; CFR; CIF; CPT; CIP; DAF; DES;
DEQ; DDU; DDP.
INCOTERMS 2000
Gồm 13 điều kiện: EXW; FCA; FAS; FOB; CFR; CIF; CPT; CIP; DAF; DES;
DEQ; DDU; DDP và được chia làm 4 nhóm (E, F, C, D)

INCOTERMS 2010
INCOTERMS 2010 là phiên bản thứ 8 sẽ có hiệu lực áp dụng kể từ ngày 1
tháng 1 năm 2011. INCOTERMS 2010 sẽ đưa vào áp dụng các thông lệ mới nhất
trong thương mại, cập nhật và tổng hợp một số các quy tắc cũ. Hệ thống phân loại
mới của INCOTERMS 2010 phân chia quy tắc của 11 thông lệ thương mại thành
hai nhóm riêng biệt: (1). Nhóm các quy tắc áp dụng cho tất cả các hình thức vận tải
và (2). Nhóm các quy tắc áp dụng cho vận tải đường thủy. Số điều kiện trong
INCOTERMS 2010 đã giảm từ 13 xuống 11. Có được điều này là nhờ việc thay
thế bốn điều kiện cũ của INCOTERMS 2000 (DAF, DES, DEQ, DDU) bằng hai
điều kiện mới có thể sử dụng cho mọi phương thức vận tải là DAT – Giao hàng tại
bến và DAP – Giao tại nơi đến.
4. Tại sao phải sửa đổi INCOTERMS:
Nhằm tương thích với những thay đổi về môi trường và điều kiện thương mại
quốc tế, đặc biệt là:
Trong bối cảnh ngoại thương phát triển ngày càng sôi động và phức tạp dẫn đến
nhiều khả năng hiểu lầm và tranh chấp, khi hợp đồng không được soạn thảo chặt
chẽ.

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×