Tải bản đầy đủ (.doc) (89 trang)

Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam trong hệ thống phân phối tại thị trường nội địa thời kỳ hậu WTO.doc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (455.41 KB, 89 trang )

- 1 -
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau gần 12 năm đàm phán, ngày 07 tháng 11 năm 2006 Việt Nam đã chính thức
được kết nạp vào WTO và trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức này. Gia nhập
WTO, Việt Nam đã thể hiện sự hội nhập một cách mạnh mẽ và toàn diện với thế giới
thông qua những cam kết cụ thể cả trong lĩnh vực hàng hoá, dịch vụ, trợ cấp, đầu tư
liên quan đến thương mại, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ... Trong đó, các cam kết về mở
cửa thị trường dịch vụ phân phối của Việt Nam trong WTO được đánh giá là khá
mạnh mẽ. Vì vậy, ngành phân phối bán lẻ của Việt Nam sẽ chịu nhiều tác động từ
quá trình mở cửa thị trường trong khuôn khổ thực hiện các cam kết của WTO. Các
tác động này đặc biệt phụ thuộc vào năng lực cạnh tranh của các nhà bán lẻ trong
nước.
Các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam rất dễ bị tổn thương khi phải đương đầu với
những áp lực cạnh tranh từ phía các nhà phân phối bán lẻ nước ngoài vì mức độ phát
triển của ngành dịch vụ này ở Việt Nam còn khá thấp. Ở thời điểm hiện tại, một số
tập đoàn bán lẻ nước ngoài đã có những bước đi đầu tiên khá vững chắc tại thị trường
Việt Nam; một số khác đang chuẩn bị cho những kế hoạch lớn, dài hơi với mục tiêu
chiếm lĩnh thị trường bán lẻ Việt Nam - như họ từng làm và từng thành công tại
nhiều quốc gia khác. Sức ép đối với các nhà phân phối, bán lẻ trong nước là rất lớn.
Đối mặt với các tập đoàn nước ngoài hùng mạnh trong điều kiện cơ sở hạ tầng yếu
kém, Nhà nước chưa có những chính sách, quy hoạch rõ ràng cho thị trường bán lẻ,
lại gặp rất nhiều khó khăn về vốn, nhân lực, hậu cần, kinh nghiệm…các nhà bán lẻ
trong nước đang đứng trước nguy cơ “thua trên sân nhà”. Nếu thua trên quy mô ngày
càng rộng, hậu quả sẽ không chỉ dừng lại ở chỗ mất thị trường bán lẻ vào tay các tập
đoàn nước ngoài, mà kéo theo nó là sự sụp đổ của các nhà sản xuất trong nước, và
hoạt động nhập khẩu cũng bị chi phối. Đó sẽ không chỉ là nạn thất nghiệp của hàng
vạn, thậm chí hàng chục vạn thương nhân, mà còn là tình trạng mất thị trường tiêu
thụ của hàng triệu lao động cả ở nông thôn lẫn đô thị.
- 2 -
Vậy, Nhà nước và các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam phải đối mặt với nguy cơ


đó như thế nào? Cần những giải pháp gì để nâng cao năng lực cạnh tranh của các
doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam trong điều kiện chúng ta mở cửa thị trường?
Nhận thấy đây là một vấn đề rất cấp thiết trong tình hình hiện nay, người viết
chọn nghiên cứu đề tài: “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp bán lẻ Việt Nam trong hệ thống phân phối tại thị trường nội địa thời kỳ
hậu WTO”.
2. Tình hình nghiên cứu
Cho tới nay ở Việt Nam chưa có một nghiên cứu đầy đủ, chuyên sâu nào về thị
trường bán lẻ. Các vấn đề lý thuyết về bán lẻ chiếm vị trí khiêm tốn trong các tài liệu,
nghiên cứu về hệ thống phân phối hàng hoá. Số liệu thống kê về thị trường bán lẻ chỉ
được đề cập đến trong các báo cáo thường niên hay trong các thống kê về hoạt động
thương mại nội địa của Bộ Thương mại, Bộ Kế hoạch - Đầu tư, Tổng cục Thống kê.
Cũng đã có một số nghiên cứu đề cập đến một vài khía cạnh của vấn đề, như:
“Đánh giá một số tác động về kinh tế và xã hội của việc thực hiện các cam kết mở
cửa thị trường dịch vụ phân phối của Việt Nam trong khuôn khổ WTO” của Bộ
Thương Mại; “Quy hoạch phát triển ngành thương mại Việt Nam” do Viện Nghiên
cứu Thương mại - Bộ Thương mại thực hiện, được điều chỉnh vào năm 2000-2001;
“Những giải pháp phát triển mạng lưới siêu thị ở Việt Nam trong giai đoạn từ nay
đến 2010” của TS. Nguyễn Thị Nhiễu; “Giải pháp phát triển cửa hàng tiện lợi vận
doanh theo chuỗi ở Việt Nam đến năm 2010” của Th.S Lê Minh Châu; và một số đề
tài nghiên cứu cấp Bộ do Bộ Thương mại chủ trì về mô hình tổ chức trung tâm
thương mại, các giải pháp phát triển chợ, giải pháp phát triển kênh phân phối hàng
hoá…Trong khoảng thời gian 3 năm gần đây, có một số cuộc hội thảo về vấn đề phát
triển hệ thống phân phối bán lẻ đã được tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh và Hà
Nội.
Euromonitor International - công ty nghiên cứu thị trường nổi tiếng thế giới đã
tiến hành một nghiên cứu khá chi tiết về thực trạng và xu hướng phát triển của thị
- 3 -
trường bán lẻ Việt Nam và công bố vào năm 2004. Tuy nhiên, người viết chưa thể
tiếp cận với nghiên cứu này, do chi phí quá cao.

3. Mục đích nghiên cứu
Khóa luận đưa ra những phân tích, đánh giá khái quát về các doanh nghiệp phân
phối bán lẻ hoạt động trên thị trường Việt Nam và năng lực cạnh tranh của các doanh
nghiệp bán lẻ Việt Nam trong mối tương quan với các tập đoàn phân phối nước ngoài
trên thị trường nội địa; phân tích ảnh hưởng của việc nước ta thực hiện cam kết mở
cửa thị trường trong khuôn khổ thực hiện các cam kết của WTO đến các doanh
nghiệp này; qua đó đề xuất các giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của các
doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích trên, khoá luận có nhiệm vụ:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về bán lẻ và các chỉ tiêu để đánh giá năng lực
cạnh tranh của các doanh nghiệp bán lẻ.
- Tìm hiểu một số quy định về siêu thị, trung tâm thương mại và một số quy
định trong Luật Cạnh tranh.
- Phân tích, đánh giá năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bán lẻ Việt
Nam trong mối tương quan với các nhà phân phối nước ngoài trên thị
trường nội địa.
- Phân tích cơ hội và thách thức của các doanh nghiệp bán lẻ khi Việt Nam
thực hiện các cam kết của WTO, những xu hướng tác động đến các doanh
nghiệp bán lẻ trong thời gian tới.
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh
nghiệp bán lẻ Việt Nam.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp phân phối bán
lẻ của Việt Nam.
- 4 -
Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận tập trung phân tích đánh giá hoạt động của các
doanh nghiệp phân phối bán lẻ Việt Nam và các tập đoàn phân phối nước ngoài qua
hệ thống các siêu thị, trung tâm thương mại và các cửa hàng bán lẻ tự chọn.
Do hạn chế về tài liệu, thời gian, nên các phân tích thực trạng chỉ tập trung phân

tích những nét tổng quan nhất của các doanh nghiệp bán lẻ tại Việt Nam trong giai
đoạn 2000 – 2006; các dự báo, đề xuất được thực hiện cho giai đoạn từ nay đến năm
2010 và sau 2010.
Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nói chung,
doanh nghiệp phân phối bán lẻ nói riêng rất nhiều nhưng người viết chỉ xin nêu và
phân tích một số chỉ tiêu tiêu biểu: tiềm lực tài chính; trình độ lao động, trang thiết bị,
công nghệ; trình độ quản lý và tổ chức kinh doanh, am hiểu tập quán mua bán, thói
quen của khách hàng; năng lực R&D, khả năng bao quát thị trường; giá cả và chủng
loại hàng hóa cung ứng; truyền tin và xúc tiến; danh tiếng.
Các giải pháp đề xuất chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống
siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng bán lẻ tự chọn của các doanh nghiệp bán lẻ
Việt Nam.
6. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu mà người viết sử dụng trong quá trình thực hiện khoá
luận là: đánh giá, nghiên cứu tài liệu, phân tích, đánh giá, so sánh, lý luận logic.
7. Kết cấu khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung khóa
luận được chia làm 3 chương:
Chương 1: Bán lẻ, các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của các doanh
nghiệp bán lẻ và một số quy định pháp luật liên quan.
Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bán lẻ Việt
Nam tại thị trường nội địa thời kỳ hậu WTO.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
bán lẻ Việt Nam trên thị trường nội địa thời kỳ hậu WTO.
- 5 -
Chương 1 – BÁN LẺ, CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH
TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP BÁN LẺ VÀ MỘT SỐ QUY ĐỊNH
PHÁP LUẬT LIÊN QUAN
1.1. Một số vấn đề về bán lẻ
1.1.1. Định nghĩa bán lẻ

Có nhiều định nghĩa khác nhau về bán lẻ, trong đó có 2 định nghĩa được thừa
nhận và sử dụng khá rộng rãi, đó là định nghĩa bán lẻ của Philip Kotler và định nghĩa
của Từ điển bách khoa toàn thư mở Wikipedia.
Trong “Marketing Essentials” - Philip Kotler đã định nghĩa bán lẻ như sau:
Bán lẻ là mọi hoạt động nhằm bán hàng hoá hay dịch vụ trực tiếp cho người
tiêu dùng cuối cùng để họ sử dụng cho cá nhân, không mang tính thương mại [12, tr.
290] .
Bất kỳ một tổ chức nào làm công việc này cũng là một tổ chức bán lẻ, bất kể
hàng hoá hay dịch vụ đó được bán như thế nào (bán trực tiếp, qua bưu điện, qua điện
thoại hay qua máy bán hàng tự động) và ở đâu (trong cửa hàng, trong chợ, trên đường
phố hay tại nhà người tiêu dùng).
Còn Từ điển bách khoa toàn thư mở Wikipedia đưa ra định nghĩa:
Bán lẻ bao gồm việc bán hàng hoá cho cá nhân hoặc hộ gia đình để họ tiêu
dùng, tại một địa điểm cố định, hoặc không tại một địa điểm cố định mà qua các
dịch vụ liên quan [16].
Trong thương mại, nhà bán lẻ mua hàng hoá với số lượng lớn từ nhà sản xuất
hoặc nhà nhập khẩu, trực tiếp hoặc qua nhà bán buôn, sau đó bán lại từng mặt hàng
hoặc lượng nhỏ hàng hoá tới công chúng hoặc người tiêu dùng cuối cùng.
1.1.2. Vị trí của bán lẻ
1.1.2.1. Vị trí của dịch vụ bán lẻ trong ngành dịch vụ phân phối
Theo phân ngành dịch vụ của WTO, dịch vụ bán lẻ là một trong 5 tiểu ngành
của dịch vụ phân phối bao gồm: 1) Dịch vụ đại lý hoa hồng; 2) Dịch vụ bán buôn; 3)
Dịch vụ bán lẻ; 4) Cấp phép; 5) Các dịch vụ khác.
- 6 -
Tuy nhiên, theo tài liệu mã số MTN.GNS/W/120 được xây dựng trong vòng
Urugoay dựa trên Phân loại danh mục sản phẩm trung tâm tạm thời của Liên Hiệp
Quốc (CPC) và được hầu hết các thành viên WTO sử dụng làm cơ sở cho việc xây
dựng lộ trình cam kết, thì bán lẻ là một trong bốn nhóm dịch vụ chính của dịch vụ
phân phối, bao gồm: dịch vụ đại lý ủy quyền, dịch vụ bán buôn, dịch vụ bán lẻ,
nhượng quyền [16].

1.1.2.2. Vị trí của nhà bán lẻ trong kênh phân phối
Các nhà sản xuất thường cung cấp hàng hoá của mình cho thị trường thông qua
các kênh phân phối. Và các nhà bán lẻ nằm ở vị trí cuối cùng trong kênh phân phối
đó. Họ nhận hàng hoá từ nhà sản xuất, nhà nhập khẩu hoặc nhà bán buôn, và bán trực
tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng.
Sơ đồ 1.1 đơn giản sau đây cho thấy vị trí của nhà bán lẻ trong kênh phân phối:
Sơ đồ 1.1: Vị trí của nhà bán lẻ trong kênh phân phối

[12, tr.314]
1.1.3. Chức năng của nhà bán lẻ
Bán lẻ là một khâu trong quá trình phân phối, vì thế, nhà bán lẻ cũng đảm
nhiệm đầy đủ các chức năng của một thành viên trong kênh phân phối, bao gồm:
Nhà
SX
(NK)
Người
tiêu
dùng
Nhà
SX
(NK)
Nhà
SX
(NK)
Nhà
SX
(NK)
Người
tiêu
dùng

Người
tiêu
dùng
Người
tiêu
dùng
Nhà
bán lẻ
Nhà
bán lẻ
Nhà
bán lẻ
Nhà
bán sỉ
Nhà
bán sỉ
Người
bán sỉ
nhỏ
Kênh
cấp
không
Kênh
một
cấp
Kênh
hai cấp

Kênh
ba cấp


- 7 -
Thứ nhất, nghiên cứu, thu thập thông tin cần thiết để lập kế hoạch và tạo thuận
lợi cho việc trao đổi.
Như chúng ta đã thấy trong sơ đồ trên, vị trí của nhà bán lẻ là vị trí cuối cùng
trong kênh phân phối, tức tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng. Vì thế, người bán lẻ
có nhiều thuận lợi trong việc thu thập những thông tin cần thiết về nhu cầu, về thị
hiếu khách hàng…Những thông tin này giúp nhà bán lẻ thoả mãn yêu cầu của người
tiêu dùng tốt hơn. Thêm vào đó, nhà bán lẻ còn có thể phản ảnh những thông tin này
trở lại nhà sản xuất, giúp nhà sản xuất cải tiến hàng hoá của mình hoặc sản xuất ra
những sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu khách hàng.
Thứ hai, kích thích tiêu thụ, soạn thảo và truyền bá những thông tin về hàng
hoá.
Các nhà bán lẻ là một kênh vô cùng quan trọng trong việc kích thích tiêu thụ và
truyền bá những thông tin về hàng hoá từ nhà sản xuất, cũng bởi đặc thù trong hoạt
động của họ: tiếp xúc trực tiếp và hiểu được nhu cầu của người tiêu dùng. Về kích
thích tiêu thụ hàng hoá, các nhà bán lẻ có thể tiếp tục những biện pháp kích thích tiêu
thụ của nhà sản xuất, hoặc có thể có phương cách kích thích tiêu thụ của riêng mình.
Thứ ba, thiết lập các mối liên hệ, tạo dựng và duy trì mối liên hệ với những
người mua tiềm ẩn.
Do là người trực tiếp bán hàng đến tay người tiêu dùng, thực hiện các giao dịch
với người tiêu dùng nên nhà bán lẻ chính là người trực tiếp thực hiện công việc tạo
dựng và duy trì mối liên hệ với người tiêu dùng nói chung và với những khách hàng
tiềm năng mà nhà sản xuất nhắm tới nói riêng. Trong quá trình bán hàng, nhà bán lẻ
tư vấn về sản phẩm, giới thiệu sản phẩm với khách hàng, đó chính là cách tạo dựng
và duy trì mối quan hệ rất tốt với khách hàng tiềm năng. Do mối quan hệ tốt với
khách hàng, những lời giới thiệu về sản phẩm của nhà phân phối thường được khách
hàng dễ tin tưởng và chấp nhận hơn là các quảng cáo thông thường.
Thứ tư, hoàn thiện hàng hoá, làm cho hàng hoá đáp ứng được những yêu cầu
của người mua.

- 8 -
Nhà bán lẻ có thể nhận hàng hoá đã hoàn thiện từ nhà sản xuất hay nhà bán
buôn, nhưng với nhiều mặt hàng, nhà bán lẻ cũng đảm nhiệm vai trò phân loại, sắp
xếp, sơ chế, đóng gói…để đưa sản phẩm tới tay người tiêu dùng. Do tiếp xúc thường
xuyên với khách hàng, hơn ai hết nhà bán lẻ hiểu được nhu cầu, thị hiếu của khách
hàng để thực hiện công việc này một cách tốt nhất, cung cấp sản phẩm đến tay khách
hàng trong điều kiện tốt nhất và dưới hình thức phù hợp nhất.
Thứ năm, tiến hành thương lượng, thoả thuận với nhà sản xuất, nhà nhập khẩu hay nhà
bán buôn về giá cả và các điều kiện khác để thực hiện bước tiếp theo là chuyển giao quyền sở
hữu và quyền sử dụng cho người tiêu dùng cuối cùng.
Đây là bước tất yếu mà nhà bán lẻ phải thực hiện trong quá trình kinh doanh. Trước hết,
nhà bán lẻ phải tiến hành thương lượng với nhà sản xuất, nhà nhập khẩu hoặc nhà bán buôn về
các điều kiện giá cả, giao hàng, thanh toán….Chỉ khi hai bên đã đạt được các thỏa thuận thì nhà
bán lẻ mới được cung cấp sản phẩm để tiến hành kinh doanh. Sau khi có sản phẩm, nhà bán lẻ
thực hiện bước tiếp theo là đưa hàng hóa đến tay người tiêu dùng.
Thứ sáu, tổ chức lưu thông hàng hoá, vận chuyển và bảo quản, dự trữ hàng hoá.
Nhà bán lẻ sau khi thỏa thuận mua bán với nhà sản xuất, nhà nhập khẩu hoặc
nhà bán buôn sẽ tiến hành vận chuyển hàng hóa về đến kho hoặc địa điểm kinh doanh
của mình. Đồng thời, nhà bán lẻ thực hiện bảo quản hàng hóa để đảm bảo chất lượng
hàng hóa còn tốt đến tận tay người tiêu dùng. Nhà bán lẻ cũng thực hiện việc dự trữ
hàng hóa một cách hợp lý để phục vụ công việc kinh doanh của mình.
Thứ bảy, đảm bảo kinh phí, tìm kiếm và sử dụng nguồn vốn để bù đắp các chi
phí hoạt động của kênh phân phối (nói chung).
Để thực hiện các chức năng như đã đề cập ở trên, nhà bán lẻ phải huy động các
nguồn vốn để tiến hành các hoạt động tương ứng. Nhà bán lẻ phải đảm nhiệm các chi
phí cho lưu thông, vận chuyển, bảo quản, dự trữ, sắp xếp, đóng gói…. để đưa hàng hóa
đến tay người tiêu dùng. Như vậy, nhà bán lẻ đã dùng nguồn vốn của mình và nguồn
vốn huy động được để trang trải các chi phí trong quá trình phân phối hàng hóa.
Thứ tám, chấp nhận rủi ro và gánh chịu trách nhiệm về hoạt động của kênh.
- 9 -

Là một thành viên của kênh phân phối, nhà bán lẻ chủ động tiến hành các hoạt
động kinh doanh của mình. Sử dụng nguồn vốn của mình và tự chịu trách nhiệm về
hoạt động kinh doanh, nhà bán lẻ đương nhiên phải gánh chịu các rủi ro trong quá
trình phân phối hàng hóa. Khi tiếp nhận quyền sở hữu hàng hoá và chịu các chi phí
do hàng hoá bị hư hỏng, lỗi thời hay bị mất cắp, nhà bán lẻ đã gánh chịu một phần rủi
ro.
1.2. Khái niệm và một số chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của các
doanh nghiệp bán lẻ
1.2.1. Khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Phần lớn các tác giả đều gắn năng lực cạnh tranh doanh nghiệp với ưu thế của
sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường hoặc gắn năng lực cạnh tranh với vị trí
của doanh nghiệp trên thị trường theo thị phần mà nó chiếm giữ thông qua khả năng
tổ chức, quản trị kinh doanh hướng vào đổi mới công nghệ, giảm chi phí nhằm duy
trì hay gia tăng lợi nhuận, đảm bảo sự tồn tại, phát triển bền vững của doanh nghiệp.
Trước tiên, trong lý thuyết tổ chức công nghiệp, khái niệm năng lực cạnh tranh
được áp dụng ở phạm vi xí nghiệp. Một xí nghiệp được xem là có năng lực cạnh
tranh khi xí nghiệp đó duy trì được vị thế của mình trên thị trường so với các nhà sản
xuất khác, các sản phẩm thay thế, hoặc đưa ra thị trường các sản phẩm tương tự với
mức giá thấp hơn, hoặc cung cấp các sản phẩm tương tự với các đặc tính về chất
lượng hay dịch vụ ngang bằng hoặc cao hơn [1].
Theo Fafchamps, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh
nghiệp đó có thể sản xuất sản phẩm với chi phí biến đổi trung bình thấp hơn giá của
nó trên thị trường, có nghĩa là doanh nghiệp nào có chất lượng tương tự như sản
phẩm của doanh nghiệp khác, nhưng với chi phí thấp hơn thì được coi là có khả năng
cạnh tranh cao [19].
Randall lại cho rằng, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng giành
được và duy trì thị phần trên thị trường với lợi nhuận nhất định.
- 10 -
Dunning lập luận rằng, năng lực cạnh tranh của một công ty trong một lĩnh vực
được xác định bằng những thế mạnh mà công ty có hoặc huy động được để có thể

cạnh tranh thắng lợi [19].
Markusen (1992) đã đưa ra một khái niệm “một nhà sản xuất là cạnh tranh nếu
như nó có một mức chi phí đơn vị trung bình bằng hoặc thấp hơn chi phí đơn vị của
các nhà cạnh tranh quốc tế” [9].
Một quan niệm khác cho rằng, “năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được
hiểu là tích hợp các khả năng và nguồn nội lực để duy trì và phát triển thị phần, lợi
nhuận và định vị những ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp đó trong mối quan hệ
với đối thủ cạnh tranh trực tiếp và tiềm tàng trên một thị trường mục tiêu xác định”
[11].
Như vậy, trên thực tế đang tồn tại nhiều quan niệm cụ thể, khác nhau về năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Song tựu chung lại, khi tiếp cận năng lực cạnh
tranh doanh nghiệp, cần chú ý 4 vấn đề cơ bản sau:
Một là, trong điều kiện kinh tế thị trường, phải lấy yêu cầu của khách hàng là
chuẩn mực đánh giá sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Bởi lẽ, yêu cầu của khách
hàng vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sản xuất, kinh doanh. Cùng một loại sản
phẩm các nhóm khách hàng khác nhau có những nhu cầu rất khác nhau.
Hai là, yếu tố cơ bản tạo nên sức mạnh trong việc lôi kéo khách hàng phải là
thực lực của doanh nghiệp. Thực lực này chủ yếu được tạo thành từ những yếu tố nội
tại của doanh nghiệp và được thể hiện ở uy tín của doanh nghiệp.
Ba là, khi nói tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp luôn hàm ý so sánh với
doanh nghiệp hữu quan (các đối thủ cạnh tranh) cùng hoạt động trên thị trường.
Muốn tạo nên năng lực cạnh tranh thực thụ, thực lực của doanh nghiệp phải tạo nên
lợi thế so sánh với các đối thủ cạnh tranh. Chính nhờ lợi thế này, doanh nghiệp có thể
giữ được khách hàng của mình và lôi kéo khách hàng của các đối thủ cạnh tranh.
Bốn là, các biểu hiện năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có quan hệ ràng
buộc nhau. Một doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh mạnh khi nó có khả năng thỏa
mãn đầy đủ nhất tất cả những yêu cầu của khách hàng. Song khó có doanh nghiệp
- 11 -
nào có được yêu cầu này, thường thì có lợi thế về mặt này, lại có thế yếu về mặt
khác. Bởi vậy, việc đánh giá đúng đắn những mặt mạnh và mặt yếu của từng doanh

nghiệp có ý nghĩa trọng yếu với việc tìm các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh.
Do đó, có thể hiểu: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện thực lực và
lợi thế của doanh nghiệp so với các đối thủ khác trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi
hỏi của khách hàng để thu lợi ích ngày càng cao cho doanh nghiệp trong môi trường
cạnh tranh trong nước và ngoài nước.
1.2.2. Một số chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Việc đánh giá năng lực cạnh tranh nếu chỉ dừng lại ở định tính, thì không tránh
được các yếu tố cảm tính, bởi vậy, phải cố gắng lượng hóa. Tuy nhiên, khó có được
một chỉ tiêu tổng hợp đo lường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bán lẻ. Do vậy,
cần sử dụng hệ thống chỉ tiêu:
1.2.2.1. Tiềm lực tài chính
Tiềm lực tài chính của một doanh nghiệp có tầm quan trọng tối cao trong việc
nâng cao vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp bán lẻ. Khả năng nguồn tài chính mạnh
cần được cân nhắc khi đánh giá năng lực cạnh tranh các tham số: lợi nhuận, dòng tiền
mặt, tỷ lệ vốn vay, mức dự trữ và hiệu suất lợi tức cổ phần. Cụ thể, các hệ số thanh
khoản (tỷ lệ thanh khoản có thể sử dụng, tỷ lệ vốn có thể sử dụng ngay), các hệ số
hoạt động (chu chuyển tài sản, chu chuyển dự trữ, chu chuyển khoản nợ phải thu),
các chỉ số sinh lợi (lợi nhuận cận biên, tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư), các tỷ số
vốn vay (nợ trên tài sản ròng, nợ trên tổng tài sản), phân tích các nguồn vốn và sử
dụng các ngân quỹ.
1.2.2.2. Trình độ lao động, trang thiết bị, công nghệ
Việc phân tích tác nhân này bao hàm những cân nhắc về trình độ lực lượng lao
động và năng suất công việc, những yêu cầu kỹ năng, đào tạo, các kế hoạch tuyển
dụng, ảnh hướng các tổ chức công đoàn, khả năng hiện tại và tương lai của đội ngũ
nhân sự, điều kiện làm việc và tinh thần của lực lượng lao động kể cả việc đánh giá
văn hóa doanh nghiệp. Điểm hạn chế điển hình về năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực
này của các doanh nghiệp Việt Nam là sự yếu kém về kỹ năng nghề nghiệp, thiếu
- 12 -
tinh thần doanh nhân, bộ máy cồng kềnh và thiếu năng động của tổ chức công đoàn.
Trong doanh nghiệp thương mại và dịch vụ, con người lại càng là yếu tố quyết định

đến ưu thế cạnh tranh, đặc biệt là trong việc cung ứng các dịch vụ cho khách hàng
hiệu quả. Những tác nhân như sự thân mật, sự đáp ứng kịp thời, sự nhanh chóng
trong thủ tục xử lý các đơn hàng, sự thanh toán thành thạo, khả năng biểu cảm, sự
nhiệt tình và giữ bình tĩnh của bộ máy nhân sự là chìa khóa cho thành công của doanh
nghiệp trong cạnh tranh.
Trình độ máy móc thiết bị và công nghệ có ảnh hưởng một cách sâu sắc tới
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nó là yếu tố vật chất quan trọng bậc nhất thể
hiện năng lực sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp và tác động trực tiếp tới
chất lượng sản phẩm. Ngoài ra, công nghệ sản xuất, máy móc thiết bị cũng ảnh
hưởng đến giá thành và giá bán sản phẩm. Một doanh nghiệp có trang thiết bị máy
móc hiện đại thì sản phẩm của họ nhất định có chất lượng cao. Ngược lại không có
một doanh nghiệp nào có thể nói là có năng lực cạnh tranh cao khi mà trong tay họ là
cả hệ thống máy móc cũ kỹ với công nghệ sản xuất kinh doanh lạc hậu.
1.2.2.3. Trình độ quản lý và tổ chức kinh doanh
Do môi trường kinh doanh luôn ở trạng thái không ổn định, thay đổi một cách
chóng mặt, đòi hỏi các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển được phải linh động
thích ứng với các biến động đó, nếu không doanh nghiệp sẽ trở thành lạc hậu và bị
loại khỏi cuộc. Nhu cầu luôn thay đổi, chu kỳ sống của sản phẩm bị rút ngắn, các sản
phẩm thay thế liên tục xuất hiện với chất lượng, mẫu mã, công dụng cao hơn. Do
vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đánh giá bởi sự linh hoạt và biết
thực hành của doanh nghiệp để luôn đáp ứng được nhu cầu luôn thay đổi của thị
trường. Sự linh hoạt và biết thực hành trong quản lý sẽ giảm được tỷ lệ chi phí quản
lý trong giá thành sản phẩm, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm và
doanh nghiệp.
Theo JP. Kotler, quản trị là sự đương đầu với tính phức hợp - một quyết định
quản trị tốt phải đạt được một mức quyết định và khả năng định hướng đúng vào các
vấn đề chất lượng và tính sinh lợi của sản phẩm. Nhằm giải quyết tính phức hợp, các
- 13 -
nhà quản trị tiến hành việc hoạch định (xác lập mục tiêu chung cho tương lai, thiết
lập các bước chi tiết đạt mục tiêu đó), lập ngân sách (phân bổ các nguồn để đạt mục

tiêu), tổ chức (tạo lập kết cấu tổ chức, các công việc thực hiện kế hoạch) và kiểm tra
(theo dõi thực hiện và tiến hành các hoạt động thích hợp đảm bảo kế hoạch được thực
hiện tốt). Việc đánh giá năng lực và hiệu quả ra sao trong so sánh với các đối thủ
cạnh tranh. Mặt khác, lãnh đạo cũng giống như việc đương đầu với sự thay đổi - sự
đạt tới của một tầm nhìn. JP. Kotler biện luận rằng, điều này đòi hỏi nhà quản trị phải
có khả năng thúc đẩy và truyền cảm - giữ mọi người hành động theo định hướng
đúng bất chấp những trở ngại và thay đổi, bằng việc khơi dậy những nhu cầu giá trị
và cảm hứng có tính căn bản nhưng thường chưa được khai thác. Việc đánh giá năng
lực lãnh đạo cần được cân nhắc trên cơ sở những thay đổi trong nghiên cứu môi
trường bên ngoài kỳ vọng đối với doanh nghiệp trong tương lai. Những thách thức
đối với doanh nghiệp càng lớn thì tầm quan trọng của sự lãnh đạo hữu hiệu càng lớn
[12, tr.317].
Từ triển vọng hoạch định chiến lược cạnh tranh mối quan tâm then chốt là
phạm vi mà quản trị cấp cao cam kết theo định hướng thị trường. Đó là phạm vi mà
bộ máy quản trị doanh nghiệp nỗ lực để định hướng nhận thức trong toàn doanh
nghiệp và sự cần thiết phải tập trung vào khách hàng và đối thủ cạnh tranh.
1.2.2.4. Am hiểu tập quán mua bán, thói quen của khách hàng
Đây là vấn đề rất quan trọng để có thể đứng vững trên thương trường. Mỗi địa
phương, mỗi đất nước có tập quán tiêu dùng và thói quen mua sắm riêng, vì vậy
doanh nghiệp cần nghiên cứu và hiểu rõ để đáp ứng được nhu cầu của khách hàng.
Một phương thức kinh doanh có thể thành công, phù hợp với thị trường này mà
không được chấp nhận ở thị trường khác vì nó đi ngược lại tập quán tiêu dùng của
địa phương. Nếu không nắm bắt được tập quán cũng như thói quen của khách hàng,
chắc chắn doanh nghiệp sẽ đi lạc hướng ngay từ đầu và thất bại là điều không thể
tránh được. Ngược lại, nếu nắm vững tập quán, thói quen tiêu dùng, doanh nghiệp đã
nắm được lợi thế lớn trong cuộc cạnh tranh với các đối thủ khác.
1.2.2.5. Năng lực R&D
- 14 -
Bao gồm cân nhắc về các thành tựu đổi mới để triển khai các sản phẩm mới,
quá trình mới, về nghiên cứu và triển khai được tổ chức ra sao (theo định hướng thị

trường hay định hướng công nghệ), ngân quỹ dành cho R&D và vị thế nói chung của
bộ phận R&D. R&D hữu hiệu cho phép doanh nghiệp có được sức mạnh trong đổi
mới công nghệ, có ưu thế trong giới thiệu sản phẩm mới thành công, cải tiến và cập
nhật liên tục các sản phẩm. Ngược lại, một doanh nghiệp có thể sẽ bị tụt hậu năng lực
cạnh tranh trong ngành bởi yếu kém trong R&D.
Trong thời đại của khoa học công nghệ hiện nay, hoạt động R&D ngày càng
quan trọng hơn với các doanh nghiệp vì không nắm được công nghệ, kỹ thuật mới
đồng nghĩa với việc doanh nghiệp tự loại mình ra khỏi cuộc. Vì vậy, các doanh
nghiệp trên thế giới ngày càng đầu tư nhiều cho R&D để liên tục đổi mới sản phẩm
và áp dụng những công nghệ mới nhất, phương thức kinh doanh hiện đại nhất nhằm
nâng cao năng lực cạnh tranh. Có thể nói R&D chính là chìa khóa quan trọng dẫn đến
thành công của các doanh nghiệp trong cuộc cạnh tranh khốc liệt trên thương trường.
1.2.2.6. Giá cả và chủng loại hàng hóa cung ứng
Giá cả phải đủ sức cạnh tranh với sản phẩm và dịch vụ cùng loại của các nước
khác, chí ít là các nước trong khu vực và những đối thủ cạnh tranh với mình. Bảng
giá đưa ra cần trả lời được câu hỏi rất đơn giản mà cơ bản: “với giá đó thì người mua
được gì?”. Điều cơ bản nữa mà các doanh nghiệp cần ghi nhớ là: giá cả là một cách
để “gợi chuyện” với khách hàng. “Câu chuyện kể” của doanh nghiệp cho khách hàng
nghe từ bảng giá rất quan trọng: kể về những cái được của khách hàng, và khi khách
hàng đã chịu nghe và tin “câu chuyện kể về cái được” thì giá của sản phẩm/dịch vụ
có cao cũng thành thấp hoặc ít nhất cũng là “phải chăng”. Tất nhiên, nhưng “cái
được” phải là cái có thật, nếu không “chuyện kể” từ giá bán lần sau sẽ chẳng còn
khách nào chịu nghe nữa.
Người tiêu dùng khi mua hàng trước hết phải nghĩ tới khả năng hàng hóa đáp
ứng nhu cầu của họ, tới chất lượng mà nó có. Trong điều kiện hiện tại chất lượng là
yếu tố quan trọng bậc nhất mà các doanh nghiệp lớn thường sử dụng trong cạnh tranh
vì nó đem lại khả năng chiến thắng vững chắc (vì thay đổi giá thì dễ nhưng muốn
- 15 -
thay đổi chất lượng thì cần phải có thời gian). Đó cũng là con đường mà doanh
nghiệp thu hút khách và tạo dựng, giữ gìn chữ tín tốt nhất. Hàng hóa dù đẹp và bền

đến đâu cũng sẽ bị lạc hậu trước những yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng.
Do đó, doanh nghiệp phải thường xuyên đổi mới và hoàn thiện về chất lượng, kiểu
dáng, mẫu mã, tạo những nét riêng độc đáo, hấp dẫn người mua. Đây cũng là yếu tố
quan trọng để bảo vệ nhãn hiệu, uy tín sản phẩm trong điều kiện ngày càng có nhiều
sản phẩm giống nhau, hàng thật, hàng giả lẫn lộn.
Chủng loại hàng hóa là yếu tố quan trọng quyết định năng lực cạnh tranh của
các doanh nghiệp bán lẻ. Chủng loại hàng hóa đa dạng phong phú với chất lượng, giá
cả và cách trưng bày hợp lý sẽ mang đến cho khách hàng sự lựa chọn rộng rãi và thu
hút được khách hàng. Đặc biệt trong thời đại con người ngày càng bận rộn như hiện
nay, khách hàng luôn chọn lựa những nơi càng mua được nhiều mặt hàng càng tốt. Vì
vậy, nếu chủng loại hàng hóa không phong phú tức là doanh nghiệp tự tặng khách
hàng cho đối thủ cạnh tranh.
1.2.2.7. Truyền tin và xúc tiến:
Truyền tin bằng phương tiện thông tin đại chúng là cách hữu hiệu để giới thiệu
sản phẩm tới người tiêu dùng. Để truyền tin và xúc tiến hoạt động kinh doanh, các
doanh nghiệp thường sử dụng nhiều hình thức tổ chức quảng cáo khác nhau. Nếu tổ
chức tốt các hoạt động này, doanh nghiệp sẽ lưu lại hình ảnh sâu sắc về sản phẩm
trong tâm trí người tiêu dùng để khi có nhu cầu họ sẽ nghĩ ngay đến sản phẩm đó chứ
không phải những sản phẩm của các doanh nghiệp khác. Thậm chí truyền tin và xúc
tiến còn có tác dụng khuyến khích tiêu dùng, gợi mở các nhu cầu mà người tiêu dùng
hiện chưa có.
Tùy theo từng doanh nghiệp cũng như mục tiêu của kế hoạch tiêu thụ sản phẩm
khác nhau mà các doanh nghiệp bán lẻ chi phí cao hay thấp. Khi xem xét tỷ lệ chi phí
marketing so với tổng doanh thu ta thấy, nếu chỉ tiêu này cao mà doanh nghiệp vẫn
duy trì và mở rộng được thị phần so với mục tiêu đề ra thì có nghĩa là việc đầu tư cho
marketing là hiệu quả. Còn nếu như không đạt mục tiêu thì doanh nghiệp phải xem
- 16 -
xét lại cơ cấu chi tiêu. Có thể thay vì quảng cáo rầm rộ, doanh nghiệp có thể đầu tư
chiều sâu để tăng lợi ích lâu dài như đầu tư cho chi phí nghiên cứu và phát triển.
1.2.2.8 Thương hiệu

Thương hiệu có một số chức năng chiến lược, có thể giúp doanh nghiệp
- Tạo sự khác biệt với các đối thủ cạnh tranh
- Định vị thông điệp của doanh nghiệp trong suy nghĩ và cảm xúc của nhóm
khách hàng mục tiêu
- Vững vàng hơn với những nỗ lực khuyến thị
- Giúp chương trình dịch vụ phản ánh đúng tính chất của thương hiệu
- Truyền tải thông điệp một cách nhanh chóng và rõ ràng
- Xây dựng đề án với mức độ tin cậy cao
- Đánh đúng cảm xúc người tiêu dùng
- Tạo và giữ các khách hàng trung thành
Thương hiệu là lời hứa về giá trị mà khách nhận được. Trong một thế giới cạnh
tranh phức tạp - chúng ta có thể thấy rất khó để phân biệt đâu là thật và đâu là giả -
thì chìa khóa để kinh doanh thành công là phải giúp khách hàng không chỉ hiểu rõ giá
trị họ nhận được mà còn hỗ trợ việc thực hiện lời hứa của thương hiệu cùng với bạn.
Để xây dựng một thương hiệu, doanh nghiệp cần tập trung vào những giá trị
mang lại cho khách hàng khi doanh nghiệp làm hay thay đổi điều gì đó.
Ngoài ra, khi đánh giá sức cạnh tranh của doanh nghiệp bán lẻ còn có thể đánh
giá thị phần, vị thế và khả năng nắm bắt thông tin...của doanh nghiệp trên thị trường
[10, tr.70-74].
Tích hợp những tác nhân trên chính là xác định tổng nội lực của doanh nghiệp
trên những thị trường mục tiêu xác định với tập các đối thủ cạnh tranh trực tiếp xác
định (nghĩa là gắn với những tình huống, thời cơ và thách thức thị trường xác định),
từ đó vận dụng phương pháp so sánh với kỹ thuật thang 5 điểm (trong đó: 5 - tốt; 4-
khá; 3 - trung bình; 2 - yếu; 1 - kém) hoặc thang 4 điểm (trong đó: 4 - tốt; 3 - khá; 2 -
trung bình; 1 - yếu) để lập bảng câu hỏi đánh giá các tham số quan trọng nhất, xác
định và cho điểm trình độ năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, mỗi tham số đo
- 17 -
cường độ tác động và ảnh hưởng của mình có hệ số độ quan trọng đến năng lực cạnh
tranh tổng thể của doanh nghiệp khác nhau. Có thể khái quát quy trình xác định tổng
nội lực của doanh nghiệp gồm các bước sau:

Bước 1: Lập danh mục các yếu tố có vai trò quyết định sức cạnh tranh của
doanh nghiệp (nên liệt kê từ 10 - 20 yếu tố có tính quyết định đến sức cạnh tranh của
doanh nghiệp).
Bước 2: Xác định mức độ quan trọng của từng yếu tố thông qua cho điểm từ 0
-1.
Bước 3: Xác định điểm số ảnh hưởng của từng yếu tố tương ứng với hệ số từ 1
- 4 (hoặc từ 1 - 5);
Bước 4: Tính điểm của từng yếu tố.
Bước 5: Cộng điểm toàn bộ các nhân tố ảnh hưởng. Nếu cộng điểm 2,5 là trung
bình, đạt 4 là tốt và 1 là yếu (thang điểm 4).
Mỗi tham số trên của doanh nghiệp được đánh giá bởi tập mẫu đại diện điển
hình có liên quan (nhà quản trị doanh nghiệp, các khách hàng và các công chúng trực
tiếp của doanh nghiệp) và tính điểm bình quân.
Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bán lẻ được xác định và xếp
loại thông qua điểm đánh giá tổng hợp theo công thức sau:
• Sức cạnh tranh tuyệt đối của doanh nghiệp:
D
SCTDN =

=
12
1i
ii
PK
Trong đó: D
SCTDN
- Điểm đánh giá năng lực cạnh tranh tổng hợp của doanh
nghiệp.
P
i

- Điểm bình quân tham số i của tập mẫu đánh giá.
K
i
- Hệ số độ quan trọng của tham số i; Trong đó:

=
12
1i
i
K
= 1
Bằng việc chọn chuẩn so sánh ở tầm mức khu vực và quốc tế hay ở tầm mức
quốc gia hoặc địa phương mà ta có một nhận dạng, đánh giá đúng thực chất năng lực
- 18 -
cạnh tranh của một doanh nghiệp xác định. Đồng thời qua kết cấu và mức điểm của
từng tham số cho phép xác định những nhân tố quyết định thành công để tập trung nỗ
lực nhằm duy trì, nâng cao những yếu kém cần khắc phục và cải thiện để đạt tới một
định vị lợi thế cạnh tranh bền vững, ở tầm mức quản trị chiến lược của doanh nghiệp
[10, tr.70-74].
1.3. Một số quy định pháp luật
1.3.1. Một số quy định trong Quy chế siêu thị, trung tâm thương mại theo
Quyết định số 1371/2004/QĐ-BTM ngày 24/9/2004 [3].
1.3.1.1. Tiêu chuẩn siêu thị
Tiêu chuẩn siêu thị được đưa ra tương đối cụ thể trong Quy chế. Trước hết, cơ
sở kinh doanh phải có địa điểm phù hợp với Quy hoạch phát triển mạng lưới thương
mại của tỉnh, thành phố. Các siêu thị được phân loại dựa trên các tiêu chuẩn cơ bản
về quy mô và trình độ tổ chức kinh doanh.
Trong Quy chế siêu thị, trung tâm thương mại, siêu thị được chia làm 3 hạng.
Đối với từng hạng lại chia thành các tiêu chuẩn riêng đối với hai loại siêu thị: siêu thị
kinh doanh tổng hợp và siêu thị chuyên doanh.

Để được xếp vào siêu thị loại I, siêu thị kinh doanh tổng hợp phải có diện tích
kinh doanh từ 5.000m2 trở lên, có danh mục hàng hóa kinh doanh từ 20.000 tên hàng
trở lên; siêu thị chuyên doanh cần các chỉ tiêu tương ứng là 1.000m2 trở lên và 2.000
tên hàng trở lên.
Ngoài ra, các tiêu chuẩn khác đối với cả hai loại siêu thị này được quy định như
nhau:
- Công trình kiến trúc được xây dựng vững chắc, có tính thẩm mỹ cao, có thiết
kế và trang thiết bị kỹ thuật tiên tiến, hiện đại, đảm bảo các yêu cầu phòng cháy chữa
cháy, vệ sinh môi trường, an toàn và thuận tiện cho mọi đối tượng khách hàng; có bố
trí nơi trông giữ xe và khu vệ sinh cho khách hàng phù hợp với quy mô kinh doanh
của Siêu thị;
- Có hệ thống kho và các thiết bị kỹ thuật bảo quản, sơ chế, đóng gói, bán hàng,
thanh toán và quản lý kinh doanh tiên tiến, hiện đại;
- 19 -
- Tổ chức, bố trí hàng hóa theo ngành hàng, nhóm hàng một cách văn minh,
khoa học để phục vụ khách hàng lựa chọn, mua sắm, thanh toán thuận tiện, nhanh
chóng; có nơi bảo quản hành lý cá nhân; có các dịch vụ ăn uống, giải trí, phục vụ
người khuyết tật, phục vụ trẻ em, giao hàng tận nhà, bán hàng mạng, qua bưu điện,
điện thoại.
Đối với siêu thị loại II, siêu thị kinh doanh tổng hợp phải có diện tích kinh
doanh từ 2.000m2 trở lên, có danh mục hàng hóa kinh doanh từ 10.000 tên hàng trở
lên; siêu thị chuyên doanh cần các chỉ tiêu tương ứng là 500m2 trở lên và 1.000 tên
hàng trở lên.
Các tiêu chuẩn về công trình kiến trúc, vệ sinh môi trường, hệ thống kho, tổ
chức bố trí hàng hóa ... của siêu thị hạng II tương tự như đối với siêu thị hạng I
nhưng mức độ có thấp hơn. Công trình kiến trúc yêu cầu có tính thẩm mỹ, không yêu
cầu mức “thẩm mỹ cao” như đối với siêu thị hạng I. Thiết kế, trang thiết bị, hệ thống
kho và các thiết bị bảo quản, sơ chế, đóng gói, bán hàng, thanh toán và quản lý kinh
doanh chỉ yêu cầu hiện đại, không yêu cầu đạt cả mức “tiên tiến” như đối với siêu thị
hạng I. Hình thức bán hàng không bắt buộc phải bao gồm cả bán qua mạng như đối

với siêu thị loại I.
Đối với siêu thị loại III, siêu thị kinh doanh tổng hợp phải có diện tích kinh
doanh từ 500m2 trở lên, có danh mục hàng hóa kinh doanh từ 4.000 tên hàng trở lên;
siêu thị chuyên doanh cần các chỉ tiêu tương ứng là 250m2 trở lên và 500 tên hàng
trở lên.
Các tiêu chuẩn về công trình kiến trúc, vệ sinh môi trường, hệ thống kho, tổ
chức bố trí hàng hóa ... của siêu thị hạng III tương tự như đối với siêu thị hạng I và II
nhưng mức độ có thấp hơn. Công trình kiến trúc chỉ yêu cầu vững chắc, không yêu
cầu có tính thẩm mỹ như đối với siêu thị hạng II hay “thẩm mỹ cao” như đối với siêu
thị hạng I. Thiết kế và trang thiết bị kỹ thuật không yêu cầu hiện đại như đối với siêu
thị hạng II hay đạt cả mức “tiên tiến” như đối với siêu thị hạng I. Hình thức bán hàng
không bắt buộc phải bao gồm cả các dịch vụ ăn uống, giải trí, phục vụ trẻ em, bán
- 20 -
hàng qua bưu điện, điện thoại như đối với siêu thị loại II hay gồm cả bán qua mạng
như đối với siêu thị loại I.
1.3.1.2. Tiêu chuẩn trung tâm thương mại
Tương tự như siêu thị, trung tâm thương mại trước hết phải có địa điểm kinh
doanh phù hợp với Quy hoạch phát triển mạng lưới thương mại của tỉnh, thành phố.
Trung tâm thương mại cũng được phân loại dựa trên các tiêu chuẩn cơ bản về quy mô
và trình độ tổ chức kinh doanh.
Trong Quy chế siêu thị, trung tâm thương mại, trung tâm thương mại được chia
làm 3 hạng.
Trung tâm thương mại hạng I phải có diện tích kinh doanh từ 50.000m2 trở lên,
và có nơi để xe phù hợp với quy mô kinh doanh của trung tâm thương mại.
Ngoài ra, các tiêu chuẩn khác đối với trung tâm thương mại hạng I được quy
định như nhau:
- Các công trình kiến trúc được xây dựng vững chắc, có tính thẩm mỹ cao, có
thiết kế và trang thiết bị kỹ thuật tiên tiến, hiện đại đảm bảo các yêu cầu phòng cháy
chữa cháy, vệ sinh môi trường, an ninh, an toàn, thuận tiện cho mọi đối tượng tham
gia hoạt động kinh doanh trong khu vực.

- Hoạt động đa chức năng cả về kinh doanh hàng hóa và kinh doanh các loại
hình dịch vụ, bao gồm: khu vực để bố trí các cửa hàng bán buôn, bán lẻ hàng hóa;
nhà hàng, khách sạn; khu vực để tổ chức hội chợ triển lãm, trưng bày giới thiệu hàng
hóa; khu vực dành cho hoạt động vui chơi giải trí, cho thuê văn phòng làm việc, hội
trường, phòng họp để tổ chức các hội nghị, hội thảo, giao dịch và ký kết các hợp
đồng thương mại trong, ngoài nước; khu vực dành cho các hoạt động tài chính, ngân
hàng, bảo hiểm, bưu chính viễn thông, tin học, tư vấn, môi giới đầu tư, du lịch.
Để được xếp vào trung tâm thương mại hạng II, trung tâm thương mại phải có
diện tích kinh doanh từ 30.000m2 trở lên, và có nơi để xe phù hợp với quy mô kinh
doanh của trung tâm thương mại.
Tiêu chuẩn về công trình kiến trúc đối với trung tâm thương mại hạng II tương
tự như đối với siêu thị hạng I nhưng mức độ có thấp hơn. Công trình kiến trúc yêu
- 21 -
cầu được xây dựng có tính thẩm mỹ, không yêu cầu có tính thẩm mỹ cao như đối với
trung tâm thương mại hạng I.
Quy định về hoạt động đa chức năng của trung tâm thương mại hạng II cũng ít
hơn so với hạng I, không yêu cầu có khu vực để tổ chức hội trợ triển lãm, khu vực
dành cho hoạt động tin học như đối với hạng I.
Để được xếp vào trung tâm thương mại hạng III, trung tâm thương mại phải có
diện tích kinh doanh từ 10.000m2 trở lên, và có nơi để xe phù hợp với quy mô kinh
doanh của trung tâm thương mại.
Tiêu chuẩn về công trình kiến trúc đối với trung tâm thương mại hạng III tương
tự như đối với siêu thị hạng I và II nhưng yêu cầu ở mức độ thấp hơn. Công trình
kiến trúc yêu cầu được xây dựng vững chắc, không yêu cầu có tính thẩm mỹ như
trung tâm thương mại hạng II hay có tính thẩm mỹ cao như đối với trung tâm thương
mại hạng I.
Quy định về hoạt động đa chức năng của trung tâm thương mại hạng II cũng ít
hơn so với hạng I và II, không yêu cầu có nhà hàng, khách sạn như đối với hạng I và
II mà chỉ yêu cầu có khu vực dành cho hoạt động ăn uống, không yêu cầu khu vực
dành cho các hoạt động tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, bưu chính viễn thông, tư vấn

như đối với hạng II hay cao hơn nữa là khu vực để tổ chức hội trợ triển lãm và khu
vực dành cho hoạt động tin học như đối với trung tâm thương mại hạng I.
Thương nhân kinh doanh siêu thị hoặc trung tâm thương mại tự tiến hành phân
hạng siêu thị, trung tâm thương mại của mình căn cứ các tiêu chuẩn trên.
1.3.1.3. Tên gọi và biển hiệu siêu thị, trung tâm thương mại
Chỉ các cơ sở kinh doanh thương mại có đủ các tiêu chuẩn quy định như đã đề
cập ở trên đối với các hạng siêu thị và trung tâm thương mại mới được đặt tên là Siêu
thị hoặc Trung tâm thương mại.
Biển hiệu của siêu thị hoặc trung tâm thương mại phải ghi bằng tiếng Việt Nam
là SIÊU THỊ hoặc TRUNG TÂM THƯƠNG MẠI trước tên thương mại hoặc tên
riêng do thương nhân tự đặt và trước các từ chỉ địa danh hay tính chất của Siêu thị
- 22 -
hoặc Trung tâm thương mại (Ví dụ: Siêu thị A, Siêu thị sách B, Siêu thị máy tính C;
Trung tâm thương mại D...).
Nếu tên của siêu thị hay trung tâm thương mại được ghi thêm bằng tiếng nước
ngoài, kích cỡ chữ phải nhỏ hơn kích cỡ tên tiếng Việt Nam và phải đặt dưới hoặc
sau tên tiếng Việt Nam.
Tên thương nhân kinh doanh siêu thị hoặc trung tâm thương mại, địa chỉ, số
điện thoại và hạng của siêu thị hoặc trung tâm thương mại cũng cần được ghi rõ.
1.3.2. Một số quy định trong luật Cạnh tranh số 27/2004/QH11 [11,
tr.3-6,12-15]
Nắm rõ pháp luật nói chung và Luật cạnh tranh nói riêng là điều vô cùng cần
thiết đối với các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp phân phối
bán lẻ nói riêng trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay. Trong khi các doanh
nghiệp nước ngoài nắm rất vững luật pháp quốc tế cũng như luật của Việt Nam và tận
dụng rất tốt thì các doanh nghiệp Việt Nam còn hiểu rất lơ mơ về chính Luật của
nước mình. Đây chính là yếu điểm rất lớn làm suy giảm năng lực cạnh tranh của các
doanh nghiệp phân phối bán lẻ Việt Nam trước các nhà phân phối nước ngoài. Nắm
rõ luật cạnh tranh để hoạt động đúng pháp luật; tận dụng các điều cho phép của luật
để phát huy các thế mạnh và ngăn chặn khi các đối thủ có hoạt động cạnh tranh vi

phạm pháp luật mới mong đứng vững được trước cuộc cạnh tranh không cân sức với
các doanh nghiệp phân phối nước ngoài hoạt động trên thị trường Việt Nam.
Nguyên tắc chung là doanh nghiệp được tự do cạnh tranh trong khuôn khổ pháp
luật. Nhà nước bảo hộ quyền cạnh tranh hợp pháp trong kinh doanh. Việc cạnh tranh
phải được thực hiện theo nguyên tắc trung thực, không xâm phạm đến lợi ích của
Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, của người
tiêu dùng và phải tuân theo các quy định của Luật này.
1.3.2.1. Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm là: thoả thuận ngăn cản, kìm hãm,
không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh; thoả
thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của thoả
- 23 -
thuận; thông đồng để một hoặc các bên của thoả thuận thắng thầu trong việc cung cấp
hàng hoá, cung ứng dịch vụ.
Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm khi các bên tham gia thỏa thuận có
thị phần kết hợp trên thị trường liên quan từ 30% trở lên là: thoả thuận ấn định giá hàng
hoá, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp; thoả thuận phân chia thị trường tiêu thụ,
nguồn cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ; thoả thuận hạn chế hoặc kiểm soát số
lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hoá, dịch vụ; thoả thuận hạn chế phát
triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư; thoả thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác
điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hoá, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác
chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng.
Tuy nhiên, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh khi các bên tham gia thỏa thuận có thị
phần kết hợp trên thị trường liên quan từ 30% trở lên đã nêu ở trên được miễn trừ có
thời hạn nếu đáp ứng một trong các điều kiện sau đây nhằm hạ giá thành, có lợi cho
người tiêu dùng: hợp lý hoá cơ cấu tổ chức, mô hình kinh doanh, nâng cao hiệu quả
kinh doanh; thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hoá, dịch
vụ; thúc đẩy việc áp dụng thống nhất các tiêu chuẩn chất lượng, định mức kỹ thuật
của chủng loại sản phẩm; thống nhất các điều kiện kinh doanh, giao hàng, thanh toán
nhưng không liên quan đến giá và các yếu tố của giá; tăng cường sức cạnh tranh của

doanh nghiệp nhỏ và vừa; tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam
trên thị trường quốc tế.
1.3.2.2. Các hành vi bị cấm đối với các doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có
vị trí thống lĩnh thị trường và có vị trí độc quyền.
Doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu có thị phần từ 30%
trở lên trên thị trường liên quan hoặc có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách
đáng kể.
Nhóm doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu cùng hành
động nhằm gây hạn chế cạnh tranh và thuộc một trong các trường hợp sau đây: hai
doanh nghiệp có tổng thị phần từ 50% trở lên trên thị trường liên quan; ba doanh nghiệp
có tổng thị phần từ 65% trở lên trên thị trường liên quan; bốn doanh nghiệp có tổng thị
- 24 -
phần từ 75% trở lên trên thị trường liên quan.
Doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường bị cấm thực
hiện các hành vi sau: bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm
loại bỏ đối thủ cạnh tranh; áp đặt giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý hoặc
ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng; hạn chế sản xuất, phân phối
hàng hoá, dịch vụ, giới hạn thị trường, cản trở sự phát triển kỹ thuật, công nghệ gây
thiệt hại cho khách hàng; áp đặt điều kiện thương mại khác nhau trong giao dịch như
nhau nhằm tạo bất bình đẳng trong cạnh tranh; áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp
khác ký kết hợp đồng mua, bán hàng hoá, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp
nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng; ngăn cản
việc tham gia thị trường của những đối thủ cạnh tranh mới.
Doanh nghiệp được coi là có vị trí độc quyền nếu không có doanh nghiệp nào
cạnh tranh về hàng hoá, dịch vụ mà doanh nghiệp đó kinh doanh trên thị trường liên
quan.
Các doanh nghiệp độc quyền bị cấm thực hiện các hành vi tương tự như đối với
doanh nghiệp và nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường và còn bị cấm
thực hiện cả hai hành vi sau: áp đặt các điều kiện bất lợi cho khách hàng; lợi dụng vị
trí độc quyền để đơn phương thay đổi hoặc huỷ bỏ hợp đồng đã giao kết mà không có

lý do chính đáng.
1.3.2.3. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong Luật này bao gồm: chỉ dẫn gây
nhầm lẫn; xâm phạm bí mật kinh doanh; ép buộc trong kinh doanh; gièm pha doanh
nghiệp khác; gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác; quảng cáo nhằm
cạnh tranh không lành mạnh; khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh; phân
biệt đối xử của hiệp hội; bán hàng đa cấp bất chính và các hoạt động trái với các
chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt
hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc
người tiêu dùng. Cụ thể các quy định về một số hành vi cạnh tranh không lành mạnh
- 25 -
như sau:
- Chỉ dẫn gây nhầm lẫn
Doanh nghiệp không được sử dụng chỉ dẫn chứa đựng thông tin gây nhầm lẫn
về tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao bì, chỉ dẫn địa
lý và các yếu tố khác theo quy định của Chính phủ để làm sai lệch nhận thức của
khách hàng về hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích cạnh tranh. Các doanh nghiệp cũng
bị cấm kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn tương tự như
đã đề cập ở trên.
- Xâm phạm bí mật kinh doanh
Doanh nghiệp bị cấm thực hiện các hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh của
doanh nghiệp khác, cụ thể như: tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh
bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của người sở hữu hợp pháp bí mật kinh
doanh đó; tiết lộ, sử dụng thông tin thuộc bí mật kinh doanh mà không được phép của
chủ sở hữu bí mật kinh doanh; vi phạm hợp đồng bảo mật hoặc lừa gạt, lợi dụng lòng
tin của người có nghĩa vụ bảo mật nhằm tiếp cận, thu thập và làm lộ thông tin thuộc
bí mật kinh doanh của chủ sở hữu bí mật kinh doanh đó; tiếp cận, thu thập thông tin
thuộc bí mật kinh doanh của người khác khi người này làm thủ tục theo quy định của
pháp luật liên quan đến kinh doanh, làm thủ tục lưu hành sản phẩm hoặc bằng cách
chống lại các biện pháp bảo mật của cơ quan nhà nước hoặc sử dụng những thông tin

đó nhằm mục đích kinh doanh, xin cấp giấy phép liên quan đến kinh doanh hoặc lưu
hành sản phẩm.
- Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh
Doanh nghiệp không được thực hiện các hoạt động quảng cáo nhằm cạnh tranh
không lành mạnh như sau: so sánh trực tiếp hàng hoá, dịch vụ của mình với hàng
hoá, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác; bắt chước một sản phẩm quảng cáo
khác để gây nhầm lẫn cho khách hàng; đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho
khách hàng về giá, số lượng, chất lượng, công dụng, kiểu dáng, chủng loại, bao bì,
ngày sản xuất, thời hạn sử dụng, xuất xứ hàng hoá, người sản xuất, nơi sản xuất,
người gia công, nơi gia công; cách thức sử dụng, phương thức phục vụ, thời hạn bảo

×