MỤC LỤC
TT
Nội dung
Trang
1
1. Đặt vấn đề
1
2
1.1 Lí do chọn đề tài
1
3
1.2. Mục đích nghiên cứu
1
4
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1
5
1.4. Phương pháp nghiên cứu
1
6
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
3
7
2.1. Lí do chọn đề tài
3
8
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh
nghiệm
4
9
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
6
10
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động
giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
17
11
3. Kết luận, kiến nghị
20
12
Tài liệu tham khảo
22
1. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài:
Để đáp ứng được những yêu cầu của giáo dục đào tạo trong giai đoạn
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong những năm đầu thế kỷ 21 thì giáo
dục Tiểu học phải giúp đỡ cho học sinh hình thành những cở sở ban đầu cho sự
phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kỹ
năng cơ bản góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam XHCN, bước
đầu xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh học tiếp
lên trung học cơ sở. Muốn vậy, ngay từ lớp một, học sinh phải có sức khỏe tốt
và hình thành, phát triển kĩ năng, kinh nghiệm học tập và tự học tập.
Tự nhiên và Xã hội là một môn học cung cấp cho học sinh những hiểu
biết cơ bản ban đầu về các sự vật, sự kiện hiện tượng trong tự nhiên, xã hội với
mối quan hệ trong đời sống thực tế của con người. Trong chương trình Tiểu học,
cùng với Toán, Tiếng Việt, Tự nhiên và Xã hội trang bị cho các em học sinh
những kiến thức cơ bản của bậc học, góp phần bồi dưỡng phẩm chất, nhân cách
toàn diện của con người. Có thể nói môn Tự nhiên và Xã hội ở lớp 1 là nền
móng để các em học tốt các môn có liên quan đến tự nhiên và xã hội ở các lớp
cao hơn. Môn Tự nhiên và Xã hội là một trong những môn học giúp học sinh có
được điều đó vì mục tiêu của môn học này nhằm giúp học sinh: Có kiến thức cơ
bản, ban đầu, thiết thực về con người và sức khỏe (cơ thể người, cách giữ vệ
sinh cơ thể, phòng tránh bệnh tật, tai nạn) ; một số hiện tượng sự vật đơn giản
trong tự nhiên và xã hội.
Tuy nhiên trên thực tế, môn Tự nhiên và Xã hội chưa được sự quan tâm
đúng mức của mọi người. Một số giáo viên và phụ huynh có suy nghĩ rằng môn
Tự nhiên và Xã hội là “môn phụ” nên bị xem nhẹ. Do vậy, chưa tạo được hứng
thú cho học sinh trong quá trình học môn này. Dẫn đến sự tiếp thu kiến thức của
học sinh cũng hời hợt, hiệu quả giờ học chưa cao.
Là một giáo viên đang trực tiếp giảng dạy, tôi luôn trăn trở phải làm thế
nào để giúp các em yêu thích môn học và tạo hứng thú cho các em khi học môn
Tự nhiên và Xã hội? Từ đó giúp các em nắm bắt kiến thức một cách chủ động,
tích cực. Những băn khoăn trên đã chính là lý do để tôi chọn đề tài: “Một số giải
pháp nâng cao chất lượng môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1- Trường Tiểu học
Đông Vệ 2- Thành phố Thanh Hóa”.
1.2. Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu đề tài này nhằm góp phần nâng cao hơn nữa về chất lượng
giảng dạy môn Tự nhiên và Xã hội cho học sinh lớp 1 - Trường Tiểu học Đông
Vệ 2- Thành phố Thanh Hóa. Từ đó, giúp các em có hiểu biết cơ bản ban đầu về
các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội với mối quan hệ trong đời sống
thực tế của con người và xa hơn nữa khơi gợi cho các em niềm đam mê thích
tìm tòi, khám phá và yêu thích môn học.
1.3. Đối tượng nghiên cứu:
- Một số giải pháp nâng cao chất lượng môn Tự nhiên – Xã hội lớp 1.
- Học sinh lớp 1C - Trường Tiểu học Đông Vệ 2- Thành phố Thanh Hóa
2
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
1.4.1. Phương pháp quan sát trực quan
1.4.2. Phương pháp điều tra thực nghiệm
1.4.3. Phương pháp đọc sách, tài liệu
1.4.4. Phương pháp thống kê, so sánh
3
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm:
Để đáp ứng yêu cầu phát triển của nền giáo dục nước nhà, chương trình
giáo dục bậc Tiểu học đã thực hiện đổi mới Sách giáo khoa và nội dung chương
trình dạy học ở các lớp, các môn học nói chung và môn Tự nhiên và Xã hội lớp1
nói riêng. Môn học này cung cấp và trang bị cho học sinh những kiến thức ban
đầu cơ bản về Tự nhiên - Xã hội trong cuộc sống hằng ngày đang diễn ra xung
quanh các em. Nội dung môn học tương ứng với ba dòng kiến thức: Con người
và sức khỏe, Xã hội, Tự nhiên.
* Con người và sức khỏe: Giúp học sinh có những kiến thức cơ bản ban
đầu về cơ thể, giữ gìn vệ sinh thân thể, cách ăn ở, nghỉ ngơi, vui chơi điều độ, an
toàn, phòng tránh bệnh tật. Biết chăm sóc răng miệng, bảo vệ tai mắt và cách
đánh răng, rửa mặt.
* Xã hội: Các em biết về các thành viên và mối quan hệ giữa các thành
viên trong gia đình, lớp học. Biết làm những công việc nhà, giữ an toàn trên
đường đi học và giữ gìn lớp học sạch sẽ.
* Tự nhiên: Học sinh có cơ hội hòa mình khám phá thiên nhiên, biết cấu
tạo và môi trường sống của một số cây, con phổ biến (cây rau, cây hoa, con cá,
con mèo,…) và một số hiện tượng tự nhiên (mưa, nắng, gió, thời tiết,…)
Ngoài việc cung cấp cho các em những kiến thức cơ bản về sức khỏe, con
người, về sự vật - hiện tượng đơn giản trong tự nhiên - xã hội, bộ môn Tự nhiên
và Xã hội còn bước đầu hình thành cho các em các kỹ năng như:
- Tự chăm sóc cho bản thân, ứng xử và đưa ra các quyết định hợp lý trong
đời sống để phòng tránh một số bệnh tật, tai nạn.
- Quan sát, nhận xét, nêu thắc mắc, đặt câu hỏi, diễn đạt những hiểu biết
của mình (bằng lời nói hoặc hình vẽ) về các sự vật - hiện tượng đơn giản trong
tự nhiên, xã hội.
- Hình thành và phát triển ở học sinh những thái độ, hành vi như: có ý
thức thực hiện các quy tắc giữ gìn vệ sinh, an toàn cho bản thân, gia đình và
cộng đồng, yêu thiên nhiên, gia đình trường học, quê hương.
Môn Tự nhiên và Xã hội là một môn học mang tính tích hợp cao. Tính
hợp ấy được thể hiện ở 3 điểm sau:
- Chương trình môn Tự nhiên và Xã hội xem xét Tự nhiên - Con người Xã hội trong một thể thống nhất, có mối quan hệ qua lại và tác động lẫn nhau.
- Các kiến thức trong chương trình là kết quả của việc tích hợp kiến thức
của nhiều ngành khoa học như: Sinh học, Vật lí, Hóa học, Dân số …
- Chương trình có cấu trúc phù hợp với nhận thức của học sinh.
Chương trình đã được xây dựng theo quan điểm tích hợp và có cấu trúc
đồng tâm phát triển qua các lớp, mức độ kiến thức được nâng dần lên.
Quan điểm này hoàn toàn phù hợp với quy luật nhận thức của con người.
Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng. Giai đoạn nhận thức cảm tính là
giai đoạn mở đầu của quá trình nhận thức. Đó là giai đoạn mà con người trong
hoạt động thực tiễn sử dụng các giác quan để tiến hành phản ánh sự vật - hiện
4
tượng khách quan mang tính cụ thể sinh động, là bước khởi đầu và cũng là bàn
đạp tạo đà cho nhận thức lý tính.
Thực hiện tốt mục tiêu đổi mới của môn Tự nhiên và Xã hội, người giáo
viên phải thực hiện đổi mới các phương pháp dạy học sao cho học sinh là người
chủ động, nắm bắt kiến thức của môn học một cách tích cực sáng tạo góp phần
hình thành phương pháp và nhu cầu tự học, tự phát hiện tự giải quyết các tình
huống có vấn đề đặt ra trong bài học. Từ đó chiếm lĩnh nội dung mới của bài
học, môn học.
Như vậy, giúp học sinh có hứng thú học Tự nhiên và Xã hội ở lớp 1 tức là
chúng ta đã tạo nền móng khởi đầu cho sự phát triển nhận thức tri giác, chú ý, tư
duy của học sinh.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.2.1. Thuận lợi :
* Giáo viên:
Với chương trình hiện nay, giáo viên được hướng dẫn cách xây dựng
thiết kế bài học theo hướng đổi mới có phân chia từng hoạt động cụ thể, rõ ràng,
có chỉ dẫn các phương pháp theo từng chủ đề.
Giáo viên được học tập chuyên đề do trường tổ chức. Học tập kinh
nghiệm các bạn đồng nghiệp …
* Học sinh:
Nhiều em học sinh say mê học hỏi, tìm tòi, tìm hiểu thế giới Tự nhiên và
Xã hội và thế giới con người xung quanh. Điều đó mang lại những hiểu biết thực
tế cho các em về Tự nhiên và Xã hội.
2.2.2. Khó khăn:
* Giáo viên:
Trong trường Tiểu học của chúng ta hiện nay, một số giáo viên chưa xác
định đúng tầm quan trọng của môn Tự nhiên và Xã hội, nhiều giáo viên còn coi
là môn phụ.
Một số giáo viên còn thiếu kinh nghiệm với cách tổ chức hoạt động tích
cực cho trò lĩnh hội kiến thức, hoặc có tổ chức thì còn lúng túng, mất thời gian,
qua loa đại khái.
Còn có giáo viên chưa coi trọng thiết bị dạy học của bộ môn hoặc ngại
dùng, có chuẩn bị song thao tác còn vụng về, lúng túng. Vì vậy khiến các em
không thích thú với môn học, hiệu quả giờ học không cao.
Sự hiểu biết của một số giáo viên còn hạn chế, ít cập nhật thông tin về sự
phát triển của khoa học kĩ thuật.
* Học sinh:
Một số học sinh còn thiếu vốn hiểu biết về cuộc sống xã hội, các hiện
tượng tự nhiên.
Các em diễn đạt còn kém, lúng túng khi tham gia các hoạt động như thảo
luận nhóm, trò chơi, trình bày bài làm. Học sinh chưa tích cực, chủ động trong
việc học: mọi chuẩn bị cho tiết học phụ thuộc vào thầy cô, cha mẹ.
2.2.3. Thực trạng:
5
Đã nhiều năm trực tiếp giảng dạy lớp 1. Tôi nhận thấy một số giờ Tự
nhiên và Xã hội diễn ra tẻ nhạt. Lớp học không sôi nổi, đôi khi rất trầm, các em
chán học và không thích thú khi đến giờ học này.
Một số giáo viên tiểu học chưa thật coi trọng giờ Tự nhiên và Xã hội,
giờ học thường bị cắt giảm thời lượng cho các môn khác, các kiến thức truyền
đạt đến học sinh một các qua loa, đại khái.
Kiến thức Tự nhiên và Xã hội phong phú mà giáo viên còn ngại tìm hiểu
và vận dụng các phương pháp phù hợp với nội dung từng bài nên thường giảng
giải và nói nhiều, chưa phát huy tính tích cực, chủ động khám phá kiến thức của
học sinh. Trong giờ Tự nhiên và Xã hội, giáo viên còn áp đặt nhiều mà chưa để
các em tự phát hiện ra kiến thức. Cấu trúc nội dung bài trong sách giáo khoa lớp
1 rút ra từ tranh ảnh. Vì vậy nếu giáo viên không biết cách khai thác nội dung
tranh thì kiến thức cung cấp đến học sinh chưa đầy đủ, đồng thời tiến trình bài
giảng không logic, rời rạc, các em sẽ không biết được kiến thức nào cần khắc
sâu sau bài học.
Khi có người dự giờ thì giáo viên còn ít chú ý đến học sinh yếu vì đối
tượng này thường chậm, làm mất thời gian, làm giảm tiến độ của tiết dạy vì vậy
đối tượng học sinh chưa hiểu bài còn nhiều.
Lớp 1 là lớp đầu cấp, nếu giáo viên sử dụng các phương pháp và hình
thức dạy học không linh hoạt thì các em sẽ không hứng thú với môn học và kết
quả tiếp thu nội dung môn học sẽ không cao. Các kiến thức thực tế của học sinh
hiện nay còn hạn chế. Các em còn bắt chước một cách tự nhiên chưa có ý thức
tìm tòi khám phá và sáng tạo.
Mỗi môn học có một sắc thái riêng. Môn Tự nhiên và Xã hội cũng vậy.
Tuy bản chất là cung cấp những kiến thức tự nhiên, xã hội có xung quanh chúng
ta song sách giáo khoa Tự nhiên - Xã hội lớp 1 không đưa ra kiến thức có sẵn
mà là một hệ thống các hình ảnh và các lệnh yêu cầu học sinh thực hiện. Học
sinh muốn chiếm lĩnh tri thức không thể khác là thực hiện các lệnh đó. Vậy một
giờ học Tự nhiên và Xã hội ở lớp 1 được tiến hành ra sao?
Để thực hiện đề tài này, ngay sau khi học sinh học bài 3 : Nhận biết các vật
xung quanh , tôi tiến hành thực hiện phiếu điều tra với các nội dung sau:
PHIẾU ĐIỀU TRA KIẾN THỨC
Bài 3: Nhận biết các vật xung quanh
Hãy trả lời các câu hỏi sau: (Giáo viên hỏi vấn đáp)
- Chúng ta nhìn thấy các vật xung quanh nhờ bộ phận nào?
- Nhờ đâu mà chúng ta biết được vị của thức ăn?
- Điều gì xảy ra nếu như tai của chúng ta bị điếc?
- Chúng ta nhận biết các vật xung quanh bằng những bộ phận nào của cơ thể?
KẾT QUẢ THU ĐƯỢC
6
Số HS trả lời
Số HS trả lời
đúng
đúng
Sĩ số
90-100%
70-80%
SL
%
SL
%
45
9
20 %
12
26,7 %
Đồng thời tiến hành điều tra tâm lí của
nhiên và Xã hội bằng phiếu trắc nghiệm sau:
Số HS trả lời
Số HS trả lời
đúng
đúng
50-60%
< 50%
SL
%
SL
%
11
24,4 % 13 28,9 %
HS về sự yêu thích môn học Tự
PHIẾU TRẮC NGHIỆM
Đánh dấu “x” vào ô trống nói về ý thích của mình:
Em có thích học môn Tự nhiên và Xã hội không?
Có:
không:
(Giáo viên đọc để học sinh đánh dấu vào ô trống)
KẾT QUẢ THU ĐƯỢC
Số lượng
Học sinh yêu thích môn TN&XH
Học sinh không yêu thích môn TN&XH
%
24
53,3 %
21
46.7 %
Qua kết quả điều tra cho thấy, sau khi học bài xong bài 3: Nhận biết các
vật xung quanh học sinh nắm kiến thức chưa cao và có 46,7% học sinh không
thích học môn Tự nhiên và Xã hội. Vậy làm thế nào để giáo viên có thể khai
thác hết nội dung kiến thức và giúp cho học sinh nhớ hết những kiến thức cần
cung cấp? Muốn vậy thì người giáo viên cần có phương pháp dạy học phù hợp
để tạo cho học sinh hứng thú học tập và yêu thích môn học.
Do đó, việc đổi mới phương pháp dạy học và vận dụng các phương pháp
dạy học phù hợp cho từng nội dung kiến thức đang là vấn đề nóng bỏng, bức
xúc, cần thiết để giáo viên bắt nhịp với việc đổi mới chung của ngành Giáo dục.
Việc đổi mới đó sẽ giúp học sinh chủ động hơn trong học tập, các em sẽ tự
chiếm lĩnh, tự tìm tòi kiến thức mới, làm bước đà để học sinh thích ứng với sự
phát triển nhanh của xã hội trở thành những người năng động, sáng tạo.
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
Như chúng ta đã biết thành công trong giờ dạy gồm rất nhiều yếu tố cấu
thành. Để cho tiết học bớt căng thẳng đồng thời tạo sự thu hút đối với học sinh,
giúp các em tự giác, hứng thú với các hoạt động, tiếp thu tốt kiến thức bộ môn,
tôi đã sử dụng những giải pháp sau:
2.3.1. Tổ chức tốt dạy và học môn Tự nhiên và Xã hội
Để đưa học sinh trở thành chủ thể nhận thức, chủ động, tích cực tiếp thu
kiến thức mới, giáo viên cần tổ chức các hoạt động dẫn dắt học sinh chiếm lĩnh
kiến thức mới theo hướng hoạt động tích cực hóa. Muốn vậy người giáo viên
7
cần xác định đúng tầm quan trọng của môn học, ý nghĩa của môn học để đảm
bảo các yêu cầu:
- Dạy đủ số tiết, số bài quy định.
- Dạy đủ thời gian, đi đúng quy trình đã thống nhất của một tiết dạy.
- Dạy đúng theo hướng đổi mới các phương pháp, tổ chức hoạt động học
tập để học sinh tích cực xây dựng bài tạo hứng thú học tập cho các em.
Khi tổ chức hoạt động học tập giáo viên cũng cần chú ý đến nghệ thuật
thu hút học sinh. Tạo ra động cơ thúc đẩy học tập như: tuyên dương, khen ngợi,
thưởng quà…. kịp thời. Kĩ thuật giao việc cho học sinh cũng cần phải khéo léo.
Mỗi câu hỏi đưa ra cần đảm bảo tính vừa sức, phù hợp. Làm sao để mỗi đối
tượng học sinh đều lĩnh hội được kiến thức bài học một các đầy đủ, sáng tạo.
Học sinh phải thấy được chính các em là người tìm ra kiến thức và có hứng thú
khi học tập.
2.3.2. Sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học
Mỗi phương pháp đều có ưu nhược điểm riêng, do vậy người giáo viên
phải có sự lựa chọn kết hợp các phương pháp phù hợp với đặc trưng của từng
môn học, đặc biệt là môn Tự nhiên và Xã hội. Bên cạnh đó người giáo viên cần
căn cứ vào hoàn cảnh, tình hình cụ thể của lớp học và đặc điểm tâm sinh lý của
học sinh để thay đổi hình thức học tập, tạo hứng thú cho học sinh. Nhằm giúp
học sinh tìm ra kiến thức bằng con đường ngắn nhất, nhanh nhất. Do vậy giáo
viên cần nắm vững và sử dụng thành thạo, linh hoạt các phương pháp dạy học
theo hướng đổi mới kế thừa những phương pháp truyền thống, sử dụng đa dạng
các hình thức học tập để tiết dạy diễn ra một cách nhẹ nhàng, tự nhiên và có hiệu
quả.
2.3.2.1. Phương pháp “Quan sát”
Quan sát là phương pháp dạy học đặc trưng của các môn về Tự nhiên và
Xã hội, nhất là môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1, 2, 3.
Phương pháp quan sát là cách thức tổ chức cho học sinh sử dụng các giác
quan để tri giác các sự vật, hiện tượng một cách có mục đích, có kế hoạch, có
trọng tâm qua đó rút ra được những kết luận khoa học.
Đối với học sinh Tiểu học đặc biệt là học sinh lớp 1, tư duy trực quan cụ
thể còn chiếm ưu thế, thông qua việc tổ chức cho học sinh quan sát mới hình
thành cho các em những biểu tượng và những khái niệm đầy đủ, chính xác, sinh
động về thế giới tự nhiên và xã hội xung quanh. Qua đó, phát triển năng lực
quan sát, năng lực tư duy và ngôn ngữ cho các em.
Sử dụng phương pháp quan sát tạo được hứng thú học tập cho học sinh,
phù hợp quá trình nhận thức học sinh tiểu học.
Dạy học sử dụng phương pháp quan sát giúp giáo viên tiết kiệm lời giảng
kèm theo ví dụ minh họa làm cho bài giảng sinh động, cụ thể, hấp dẫn.
Phương pháp quan sát dễ kết hợp các phương pháp khác như phương
pháp phân tích giảng giải, phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp đàm
thoại,…làm cho bài giảng không nhàm chán.
8
Tuy nhiên sử dụng phương pháp quan sát đòi hỏi việc chuẩn bị đồ dùng
dạy học rất công phu, tốn kém. Bên cạnh đó giáo viên phải biết kết hợp khéo léo
giữa các phương pháp dạy học cũng như quản lý tốt lớp học.
Tiến trình tổ chức quan sát:
* Bước 1: Xác định mục đích quan sát
Trong một bài học, không phải mọi kiến thức cần lĩnh hội đều được rút ra
từ quan sát. Vì vậy, giáo viên cần xác định rõ việc tổ chức cho học sinh quan sát
nhằm đạt mục tiêu, kiến thức, kỹ năng nào?
* Bước 2: Lựa chọn đối tượng quan sát
Khi đã xác định được đối tượng quan sát, tuy theo từng nội dung học tập
mà giáo viên lựa chọn đối tượng quan sát phù hợp trình độ học sinh và điều kiện
của địa phương.
Đối tượng quan sát có thể là các sự vật hiện tượng, các mối quan hệ đang
diễn ra trong môi trường tự nhiên - xã hội hoặc các tranh ảnh, mô hình, mẫu vật,
sơ đồ, …. diễn tả các sự vật hiện tượng đó. Khi lựa chọn đối tượng quan sát giáo
viên nên ưu tiên lựa chọn các vật thật để giúp học sinh hình thành biểu tượng
sinh động.
VD1: Tiết 22: Cây xanh quanh em (Cây rau - cây hoa)
( TN-XH lớp 1. Trang 46- 47)
Đối tượng quan sát: cây rau, cây hoa thật do GV hoặc HS mang đến lớp,
tranh ảnh về các loai cây rau, cây hoa được phóng to.
Bên cạnh tranh ảnh, mẫu vật, mô hình, …. giáo viên cần cho học sinh
quan sát trực tiếp ngoài tự nhiên như cây cối xung quanh gia đình, trường học và
các hoạt động sống ở địa phương,..... để tạo cơ hội cho các em được khám phá
sự vật hiện tượng trong tự nhiên về đặc điểm bên ngoài, bản chất bên trong và
mối quan hệ giữa các sự vật hiện tượng đó .
VD2: Tiết 18, 19: Cuộc sống xung quanh. ( TN-XH lớp 1.Trang 38– 40)
Đối tượng quan sát: Quan sát cuộc sống đang diễn ra của người dân khu vực
xung quanh trường, nơi em ở.
VD3: Tiết 28: Thực hành quan sát bầu trời và thời tiết. (TN-XH lớp 1.
Trang 64;70)
Đối tượng quan sát : Bầu trời vào buổi sáng hoặc buổi chiều. (Học sinh đứng
dưới bóng mát để quan sát nếu trời nắng; đứng ngoài hành lang hay mái hiên
nếu trời mưa.)
* Bước 3: Tổ chức và hướng dẫn học sinh quan sát
Tùy vào tình hình thực tế của lớp (chuẩn bị số đồ dùng để quan sát, khả
năng quản lý của giáo viên cũng như khả năng tự quản và sự hợp tác nhóm của
học sinh) mà giáo viên có thể tổ chức cho học sinh quan sát theo cá nhân, nhóm
hoặc lớp.
Tuỳ theo mục đích và đối tượng quan sát, giáo viên hướng dẫn cho các
em quan sát từ những góc nhìn khác nhau để hiểu chi tiết sự vật. VD: hình dáng,
màu sắc, kích thước, … Các em sử dụng các giác quan để phán đoán, cảm nhận
sự vật hiện tượng (mắt nhìn, tai nghe, tay sờ, mũi ngửi…) thông qua hệ thống
câu hỏi, bài tập. Hệ thống câu hỏi, bài tập được xây dựng dựa trên mục đích
9
quan sát và trình độ hiểu biết của học sinh nhằm: Hướng học sinh đến đối
tượng quan sát.
VD1: Tiết 22: Cây xanh quanh em (TN-XH lớp 1. Trang 46; 48)
Giáo viên hướng dẫn HS quan sát cây rau thông qua các câu hỏi sau:
+ Tên cây rau?
+ Nó được trồng ở đâu?
+ Hãy chỉ ra các bộ phận : rễ, thân, lá, …
+ Bộ phận nào của cây rau ăn được?
VD2: Tiết 25: Con vật xung quanh em (TN – XH lớp 1. Trang 56; 58)
GV hướng dẫn HS quan sát con mèo thật hoặc tranh ảnh con mèo thông
qua hệ thống câu hỏi:
+ Mô tả màu lông mèo. Khi vuốt bộ lông mèo em cảm thấy thế nào?
+ Chỉ và nói tên các bộ phận bên ngoài của con mèo?
+ Con mèo di chuyển như thế nào?
VD3: Tiết 28: Thực hành quan sát bầu trời và thời tiết. (TN-XH lớp
1. Trang 64; 70)
Giáo viên nêu nhiệm vụ cho học sinh quan sát thông qua hệ thống câu hỏi:
+ Nhìn lên bầu trời em thấy gì?
+ Hôm nay trời nhiều mây hay ít mây?
+ Những đám mây có màu gì? Chúng đứng yên hay chuyển động?
+ Quang cảnh xung quanh như thế nào? Sân trường, cây cối, mọi vật, …
khô ráo hay ướt át?
Ngoài việc quan sát sự vật từ mọi chiều, giáo viên còn tạo điều kiện cho
học sinh thực hành trực tiếp ngay trên mô hình, tháo lắp các mô hình.
VD4: Tiết 6: Chăm sóc và bảo vệ răng. (Sách TN-XH lớp1. trang 14 )
Giáo viên nêu nhiệm vụ cho học sinh quan sát thông qua hệ thống câu hỏi:
- Quan sát mô hình (bên ngoài, bên trong) hàm răng, cho biết:
+ Có bao nhiêu chiếc răng?
+Có các loại răng nào?( răng hàm, răng nanh, răng cửa)
+ Phia trên răng là gì? (lợi)
- Quan sát bên trên, bên dưới và nói về tác dụng của hàm răng và các
loại răng?
- Cách chăm sóc răng miệng.
Từ đó điều khiển tri giác và hướng dẫn tư duy học sinh theo hướng quan
sát cần thiết. Giúp học sinh phân tích, tổng hợp, khái quát những điều đã quan
sát, liên hệ với các đối tượng mà các em đã nhìn thấy rồi rút ra kết luận khách
quan, khoa học.
* Bước 4: Tổ chức cho học sinh báo cáo kết quả về đối tượng được quan sát
10
Học sinh báo cáo kết quả quan sát bài: Con vật xung quanh em (tiết 25)
Sau khi quan sát, thu thập thông tin, học sinh xử lý các thông tin thông
qua hoạt động (phân tích, đối chiếu, so sánh, tổng hợp, nhận xét, …) để rút ra
kết luận khoa học về các đối tượng.
Hình thức báo cáo có thể bằng lời, phiếu học tập, hay phương tiện dạy
học. Giáo viên tổ chức cho học sinh hoàn thiện các kiến thức, kỹ năng và bổ
sung các kiến thức cần thiết.
VD1: Tiết 3: Nhận biết các vật xung quanh (TN&XH lớp 1. Trang 8; 9)
Qua việc quan sát các hình vẽ trong sách giáo khoa hoặc vật thật do các
em mang tới, học sinh nhận xét và mô tả về hình dáng, màu sắc, sự nóng, lạnh,
trơn, nhẵn hay sần sùi.... của các vật xung quanh.
Từ đó HS tự rút ra kết luận:
* Nhờ có mắt (thị giác), mũi (khứu giác), tai (thính giác), lưỡi (vị giác) và
da (xúc giác) mà chúng ta nhận biết được mọi vật xung quanh.
* Nếu một trong các giác quan đó bị hỏng chúng ta sẽ không thể biết
được đầy đủ về các vật xung quanh.
VD2: Tiết 23: Cây xanh quanh em (Bài 29: Nhận biết cây cối và con
vật) (TN&XH lớp 1. Trang 60)
Sau khi quan sát cây cối trong vườn trường và tranh ảnh, học sinh sẽ có
các thông tin: Các loại cây rau, cây hoa, cây gỗ, … với những đặc điểm phân
biệt và nhận diện chúng.
11
Qua phân tích, so sánh học sinh rút ra kết luận:
* Cây cối có nhiều loại như: Cây rau, cây hoa, cây gỗ, … Các loại cây này
có thể khác nhau về hình dạng, kích thước, nhưng chúng đều có rễ, thân, lá.
VD3: Tiết 25: Con vật xung quanh em (Bài 29: Nhận biết cây cối và
con vật) (TN&XH lớp 1. Trang 60)
Sau khi quan sát các con vật (vật thật hoặc tranh ảnh), học sinh sẽ có các
thông tin về các con vật: cá, mèo, gà, muỗi, dán, ….với đặc điểm về kích thước
và hình dáng.
Qua phân tích, so sánh học sinh rút ra kết luận:
12
* Có nhiều loại động vật, chúng khác nhau về hình dạng, kích thước, môi
trường sống … nhưng chúng đều có đầu, mình và cơ quan di chuyển. Có động
vật có ích và động vật có hại.
Giáo viên cần lưu ý để sử dụng phương pháp quan sát đúng lúc, đúng chỗ
sẽ phát huy được hiệu quả tốt nhất và giúp học sinh tiếp thu bài học một cách
chủ động nhất.
2.3.2.2. Phương pháp trò chơi học tập:
Trò chơi học tập là một trong những phương pháp dạy học được sử dụng
trong môn Tự nhiên và Xã hội ở bậc Tiểu học. Đối với học sinh lớp 1 với đặc
điểm tâm sinh lý lứa tuổi của các em thì trò chơi học tập là một trong những
phương pháp rất quan trọng giúp các em chiếm lĩnh được kiến thức mới. Trong
các tiết học môn Tự nhiên và Xã hội, việc tổ chức cho học sinh chơi vào bất kỳ
phần nào của bài học đều rất quan trọng vì chơi trò chơi làm thay đổi hình thức
học tập, làm cho lớp học thoải mái và dễ chịu hơn. Từ đó học sinh tiếp thu tự
giác, tích cực hơn và được củng cố hệ thống hóa kiến thức. Khi tổ chức trò chơi
học tập, giáo viên cần phải dựa vào nội dung bài học, điều kiện cơ sở vật chất
của nhà trường, dựa vào thời gian trong từng tiết học mà lựa chọn hoặc thiết kế
các trò chơi cho phù hợp. Giáo viên cần chuẩn bị kế hoạch tổ chức trò chơi một
cách chu đáo để đạt hiệu quả cao. Tránh lặp đi lặp lại trò chơi học tập trong tiết
học sẽ không hấp dẫn học sinh, không thu hút học sinh.
VD1: Chủ đề : “Con người và sức khỏe”. Tiết 8: Ăn uống hằng ngày
Chuẩn bị: GV chuẩn bị một số loại thực phẩm, đồ uống hằng ngày để lên
kệ trước bảng lớp.
(Giáo viên tổ chức trò chơi Đi chợ giúp mẹ cuối bài nhằm củng cố cho
HS về tên gọi các của loại thực phẩm, đồ uống và HS biết lựa chọn đa dạng các
loại thực phẩm và đồ uống để giúp cơ thể luôn khỏe mạnh.)
Cách tiến hành:
GV nêu tên trò chơi: Đi chợ giúp mẹ
- Hướng dẫn cách chơi: Chia lớp thành 3 đội chơi. Có 2 lượt chơi, mỗi
lượt các đội cử 3 bạn lên tham gia chơi. Các bạn còn lại sẽ là cổ động viên cho
đội mình. Thời gian cho mỗi lượt chơi là 2 phút.
- Cử 1 quản trò lên điều hành.
- Quản trò hô: Đi chợ, đi chợ!
- Cả lớp đồng thanh: Mua gì? Mua gì?
- Quản trò: Nêu tên một số thực phẩm, đồ uống (VD: Mua 2 con cá, mua
3 bó rau, mua 1quả bưởi,...)
- Sau khi nghe hiệu lệnh thì các bạn trong 3 đội chơi sẽ đi tìm đúng và đủ
số lượng thực phẩm, đồ uống trên kệ mà quản trò vừa nêu bỏ vào giỏ của đội
mình. Sau mỗi lượt chơi, GV cùng HS sẽ kiểm tra xem các đội có lấy đúng, đủ
đồ mà quản trò yêu cầu không và đội nào lấy đúng, đủ và hoàn thành trong thời
gian sớm nhất thì được tặng thưởng bằng 1 tràng vỗ tay.
VD2: Chủ đề “Tự nhiên”, Tiết 22: Cây cối xung quanh em (Bài 23:
Cây rau).
13
Chuẩn bị: Chuẩn bị 6 chiếc khăn sạch, một số cây rau: rau cải, rau ngót,
rau muống, rau mồng tơi…
(Giáo viên tổ chức trò chơi Đố bạn rau gì? vào hoạt động 3 của bài)
Cách tiến hành:
- Giáo viên nêu tên trò chơi: Đố bạn rau gì?
- Giáo viên chia lớp làm 6 nhóm.Yêu cầu mỗi nhóm cử ra một bạn lên
chơi đoán xem đó là cây rau gì.
- Cho các em tham gia chơi xếp thành hàng ngang trước lớp.
Sau đó đưa cho mỗi em 1 chiếc khăn để bịt mắt và đưa cho mỗi bạn một
loại cây rau, yêu cầu các em dùng tay sờ và có thể ngắt lá để ngửi, đoán xem đó
là rau gì. Ai đoán nhanh và đúng là người thắng cuộc.
VD3: Chủ đề “Tự nhiên”, Tiết 26: Thời tiết (Bài 30: Trời nắng- trời
mưa).
(Giáo viên tổ chức trò chơi Trời nắng- trời mưa cuối bài nhằm củng cố
cho HS có ý thức bảo vệ sức khỏe khi đi dưới trời nắng hoặc trời mưa.)
Cách tiến hành:
- Giáo viên nêu tên trò chơi: Trời nắng - trời mưa
- Hướng dẫn cách chơi: (cả lớp cùng chơi)
Quản trò hô (GV hoặc HS): Trời nắng, trời nắng
Cả lớp: Che ô, đội mũ (hai tay vòng lên phía trên đầu)
Quản trò: Mưa nhỏ, mưa nhỏ
Cả lớp: Tí tách, tí tách (Vỗ nhẹ hai tay vào nhau)
Quản trò: Trời chuyển mưa rào
Cả lớp: Lộp độp, lộp độp (Vỗ tay to hơn)
Quản trò: Sấm nổ
Cả lớp: Đì đoàng, đì đoàng (nắm bàn tay phải, giờ lên cao hai lần)
Quản trò: Đã 9 giờ tối
Cả lớp: Đi ngủ, đi ngủ (Hai tay úp vào nhau, đưa lên sát má, nghiêng đầu)
Quản trò: Trời đã sáng tỏ
Cả lớp: Gà gáy ò ó o (làm động tác gà gáy)
Quản trò: Rủ nhau tới trường
Cả lớp: Ngồi vào ngay ngắn (Ngồi xuống, vòng tay lên bàn)
Qua trò chơi không những tạo được không khí hứng thú, sôi nổi trong giờ
học mà học sinh còn tiếp thu, củng cố được những kiến thức và khắc sâu nội
dung bài học.
2.3.2.3. Phương pháp đàm thoại:
Là phương pháp trong đó việc đối thoại giữa giáo viên và học sinh được
tiến hành trên cơ sở hệ thống câu hỏi nhằm tìm ra những kiến thức. Nó có tác
dụng tốt đối với việc huy động vốn tri thức và kinh nghiệm đã có ở học sinh vào
việc tìm tòi kiến thức mới, đồng thời khơi dậy ở học sinh tính tích cực, độc lập
sáng tạo của học sinh trong học tập.
Đối với môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1 phương pháp hỏi đáp cũng là
phương pháp giúp cho học sinh có hứng thú trong việc học tập. Thông qua câu
hỏi của giáo viên, học sinh suy nghĩ tìm tòi và trả lời cũng đã giúp cho các em
14
•
bước đầu hình thành tư duy trừu tượng, bồi dưỡng cho học sinh năng lực diễn
đạt bằng lời nói và làm cho không khí lớp học sôi nổi. Giúp HS thu nhận kiến
thức và đánh giá kết quả học tập của học sinh.
Để tăng thêm hiệu quả của việc sử dụng phương pháp hỏi đáp, giáo viên
cần tổ chức đối thoại theo nhiều chiều: giáo viên → học sinh ; học sinh → học
sinh và học sinh → giáo viên.
VD1: Tiết 11: Gia đình (TN&XH lớp1. trang 24 ) :
Gọi học sinh giới thiệu về gia đình mình cho các ban cùng nghe:
+ Gia đình gồm những ai? ( Chỉ trên tranh / ảnh )
+ Các thành viên trong nhà làm gì?
+ Cả nhà tụ họp đầy đủ vào lúc nào?
+ Con nghĩ gia đình con như thế nào?
VD2: Tiết 15: Lớp học (TN&XH lớp1. trang 32 )
+ Con hãy kể tên cô giáo (thầy giáo) và các bạn của mình?
+ Trong lớp, con thường chơi với những ai?
+ Trong lớp học của con có những thứ gì? Chúng được dùng để làm gì?
Khi nghe học sinh trả lời các câu hỏi, giáo viên sẽ sửa cho học sinh không
những về kiến thức của môn Tự nhiên và Xã hội, mà con sửa cho học sinh cách
trả lời thành câu, cách dùng từ ngữ cho đúng nghĩa…Từ đó giúp học sinh càng
hoàn thiện hơn.
2.3.2.4. Phương pháp thảo luận nhóm
Đây cũng là phương pháp quan trọng giúp các em học tập tốt. Bởi vì hoạt
động nhóm giúp cho học sinh tự tin, có nhiều cơ hội khám phá, diễn đạt ý tưởng
của mình cho các bạn trong nhóm. Từ hoạt động nhóm HS có thể hỏi lẫn nhau
điều đó giúp cho các em phát triển kỹ năng giao tiếp. Tuy nhiên cần chú trọng
đến cách chia nhóm. Giáo viên cần thường xuyên thay đổi cách chia nhóm.
(Nhóm đôi, nhóm 4, hoặc nhóm 6). Trong mỗi nhóm cần có đủ các đối tượng
học sinh đề các em giúp đỡ lẫn nhau. Trong quá trình hoạt động nhóm, giáo viên
cần theo dõi và hỗ trợ các em kịp thời.
VD1: Tiết 14: An toàn khi ở nhà (TN&XH lớp 1. Trang 30)
- Học sinh thảo luận nhóm 4:
+ Quan sát các hình ở trang 31 – SGK thảo luận, dự kiến các tình huống
có thể xảy ra trong từng hình?
- Mỗi học sinh trong nhóm nêu ý kiến về các tình huống xảy ra...
- Giáo viên giúp đỡ và kiểm tra hoạt động của các nhóm, nếu em nào chưa
nêu được ý kiến riêng thì có thể đến giúp đỡ, gợi ý bằng các câu hỏi phụ.
- Nhóm trưởng tổng hợp và lên trình bày kết quả thảo luận.
15
Hình ảnh học sinh thảo luận nhóm 4
VD2: Tiết 25: Con vật xung quanh em (Bài 27: Con mèo – TN&XH
lớp 1. Trang 56)
- Học sinh quan sát và thảo luận nhóm đôi:
Hãy chỉ và nói tên các bộ phận bên ngoài của con mèo?
- Mỗi HS trong nhóm sẽ chỉ và nêu các bộ phận bên ngoài của con mèo
- Giáo viên giúp đỡ và kiểm tra hoạt động của các nhóm
- Nhóm trưởng tổng hợp và lên trình bày kết quả thảo luận.
Hình ảnh học sinh thảo luận nhóm đôi và báo cáo kết quả
Phương pháp thảo luận nhóm được sử dụng kết hợp với các phương pháp
khác trong một hoạt động hoặc trong một bài học, làm cho hình thức học tập
thêm phong phú. Giúp học sinh được chủ động, sáng tạo và tiếp thu kiến thức
tích cực hơn và thu được kết quả tốt nhất.
2.3.2.5. Phương pháp “Bàn tay nặn bột”
Phương pháp “Bàn tay nặn bột” là một phương pháp dạy học mà trong đó
học sinh tiến hành các thao tác trí tuệ có sự hỗ trợ của một số dụng cụ và những
giác quan để nghiên cứu, tìm tòi, khám phá ra tri thức mới. Tất cả suy nghĩ và
kết quả được học sinh mô tả lại bằng chữ viết, lời nói, hình vẽ.
16
Nói cách khác “Bàn tay nặn bột” là một phương pháp dạy học được tổ
chức nhằm giúp học sinh tự phát hiện ra tri thức khoa học. Trên cơ sở vận dụng
tất cả các giác quan, kinh nghiệm, tri thức cũ của mình và tham gia làm thực
nghiệm khoa học.
Trong phương pháp “Bàn tay nặn bột”, học sinh được thoải mái đưa ra
quan điểm của mình về sự vật, hiện tượng. Đó là những hiểu biết ban đầu của
học sinh. Những hiểu biết này có thể đúng, chưa đầy đủ, hoặc có thể sai, đôi khi
là ngây thơ, ngờ nghệch nhưng vẫn được tôn trọng, động viên và khích lệ. Khi
học sinh đưa ra biểu tượng ban đầu của mình về vấn đề đặt ra, giáo viên không
đưa ra lời nhận xét đúng, sai mà để các em tự nhận thấy được trong quá trình
kiểm tra giả thuyết. Phương pháp này phù hợp với đặc điểm tâm lí, đặc điểm
nhận thức của lứa tuổi Tiểu học. Giúp học sinh hứng thú học tập và tiếp thu tốt
kiến thức của môn học.
Trong quá trình sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” để thực sự có
hiệu quả đòi hỏi người giáo viên và học sinh cần tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Các em cần được quan sát một số sự vật, hiện tượng của thế giới thực
tại, gần gũi, dễ cảm nhận và tiến hành thực nghiệm về chúng.
- Trong quá trình học tập, các em tự lập luận và đưa ra các lý lẽ, thảo luận
những ý nghĩ và các kết quả đạt được trên cơ sở xây dựng kiến thức cho mình.
Một hoạt động mà hoàn toàn chỉ dựa trên sách vở là không đủ.
- Các hoạt động giáo viên đề ra cho học sinh được tổ chức trong các giờ
học nhằm đến một sự tiến bộ trong học tập. Các hoạt động này gắn với chương
trình và dành phần lớn quyền tự chủ cho học sinh.
- Mỗi học sinh có một quyển vở ghi chép thí nghiệm và các em trình bày
trong đó bằng ngôn ngữ của riêng mình.
- Mục tiêu chính là sự chiếm lĩnh dần dần các khái niệm khoa học và kĩ
thuật được thực hành, kèm theo sự vững vàng trong diễn đạt nói và viết.
* Tuy nhiên với học sinh lớp 1, các em chưa được học hết các vần, từ
trong Tiếng Việt nên chưa thể tự viết được các suy nghĩ của mình, giáo viên cần
tổ chức cho học sinh trình bày miệng hoặc vẽ ra giấy những hiểu biết ban đầu
của mình về sự vật, hiện tượng cần tìm hiểu.
Trên thực tế, phương pháp “Bàn tay nặn bột” không hoàn toàn là mới đối
với các giáo viên. Về cơ bản, đây là phương pháp tổng hợp các phương pháp
dạy học trước đây mà giáo viên đã từng tiếp xúc như: phương pháp giảng dạy
giải quyết vấn đề, phương pháp dạy học tích cực… Nhưng dạy học theo phương
pháp này cần có nhiều thời gian hơn cho một tiết học. Vì vậy, giáo viên cần xây
dựng một chương trình và sắp xếp vào buổi học thứ hai trong ngày. Hoặc chỉ sử
dụng phương pháp này trong một hoạt động của tiết dạy.
VD: Tiết 24: Con vật xung quanh em (Bài 26: Con gà -TN&XH lớp 1.
Trang 54; 55)
Sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột ở hoạt động 2:
- GV nêu câu hỏi: Nuôi gà để làm gì?
HS làm việc theo nhóm 4, mỗi em trong nhóm viết ý kiến vào ô của mình
trong phiếu nhóm về ích lợi của con gà.
17
Kết thúc thời gian làm việc cá nhân, các thành viên chia sẻ, thảo luận và
thống nhất các câu trả lời. Nhóm trưởng tổng hợp, trình bày trước lớp, giáo viên
sẽ lắng nghe và tổng hợp bằng cách cho học sinh xem video có hình ảnh và
thuyết minh về lợi ích của con gà. Học sinh sẽ tự bổ sung vào kiến thức của
mình những hiểu biết trong tự nhiên và xã hội.
2.3.3. Sử dụng hiệu quả đồ dùng dạy học
Ngoài các phương pháp và hình thức dạy học ra thì đồ dùng dạy học là
một phương tiện không thể thiếu trong mỗi tiết dạy. Việc sử dụng đồ dùng dạy
học phải nhịp nhàng, linh hoạt, sử dụng đúng lúc, đúng chỗ để phát huy hết tác
dụng. Để sử dụng đồ dùng đạt kết quả cao, chúng ta cần phải:
- Lựa chọn đồ dùng dạy học phù hợp với nội dung bài học.
- Cần nghiên cứu, sử dụng thành thạo các loại đồ dùng.
- Lựa chọn đúng thời điểm phù hợp để đưa ra từng loại đồ dùng.
- Cần huy động tối đa những đồ dùng học tập học sinh có thể chuẩn bị
được để phục vụ cho các hoạt động tập thể như tranh ảnh, vật thật.
- Học sinh cần chuẩn bị đầy đủ các đồ dùng học tập mà giáo viên đã giao
cho để tham gia xây dựng bài học một cách hiệu quả.
Đồ dùng dạy học có tầm quan trọng trong sự thành công trong một tiết
dạy. Vì vậy, trước mỗi tiết dạy giáo viên phải chuẩn bị đầy đủ các đồ dùng dạy
học phù hợp với từng hoạt động của từng bài. Ngày nay việc đưa công nghệ
thông tin vào giảng dạy là thuận lợi lớn cho mỗi tiết dạy. Vì vậy để làm được
những tiết giáo án điện tử thành công, người giáo viên cần tìm tòi, sáng tạo, sưu
tầm tranh ảnh trong thực tế để đưa vào bài giảng những hình ảnh đẹp nhất.
VD1: Tiết 22: Cây xanh quanh em (Cây rau – Cây hoa)
(TN&XH lớp 1. trang 46 - 48)
Để tìm hiểu cây sống ở đâu?
Cây rau, cây hoa thật rất dễ kiếm nên học sinh chuẩn bị cây rau, cây hoa
nhiều loại với nơi sống khác nhau (trên cạn, dưới nước…). Giáo viên ngoài việc
chuẩn bị cây rau, cây hoa thật còn chuẩn bị các hình ảnh cây rau, cây hoa đa
dạng và được trình chiếu trong tiết học nhờ sử dụng công nghệ thông tin, từ đó
sẽ dễ dàng cho việc tìm hiểu kiến thức.
VD2: Tiết 24: Con vật xung quanh em (Con cá – con gà)
(TN&XH lớp 1 - trang 52 - 55)
Để tìm hiểu tên các loài cá và nơi sống của chúng?
Học sinh chuẩn bị con cá thật và tranh ảnh về các loài cá ở môi trường
sống khác nhau.
Giáo viên nhờ sử dụng công nghệ thông tin để đưa hình ảnh các loài cá đa
dạng về màu sắc, hình dáng kích thước và đa dạng về nơi sống vào bài giảng sẽ
làm tiết học phong phú và tạo hứng thú học tập cho các em.
2.3.4. Tích hợp với các môn học khác
Trong trường Tiểu học các môn học có tác dụng hỗ trợ lẫn nhau, môn nọ
là nền tảng để học tốt môn kia. Môn Tự nhiên và Xã hội là tư liệu phục vụ cho
bài học, chúng là thực tế về Tự nhiên, Xã hội và con người xung quanh các em.
Vì vậy trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần phải tích hợp các kiến thức của
18
môn học liên quan như: Tiếng Việt, Đạo đức, Tự nhiên và Xã hội… để giúp học
sinh có thêm kiến thức thu thập thực tế và vận dụng vào bài học.
VD: Trong môn Đạo đức học sinh được học bài 4: “Gia đình em”, các
em đã biết được các thành viên trong gia đình, biết được sự quan tâm của mọi
người trong gia đình với nhau.
Khi học môn Tự nhiên và Xã hội ở bài 11: “Gia đình”, học sinh sẽ vận
dụng kiến thức về gia đình đã học trong môn Đạo đức để trả lời câu hỏi: Hãy
kể về những người trong gia đình em? Từ đó, học sinh sẽ liên hệ và chia sẻ
với các bạn trong lớp về các thành viên trong gia đình mình.
Đến bài 13: Công việc ở nhà, học sinh sẽ dễ dàng nêu được các việc làm
của mỗi thành viên trong gia đình để giúp đỡ lẫn nhau, biết liên hệ để giúp đỡ bố
mẹ những công việc vừa sức…
Hoặc ở môn Tự nhiên và Xã hội bài 3: “Nhận biết các vật xung quanh”
học sinh được biết khi quan sát các vật xung quanh chúng ta phải sử dụng các
giác quan để quan sát như: mắt nhìn, tai nghe, tay sờ, mũi ngửi,... Đến khi học
bài Tập đọc: “Ngôi nhà” (trang 82- Tiếng Việt lớp 1, tập 2) học sinh biết thêm
nhờ sử dụng các giác quan để quan sát mà chúng ta cảm nhận được vẻ đẹp của
ngôi nhà của mình từ đó thêm yêu quý ngôi nhà và yêu quê hương đất nước.
Tóm lại, nhờ tích hợp môn Tự nhiên và Xã hội với các môn học khác mà
đã bổ sung kiến thức cho học sinh trong quá trình học tập. Học sinh tích cực học
tập hơn, có nhiều hứng thú, say mê khám phá kiến thức của bài học.
2.3.5.Tăng cường bồi dưỡng kiến thức thực tế cho giáo viên và học sinh
Tự nhiên và Xã hội là môn học mang trong mình nhiều kiến thức thực tế
hết sức phong phú và gần gũi với thế giới tự nhiên, xã hội và con người. Vì vậy,
tăng cường bồi dưỡng vốn kiến thức thực tế cho giáo viên, học sinh là việc làm
quan trọng đóng góp vào thành công trong công việc đổi mới phương pháp dạy
học để có kết quả học tập tốt trong môn Tự nhiên và Xã hội nói riêng và các
môn học khác nói chung.
* Đối với giáo viên: Thực tế cuộc sống rất phong phú, đòi hỏi mỗi người
giáo viên cần phải không ngừng học hỏi và bồi dưỡng vốn hiểu biết cho bản
thân. Hành trang kiến thức của giáo viên cần được cập nhật và hoàn thiện cùng
với sự phát triển của xã hội. Hiện nay, có rất nhiều nguồn kiến thức mà chúng ta
có thể học hỏi như trên sách báo, tạp trí, trên mạng Internet…, Ngoài ra mỗi
giáo viên cần học hỏi ở đồng nghiệp, ở mọi người xung quanh. Ban giám hiệu
nhà trường đã tổ chức cho các tổ khối chuyên môn sinh hoạt theo định kỳ để
giáo viên cùng nghiên cứu các bài khó, tiết khó. Từ đó giáo viên tự đúc kết cho
mình những kiến thức trong giảng dạy.
* Đối với học sinh: Cần tạo cho học sinh thói quen quan sát thế giới xung
quanh như: Tổ chức các buổi học ngoại khóa. Tổ chức cho các em đi tham quan
những di tích và những làng nghề ở địa phương. Khi giao việc chuẩn bị bài ở
nhà, giáo viên cần hướng các em tới các đối tượng quan sát cụ thể như quan sát
con vật và nêu các bộ phận của chúng, quan sát các nghề ở địa phương, quan sát
bầu trời ở từng thời điểm khác nhau… Từ đó giúp học sinh có thêm những kiến
thức thực tế cần thiết.
19
Tóm lại, để tăng cường hoạt động học của học sinh, thực hiện tốt phương
pháp dạy học và nâng cao chất lượng giảng dạy môn Tự nhiên và Xã hội thì cần
phải có sự kết hợp giữa các giải pháp nêu trên. Người giáo viên cần có sự gắn
kết, sâu chuỗi nhịp nhàng giữa các hoạt động của thầy và trò. Định hướng cho
học sinh con đường tự lĩnh hội, tự phát hiện ra kiến thức.
Tất cả các giải pháp nêu trên nhằm đạt tới mục đích cuối cùng là sau khi
học xong mỗi tiết Tự nhiên và Xã hội nói riêng và hoàn thành chương trình bậc
tiểu học nói chung, học sinh tích lũy được vốn hiểu biết về Tự nhiên và Xã hội,
về các cơ quan trong cơ thể con người và tác dụng của chúng, ý thức được trách
nhiệm của bản thân với gia đình và mọi người xung quanh, yêu thiên nhiên đất
nước và bảo vệ môi trường sống.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
Tôi đã thực hiện những giải pháp nêu trên ở lớp 1C – Trường Tiểu học
Đông Vệ 2 (năm học 2019 – 2020) do tôi chủ nhiệm. Sau một thời gian dài thực
hiện, tôi nhận thấy học sinh có sự tiến bộ rõ rệt. Các em tích cực, chủ động hơn
trong việc lĩnh hội tri thức. Đến tiết Tự nhiên và Xã hội các em rất hào hứng học
tập làm cho không khí lớp học sôi nổi hẳn lên.
Hình ảnh học sinh tích cực phát biểu bài trong giờ Tự nhiên và Xã hội
Kết quả đạt được trong quá trình thực hiện các giải pháp:
Tháng
Thích học(%)
Không thích học (%)
9
10
11
53,3 %
57, 8%
66,7%
46,7%
42,2%
33,3%
Ghi chú
20
12
01
05
77,8%
88,9%
93,3%
22,2%
11,1%
6,7%
Sau khi dạy Tiết 24: Con vật xung quanh em (Con cá - Con gà) (TN – XH.
trang 52 - 54), tôi đã khảo sát với bài trắc nghiệm về con gà:
PHIẾU TRẮC NGHIỆM
Đánh dấu x vào ô trống trước câu trả lời đúng nhất:
1. Kể tên các bộ phận bên ngoài của con gà?
Đầu, mình, chân, cánh
Đầu, mình, chân
Đầu, mình, chân, cánh và đuôi
2. Gà trống, gà mái, gà con khác nhau ở những điểm nào?
Hình dáng và màu lông
Màu lông và tiếng kêu
Hình dáng, màu lông và tiếng kêu
3. Nuôi gà để làm gì?
Lấy trứng, lấy thịt,
Làm cảnh, lấy lông
Cả hai ý trên
KẾT QUẢ THU ĐƯỢC
Số HS trả lời
Số HS trả lời
Số HS trả lời
Số HS trả lời
đúng
đúng
đúng
đúng
Sĩ số
90-100%
70-80%
50-60%
< 50%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
45
28
62,2 %
11
24,5 %
4
8,9%
2
4,4 %
Nhìn vào bảng số liệu chúng ta có thể thấy rằng:
- Chất lượng giảng dạy và học tập môn Tự nhiên và Xã hội đạt kết quả rõ rệt.
- Học sinh học tập tích cực, hứng thú, chủ động trong việc lĩnh hội tri
thức, không khí lớp học sôi nổi, hào hứng, học sinh hứng thú với môn Tự nhiên
và Xã hội. Đây là một trong những thành công trong quá trình giảng dạy môn
học này.
- Môn Tự nhiên và Xã hội không còn là môn phụ mà thực sự là môn học
có tác dụng giáo dục quan trọng. Góp phần vào việc nâng cao chất lượng giáo
dục toàn diện trong nhà trường.
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận :
Qua quá trình nghiên cứu và thực hiện để giúp học sinh học tốt môn Tự
nhiên và Xã hội lớp 1, tôi nhận thấy những giải pháp trên đã mang lại hiệu quả
tốt và chất lượng môn học cũng từ đó được nâng lên. Việc sử dụng linh hoạt các
phương pháp dạy học trong môn Tự nhiên và Xã hội đã phát huy tính tích cực,
chủ động và sáng tạo trong học tập của học sinh. Đây là mục đích của quá trình
21
dạy học hiện nay và hoàn toàn phù hợp với đặc điểm phát triển sinh lý của học
sinh lớp 1.
Trong quá trình thực hiện, để một tiết dạy thành công giáo viên cần lưu ý:
* Về kiến thức:
- Giáo viên cần nắm vững được kiến thức xuyên suốt trong toàn cấp học
đối với môn Tự nhiên và Xã hội nói riêng và các môn học nói chung. Từ hệ
thống kiến thức đó giáo viên xâu chuỗi lại để có định hướng giảng dạy cung cấp
kiến thức cho học sinh trọng tâm hơn.
- Giáo viên cũng cần có kiến thức tích hợp cho từng bài, từng chủ điểm,
trong từng khối lớp để thuận tiện trong việc thiết kế bài học, định hướng các
phương pháp dạy học trong từng chủ điểm cho phù hợp.
- Nắm được các kiến thức có liên quan ở các môn học khác để vận dụng
phối hợp trong việc hướng dẫn học sinh nắm bắt kiến thức.
- Cần thường xuyên trau dồi và học hỏi để từng bước nâng cao vốn hiểu
biết về Tự nhiên và Xã hội phù hợp với sự phát triển của thế giới.
* Lập kế hoạch dạy học:
- Giáo viên cần nắm vững nội dung cơ bản của bài học trong sách giáo
khoa và những hướng dẫn cụ thể về mục tiêu cần đạt.
- Tùy theo đặc điểm từng bài cụ thể mà xây dựng kế hoạch bài giảng cho
phù hợp, đủ thời gian quy định.
* Vận dụng linh hoạt các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học
- Các phương pháp dạy học Tự nhiên và Xã hội rất đa dạng. Nó bao gồm
cả phương pháp truyền thống và phương pháp hiện đại. Mỗi phương pháp có
mặt ưu và mặt hạn chế riêng. Vì vậy giáo viên cần nắm vững các phương pháp
dạy học và lựa chọn các phương pháp dạy học phù hợp với nội dung bài học và
chủ điểm của bài học đó. Căn cứ vào đối tượng học sinh mà sử dụng các phương
pháp dạy học hợp lý, linh hoạt và đúng mức.
- Giáo viên có thể vận dụng linh hoạt các hình thức dạy học theo cá nhân,
theo nhóm nhỏ, theo lớp ; ở trong hoặc ngoài phòng học. Tổ chức các trò chơi
học tập để khuyến khích học sinh tích cực hoạt động chiếm lĩnh kiến thức.
- Giáo viên cần khéo léo sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học, các
hình thức tổ chức dẫn dắt học sinh đạt được đích cần đến sau những hoạt động.
- Không tách rời những hoạt động mà phải có sự đan xen, liên kết và hỗ
trợ giữa các hoạt động với nhau.
* Đa dạng hóa các phương tiện dạy học
- Đồ dùng dạy học là phương tiện không thể thiếu trong những tiết dạy. Vì
vậy khi sử dụng giáo viên cần nắm vững ý đồ của đồ dùng, linh hoạt đưa đồ
dùng đúng lúc, đúng chỗ để phát huy hết tác dụng của nó. Cần phải sử dụng đồ
dùng như một nguồn cung cấp kiến thức chứ không phải để minh họa cho bài
học, làm đẹp cho bài học.
- Sưu tầm và sử dụng đồ dùng trực quan (vật thật, mô hình, tranh ảnh....)
hợp lý và có hiệu quả.
- Tích cực soạn giảng các bài giảng điện tử đưa các hình ảnh trực quan,
sinh động trong thực tế gắn với nội dung bài học để giới thiệu đến học sinh.
22
* Để tiết dạy nhẹ nhàng mà hiệu quả, giáo viên cần giao việc rõ ràng, chốt
nội dung kiến thức ở từng hoạt động. Luôn tôn trọng mọi suy nghĩ, đóng góp, ý
kiến hoặc câu trả lời của học sinh.
Đặc biệt cần động viên khuyến khích học sinh thường xuyên. Giúp học
sinh tự tin và chủ động hơn trong việc chiếm lĩnh kiến thức.
3.2. Kiến nghị:
* Đối với nhà trường:
Cần tổ chức các tiết dạy chuyên đề về môn Tự nhiên và Xã hội có sử dụng
nhiều phương pháp và hình thức tổ chức dạy học khác nhau.
Thường xuyên mở các buổi hội thảo chuyên đề bồi dưỡng nâng cao trình
độ cho giáo viên. Có giải pháp nâng cao hiệu quả sinh hoạt tổ chuyên môn hơn
nữa.
* Đối với cấp trên:
Phòng GD& ĐT nên tổ chức thường xuyên những hội thảo chuyên đề đi
sâu vào từng môn học.
Trên đây là những kinh nghiệm của bản thân mà tôi đã áp dụng vào giảng
dạy môn Tự nhiên và Xã hội. Tôi rất mong nhận được sự góp ý, bổ sung của bạn
bè, đồng nghiệp, Hội đồng đánh giá SKKN để tôi có thể vận dụng vào giảng dạy
có hiệu quả hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ
TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 24 tháng 5 năm 2020
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người
khác.
Người viết
Lê Thị Quỳnh Huệ
TÀI LIỆU THAM KHẢO :
- Phương pháp dạy môn Tự nhiên và Xã hội. Nhà xuất bản giáo dục
- Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học ở Tiểu học.
(Nhà xuất bản giáo dục).
23
- Sách Giáo khoa Tự nhiên và Xã hội lớp 1 (Nhà xuất bản giáo dục)
- Vở bài tập Tự nhiên và Xã hội lớp 1 (Nhà xuất bản giáo dục)
- Sách giáo viên Tự nhiên và Xã hội lớp1 (Nhà xuất bản giáo dục)
- Mạng Internet
- Tạp san giáo dục
DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
24
Họ và tên tác giả: Lê Thị Quỳnh Huệ
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên - Trường Tiểu học Đông Vệ 2
TT
Tên đề tài SKKN
1.
Thiết kế trò chơi cho học sinh
lớp 2
Một số giải pháp giúp học
sinh lớp 5 đổi các đơn vị đo
lường.
Một số giải pháp rèn kỹ năng
viết đúng và đẹp cho học sinh
lớp 1 của trường Tiểu học
Đông Vệ 2
Một số giải pháp nâng cao
chất lượng dạy học phân môn
học vần lớp 1
Một số giải pháp nâng cao
chất lượng môn Đạo đức ở
lớp 1
2.
3.
4.
5.
Phòng
Kết quả
đánh giá
xếp loại
(A, B,
hoặc C)
B
Phòng
C
2010 - 2011
Phòng
B
2014 - 2015
Phòng
B
2015 - 2016
Phòng
Sở
A
C
2016 - 2017
Cấp đánh
giá xếp loại
(Phòng, Sở,
Tỉnh...)
Năm học đánh
giá xếp loại
2004 - 2005
...
25