Tải bản đầy đủ (.pdf) (91 trang)

Pháp luật về kinh doanh hàng rong – thực tiễn tại thành phố hồ chí minh và một số kiến nghị

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (866.43 KB, 91 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. Hồ Chí Minh

NGUYỄN HÙNG TÍN

PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH HÀNG RONG – THỰC TIỄN
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

TP. Hồ Chí Minh - Năm 2020


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. Hồ Chí Minh

NGUYỄN HÙNG TÍN

PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH HÀNG RONG – THỰC TIỄN
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Hướng đào tạo: Hướng ứng dụng
Mã số: 8380107
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN THỊ ANH

TP. Hồ Chí Minh - Năm 2020



LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Nguyễn Hùng Tín, mã số học viên: 7701281075A, là học viên lớp Cao
học Luật khóa 28 Bình Dương của Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh,
Khoa Luật, chuyên ngành Luật Kinh tế, là tác giả của Luận văn Thạc sĩ Luật
học với đề tài “Pháp luật về kinh doanh hàng rong – thực tiễn tại thành
phố Hồ Chí Minh và một số kiến nghị”.
Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung được trình bày trong Luận văn này là kết quả
nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn
khoa học. Trong Luận văn có sử dụng, trích dẫn một số ý kiến, quan điểm
khoa học của một số tác giả. Các thông tin này đều được trích nguồn cụ thể,
chính xác và có thể kiểm chứng. Các số liệu, thông tin được sử dụng trong
Luận văn là hoàn toàn khách quan và trung thực.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

NGUYỄN HÙNG TÍN


MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TÓM TẮT LUẬN VĂN
ABSTRACT
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................... Error! Bookmark not defined.
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KINH DOANH HÀNG RONG ............... 8
1.1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại kinh doanh hàng rong ................................ 8
1.1.1. Khái niệm kinh doanh hàng rong............................................................... 8
1.2.2. Đặc điểm kinh doanh hàng rong .............................................................. 13

1.2.2. Phân loại kinh doanh hàng rong .............................................................. 18
1.2. Tác động của kinh doanh hàng rong đến xã hội ............................................. 20
1.2.1. Những tác động tích cực .......................................................................... 20
1.2.2. Những tác động tiêu cực .......................................................................... 21
1.3. Các nội dung quản lý nhà nước đối với kinh doanh hàng rong ..................... 22
1.3.1. Khái niệm quản lý nhà nước đối với kinh doanh hàng rong ................... 22
1.3.2. Trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước ............................................ 25
1.3.3. Những nội dung trong công tác quản lý kinh doanh hàng rong .............. 27
1.4. Kinh nghiệm quản lý kinh doanh hàng rong tại một số quốc gia................... 28
1.4.1. Quản lý người bán hàng rong tại Bangkok (Thái Lan) ........................... 28
1.4.2. Quản lý kinh doanh hàng rong tại Singapore .......................................... 30
1.4.3. Kinh nghiệm quản lý người bán hàng rong ở Đài Loan, Hồng Kong
(Trung Quốc) ..................................................................................................... 30
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN KINH DOANH
HÀNG RONG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ............................................... 35
2.1. Khái quát về lịch sử phát triển hoạt động kinh doanh hàng rong tại thành phố
Hồ Chí Minh .......................................................................................................... 35


2.1.1. Khái quát về lịch sử phát triển kinh tế hàng rong tại thành phố Hồ Chí
Minh ................................................................................................................... 35
2.1.2. Những đặc trưng về kinh doanh hàng rong ở thành phố Hồ Chí Minh ... 39
2.2. Thực trạng pháp luật về kinh doanh hàng rong và các quy định liên quan của
thành phố Hồ Chí Minh ......................................................................................... 44
2.2.1. Nội dung pháp luật về kinh doanh hàng rong và các quy định liên quan
của Thành phố Hồ Chí Minh ............................................................................. 44
2.2.2. Đánh giá thực trạng pháp luật về kinh doanh hàng rong và các quy định
liên quan của Thành phố Hồ Chí Minh ............................................................. 50
2.3. Thực trạng quản lý kinh doanh hàng rongtrên địa bàn Thành phố Hồ Chí
Minh....................................................................................................................... 54

2.3.1. Những mặt tích cực.................................................................................. 54
2.3.2. Những hạn chế còn tồn tại ....................................................................... 57
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH
HÀNG RONG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ .............................................................. 64
3.1. Một số định hướng giải quyết việc quản lý kinh doanh hàng rong ................ 64
3.1.1. Cần thừa nhận sự tồn tại của kinh tế hàng rong như một bộ phận của nền
kinh tế thị trường ở Việt Nam............................................................................ 64
3.1.2. Sửa đổi, bổ sung một số quy định về kinh doanh hàng rong để hoàn thiện
việc quản lý kinh doanh hàng rong tại thành phố Hồ Chí Minh ....................... 65
3.1.3. Xây dựng không gian bán hàng rong tập trung tại các quận, huyện ...... 67
3.2. Các kiến nghị cụ thể trong hoạt động quản lý kinh doanh hàng rong tại thành
phố Hồ Chí Minh ................................................................................................... 68
3.2.1. Về các chính sách pháp luật quản lý kinh doanh hàng rong.................... 68
3.2.2. Về phía cơ quan quản lý nhà nước .......................................................... 72
3.2.3. Về cơ chế quản lý .................................................................................... 74
KẾT LUẬN ............................................................................................................... 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC VIẾT TẮT
Chữ cái viết tắt/ký hiệu

Cụm từ đầy đủ

VSATTP

Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm

TP.HCM


Thành Phố Hồ Chí Minh

TP

Thành Phố

UBND

Ủy ban nhân dân


TÓM TẮT LUẬN VĂN
Kinh doanh hàng rong là hoạt động khá phổ biến trong nền kinh tế ở Việt
Nam, có thể thấy trên tất cả các tuyến phố, vỉa hè, các con hẻm. Một mặt, kinh
doanh hàng rong giải quyết được cơ hội thoát nghèo của nhiều hộ gia đình khó
khăn, mặt khác, việc kinh doanh này cũng tồn tại nhiều vấn đề cả về mặt pháp lý lẫn
thực tiễn. Việc kinh doanh này chưa có văn bản pháp luật điều chỉnh trực tiếp đối
với hoạt động kinh doanh hàng rong, bởi vậy những chủ thể kinh doanh hàng rong
hoạt động một cách tùy tiện, bất chấp việc xử lý của cơ quan chức năng, ảnh hưởng
đến mỹ quan đô thị, vệ sinh môi trường, an toàn giao thông, vệ sinh an toàn thực
phẩm. Vì thế, cần có cơ chế pháp lý điều chỉnh đối với nhóm đối tượng này và phải
giải quyết bài toán mâu thuẫn: làm sao để vừa tạo điều kiện phát triển kinh doanh
hàng rong, vừa không ảnh hưởng xấu đến trật tự đường phố, vỉa hè, trật tự an toàn
xã hội, đảm bảo an toàn giao thông, mỹ quan đô thị... Bằng phương pháp phân tích
luật học và phân tích thực tiễn tại thành phố Hồ Chí Minh, tác giả đã chỉ ra một số
bất cập và nêu lên một vài kiến nghị để hoàn thiện các quy định về kinh doanh hàng
rong và tạo điều kiện thuận lợi trong việc quản lý hoạt động này tại thành phố Hồ
Chí Minh cũng như trên cả nước Việt Nam./.
Từ khóa: kinh doanh hàng rong; cá nhân hoạt động thương mại; Nghị định
39/2007/NĐ-CP; Thành phố Hồ Chí Minh.



ABSTRACT

In Vietnam, street vending is really popular as it can be often seen on
Vietnam’s streets, sidewalks and alleys. It is well-known since the street wending is
a bussiness activity that is easily conducted by the poor and it also helps them have
better lives. However, there are several problems in legality and practicality. This
business does not officially have legal documents from our government to street
vendors. Therefore, street vendors are now arbitrarily working, regardless of the
penalizing of the authorities. This influences on our urban beauty, environmental
sanitation, traffic safety and even food hygiene and safety. For this matter, it is
necessary to offer a proper legality so that we can control these bussiness groups
and solve the conflicting problem about how to both facilitate the development of
street vendors and not adversely affect the street orders, sidewalks, social orders and
safety, traffic safety, urban aesthetics ... With the method of jurisprudent and
practical analysis in Ho Chi Minh City, the author has figured out a number of
remaining problems and raised a few recommendations to improve the regulations
of the hawkers business and created favorable conditions for the management of
this bussiness activity in Ho Chi Minh City as well as throughout Vietnam.
Keywords: street vending; individual commerce; Decree 39/2007 / ND-CP; Ho Chi
Minh City


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Kinh tế cá nhân, hộ gia đình cùng với hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng
rong trên đường phố, vỉa hè từ lâu đã là một lực lượng phổ biến trong nền kinh tế ở

Việt Nam. Nhìn nhận từ khía cạnh tích cực thì kinh doanh hàng rong đã có những
chuyển biến tích cực cả về quy mô, tốc độ và cơ cấu, nhiều cơ sở kinh doanh đã
đứng vững trong nền kinh tế thị trường, có tác động tích cực đến công tác xóa đói
giảm nghèo. Có thể nói rằng, sự phát triển kinh doanh hàng rong tại đường phố, vỉa
hè là sự ra đời tất yếu của quá trình vận động chuyển đổi cơ cấu kinh tế, đáp ứng
nhu cầu của đông đảo người tiêu dùng, đem lại nhiều tiện ích, môi trường kinh
doanh thông thoáng làm rõ giá trị thực của hàng hóa. Tuy nhiên, với sự bùng nổ của
kinh doanh hàng rong gây ra nhiều hệ luỵ nghiêm trọng cho xã hội, nhiều cửa hàng
mọc lên không đủ điều kiện, các phố cụt, ngã rẽ, ngõ rộng biến thành chợ cóc chợ
tạm, thậm chí một số nhà công vụ, trụ sở cơ quan nhà nước cũng biến thành chợ.1
Các cơ sở kinh doanh tự phát trên đường phố, vỉa hè dần dần trở thành một bộ
phận cấu thành không nhỏ của nền kinh tế. Theo Niên giám thống kê năm 2018,
khu vực kinh tế cá thể đóng góp 29,24% GDP cả nước. Theo Kết quả tổng điều tra
kinh tế năm 2017 của Tổng cục Thống kê, cả nước có khoảng 4,59 triệu cơ sở sản
xuất kinh doanh cá thể phi nông, lâm nghiệp và thủy sản có địa điểm hoạt động ổn
định; trong đó, có khoảng 1,33 triệu cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể đã có Giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh, khoảng 3,02 triệu cơ sở chưa đăng ký kinh doanh,
còn lại khoảng 0,24 triệu cơ sở đã đăng ký kinh doanh nhưng chưa được cấp giấy
chứng nhận hoặc không phải đăng ký kinh doanh.2
Theo Kết quả tổng điều tra kinh tế năm 2017 của Tổng cục Thống kê, các cơ
sở sản xuất kinh doanh hàng rong trên đường phố, vỉa hè có địa điểm hoạt động ổn
1
2

Hoàng Minh, “Mặt trái của “chợ đường”, /> />

2

định sử dụng khoảng 7,6 triệu lao động, trong đó gần 60% lao động chưa qua đào
tạo; doanh thu đạt 2.375.935 tỷ đồng, nộp ngân sách 11.641 tỷ đồng. So với các

doanh nghiệp đang hoạt động tại thời điểm 1/1/2017, doanh thu của các cơ sở sản
xuất kinh doanh này bằng khoảng 13,3% doanh thu thuần của doanh nghiệp nhưng
nộp ngân sách chỉ bằng 1,35% của doanh nghiệp.3
Riêng tại thành phố Hồ Chí Minh, theo thống kê, trên địa bàn thành phố hiện
có khoảng 20.013 cơ sở kinh doanh thức ăn đường phố với trên 24.522 người tham
gia kinh doanh thức ăn đường phố.4 Trong 9 tháng đầu năm 2018, các quận-huyện,
phường-xã cũng đã tiến hành kiểm tra 15.193 cơ sở (chiếm 76%), phát hiện 6.245
cơ sở vi phạm an toàn thực phẩm, 126 cơ sở bị phạt với số tiền hơn 114 triệu đồng,
số còn lại bị nhắc nhở, cảnh cáo…5
Với tiềm lực kinh tế lớn đến như vậy, nếu chúng ta ra sức cấm đoán, cản trở
các cơ sở kinh doanh hàng rong trên đường phố, vỉa hè tự phát thì sẽ mất đi một cơ
hội thoát nghèo của nhiều hộ gia đình khó khăn, cũng như tổn hại đến một phần
không nhỏ trong sự phát triển đất nước. Các quy định hiện nay đang dần trở thành
lực cản cho công tác quản lý đối với các cơ sở kinh như vậy, tức là chỉ cấm một
cách tuyệt đối hoá, mà chưa có những quy định ngoại lệ, hay cơ chế kiểm soát phù
hợp trong tình hình mới. Có tầm quan trọng là vậy, nhưng địa vị pháp lý của các cơ
sở kinh doanh trên đường phố, vỉa hè chưa được làm rõ để có cơ chế giám sát, quản
lý phù hợp. Hiện nay, theo khoản Điều 3 Nghị định số 39/2007/NĐ-CP về hoạt
động thương mại một cách độc lập thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh
thì ”cá nhân hoạt động thương mại là cá nhân tự mình hàng ngày thực hiện một,
một số hoặc toàn bộ các hoạt động được pháp luật cho phép về mua bán hàng hóa,
3

/>
4

/>
lich_67442.html
5


/>
lich_67442.html


3

cung ứng dịch vụ và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác nhưng không thuộc
đối tượng phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật về đăng ký kinh
doanh và không gọi là “thương nhân” theo quy định của Luật Thương mại”. Nhìn
chung, các cơ sở kinh doanh do cá nhân tự mình hoạt động chưa được quy định một
cách chi tiết, dẫn đến sự quản lý nhà nước đối với nó cũng gặp nhiều khó khăn. Các
cơ sở này có thể là quán cà phê, tiệm cơm, bán đồ ăn, thức uống…được mọc lên
một cách tự phát lấn chiếm đường phố, vỉa hè. Cơ chế pháp lý điều chỉnh đối với
nhóm đối tượng này phải giải quyết bài toán mâu thuẫn giữa: làm sao để tạo điều
kiện phát triển các cơ sở kinh doanh này mà không ảnh hưởng xấu đến trật tự đường
phố, vỉa hè.
Do đó, chúng ta cần khẳng định rõ ràng về địa vị pháp lý và luật hóa các
quyền, nghĩa vụ để tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các cơ sở kinh doanh
đường phố, vỉa hè phát triển, nâng cao năng lực quản trị, thực hiện đầy đủ quyền và
nghĩa vụ và bảo đảm cạnh tranh bình đẳng với các chủ thể khác khi tham gia thị
trường. Mặt khác, việc bổ sung những quy chế pháp lý phải đảm bảo phù hợp với
quy hoạch đô thị của đường phố, vỉa hè không ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an toàn
xã hội.
Chính vì vậy, cần nghiên cứu một cách tổng thể tình hình các cơ sở kinh
doanh hàng rong trên đường phố, vỉa hè từ đó đánh giá sự hợp lý của các quy định
pháp luật hiện hành. Có thể cần phải nghiên cứu để bổ sung quy định quản lý đối
với các cơ sở kinh doanh hàng rong trên đường phố, vỉa hè; quy định về tạm ngừng,
chấm dứt hoạt động, quy định về quản trị, kế toán, theo hướng đơn giản, thuận lợi
về thủ tục hành chính nhằm bảo đảm vừa khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho
hoạt động sản xuất kinh doanh hàng rong vừa đảm bảo tính trật tự cho đường phố, vỉa

hè theo quy hoạch phát triển tổng thể. Chính vì vậy, tác giả mạnh dạn lựa chọn đề tài ”
Pháp luật về kinh doanh hàng rong – thực tiễn tại thành phố Hồ Chí Minh và
một số kiến nghị” để làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu


4

Pháp luật về kinh doanh hàng rong được quy định rải rác trong nhiều văn bản
pháp luật khác nhau, so với các loại chủ thể kinh doanh khác thì loại hình kinh
doanh này chiếm một vị trí rất khiêm tốn trong hệ thống pháp luật kinh tế. Từ đó
dẫn đến việc nhìn nhận công việc quản lý các cơ sở kinh doanh hàng rong chưa
nhận được sự quan tâm đúng mức so với vai trò của nó. Cho nên các nghiên cứu
chuyên sâu về việc quản lý đối với kinh doanh đường phố, vỉa hè còn rất khiêm tốn.
Có thể kể đến một số công trình dưới đây:
- Phạm Duy Nghĩa (2015), Giáo trình Luật Kinh tế, Nxb. Công an nhân dân.
Cuốn sách này mô tả nhiều vấn đề liên quan đến pháp luật doanh nghiệp, hộ kinh
doanh, quyền sở hữu…và đặc biệt là có phân tích bối cảnh kinh tế, xã hội và văn
hoá kinh doanh của người Việt. Điều này góp phần quan trọng giúp tác giả hiểu rõ
hơn về lý do vì sao kinh doanh đường phố, vỉa hè lại rất phát triển ở nước ta.
- Phạm Minh Thái (2018), “Hộ kinh doanh và khu vực kinh tế phi chính thức
đối với tăng trưởng bao trùm ở Việt Nam”, Tạp chí Tài chính, số tháng 12. Bài viết
của tác giả trình bày tổng quan về tăng trưởng của các hộ kinh doanh nước ta, đồng
thời phân tích vai trò của các cơ sở kinh doanh phi chính thức với số lượng lớn là
các cơ sở kinh doanh tự phát ở các tuyến phố, vỉa hè. Các thông tin trong bài viết là
nguồn số liệu quan trọng để tác giả luận văn có cái nhìn bao quát về tình hình kinh
doanh tự phát ở nước ta hiện nay, từ đó có thêm luận cứ và minh chứng cho các lập
luận của mình. Tuy nhiên, vì giới hạn trong phạm vi một bài nghiên cứu nên bài
viết này không có đủ điều kiện để phân tích sâu nhiều vấn đề pháp lý khác.
- Nguyễn Văn Phụng (2019), “Thuế đối với hoạt động kinh tế phi chính thức”,

Tạp chí Tài chính, số 710. Bài viết của tác giả chỉ ra các loại hình kinh tế phi chính
thức, gồm có: Nhóm hoạt động kinh tế bất hợp pháp, nhóm hoạt động kinh tế ngầm
và nhóm hoạt động kinh tế tự sản xuất của các hộ gia đình, cá nhân. Trên cơ sở đó,
tác giả của bài viết này chỉ ra các cách thức quản lý thuế phù hợp, riêng đối với kinh
tế tự phát của hộ gia đình, cá nhân thì cần xây dựng nhiều chính sách miễn, giảm
thuế, tiện giản thủ tục hành chính để góp phần nâng đỡ các cơ sở kinh doanh. Bài


5

viết này góp phần giúp tác giả luận văn nhận diện ra các hình thức kinh doanh phi
chính thức trên đường phố, vỉa hè, cũng như những gợi mở đối về chính sách thuế
đối với các cơ sở kinh doanh này.
- Đào Lộc Bình và Nguyễn Hải Ngân (2017), “Hành lang pháp lý cho hoạt
động kinh tế phi chính thức ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Nghề luật, số 4. Bài viết
phân tích các quy định pháp luật hiện hành có đề cập về việc đăng ký hoạt động,
quản lý thuế, trách nhiệm khi kinh doanh tự phát (phi chính thức). Bài viết này một
mặt thừa nhận vai trò của kinh tế phi chính thức, một trong số đó là kinh doanh
đường phố, vỉa hẻ, đồng thời đề xuất các cơ chế pháp lý để tạo lập những khu vực
dành riêng cho kinh doanh “chợ”, tránh tình trạng tự phát phá vỡ quy hoạch.
- Dương Thị Thuỳ Linh (2019), “Thực trạng và chính sách quản lý kinh tế phi
chính thức ở Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và quản trị kinh doanh, số 10. Bài viết đề
cập đến vấn đề quản lý thuế đối với các cơ sở hộ kinh doanh và các cơ sở tự phát,
trong đó tác giả bài viết cho rằng việc quy định ngưỡng 100 triệu đồng trở lên phải
nộp thuế là không phù hợp, mang tính cào bằng mà chưa có sự tính toán đối với
từng hoàn cảnh cụ thể. Bài viết cung cấp thêm một góc nhìn từ góc độ người kinh
doanh tự phát, trong đó có kinh doanh đường phố, vỉa hè.
3. Mục đích và phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: nghiên cứu thực trạng áp dụng các quy định pháp luật
điều chỉnh về kinh doanh hàng rong để từ đó nhận diện ra những hạn chế, bất cập và

tìm hiểu nguyên nhân của các hạn chế. Trên cơ sở đó, tác giả sẽ xây dựng các giải
pháp nhằm hoàn thiện pháp luật trong việc quản lý các cơ sở kinh doanh hàng rong
cũng như đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý, tính hiệu quả, hiệu
lực của pháp luật trong thực tế.


6

Phạm vi nghiên cứu: tác giả tập trung nghiên cứu tình hình kinh doanh đường
phố, vỉa hè tại thành phố Hồ Chí Minh – nơi có số lượng cơ sở kinh doanh tự phát
chiếm số lượng đông nhất nước.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành được luận văn, tác giả sử dụng kết hợp nhiều phương pháp
xuyên suốt toàn bộ nội dung như tra cứu, thu thập thông tin; so sánh; phân tích;
chứng minh; tổng hợp.
Phương pháp tra cứu, thu thập thông tin: Tác giả sử dụng phương pháp này để
tìm kiếm các nguồn tài liệu như văn bản quy phạm pháp luật, sách, tạp chí, luận
văn, trang thông tin điện tử, bản án liên quan đến nội dung của đề tài.
Phương pháp so sánh: So sánh giữa các quy định của pháp luật; so sánh giữa
quy định của pháp luật trong nước và pháp luật nước ngoài. Từ sự so sánh này, tác
giả chỉ ra nguyên nhân của sự khác biệt, giống nhau để xem xét đề xuất những điểm
mà nước ta có thể học tập.
Phương pháp phân tích: Dựa trên cơ sở lý luận, các quy định của pháp luật và
thực tiễn để mổ xẻ vấn đề trên nhiều góc độ nhằm làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu.
Phương pháp chứng minh: Sử dụng các thông tin, dẫn chứng có được từ
những nguồn tin cậy để làm rõ các lập luận.
Phương pháp tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng để tổng hợp các tài
liệu, kiến thức. Và để kết luận vấn đề sau khi phân tích, chứng minh, so sánh.
5. Câu hỏi nghiên cứu
Pháp luật hiện hành quy định như thế nào về quản lý kinh doanh hàng rong?

Thực trạng áp dụng pháp luật quản lý kinh doanh hàng rong tại thành phố Hồ
Chí Minh đang có những hạn chế, bất cập nào?


7

Những giải pháp nào có thể hài hoà được việc đảm bảo trật tự đường phố vỉa
hè với việc tạo điều kiện kinh doanh cho các cơ sở kinh doanh tự phát?
6. Ý nghĩa đề tài
Cung cấp các vấn đề lý luận về hoạt động kinh doanh đường phố, vỉa hè. Cụ
thể: các vấn đề về khái niệm, đặc điểm nhận diện kinh doanh đường phố, vỉa hè; sự
cần thiết phải xây dựng quy chế pháp lý đặc thù để quản lý loại hình kinh doanh tự
phát này; làm rõ các bộ phận cấu thành cơ bản của pháp luật về kinh doanh đường
phố, vỉa hè.
Phân tích thực trạng áp dụng pháp luật trong hoạt động quản lý đối với kinh
doanh đường phố, vỉa hè, từ đó chỉ ra những hạn chế, bất cập đang tồn tại để đề
xuất những giải pháp về mặt lập pháp và tổ chức triển khai thi hành. Điều này có ý
nghĩa quan trọng trong việc tìm hiểu về kinh doanh tự phát, cũng như đóng góp vào
quá trình xây dựng luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
7. Bố cục đề tài (tên các chương)
Ngoài Lời mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo thì luận có kết
cấu gồm 3 chương, cụ thể như sau:
Chương 1. Khái quát chung về kinh doanh hàng rong
Chương 2. Thực trạng pháp luật về kinh doanh hàng rong tại thành phố Hồ
Chí Minh
Chương 3. Giải pháp hoàn thiện việc các quy định về kinh doanh hàng rong và
một số kiến nghị


8


CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KINH DOANH HÀNG RONG
1.1. Khái niệm và đặc điểm và phân loại kinh doanh hàng rong
1.1.1. Khái niệm kinh doanh hàng rong
Kinh doanh hàng rong xuất hiện ở hầu khắp mọi nơi tại các đô thị lớn ở nước
ta, thành phố Hồ Chí Minh cũng không ngoại lệ. Hình thức kinh doanh này xuất
hiện cả ở những khu vực miền đồng bằng sông Cửu Long, bán hàng hoá trên những
chiếc thuyền hay ca nô chạy dọc theo các kênh rạch, con sông lớn, là tiền đề để hình
thành những chợ nổi nổi tiếng trên sông. Dễ hiểu cụm từ “hàng rong” ở đây không
nhằm chỉ về một loại hàng hoá, dịch vụ cụ thể, mà nhằm để chỉ về một phương thức
tổ chức kinh doanh.
Tham khảo điểm a Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 39/2007/NĐ-CP và Điều 2
Quy định số 46/2009/QĐ-UBND của Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội ngày 15
tháng 01 năm 2009 về quản lý hoạt động bán hàng rong trên địa bàn thành phố Hà
Nội thì “Người bán hàng rong là cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập,
thường xuyên, không phải đăng ký kinh doanh, không có địa điểm kinh doanh cố
định và không gọi là "thương nhân" theo quy định của Luật Thương mại.” Như vậy,
bán hàng rong đa phần thường là bán hàng không có địa điểm cố định, có sự di
chuyển liên tục giữa các địa điểm khác nhau.
Trong Nghị định số 39/2007/NĐ-CP có đề cập về buôn bán rong, theo đó,
“buôn bán rong là hoạt động mua bán không có địa điểm cố định (mua rong, bán
rong hoặc vừa mua rong bán rong) bao gồm cả việc nhận sách báo, tạp chí, văn
hoá phẩm của các thương nhân được phép kinh doanh các sản phẩm này theo quy
định của pháp luật để bán rong”. Có thể hiểu rằng, từ “bán rong” theo Nghị định số
39/2007/NĐ-CP có nội hàm kinh doanh không cố định. Kinh doanh hàng rong chứa
đựng trong nó một nội dung của nội hàm có tính chất “rong”. “Rong” ở đây để chỉ
các hoạt động mua bán của người dân có liên quan đến vỉa hè, đường hẻm khu vực


9


đông dân cư (không phải là tại các chợ, nơi được quy hoạch chính thức). Buôn bán
hàng rong có thể chia thành hai nhóm đối tượng hoạt động chính: nhóm cố định (có
mặt tiền nhà kết hợp với không gian công cộng – vỉa hè) và nhóm lưu động (không
có mặt tiền nhà, buôn bán ngay lòng lề đường, trên vỉa hè, đường hẻm khu dân cư).6
Nói cách khác, một đặc trưng của kinh doanh hàng rong diễn ra ở không gian mở ngoài trời.
Có quan điểm cho rằng kinh doanh hàng rong là bán hàng hoá không có địa
điểm kinh doanh cố định. Quan điểm này xuất phát từ Nghị định số 39/2007/NĐCP khi cho rằng người bán hàng rong “không có địa điểm kinh doanh cố định”. Tuy
nhiên, tác giả không đồng tình với quan điểm này. Thực tế cho thấy, những người
kinh doanh hàng rong không nhất thiết phải bán hàng hoá bằng một cách thức duy
nhất là di chuyển liên tục đến các địa điểm khác nhau một cách ngẫu nhiên, tuỳ
thuộc vào đặc tính của hàng hoá, dịch vụ mà họ lựa chọn cho mình cách thức kinh
doanh, địa điểm kinh doanh phù hợp để buôn bán. Do đó, người kinh doanh hàng
rong cũng cần có những thị phần riêng, khách hàng riêng, các địa điểm riêng, khu
vực kinh doanh nhất định. Mặt dù có thể người bán hàng rong thường xuyên di
chuyển, nhưng sự di chuyển trong tính toán, đến những khu vực, địa bàn xác định.
Thậm chí có nhiều người kinh doanh hàng rong chỉ bán được vào một số thời gian
trong một ngày, phụ thuộc vào đặc điểm của từng loại hàng hoá, điều kiện tự nhiên,
mà họ sẽ tìm cách buôn bán rong tốt nhất. Xét về các quy luật của thị trường, tại
những địa bàn quen thuộc, sự cạnh tranh diễn ra theo xu hướng ngày càng gay gắt
những chủ thể kinh doanh với nhau, do đó việc giữ khách hàng quen là một cách
thức cạnh tranh lành mạnh hữu hiệu, việc di chuyển ngẫu nhiên tiềm ẩn nhiều rủi ro
trong kinh doanh. Vì vậy, người kinh doanh hàng rong phải tìm những địa điểm
thuận lợi cho việc kinh doanh của mình và bán ở những khu vực xác định trong
những khung thời gian phù hợp. Chỉ khi nào mà việc kinh doanh ở những khu vực
6

Đỗ Văn Tính, “Hoạt động buôn bán hàng rong tại Việt Nam”,
/>


10

đó không hiệu quả thì họ mới có động lực để di chuyển đến không gian khác thuận
lợi hơn, nhưng những sự di chuyển đó cũng nằm trong toan tính. Vì vậy mà về mặt
hiện tượng, ta thấy người bán hàng rong hay di chuyển, nhưng cần lưu ý rằng sự di
chuyển này (kinh doanh lưu động) nằm trong phương thức kinh doanh xác định,
đến những địa điểm, thời gian cụ thể, loại trừ yếu tố ngẫu nhiên. Do đó, nếu dùng
tiêu chuẩn “không có địa điểm cố định” để xác định kinh doanh hàng rong thì chưa
mô tả được bản chất của hoạt động này.
Bên cạnh đó, trên báo chí chúng ta còn bắt gặp thuật ngữ kinh doanh trên vỉa
hè. Thật ra thì trong hoạt động kinh doanh một trong những yếu tố quyết định nên
sự thành công của người kinh doanh là địa điểm kinh doanh. Hầu như mọi chủ thể
đều mong muốn có được những địa điểm kinh doanh tốt, có thể đem lại nhiều cơ
hội tìm kiếm lợi nhuận cao nhất. Thực tế hiện nay cho thấy, vỉa hè, đường phố tại
các thành phố đã và đang trở thành địa điểm lý tưởng cho nhiều loại hàng hoá, dịch
vụ trên thị trường. Dù các cơ quan chức năng có ra sức ngăn cản đến đâu chăng
nữa, nhưng với khu vực lý tưởng này nó khó làm cho người kinh doanh chùn bước
chạy đua tìm kiếm một nơi phù hợp trên đường phố, vỉa hè. Vấn đề là bán hàng
rong và bán vỉa hè có mối quan hệ với nhau như thế nào? Thường thì những người
bán vỉa hè không có điều kiện về sở hữu hay quyền sử dụng mặt bằng, người bán
hàng vỉa hè tận dụng những khu vực công cộng nơi đông người để tiến hành kinh
doanh. Và khi bị cơ quan chức truy đuổi xử phạt, thì những người bán hàng trên vỉa
hè có hành động bỏ chạy, di chuyển đến những khu vực khác. Theo quan điểm của
tác giả, thì những quán ăn, kinh doanh vỉa hè cũng là một dạng tồn tại của kinh
doanh hàng rong, nhưng đặc trưng bởi việc kinh doanh tại khu vực vỉa hè. Nói cách
khác, cụm từ “kinh doanh trên vỉa hè” mang nặng tính báo chí, chưa được luật hoá
trong bất kì văn bản pháp lý nào.
Kế đến, các cụm từ khác nhau như “buôn bán vặt”, “bán quà vặt” có nội hàm
khác nhau như thế nào. Buôn bán vặt là hoạt động mua bán những vật dụng nhỏ lẻ
có hoặc không có địa điểm cố định; Bán quà vặt là hoạt động bán quà bánh, đồ ăn,



11

nước uống (hàng nước) có hoặc không có địa điểm cố định. Có thể thấy, “buôn bán
vặt” và “bán quà vặt” dựa vào tiêu chí “có hoặc không có địa điểm cố định”, còn
“kinh doanh hàng rong” thì không có địa điểm cố định, tuy nhiên việc nhận diện có
hay không có địa điểm cố định rất khó. Theo quan điểm của tác giả thì các thuật
ngữ này đồng nghĩa, không có nội hàm khác nhau, nhưng trong bối cảnh xây dựng
Nghị định số 39/2007/NĐ-CP, các nhà lập pháp có lẽ đã gặp lúng túng khi tìm một
cụm từ ngắn gọn, rõ nghĩa để chỉ về những người bán hàng rong, nên họ đã sử dụng
cách làm an toàn là liệt kê tất cả những từ này vào Nghị định số 39/2007/NĐ-CP.
Cụ thể, Khoản 1 Điều 3 của Nghị định này liệt kê các hình thức hoạt động kinh
doanh của “cá nhân hoạt động thương mại”: buôn bán rong (buôn bán dạo); buôn
bán vặt; bán quà vặt; buôn chuyến; thực hiện các dịch vụ: đánh giày, bán vé số,
chữa khóa, sửa chữa xe, trông giữ xe, rửa xe, cắt tóc, vẽ tranh, chụp ảnh và các dịch
vụ khác có hoặc không có địa điểm cố định; các hoạt động thương mại một cách
độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh khác.7 Cách liệt kê này rộng
hơn so với những chủ thể được Nghị định số 78/2015/NĐ-CP quy định không phải
7

Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 39/2007/NĐ-CP:

1. Cá nhân hoạt động thương mại là cá nhân tự mình hàng ngày thực hiện một, một số hoặc toàn bộ
các hoạt động được pháp luật cho phép về mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và các hoạt động
nhằm mục đích sinh lợi khác nhưng không thuộc đối tượng phải đăng ký kinh doanh theo quy định
của pháp luật về đăng ký kinh doanh và không gọi là “thương nhân” theo quy định của Luật
Thương mại. Cụ thể bao gồm những cá nhân thực hiện các hoạt động thương mại sau đây:
a) Buôn bán rong (buôn bán dạo) là các hoạt động mua, bán không có địa điểm cố định (mua rong,
bán rong hoặc vừa mua rong vừa bán rong), bao gồm cả việc nhận sách báo, tạp chí, văn hóa phẩm

của các thương nhân được phép kinh doanh các sản phẩm này theo quy định của pháp luật để bán
rong;
b) Buôn bán vặt là hoạt động mua bán những vật dụng nhỏ lẻ có hoặc không có địa điểm cố định;
c) Bán quà vặt là hoạt động bán quà bánh, đồ ăn, nước uống (hàng nước) có hoặc không có địa
điểm cố định;
d) Buôn chuyến là hoạt động mua hàng hóa từ nơi khác về theo từng chuyến để bán cho người mua
buôn hoặc người bán lẻ;
đ) Thực hiện các dịch vụ: đánh giày, bán vé số, chữa khóa, sửa chữa xe, trông giữ xe, rửa xe, cắt
tóc, vẽ tranh, chụp ảnh và các dịch vụ khác có hoặc không có địa điểm cố định;
e) Các hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh
khác.
2. Kinh doanh lưu động là các hoạt động thương mại không có địa điểm cố định.


12

đăng ký kinh doanh, cụ thể những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh
doanh lưu động, làm dịch vụ có thu nhập thấp (Khoản 2 Điều 66). Như vậy, “kinh
doanh hàng rong” là một trong những hình thức tổ chức công việc kinh doanh của
“cá nhân hoạt động thương mại”, nói cách khác thì “cá nhân hoạt động thương mại”
là chủ thể, còn “kinh doanh hàng rong” là hành vi của chủ thể. Thực tế thì kinh
doanh hàng rong rất đa dạng, từ việc bán những món ăn, thức uống tại chỗ, đến
những món hàng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của cá nhân, gia đình. Hoạt động kinh
doanh kiểu này rất đa dạng về chủng loại sản phẩm. Đôi khi sự phân biệt giữa
“buôn bán rong”, “buôn bán vặt”, “bán quà vặt” trở nên bế tắc và không có ý nghĩa.
Ví dụ: một người bán hàng ăn trước cổng trường học hay bệnh viện liên tục, thường
xuyên và cố định thì có xếp họ vào nhóm “buôn bán rong” không, hay “buôn bán
vặt”, “bán quà vặt”? Rồi nếu người bán hàng này chỉ bán ở hai bệnh viện vào hai
khung thời gian khác nhau trong ngày thì xếp vào nhóm nào? Ý nghĩa của sự phân
loại này không cần thiết, trong khi đó, hoạt động kinh doanh hàng rong có dấu hiệu

dể nhận biết bởi “tính rong” và “ngoài trời”, một nội hàm đủ để bao quát hết “buôn
bán vặt” và “bán quà vặt”. Do đó, có thể gọi chung các cụm từ này bằng “kinh
doanh hàng rong”.
Ngoài ra, kinh doanh hàng rong có điểm khác nổi bật so với các “thương
nhân” ở điểm đăng ký kinh doanh. Cần lưu ý rằng, những người bán hàng rong
được đề cập ở đây là những cá nhân kinh doanh hợp pháp, không có nghĩa vụ đăng
ký kinh doanh. Đối với họ thì việc đăng ký kinh doanh chỉ được dừng lại ở khuyến
khích, chứ không là một trách nhiệm. Trong khi đó, các thương nhân theo Luật
thương mại 2005 định nghĩa thì phải có “đăng kí kinh doanh”, và chính cái hình
thức pháp lý làm vỏ bọc để nhà đầu tư kinh doanh chính là thương nhân (doanh
nghiệp, hộ kinh doanh và hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã). Còn kinh doanh hàng
rong thì người bán hàng rong sẽ lấy tư cách cá nhân của mình để đảm bảo cho việc
kinh doanh, cũng như là chủ thể phải chịu trách nhiệm đầu tiên và cuối cùng trước
nhà nước, xã hội và người tiêu dùng.


13

Từ phân tích ở trên, có thể hiểu kinh doanh hàng rong như sau: kinh doanh
hàng rong là một dạng tổ chức kinh doanh của cá nhân hoạt động thương mại,
được thực hiện ở khu vực không gian mở, có thể có hoặc không có địa điểm cố
định.
1.2.2. Đặc điểm kinh doanh hàng rong
Thứ nhất, người kinh doanh hàng rong không có nghĩa vụ đăng ký kinh doanh.
Cơ sở pháp lý cho đặc điểm này được minh thị tại Nghị định số 39/2007/NĐCP và Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 9 năm 2015 của Chính phủ về
đăng ký doanh nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 11 năm 2015, được sửa đổi,
bổ sung bởi Nghị định số 108/2018/NĐ-CP ngày 23 tháng 8 năm 2018 của Chính
phủ. Đăng ký kinh doanh là bộ thủ tục mà theo đó nhà đầu tư phải tiến hành các
biện pháp để khai báo với các cơ quan chức năng về cơ sở kinh doanh của mình,
dưới một hình thức pháp lý nhất định.8 Trong quá trình khai báo các thông tin về

nhu cầu khởi sự kinh doanh, chủ thể kinh doanh phải chịu trách nhiệm về tính chính
xác nội dung ghi trong hồ sơ đăng ký kinh doanh. Thông qua việc xem xét tính hợp
lệ của hồ sơ cơ quan đăng ký kinh doanh sẽ cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh
nghiệp hoặc Giấy chứng nhận đăng ký Hộ kinh doanh cho chủ thể kinh doanh. Chủ
thể kinh doanh sẽ được phép tiến hành hoạt động kinh doanh kể từ thời điểm được
cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.9
Thông qua thủ tục này Nhà nước sẽ nắm bắt được các thông tin cơ bản của
một chủ thể kinh doanh, từ đó có các chính sách bảo hộ, cũng như điều tiết vĩ mô
nền kinh tế. Còn xã hội sẽ phần nào hiểu được địa vị pháp lý của chủ thể kinh
doanh, khẳng định được vai trò của họ trong nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, đối
8

Nguyễn Thị Thu Thuỷ (2016), Pháp luật về đăng ký kinh doanh ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến

sĩ Luật học, Học viện khoa học xã hội, tr. 35.
9

Nguyễn Thị Thu Thuỷ (2016), Pháp luật về đăng ký kinh doanh ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến

sĩ Luật học, Học viện khoa học xã hội, tr. 35.


14

với người bán hàng rong, thì thường thu nhập thấp chỉ đủ để trang trải bản thân và
gia đình, việc yêu cầu họ phải đăng ký kinh doanh sẽ là một áp lực lớn, tốn kém
thời gian và chi phí cho họ. Do đó, đối với lực lượng bán hàng rong đòi hỏi một loại
quy định khác phù hợp hơn với tiêu chí đơn giản nhất có thể, một mặt nhà nước
nắm bắt được các thông tin cơ bản về kinh doanh hàng rong, mặt khác giúp người
bán hàng rong thấy được sự đơn giản, tiện lợi khi khai báo với nhà nước.

Đối với những chủ thể kinh doanh có đăng ký kinh doanh khi này chủ thể kinh
doanh bắt buộc tuân thủ các quy định của pháp luật về thủ tục đăng ký, kế đến các
điều kiện lao động được đảm bảo tốt hơn, ngoài ra cơ sở kinh phải thực hiện nghĩa
vụ thuế theo quy định của pháp luật. Đăng ký kinh doanh khi này phải gắn liền với
một hình thức pháp lý nhất định, mà phổ biến hơn cả là hộ kinh doanh. Khi này, các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền nắm bắt được các thông tin liên quan đến cơ sở
kinh doanh của người đăng ký, từ số vốn, số lao động, địa điểm kinh doanh, dự kiến
thu nhập…ở góc độ vĩ mô có thể xây dựng các chính sách phù hợp.
Trong khi đó, kinh doanh hàng rong không có đăng ký kinh doanh thì người
bán hàng không phải thực hiện các thủ tục đăng ký kinh doanh, việc vận hành kinh
doanh hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của người bán hàng. Nhà nước nhìn chung
chưa có thông tin đầu vào của các cơ sở kinh doanh hàng rong và kinh doanh vỉa hè
không đăng ký kinh doanh. Vì vậy, đây cũng là nhóm kinh doanh có thể làm thất
thu thuế cho ngân sách nhà nước.
Tuy nhiên, cũng cần lưu ý là kinh doanh hàng rong, vỉa hè không đăng ký kinh
doanh chưa hẳn là vi phạm pháp luật. Theo Khoản 1 Điều 3 Nghị định số
39/2007/NĐ-CP thì cá nhân tự mình hàng ngày thực hiện một, một số hoặc toàn bộ
các hoạt động được pháp luật cho phép về mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và
các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác nhưng không thuộc đối tượng phải đăng
ký kinh doanh theo quy định của pháp luật về đăng ký kinh doanh và không gọi là
“thương nhân” theo quy định của Luật Thương mại. Chẳng hạn, cá nhân buôn bán
rong (buôn bán dạo) là các hoạt động mua, bán không có địa điểm cố định (mua


15

rong, bán rong hoặc vừa mua rong vừa bán rong), bao gồm cả việc nhận sách báo,
tạp chí, văn hóa phẩm của các thương nhân được phép kinh doanh các sản phẩm
này theo quy định của pháp luật để bán rong; buôn bán vặt là hoạt động mua bán
những vật dụng nhỏ lẻ có hoặc không có địa điểm cố định; bán quà vặt là hoạt động

bán quà bánh, đồ ăn, nước uống (hàng nước) có hoặc không có địa điểm cố
định…Cho nên, đa phần các hoạt động kinh doanh vỉa hè hiện nay không cần phải
đăng ký kinh doanh. Chính vì vậy, hiện nay thì kinh doanh hàng rong không phải
đăng ký kinh doanh, trừ trường hợp họ kinh doanh ngành nghề đầu tư kinh doanh
có điều kiện. Người bán hàng rong không phải là một thương nhân, vì vậy, cái gian
hàng buôn bán của họ, cái cơ sở kinh doanh của họ chưa phải là một chủ thể kinh
doanh.
Thứ hai, người tiến hành kinh doanh hàng rong thực hiện các hoạt động
thương mại một cách độc lập, thường xuyên nhằm mục đích sinh lợi.
Cụm từ “thực hiện liên tục” xuất hiện lần đầu tiên trong Luật thương mại
2005, Luật Doanh nghiệp 2005 khi định nghĩa về “kinh doanh” và “hoạt động
thương mại” đã góp phần mô tả rõ nét bản chất của hoạt động kinh doanh và thu
hẹp phạm vi các hành vi được xem là kinh doanh. Với tính chất liên tục như vậy,
các hành vi mua đi bán lại mang tính nhất thời không phải là hoạt động kinh doanh
dù rằng người bán cũng thường có mục đích tìm kiếm lợi nhuận.
Đối với những người trực tiếp bán hàng rong thì họ xem đây là phương tiện để
tạo ra thu nhập kiếm sống chủ yếu của họ và gia đình. Thực tế thì đa số những
người bán hàng rong có xuất thân từ những vùng nông thôn với hi vọng tìm kiếm
mức thu nhập cao hơn. Họ khó cơ hội tham gia vào khu vực việc làm đòi hỏi bằng
cấp, trình độ chuyên môn cao, nên việc kinh doanh hàng rong là một giải pháp hợp
lý. Tính thường xuyên này nhằm nhấn mạnh rằng, người kinh doanh hàng rong coi
đây là một công việc để mưu sinh. Nguồn thu nhập để đảm bảo cuộc sống của các
thành viên trong gia đình là chủ yếu, đáp ứng nhu cầu thiết yếu của bản thân và gia
đình như học tập, y tế, giáo dục…


16

Về mục đích sinh lợi của người bán hàng rong, khi con người thực hiện bất kì
hành vi nào đó, đều huớng đến một mục đích nhất định. Đó có thể là lợi ích cho

chính bản thân người thực hiện hành vi, cho người khác hoặc cho xã hội. Mục đích
sinh lợi ở đây có thể được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm hoạt động nhằm thu lợi
nhuận với ý nghĩa kinh tế đơn thuần và cả những hoạt động sinh lợi khác có thể
không chỉ là vì lợi ích kinh tế một cách trực tiếp.10 Khi xác định mục đích sinh lợi
thì “ý định” thu lợi nhuận của chủ thể mới là tiêu chí quyết định, còn việc đạt được
lợi nhuận hay không, cũng như việc sử dụng lợi nhuận thu được cho mục đích gì
không phải là dấu hiệu quyết định.11 Do đó, nhiều trường hợp người bán hàng rong
tổ chức việc sản xuất, buôn bán bị thua lỗ nhưng hoạt động đó vẫn là kinh doanh.
Nói cách khác thì dưới góc độ pháp lý, khi xác định hành vi kinh doanh hàng rong,
chúng ta quan tâm đến việc có hay không có mục tiêu tạo ra lợi nhuận chứ không
quan tâm đến việc thực hiện mục tiêu đó như thế nào.
Thứ ba, các hoạt động kinh doanh hàng rong có nội hàm rộng.
Dưới góc độ ngữ nghĩa thì theo Từ điển Tiếng Việt: “kinh doanh là việc tổ
chức sản xuất, buôn bán, dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi”12. Có thể thấy rằng ở
nghĩa phổ thông, từ “kinh doanh” có nghĩa là buôn bán và/hoặc tổ chức việc sản
xuất. Hơn thế nữa, không phải tất cả các hoạt động sản xuất, buôn bán đều là kinh
doanh mà chỉ những hoạt động sản xuất, buôn bán nào có mục đích sinh lợi mới
được coi là kinh doanh.13
Khái niệm kinh doanh có thể tiếp cận theo dạng chuỗi cung ứng, tức một quá
trình từ đầu vào đến đầu ra của sản phẩm, dịch vụ trên thị trường. Gồm tất cả các
giai đoạn của quá trình đầu tư, từ việc bỏ vốn vào đầu tư, đến sản xuất, gia công,
chế biến, cung ứng dịch vụ hay bán sản phẩm trên thị trường... Ở đặc điểm này,
10

Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2016), tlđd, tr. 26.

11

Bùi Ngọc Cường (2008) (Chủ biên), Giáo trình Luật thương mại, tập 1, Nxb. Giáo dục, tr. 8.


12

Viện Ngôn ngữ học (2003), Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, tr. 529.

13

Nguyễn Viết Tý (1996), “Tìm hiểu khái niệm kinh doanh”, Tạp chí Luật học, số 05/1996, tr. 25.


17

người bán hàng rong không nhất thiết phải thực hiện toàn bộ quá trình đó mà chỉ
cần bỏ vốn và thực hiện ít nhất một công đoạn, một mắt xích trong chuỗi hoạt động
trên thì đã có thể xem là hoạt động kinh doanh hàng rong.
Thứ tư, quyền được kinh doanh hàng rong góp phần đảm bảo quyền tự do
kinh doanh của công dân.
Kinh doanh được xem như là một trong các quyền kinh tế cơ bản của con
người. Trong thời kì bao cấp thì phạm trù kinh doanh không được nhắc đến trong
các văn kiện của Đảng và văn bản pháp luật của nhà nước. Trong cơ chế kế hoạch
hóa tập trung bao cấp trước đây đã có quan niệm không đầy đủ, không đúng về kinh
doanh. Kinh doanh được hiểu theo nghĩa rất hẹp, kinh doanh được coi là một phần
của quá trình tái sản xuất, cụ thể là chỉ gắn với hoạt động lưu thông, trao đổi, là
buôn bán. Thậm chí, có người còn ác cảm với kinh doanh, coi kinh doanh là con
đường dẫn tới bóc lột. Do vậy, chỉ có các tổ chức kinh tế xã hội chủ nghĩa (quốc
doanh, tập thể) mới được phép kinh doanh, còn các thành phần kinh tế khác thì bị
hạn chế và cấm đoán. Nhưng kể từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) thì
quyền tự do kinh doanh của công dân đã từng bước được ghi nhận và đảm bảo thực
hiện. Quyền tự do kinh doanh được hiến định trang trọng trong Hiến pháp 1992,
Hiến pháp 2013 và các văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước. Nếu như tại Điều
57 Hiến pháp 1992 (được sửa đổi, bổ sung 2001) quy định: “công dân có quyền tự

do kinh doanh theo quy định pháp luật”, thì tại Điều 33 Hiến pháp 2013 khẳng
định: “mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà pháp luật
không cấm”. Xét về góc độ đối tượng thì Hiến pháp 1992 chỉ quy định công dân có
quyền, còn Hiến pháp 2013 quy định là mọi người có quyền, rộng hơn rất nhiều. Xét
về góc độ phạm vi hoạt động, Điều 33 Hiến pháp 2013 được hiểu theo nghĩa rộng
hơn so với Hiến pháp 1992. Từ Khoản 2 Điều 14 và Điều 33 Hiến pháp 2013 thì
mọi người đều có quyền tự do kinh doanh và giới hạn của quyền tự do đó là những
gì mà luật cấm. Như vậy, quyền tự do kinh doanh ngày càng được nhà nước ghi
nhận và mở rộng.


×