Tải bản đầy đủ (.doc) (107 trang)

LV Thạc sỹ_quản lý chất lượng dự án xây dựng công trình của ban quản lý dự án giao thông đô thị hà nội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (452.8 KB, 107 trang )

MỤC LỤC
Trang

2.1.1. Quá trình thành lập và phát triển của Ban quản lý dự án Giao
thông đô thị..............................................................................................30


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DA

Dự án

DADT

Dự án đầu tư

GTVT

Giao thông vận tải

KS

Khảo sát

MMTB

Máy móc thiết bị

QĐ-UB

Quyết định - Ủy Ban



QLCL

Quản lý chất lượng

QLNN

Quản lý nhà nước

UBND

Ủy Ban Nhân Dân

XD

Xây dựng


DANH MỤC BẢNG, BIỂU, HÌNH
Bảng 2.1

Cơ cấu lao động

Bảng 2.2

Danh mục tài sản

Bảng 2.3

Công tác lập dự án đầu tư


Bảng 2.4

Công tác khảo sát

Bảng 2.5

Công tác thiết kế

Bảng 2.6

Tổng mức đầu tư dự án Văn Cao – Hồ Tây

Bảng 2.7

Tổng hợp giá trị thanh toán của dự án

Bảng 2.8

Kết quả giải ngân kế hoạch vốn năm 2008

Bảng 2.9

Kết quả giải ngân kế hoạch vốn năm 2009

Bảng 3.1

Kế hoạch giải ngân năm 2010

Hình 1.1


Vòng đời của một dự án xây dựng

Hình 1.2

Các mục tiêu và chủ thể quản lý dự án xây dựng

Hình 1.3

Chất lượng sản phẩm dự án và chất lượng bản thân dự án

Hình 1.4

Nội dung công tác quản lý chất lượng theo vòng tròn Deming

Hình 1.5

Biểu đồ xương cá về nguyên nhân và hậu quả

Hình 1.6

Mô hình phiếu kiểm tra thực hiện các công việc dự án

Hình 1.7

Biểu đồ Pareto

Hình 1.8

Hoạt động quản lý chất lượng công trình


Hình 1.9

Sơ đồ quản lý nhà nước về chất lượng công trình

Hình 2.1

Sơ đồ cơ cấu tổ chức

Hình 2.2

Sơ đồ quy trình thực hiện dự án

Hình 2.3

Các giai đoạn quản lý chất lượng dự án

Hình 2.4

Quy trình đấu thầu

Hình 2.5

Quản lý nhà nước về chất lượng công trình

Hình 2.6

Các chủ thể liên quan trong QLCL giai đoạn thi công

Hình 2.7


Trình tự quản lý chất lượng giai đoạn thi công

Hình 2.8

Nghiệm thu công việc

Hình 2.9

Nghiệm thu giai đoạn

Hình 2.10

Nghiệm thu hoàn thành


1

TÓM TẮT LUẬN VĂN
Ban quản lý dự án Giao thông đô thị Hà Nội được thành lập năm 1999, là
một đơn vị hành chính sự nghiệp trực thuộc Sở Giao thông vận tải Hà nội hoạt động
trong lĩnh vực quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình. Hiện nay Ban quản lý dự
án Giao thông đô thị đang triển khai nhiều dự án xây dựng công trình giao thông
trên địa bàn Hà Nội như: Dự án xây dựng đường Lạc Long Quân, dự án xây dựng
đường Văn Cao - Hồ Tây, dự án xây dựng đường Cát Linh – La Thành…
Trải qua hơn mười năm thành lập đến nay Ban quản lý dự án Giao thông đô
thị đã phát triển không ngừng trở thành đơn vị tiên phong của Thành phố trong công
tác quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình. Uy tín của Ban quản lý dự án ngày
càng được củng cố nâng cao, được Sở Giao thông vận tải tin tưởng giao thực hiện
nhiều dự án trọng điểm. Tuy nhiên, công tác quản lý chất lượng công trình hiện nay

chưa đạt hiệu quả cao, vẫn còn nhiều bất cập, tồn tại cần phải có sự tổng kết, phân
tích, đánh giá để có giải pháp tăng cường hơn nữa.
Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, tác giả chọn chủ đề: “Quản lý chất lượng dự
án xây dựng công trình của Ban quản lý dự án Giao thông đô thị Hà Nội” làm
đề tài luận văn thạc sỹ kinh doanh.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý chất lượng dự án đầu tư xây
dựng và phân tích thực trạng quản lý chất lượng dự án của Ban quản lý dự án
Giao thông đô thị Hà Nội, luận văn đã hoàn thành những nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất: Hệ thống hóa những lý luận cơ bản về dự án đầu tư xây dựng,
quản lý chất lượng dự án đầu tư xây dựng bao gồm: khái niệm, đặc điểm, phân loại
dự án xây dựng; khái niệm, mục tiêu của quản lý dự án xây dựng; nội dung, phương
pháp và công cụ quản lý chất lượng dự án; các nhân tố cơ bản ảnh hưởng tới quản
lý chất lượng dự án xây dựng.
Cụ thể:
Luận văn đã hệ thống cơ sở lý luận về dự án đầu tư xây dựng, quản lý dự án
đầu tư xây dựng và đặc biệt là công tác quản lý chất lượng dự án đầu tư xây dựng.
Đồng thời, nêu lên tầm quan trọng của vấn đề nâng cao hiệu quả công tác quản lý


2

chất lượng dự án, đây cũng là mục tiêu mà tất cả các chủ thể tham giam vào quá
trình thực hiện dự án đều hướng tới. Luận văn cũng đề cập đến các nhân tố khách
quan, chủ quan ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động quản lý chất lượng dự án xây
dựng.
Thứ hai: Phân tích thực trạng công tác quản lý chất lượng dự án xây dựng và
đánh giá một cách toàn diện về hiệu quả công tác quản lý chất lượng dự án của Ban
quản lý dự án Giao thông đô thị Hà Nội. Từ đó rút ra những nhận xét, đánh giá về
những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân, làm cơ sở đề xuất các giải
pháp nâng cao hiệu quả, trách nhiệm quản lý chất lượng tại Ban quản lý dự án Giao

thông đô thị Hà Nội. Cụ thể:
Luận văn đã nghiên cứu về tình hình phát triển của Ban quản lý dự án Giao
thông đô thị Hà Nội cũng như thực trạng về cơ cấu tài sản, cơ cấu tổ chức, nhân sự,
công tác quản lý chất lượng dự án tại Ban quản lý dự án này tập trung vào thời điểm
những năm gần đây. Thể hiện trên các khía cạnh sau:
Tác giả đã nêu tóm tắt quá trình hình thành và phát triển của Ban quản lý dự
án Giao thông đô thị Hà Nội, nêu rõ chức năng nhiệm vụ của Ban quản lý dự án với
vài trò là đại diện Sở Giao thông Vận tải Hà Nội làm chủ đầu tư các dự án giao
thông đô thị trên địa bàn thành phố. Tác giả đã tổng kết về mô hình cơ cấu tổ chức,
năng lực nhân sự, tài sản vật chất của Ban quản lý dự án, nêu lên những đặc điểm
riêng nổi bật của các dự án do Ban dự án quản lý và trình tự các nội dung công việc
Ban cần phải thực hiện trong suốt quá trình quản lý một dự án.
Tiếp theo đó tác giả đi sâu tập trung đề cập một cách toàn diện về hoạt động
công tác quản lý chất lượng dự án của Ban theo từng giai đoạn cụ thể của một dự án.
Cụ thể như sau:
-

Quản lý chất lượng dự án giai đoạn chuẩn bị đầu tư: tác giả phân tích rõ vai

trò chất lượng của bước lập dự án đầu tư đối với chất lượng giai đoạn tiếp theo của dự
án, các nội dung công việc và trách nhiệm mà Ban quản lý dự án phải thực hiện trong
giai đoạn này, đưa ra các số liệu tổng hợp phản ánh hiệu quả quản lý chất lượng dự án
của Ban quản lý dự án ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư.


3

-

Quản lý chất lượng dự án giai đoạn thực hiện đầu tư: tác giả tổng kết những


nội dung công việc cần thực hiện, trách nhiệm của Ban quản lý dự án và đưa ra số liệu
đánh giá hiệu quả quản lý chất lượng của Ban đối với những nội dung công việc chính
mà Ban quản lý dự án phải thực hiện ở giai đoạn này như sau:
+ Công tác khảo sát phục vụ lập thiết kế xây dựng công trình.
+ Công tác thiết kế xây dựng công trình.
+ Công tác đấu thầu.
+ Thi công xây dựng công trình.
+ Xử lý sự cố trong xây dựng công trình.
-

Quản lý chất lượng dự án giai đoạn bảo hành, giai đoạn sau khi đưa vào sử

dụng.
Dựa trên các số liệu và phân tích thực trạng công tác quản lý chất lượng dự
án vốn, tác giả đã đưa ra những đánh giá sâu sắc, nêu lên những tồn tại và tìm ra
được nguyên nhân làm giảm hiệu quả quản lý chất lượng dự án của Ban quản lý dự
án Giao thông đô thị trong thời gian vừa qua như sau:
Những tồn tại, gồm có:
+ Tồn tại trong khâu quy hoạch, khảo sát, lập dự án đầu tư.
+ Tồn tại trong khâu thẩm định, phê duyệt dự án, tổng dự toán.
+ Tồn tại trong công tác đấu thầu.
+ Tồn tại trong khâu chuẩn bị xây dựng.
+ Tồn tại trong không tổ chức thực hiện.
+ Tồn tại trong khâu nghiệm thu thanh toán.
Nguyên nhân:
Nguyên nhân khách quan:
-

Các yếu tố chính trị, pháp lý ảnh hưởng lớn đến dự án, tới hiệu quả kinh


doanh của dự án, cụ thể:
+ Sự thay đổi về chủ trương chính sách trong quản lý dự án đầu tư xây
dựng từ Trung ương đến địa phương cụ thể là Thành phố Hà nội hiện nay vẫn diễn


4

ra thường xuyên, trong thời gian ngắn ảnh hưởng lớn đến tiến độ và chất lượng
công tác lập cũng như triển khai dự án.
+ Sự thay đổi về chính sách quản lý chất lượng, các quy chuẩn, quy trình
quy phạm thường xuyên được bổ sung, cập nhật thay thế dẫn đến những điều chỉnh
thay đổi ảnh hưởng tới quy mô dự án.
+ Việc thực thi pháp luật trong thực tế còn thấp, các quy định được thực
hiện ở các giai đoạn mang tính chiếu lệ, hình thức và không có người chịu trách
nhiệm chính.
-

Do tính chất khó khăn phức tạp trong công tác giải phóng mặt bằng. Thời

gian GPMB kéo dài dẫn đến nhiều vấn đề phức tạp khác như thời gian thi công kéo
dài, không thể thi công đồng bộ các hạng mục, nhiều công trình kéo theo đó là trượt
giá lớn phải điều chỉnh tổng mức đầu tư gây thất thoát lãng phí.
-

Thời gian lập dự án kéo dài: hiện nay thời gian cho công tác chuẩn bị đầu

tư cho một dự án thường kéo dài từ 1 đến vài năm do đó chất lượng công tác lập dự
án bị ảnh hưởng, chất lượng công tác lập dự án chưa cao sẽ ảnh hưởng đến các bước
triển khai dự án sau này.

-

Bố trí vốn không đầy đủ: một số dự án thi công bố trí không đủ dẫn đến

chậm tiến độ thi công ảnh hưởng đến chất lượng dự án.
Nguyên nhân chủ quan
-

Bộ máy tổ chức:

+ Bộ máy tổ chức Ban quản lý dự án khá cồng kềnh, phân công công việc
theo dự án có nhiều ưu điểm nhưng cũng có nhiều bất cập.
+ Phối hợp giữa các phòng Ban chưa thật sự hiệu quả và chặt chẽ trong các
công tác báo cáo, lập kế hoạch vốn, thanh quyết toán, giải phóng mặt bằng.
-

Cơ sở vật chất:

+ Điều kiện vật chất đã được quan tâm đầu tư tuy nhiên chưa đáp ứng được
yêu cầu, nhất là máy móc thiết bị phục vụ cho công tác giám sát chất lượng.
+ Chưa ứng dụng công nghệ thông tin, các chương trình phần mềm tiên tiến
trong quản lý dự án.


5

-

Quy trình quản lý chất lượng:


+ Quy trình quản lý chất lượng của Ban quản lý dự án còn nhiều bất cập,
chưa thống nhất trong toàn bộ các phòng Ban bộ phận trong cơ quan, chưa thành
lập phòng chuyên về giám sát chất lượng dự án.
+ Việc giám sát công tác quản lý chất lượng của nhà thầu trong quá trình
triển khai dự án chưa chặt chẽ còn thiếu sót.
+ Quy trình đấu thầu còn nhiều lỗ hổng thiếu chặt chẽ, nặng về hình thức,
một số dự án chưa lựa chọn được những nhà thầu có năng lực chuyên môn cũng
như tài chính.
-

Con người:

+ Năng lực và trách nhiệm của chủ đầu tư, Ban quản lý dự án chưa đáp ứng
được yêu cầu quản lý, còn thiếu năng lực chuyên môn và nghiệp vụ quản lý, công
tác quản lý chất lượng ở đây lỏng lẻo và nặng về hình thức.
+ Các cán bộ giám sát chưa được đào tạo rèn luyện thường xuyên những tố
chất cần thiết cho nghề nghiệp, cũng như sự hiểu biết về pháp luật, kiến thức quản
lý, trình độ chuyên môn.
+ Lãnh đạo các chủ thể chưa thường xuyên cập nhật kiến thức và không
hiểu thấu đáo các chế độ quản lý mới.
Thứ ba: Qua việc nghiên cứu sâu sắc về công tác quản lý chất lượng dựa án
trong thời gian 2007-2009 và dựa trên cơ sở định hướng phát triển của Ban quản lý
dự án Giao thông đô thị trong thời gian tới, Tác giả đã đề xuất các nhóm giải pháp
chủ yếu góp phần tăng cường trách nhiệm, nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng dự
án của Ban quản lý dự án trong thời gian tới như sau:
Tăng cường công tác quản lý chất lượng trong các giai đoạn thực hiện dự án
gồm: Giai đoạn lập dự án, giai đoạn thực hiện dự án, giai đoạn bảo hành, bàn giao
dự án vào sử dụng.
Tác giả đưa ra các giải pháp điều kiện đối với Ban quản lý dự án Giao thông
đô thị Hà Nội:



6

-

Kiện toàn bộ máy tổ chức của Ban: cần tập trung cải tiến một số nội dung

về tác phong lãnh đạo, tác phong làm việc, phân định trách nhiệm trong công việc,
văn hóa cơ quan.
-

Đầu tư phát triển nguồn nhân lực: có kế hoạch phát triển nguồn nhân lực,

đào tạo phát triển nguồn nhân lực hiện có, sử dụng hợp lý nguồn nhân lực, có chế
độ khen thưởng kỷ luật thích đáng.
-

Áp dụng khoa học kỹ thuật vào quản lý dự án: đầu tư trang thiết bị hiện

đại phục vụ cho công tác quản lý chất lượng, áp dụng các phần mềm tin học tiên
tiến trong quản lý dự án.
-

Đa dạng hóa công cụ quản lý chất lượng dự án: sử dụng các công cụ quản

lý chất lượng phù hợp.
-

Tăng cường quản lý chất lượng trong quá trình thực hiện dự án: trong các


nội dung về lập quy hoạch, khảo sát, thiết kế, lập dự án, đầu thầu, thi công, nghiệm
thu bàn giao, bảo hiểm, chế độ thực hiện báo cáo.
Những kiến nghị để hoàn thiện thể chế công tác quản lý chất lượng dự án
đầu tư xây dựng công trình tại Hà Nội:
-

Phát triển hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý nhà nước về quản lý chất

lượng dự án đầu tư xây dựng: gồm các nội dung hoàn thiện bổ sung hệ thống văn
bản pháp lý, cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật, đầu
tư phát triển nguồn nhân lực…
-

Kiến nghị đối với các cơ quan quản lý nhà nước: như Bộ kế hoạch đầu tư,

Bộ xây dựng, Bộ giao thông vận tải, UBND Thành phố Hà nội, Sở Giao thông vận
tải Hà Nội và các Sở Ngành thành phố có liên quan.
Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù đã có nhiều cố gắng, song do trình độ
còn hạn chế nên luận văn không tránh khỏi các khiếm khuyết, tác giả mong nhận
được sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo và đồng nghiệp để có kiến thức toàn
diện về đề tài đã nghiên cứu.


7

MỞ ĐẦU
I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Việt Nam đang trên đà hội nhập và phát triển. Chủ trương của Đảng và Nhà
nước là tới năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Để đạt được

mục tiêu đó, một trong những lĩnh vực trọng tâm đã và đang được nhà nước tập
trung đầu tư với tỷ trọng lớn đó là xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông hiện
đại từng bước đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế của đất nước trong thời điểm
hiện tại và tương lai.
Hiện nay do mật độ phát triển dân số ngày càng cao, nhất là ở các thành phố
đô thị, nhu cầu vận chuyển đi lại lớn đã kéo theo đó là tình trạng tắc nghẽn giao
thông, ô nhiễm môi trường xảy ra khá phổ biến. Do vậy việc đáp ứng đủ cơ sở hạ
tầng giao thông đang là một vấn đề cấp thiết đặt ra đòi hỏi nhà nước cần có những
giải pháp toàn diện và hiệu quả. Trong những năm gần đây với sự tập trung đầu tư
lớn của Nhà nước từ nhiều nguồn vốn: vốn ngân sách, vốn vay tín dụng và nguồn
vốn xã hội…, trên khắp cả nước đã có sự phát triển vượt bậc về số lượng công trình
cơ sở hạ tầng giao thông. Nhiều công trình có quy mô lớn đã hoàn thành đưa vào sử
dụng mang lại hiệu quả to lớn về kinh tế và xã hội ví dụ như đường Hồ Chí Minh,
hầm Hải Vân, cầu Bãi Cháy, cầu Thanh Trì, đường cao tốc Láng – Hòa Lạc, hầm
vượt sông Sài Gòn…hiện có rất nhiều công trình lớn đang được triển khai xây dựng
như cầu Nhật Tân, đường cao tốc Cầu Rẽ - Ninh Bình, đường cao tốc Hà Nội – Lào
Cai, các tuyến đường sắt cao tốc nội đô, đường sắt cao tốc Bắc Nam…
Tuy nhiên bên cạnh sự phát triển vượt bậc của lĩnh vực xây dựng công trình
giao thông vẫn còn nhiều tồn tại cần phải giải quyết nhất là vấn đề chất lượng công
trình. Như chúng ta đã biết thời gian qua đã có nhiều công trình quy mô từ nhỏ đến
lớn khi đưa vào sử dụng không đảm bảo chất lượng để xảy ra sự cố gây mất an toàn
và thiệt hại lớn về kinh tế cũng như tính mạng con người như lún cầu Văn Thánh,
gãy dầm cầu Trung Lương…. và điển hình mới đây là vụ sập nhịp dẫn cầu Cần Thơ,
cầu vành đai 3 Linh Đàm – Nguyễn Trãi.


8

Với thủ đô Hà Nội, phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đang là nhu cầu và đòi
hỏi bức thiết của người dân thành phố. Hà Nội hiện đang là một trong những thành

phố đi đầu cả nước về phát triển quy hoạch và xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng giao
thông. Trên địa bàn thành phố nhiều công trình giao thông lớn, nhiều khu đô thị mới
với hạ tầng giao thông hiện đại đồng bộ được xây dựng đã phát huy hiệu quả và
đang là minh chứng thuyết phục cho chủ trương đầu tư đúng đắn của thành phố.
Tuy nhiên, quy trình quản lý chất lượng công trình chưa hoàn thiện, thiếu chặt chẽ,
thống nhất và thiếu minh bạch đã làm hạn chế hiệu quả đầu tư và ảnh hưởng đến
chất lượng công trình. Trong thời gian qua, còn nhiều công trình giao thông khi đưa
vào sử dụng không đảm bảo chất lượng xảy ra sự cố gây thiệt hại về người và của,
và tạo dư luận bức xúc trong xã hội.
Là một đơn vị hành chính sự nghiệp trực thuộc Sở Giao thông vận tải Hà nội
hoạt động trong lĩnh vực quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình, Ban quản lý dự
án Giao thông đô thị đang triển khai một số dự án xây dựng công trình giao thông
trên địa bàn Hà Nội như: Dự án xây dựng đường Lạc Long Quân, dự án xây dựng
đường Văn Cao - Hồ Tây, dự án xây dựng đường Cát Linh – La Thành,…Tuy
nhiên, công tác quản lý chất lượng công trình hiện nay chưa đạt hiệu quả cao, vẫn
còn nhiều bất cập cần phải có sự tổng kết, phân tích, đánh giá để tăng cường hơn
nữa.
Xuất phát từ thực tế đó, qua tìm hiểu thực tế tại đơn vị thì việc nghiên cứu
“Quản lý chất lượng dự án xây dựng công trình của Ban quản lý dự án Giao
thông đô thị Hà Nội” là một vấn đề cấp thiết nhằm tăng cường công tác quản lý
chất lượng dự án xây dựng công trình giao thông tại Hà Nội. Đồng thời đây cũng là
đề tài nghiên cứu mà tôi chọn làm luận văn Thạc sỹ Quản trị kinh doanh.

II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Việc nghiên cứu đề tài nhằm một số mục đích sau:
− Nâng cao hiểu biết của người nghiên cứu về lý luận trong lĩnh vực quản lý
chất lượng các dự án xây dựng công trình.


9


− Nhìn nhận sâu hơn về nhiệm vụ và trách nhiệm quản lý chất lượng dự án
xây dựng công trình của Ban quản lý dự án Giao thông đô thị. Đánh giá hiệu quả
công tác quản lý chất lượng các dự án xây dựng công trình tại Hà Nội.
− Đề xuất các kiến nghị tăng cường trách nhiệm của Ban quản lý dự án trong
quản lý chất lượng công trình giao thông đô thị tại Hà Nội.

III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu hoạt động của Ban quản lý dự án Giao
thông đô thị Hà Nội trong lĩnh vực quản lý chất lượng xây dựng công trình giao
thông.
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu, phân tích quá trình thực
hiện nhiệm vụ quản lý chất lượng các dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông
trên địa bàn Hà Nội của Ban quản lý dự án Giao Thông đô thị từ năm 2004 đến
2009.

IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:
− Phương pháp thu thập, tổng hợp số liệu.
− Phương pháp phân tích: Tiếp cận hệ thống tổng hợp số liệu, so sánh kết quả
đạt được kết hợp với việc điều tra khảo sát thực tế để phân tích từng vấn đề để từ đó
rút ra kết luận một cách chính xác và các biện pháp xác thực.

V. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, kết cấu luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề cơ sở lý luận về quản lý chất lượng dự án đầu tư
xây dựng ở Việt Nam.
Chương 2: Thực trạng hoạt động quản lý chất lượng dự án xây dựng công
trình của Ban quản lý dự án Giao thông đô thị Hà Nội.
Chương 3: Kiến nghị, đề xuất một số giải pháp tăng cường trách nhiệm quản

lý chất lượng dự án xây dựng công trình của Ban quản lý dự án Giao thông đô thị
Hà Nội.


10

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG DỰ
ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG TẠI VIỆT NAM
1.1. Dự án xây dựng, đặc điểm, phân loại. Các mục tiêu của quản lý dự
án xây dựng
1.1.1. Khái niệm dự án đầu tư xây dựng
Theo Luật Xây dựng năm 2003: “ Dự án đầu tư xây dựng công trình là
tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng
hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng
cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời gian nhất định
”.
Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con
người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với
đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và
phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế.
Công trình xây dựng bao gồm công trình xây dựng công cộng, nhà ở,
công trình công nghiệp, giao thông, thủy lợi, năng lượng và các công trình khác.

1.1.2. Đặc điểm của dự án xây dựng:
Các đặc điểm cơ bản của dự án xây dựng là:
-

Dự án xây dựng có mục đích cuối cùng là công trình xây dựng hoàn

thành đảm bảo các mục tiêu đã đặt ra về thời gian, chi phí, chất lượng, an toàn,

vệ sinh và bảo vệ môi trường… Sản phẩm (công trình) của dự án xây dựng mang
tính đơn chiếc, độc đáo và không phải là sản phẩm của một quá trình sản xuất
liên tục, hàng loạt.
-

Dự án xây dựng có chu kỳ riêng (vòng đời) trải qua các giai đoạn hình

thành và phát triển, có thời gian tồn tại hữu hạn, nghĩa là có thời điểm bắt đầu
khi xuất hiện ý tưởng bề xây dựng công trình dự án và kết thúc khi công trình
xây dựng hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng, hoặc (hiểu theo nghĩa rộng của


11

từ quản lý dự án), khi công trình dự án hết niên hạn khai thác và chấm dứt tồn tại
(Hình 1.1).
-

Dự án xây dựng có sự tham gia của nhiều chủ thể, đó là chủ đầu tư,

chủ công trình, đơn vị thiết kế, đơn vị thi công, đơn vị giám sát, nhà cung ứng…
Các chủ thể này lại có lợi ích khác nhau, quan hệ giữa họ thường mang tính đối
tác. Môi trường làm việc của dự án xây dựng mang tính đa phương và dễ xảy ra
xung đột quyền lợi giữa các chủ thể.
-

Dự án xây dựng luôn bị hạn chế bởi các nguồn lực là tiền vốn, nhân

lực, công nghệ, kỹ thuật, vật tư thiết bị… kể cả thời gian ở góc độ là thời hạn cho
phép.

-

Dự án xây dựng thường yêu cầu một lượng vốn đầu tư lớn, thời gian

thực hiện dài và vì vậy có tính bất định và rủi ro cao.
Chu kỳ đầu tư hay vòng đời của dự án xây dựng

Giai
đoạn
trước
đầu tư

Báo cáo
đầu tư
XDCT

Dự án
đầu tư
XDC
T

Thiết
kế

Đấu
thầu

Thi
công


Nghiệm
thu, bàn
giao

Giai đoạn
(khai thác
công trình)

Bàn giao
vào sử
dụng đo
đạc địa
Quản lý dự án xây dựng
hình
số
đdddưdựng
hóa và
Hình 1.1. Vòng đời của một dự án xây dựng
kết quả
khảo sát
1.1.3. Phân loại dự án xây dựng
địa chất
Theo Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 12 thángĐo
2 nămđạc
2009 của Chính
địa hình
phủ, các dự án đầu tư xây dựng công trình được chia thành các nhóm là nhóm
và khảo
sát chí địa
các dự án quan trọng quốc gia, các nhóm A, B và C. Tiêu

chủ yếu để phân
chất
Chuẩn bị đầu


Thực hiện đầu tư

chia dự án xây dựng thành các nhóm là:

Các
Phòng
- Tính chất, lĩnh vực phục vụ của dự án (quốc phòng,
an ninh, thủy lợi,
Quản lý
giao thông, y tế, văn hóa, giáo dục…).
dự án
1,2,3,4
Phòng
quản lý
công tác
GPMB


Kế
hoạch
tổng hợp
Phòng
12
Tài
chính –

Kế toán
Phòng
- Tổng mức đầu tư.
Tổ chức
Ngoài ra, người ta có thể phân loại dự án xây dựng -Hành
theo các tiêu chí khác
liên quan đến nguồn vốn đầu tư, diện tích chiếm đất, thờichính
gian xây dựng công
CÁC
trình dự án, mức độ phức tạp về thiết kế và thi công…
PHÓ
Việc phân loại dự án có ảnh hưởng quyết định đến
nhiều vấn đề trong
GIÁM
ĐỐC
quản lý dự án, đó là:
Kết thúc XD

-

Phân cấp quản lý, xác định chủ đầu tư, phê duyệt, cấp phép xây dựng.

-

Trình tự thực hiện các hoạt động xây dựng (trình tự lập dự án, trình tự

thiết kế, trình tự lựa chọn nhà thầu).
-

Hình thức quản lý dự án.


-

Thời hạn bảo hành công trình .

-

Bảo hiểm công trình xây dựng…

1.1.4. Khái niệm và các mục tiêu của quản lý dự án xây dựng
1.1.4.1. Khái niệm quản lý dự án xây dựng
Quản lý dự án xây dựng là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian,
nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho công
trình dự án hoàn thành đúng thời hạn; trong phạm vi ngân sách được duyệt; đạt
được các yêu cầu đã định về kỹ thuật, chất lượng; đảm bảo an toàn lao động, về
sinh môi trường bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép.

1.1.4.2. Mục tiêu của Quản lý dự án xây dựng
Các mục tiêu cơ bản của quản lý dự án xây dựng là hoàn thành công trình
đảm bảo chất lượng kỹ thuật, trong phạm vi ngân sách được duyệt và thời hạn
cho phép. Các chủ thể cơ bản của một dự án xây dựng là chủ đầu tư, chủ công
trình, nhà thầu xây dựng công trình và Nhà nước.
Cùng với sự phát triển của kinh tế, xã hội, sự chú ý đến vai trò của các
chủ thể tham gia vào một dự án xây dựng tăng lên và các yêu cầu, mục tiêu đối
với một dự án xây dựng cũng tăng lên. Có thể mô tả sự phát triển này bằng các
đa giác mục tiêu và chủ thể tham gia (Hình 1.2).


13


Nếu xét công trình xây dựng hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng như là
một thứ “hàng hóa” thì hàng hóa này được mua bán trao đổi giữa hai chủ thể,
một bên là chủ đầu tư (chủ công trình) và bên kia là doanh nghiệp (nhà thầu
XD). Hai bên đối tác này mua bán, trao đổi hàng hóa là công trình xây dựng
trong khôn khổ pháp luật của Nhà nước và không làm tổn hại đến an ninh, quốc
phòng, lợi ích … của Nhà nước.
Nhưng để có công trình hoàn thành đảm bảo các tiêu chí về chất lượng,
thời gian, giá thành thì phải có sự tham gia của các đơn vị khảo sát, thiết kế công
trình. Hơn thế nữa, phải có sự tham gia của tư vấn lập dự án, tư vấn thẩm định dự
án, nhà cung ứng (cung ứng nguyên vật liệu, MMTB…), tư vấn giám sát…
Ngoài các chủ thể kể trên, trong nhiều dự án chủ đầu tư không có đủ vốn
để xây dựng công trình thì vai trò của nhà tài trợ lại đặc biệt được coi trọng. Nhà
tài trợ có thể đưa ra một số yêu cầu mà chủ đầu tư và các chủ thể khác tham gia
vào dự án phải tuân theo.
Các mục tiêu của dự án không chỉ gói gọn trong ba tiêu chí cơ bản về chất
lượng, thời gian và chi phí mà các chủ thể tham gia vào dự án xây dựng công
trình còn phải đạt được các mục tiêu khác về an ninh, an toàn lao động; về vệ
sinh và bảo vệ môi trường.


14

CHẤT LƯỢNG
CHẤT LƯỢNG

THỜI GIAN

- Nhà nước
- Chủ đầu tư
- DNXD

- Đơn vị khảo sát
- Đơn vị thiết kế

- Nhà
nước
- Chủ đầu

- DN XD

ATLĐ

GIÁ THÀNH

CHẤT LƯỢNG
ATLĐ

Nhà nước
chủ đầu tư
Nhà tài trợ
Nhà thầu XD
Thẩm định
Nhà thầu KS
Nhà thầu thiết kế
Nhà cung ứng

MÔI TRƯỜNG

THỜI GIAN

GIÁ THÀNH

CHẤT LƯỢNG

ATLĐ

THỜI GIAN

- Nhà nước
- Chủ đầu tư
- Nhà tài trợ
- Nhà thầu XD
- Nhà thầu KS
- Nhà thầu thiết
kế
- Nhà cung ứng
- Tư vấn giám
sát
- Thẩm định

MÔI TRƯỜNG
Hình 1.2. Các mục tiêu và chủ thể quản lý dự án xây dựng

GIÁ THÀNH

RỦI RO


15

1.2. Nội dung, phương pháp, công cụ của quản lý chất lượng dự án
1.2.1. Khái niệm quản lý chất lượng dự án

Quản lý chất lượng trong khuôn khổ quản lý dự án là hệ thống các
phương pháp, phương tiện và hoạt động hướng tới việc thực hiện các yêu cầu và mong
đợi của khách hàng dự án đối với chất lượng bản thân dự án và sản phẩm của nó.
Như vậy có có thể phân chia ra quản lý chất lượng bản thân dự án và quản lý chất
lượng sản phẩm dự án.

Chất lượng sản
phẩm dự án

Hình 1.3. Chất lượng sản phẩm dự án và chất lượng bản thân dự án

Theo quan niệm về quản lý chất lượng toàn diện thì đối với các sản phẩm thông

thường, chất lượng được coi là toàn diện nếu nó không chỉ thoả mãn yêu cầu và mong
Thoả
nhu cầu
đợi của khách hàng (các đặc tính vốn có)
mà mãn
còn phải
có các đặc tính "gán cho nó" như
Chất lượng bản
thân dự án

giao hàng đúng hạn, dịch vụ và giá cả. Đối với một dự án, các đặc tính vốn có là thuộc về
sản phẩm dự án, còn các đặc tính đối với sản phẩm thông thường được coi là gán cho sản
An toàn

phẩm đó thì ở đây, hợp lý hơn nếu gán cho bản thân dự án. Nghĩa là, một dự án là thành
công nếu sản phẩm của dự án thoả mãn các yêu
cầu và mong đợi của khách hàng về các

toatoàn
Giáđúng
cả thời hạn (giao
tiêu chuẩn kỹ thuật, cònGiao
bảnhàng
thân dự án thì phải được hoàn thành

hàng), trong khuôn khổ ngân sách đã định (giá cả) và với các điều kiện bàn giao thanh
toán tốt nhất (dịch vụ). Đối với các dự án xâyDịch
dựngvụcòn cần phải đặt vấn đề về an ninh,
an toàn và ít sự cố trong thi công.


16

Mối quan hệ giữa chất lượng sản phẩm dự án và chất lượng bản thân dự án có thể
được miêu tả qua các ví dụ đơn giản sau:
- Các nỗ lực đảm bảo hoàn thành dự án đúng thời hạn bằng cách tăng cường độ
làm việc có thể dẫn đến sự tăng lên của các sai lỗi trong các quá trình công nghệ, làm ảnh
hưởng đến các chỉ tiêu kỹ thuật của sản phẩm. Nghĩa là, các nỗ lực đảm bảo chất lượng
bản thân dự án có thể dẫn đến chất lượng kém của sản phẩm dự án.
- Các nỗ lực đảm bảo các yêu cầu về kỹ thuật của sản phẩm dự án dẫn đến sự kéo
dài thời gian trong thực hiện các công việc hoặc dẫn đến nhu cầu tăng thêm về chi phí.
Như vậy các nỗ lực đảm bảo chất lượng sản phẩm dự án có thể dẫn đến chất lượng
không đảm bảo của bản thân dự án.

1.2.2. Nội dung, phương pháp và công cụ quản lý chất lượng dự án
Quản lý chất lượng dự án bao gồm tất cả các chức năng như lập kế hoạch chất
lượng, tổ chức thực hiện, kiểm tra và điều chỉnh các hoạt động trong dự án nhằm thoả
mãn nhu cầu của khách hàng. Hình 1.4 thể hiện các nội dung của công tác quản lý chất

lượng (vòng tròn W. E. Deming)

A

P

C

D

A

P

C

D

Cải tiến

Giữ vững – Cải tiến
( Lập và xét lại tiêu chuẩn)

Giữ vững
Hình 1.4. Nội dung công tác quản lý chất lượng theo vòng tròn Deming

Ghi chú:
P (plan) - lập kế hoạch chất lượng; D (do) - tổ chức thực hiện;
C (check) - kiểm tra; A (act) - điều chỉnh.



17

 Lập kế hoạch chất lượng
Đây là giai đoạn đầu tiên của quản lý chất lượng dự án nhằm hình thành chính
sách chất lượng của dự án. Lập kế hoạch chất lượng chính xác và đầy đủ sẽ giúp định
hướng tốt các hoạt động tiếp theo. Nó cho phép xác định mục tiêu, phương hướng phát
triển chất lượng cho cả dự án theo một hướng thống nhất.
Lập kế hoạch chất lượng bao gồm các công việc:
- Xác lập mục tiêu chất lượng tổng quát và chính sách chất lượng mà dự án theo
đuổi;
- Xác định các khách hàng bên trong và bên ngoài, các đối tác mà dự án có liên
hệ, chủ thể sẽ tiêu dùng sản phẩm của dự án;
- Xác định các nhu cầu và đặc điểm nhu cầu của khách hàng;
- Phát triển các đặc điểm của sản phẩm và dịch vụ thoả mãn các nhu cầu đó;
- Phát triển các quá trình tạo ra các đặc điểm cần thiết của sản phẩm và dịch vụ;
- Xác định trách nhiệm của từng bộ phận của dự án với chất lượng dự án và chất
lượng sản phẩm dự án và chuyển giao các kết quả lập kế hoạch cho các bộ phận.
Để bắt đầu quá trình lập kế hoạch cần có thông tin về: chính sách của dự án về
lĩnh vực chất lượng; nội dung dự án; mô tả sản phẩm dự án (tốt nhất là những đặc điểm
cụ thể từ phía người tiêu dùng); các tiêu chuẩn và yêu cầu đối với chất lượng sản phẩm,
dịch vụ, đối với các quá trình công nghệ; tài liệu về hệ thống chất lượng.
Trong quá trình lập kế hoạch chất lượng có thể áp dụng các công cụ sau:
-

Phân tích lợi ích - chi phí;

-

Xác lập cấp độ mong muốn của các chỉ tiêu chất lượng dự án, xuất phát từ sự


so sánh với các chỉ tiêu tương ứng của các dự án khác;
-

Các dạng biểu đồ:

* Biểu đồ nguyên nhân - hậu quả (biểu đồ xương cá hay biểu đồ I-xi-ka-va) mô tả
mối quan hệ nhân quả giữa nguyên nhân và các hậu quả hiện thời và tiềm ẩn. Hình 1.4
mô tả dạng chung nhất của dạng biểu đồ này;


18

Hạn chế về
thời gian

Máy móc,
thiết bị

Công nghệ

Đảm bảo
vật chất

Sai lệch so
với yêu cầu

Hạn chế về
năng lượng


Đảm bảo
công nghệ

Đảm bảo
nguồn nhân lực

Môi trường
bên ngoài

Hình 1.5. Biểu đồ xương cá về nguyên nhân và hậu quả

* Sơ đồ khối mô tả mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau của các phần tử khác nhau
của hệ thống hay quá trình;
-

Các thử nghiệm.

Kết quả của lập kế hoạch chất lượng là bản kế hoạch chất lượng (kế hoạch các
biện pháp kỹ thuật - tổ chức đảm bảo hệ thống chất lượng dự án). Bản kế hoạch này phải
trình bày các biện pháp cụ thể thực hiện chính sách chất lượng gắn với thời hạn thực hiện
cụ thể, với người chịu trách nhiệm thực hiện, ngân sách và các chỉ tiêu đánh giá.
Trong kế hoạch chất lượng cần có các thủ tục tiến hành các biện pháp kiểm tra và
thử nghiệm, danh mục các chỉ tiêu kiểm tra đối với tất cả các công việc và loại sản phẩm.
Trong kế hoạch chất lượng có thể gồm cả bản đồ công nghệ của một số quá trình
phức tạp nhất định, các phiếu kiểm tra hướng dẫn thực hiện một số bước cụ thể hay quá
trình cụ thể thực hiện công việc.
 Tổ chức thực hiện
Đây là quá trình điều khiển các hoạt động tác nghiệp của dự án thông qua các kỹ
thuật, phương tiện, phương pháp cụ thể nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm theo đúng
những yêu cầu, kế hoạch đã lập. Tổ chức thực hiện có ý nghĩa quyết định đến việc biến

kế hoạch chất lượng thành hiện thực.
Tổ chức thực hiện có thể được thực hiện theo các bước sau:


19

-

Đảm bảo mọi nhân viên, mọi bộ phận trong dự án phải nhận thức một cách

đầy đủ các mục tiêu, các kế hoạch phải thực hiện của mình;
-

Giải thích cho mọi người trong dự án biết chính xác những nhiệm vụ kế

hoạch chất lượng cụ thể cần thiết phải thực hiện;
-

Tổ chức những chương trình đào tạo, cung cấp những kiến thức kinh

nghiệm cần thiết đối với việc thực hiện kế hoạch;
-

Cung cấp đầy đủ các nguồn lực ở những lúc và những nơi cần thiết, thiết kế

những phương tiện kỹ thuật dùng để kiểm soát chất lượng.
 Kiểm tra
Kiểm tra chất lượng dự án là hoạt động theo dõi, thu thập, phát hiện và đánh giá
những trục trặc, khuyết tật của quá trình, của sản phẩm và dịch vụ được tiến hành trong
mọi khâu, mọi cấp, mọi giai đoạn xuyên suốt vòng đời dự án.

Mục đích của kiểm tra không phải là tập trung vào việc phát hiện sản phẩm hỏng
mà là phát hiện những trục trặc, khuyết tật ở mọi khâu, mọi công đoạn, mọi quá
trình, tìm kiếm những nguyên nhân gây ra những trục trặc, khuyết tật đó để có những
biện pháp ngăn chặn và điều chỉnh kịp thời.
Những nhiệm vụ chủ yếu của kiểm soát chất lượng là:
-

Đánh giá tình hình thực hiện chất lượng và xác định mức độ chất

lượng đạt được trong thực tế dự án;
-

So sánh chất lượng thực tế với kế hoạch để phát hiện ra các sai lệch và

đánh giá các sai lệch đó trên các phương diện kinh tế, kỹ thuật và xã hội;
-

Phân tích các thông tin về chất lượng làm cơ sở cho cải tiến và khuyến

khích cải tiến chất lượng;
-

Tiến hành các hoạt động cần thiết nhằm khắc phục những sai

lệch, đảm bảo thực hiện đúng những yêu cầu ban đầu.
Kiểm tra chất lượng dự án có thể áp dụng các phương pháp và công cụ
sau:
-

Các cuộc kiểm tra định kỳ và đột xuất;


-

Sử dụng phiếu kiểm tra mô tả bằng biểu đồ kết quả của quá trình;


20

Giới hạn trên
của giá trị thông
số kiểm tra

Giới hạn trung
bình của giá trị
thông số kiểm
tra

Giới hạn dưới
của giá trị thông
số kiểm tra

Ngày, tháng
Hình 1.6. Mô hình phiếu kiểm tra thực hiện các công việc dự án

-

Biểu đồ Pareto biểu diễn các nguyên nhân gây sai lệch, sắp xếp chúng

theo thứ tự tần suất xuất hiện.


Hình 1.7. Biểu đồ Pareto

 Điều chỉnh và cải tiến
Hoạt động điều chỉnh nhằm làm cho các hoạt động của dự án có khả năng
thực hiện được các tiêu chuẩn chất lượng đề ra, đồng thời cũng là hoạt động đưa
chất lượng dự án thích ứng với tình hình mới nhằm giảm dần khoảng cách giữa


21

những mong đợi của khách hàng và thực tế chất lượng đạt được, thoả mãn nhu cầu
của khách hàng ở mức cao hơn.
Các bước công việc điều chỉnh và cải tiến chủ yếu bao gồm:
-

Xây dựng những đòi hỏi cụ thể về cải tiến chất lượng, từ đó xây dựng các

kế hoạch cải tiến chất lượng;
-

Cung cấp các nguồn lực cần thiết như tài chính, kỹ thuật, lao động;

-

Động viên, khuyến khích các quá trình thực hiện cải tiến chất lượng.

Khi chỉ tiêu về chất lượng không đạt được cần phân tích xác định sai sót ở
khâu nào để tiến hành các hoạt động điều chỉnh. điều chỉnh về thực chất là quá trình
cải tiến chất lượng cho phù hợp với điều kiện môi trường hiện tại của dự án.


1.2.3. Hoạt động quản lý chất lượng dự án xây dựng công trình:
 Chất lượng công trình xây dựng:
Thông thường xét từ góc độ bản thân sản phẩm xây dựng và người thụ hưởng
sản phẩm xây dựng chất lượng công trình được đánh giá bởi các đặc tính cơ bản
sau: công năng, độ tiện dụng, tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật; độ bền vững, tin cậy;
tính thẩm mỹ; an toàn trong khai thác, sử dụng; tính kinh tế; và đảm bảo về tính thời
gian ( thời gian phục vụ của công trình).
Rộng hơn, chất lượng công trình xây dựng cần được hiểu không chỉ từ góc độ
của bản thân sản phẩm và người thụ hưởng sản phẩm xây dựng mà còn cả trong quá
trình hình thành sản phẩm xây dựng đó với các vấn đề liên quan. Một số vấn đề cơ
bản đó là:
-

Chất lượng công trình xây dựng được hình thành ngay từ trong các giai

đoạn đầu tiên của quá trình đầu tư xây dựng công trình đó. Nghĩa là các vấn đề chất
lượng xuất hiện và cần được quan tâm ngay từ trong khi hình thành ý tưởng về xây
dựng công trình, từ khâu quy hoạch, lập dự án, đến khảo sát, thiết kế, thi công đến
giai đoạn khai thác, sử dụng và dỡ bỏ công trình sau khi đã hết thời hạn phục vụ...
thể hiện ở chất lượng của các sản phẩm trung gian như chất lượng quy hoạch xây
dựng, chất lượng dự án đầu tư xây dựng công trình, chất lượng bản vẽ thiết kế...


22

-

Chất lượng công trình tổng thể phải được hình thành từ chất lượng của

các nguyên vật liệu, cấu kiện; chất lượng của các công việc xây dựng riêng lẻ, của

các bộ phận, hạng mục công trình.
-

Các tiêu chuẩn kỹ thuật không chỉ thể hiện ở các kết quả thí nghiệm,

kiểm định nguyên vật liệu, cấu kiện, máy móc thiết bị mà còn ở quá trình hình
thành và thực hiện các bước công nghệ thi công, chất lượng các công việc của đội
ngũ công nhân, kỹ sư lao động trong quá trình thực hiện các hoạt động xây dựng.
-

Vấn đề an toàn không chỉ là trong khâu khai thác, sử dụng đối với người

thụ hưởng công trình mà còn là trong giai đoạn thi công xây dựng đối với đội ngũ
công nhân, kỹ sư xây dựng.
-

Tính thời gian không chỉ thể hiện ở thời hạn công trình có thể phục vụ mà

còn ở thời hạn phải hoàn thành, đưa công trình vào khai thác, sử dụng.
-

Tính kinh tế không chỉ thể hiện ở số tiền quyết toán công trình chủ đầu tư

phải chi trả mà còn thể hiện ở góc độ đảm bảo lợi nhuận cho các nhà thầu thực hiện
các hoạt động và dịch vụ xây dựng như lập dự án, khảo sát, thiết kế, thi công xây
dựng...
-

Vệ sinh và bảo vệ môi trường.


 Nội dung hoạt động quản lý chất lượng dự án xây dựng công trình:
Quản lý chất lượng dự án xây dựng công trình xây dựng là nhiệm vụ của tất
cả các chủ thể tham gia vào quá trình hình thành nên sản phẩm xây dựng gồm: chủ
đầu tư, nhà thầu, các tổ chức và cá nhân có liên quan trong công tác khảo sát, thiết
kế, thi công xây dựng, bảo hành và bảo trì, quản lý và sử dụng công trình.
Một dự án xây dựng công trình phải chịu sự quản lý về chất lượng trong tất cả các
giai đoạn từ khâu lập dự án đến khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng, giai đoạn bảo hành,
khai thác công trình. Trong mỗi giai đoạn kể trên thì vai trò quản lý chất lượng của các
chủ thể tham gia vào dự án là khác nhau nhưng vai trò quản lý chất lượng của chủ đầu tư
là quan trọng nhất và mang tính xuyên suốt.
Quản lý chất lượng công trình trong xây dựng được quy định như sau:
-

Trong giai đoạn khảo sát, ngoài sự giám sát của chủ đầu tư, nhà thầu khảo sát


×