Tải bản đầy đủ (.doc) (7 trang)

Sử dụng phương pháp tích cực kích thích tính chủ động trong môn Địa lí 6 của học sinh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (69.74 KB, 7 trang )

Chuyên đề số 1 - 2007 GV: Trần Văn Trung
**&**
KẾ HOẠCH
THỰC HIỆN CHUYÊN ĐỀ CỦA TỔ ĐỊA-SỬ-CÔNG DÂN
NĂM HỌC: 2007-2008
I. THỜI GIAN THỰC HIỆN:
1. Tiến hành phổ biến chuyên đề:
- 4/10/2007, tổ trưởng phổ biến việc thực hiện chuyên đề của tổ.
2. Thời gian nghiên cứu chuyên đề:
- Bắt đầu từ ngày 4/10/2007 cho đến 15/10/2007.
3. Thời gian báo cáo nội dung chuyên đề sau khi nghiên cứu:
- 16/10/2007: đã có hai chuyên đề của môn đòa lí.
+ Chuyên đề số 1: Sử dụng phương pháp tích cực kích thích tính chủ động trong môn
đòa lí 6 của học sinh – Nhằm đònh hướng cho việc sử dụng phương pháp của các giáo
viên mới về trường dạy môn đòa lí 6. ( Do đồng chí: Trần Văn Trung thực hiện).
+ Chuyên đề số 2: Sử dụng có hiệu quả thiết bò dạy học môn đòa lí ở trường THCS
( Do đồng chí: Trần Ngọc Phúc thực hiện).
4. Thời gian thực hiện theo giáo án chuyêàn đề trên lớp:
+ Chuyên đề số 1: Bắt đầu từ ngày 1/11/2007 cho đến 20/11/2007.
Sau khi thực hiện chuyên đề số 1 xong tổ chức nhận xét, đánh giá kết quả thực hiện
chuyên đề.
+ Chuyên đề số 2: Bắt đầu từ ngày 20/11/2007 cho đến 1/12/2007.
Sau khi thực hiện chuyên đề số 2 xong tổ chức nhận xét, đánh giá kết quả thực hiện
chuyên đề.
5. Đánh giá kết quả thực hiện và rút kinh nghiệm.
**&**
Trang 1
Chuyên đề số 1 - 2007 GV: Trần Văn Trung
II. NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ:
Chuyên đề:
SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP TÍCH CỰC KÍCH


THÍCH TÍNH CHỦ ĐỘNG TRONG MÔN ĐỊA LÍ
6 CỦA HỌC SINH

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Nhiều năm nay trong quá trình cải cách và phát triển giáo dục ở nước ta, mục
tiêu chương trình, nội dung đã được thay đổi nhiều lần cho phù hợp với yêu cầu phát
triển kinh tế – xã hội và đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ. Kế thừa những tư
tưởng đã từng xuất hiện trong lòch sử sư phạm có nhiều phương pháp cụ thể mà người
ta có thể phân thành hai khuynh hướng chủ đạo:
+ Khuynh hướng lấy thầy làm trung tâm tồn tại khá lâu và đã bộc lộ nhiều nhược
điểm mà chúng ta đã nhận thấy.
+ Khuynh hướng lấy người học làm trung tâm, biến quá trình đào tạo thành quá trình
tự đào tạo chính là quan điểm mà thời gian qua chúng ta thử nghiệm và có hiệu quả
hết sức tích cực.
Kó thuật dạy học phát triển từ chổ sử dụng công cụ thô sư như viên phấn, bảng
đen đến chổ những phương tiện dạy học vừa dựa vào trình độ kiến thức, kó năng nghề
nghiệp của giáo viên, vừa gắn với các phương tiện thiết bò dạy học hiện đại nhằm
mục đích cuối cùng là bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy, sáng tạo và năng lực
giải quyết vấn đề.
Đối với môn đòa lí 6 do các đối tượng như sự vật hiện tượng, quá trình đòa lí,
các khái niệm đòa lí là kiến thức đại cương, đều được phân bố cố đònh trong không
gian rộng lớn, có nhiều câu hỏi khó, học sinh không phải lúc nào cũng tiếp xúc trực
tiếp với chúng dễ dàng cho nên trong phương pháp dạy học đòa lí việc làm cho học
sinh có được tri thức đầy đủ về các đối tượng học tập là một vấn đề hết sức quan
trọng.
Nên trong quá trình dạy học đòa lí, đặc biệt là đòa lí 6 đòi hỏi giáo viên phải
biết vận dụng phương pháp dạy học cho phù hợp hoặc phối hợp các phương pháp vào
một nội dung, mỗi hoạt động hay mỗi bài học cụ thể một cách hợp lí nhất. Để làm
được điều này đòi hỏi kó thuật dạy học của giáo viên phải hết sức linh hoạt và cũng
xin nói thêm rằng phương pháp dù có quy trình cũng không thể là thứ “công nghệ”

Trang 2
Chuyên đề số 1 - 2007 GV: Trần Văn Trung
cứng nhắc vì nó còn phụ thuộc rất nhiều yếu tố. Vì vậy sẽ không có phương pháp vạn
năng hoặc phương pháp duy nhất sử dụng trong bất kì tình huống nào, đối tượng môi
trường nào … mà phương pháp sẽ mang bản sắc sáng tạo và hiệu quả của nó tuỳ thuộc
chủ yếu vào sự lựa chọn và sử dụng phương pháp dạy học thích hợp.
Sử dụng phương pháp mới không có nghóa là xoá bỏ toàn bộ các phương pháp
truyền thống. Tuỳ vào nội dung của bài mà ta kết hợp phương pháp được coi là cũ và
phương pháp mới như hiện nay.
Từ những đặc điểm chung của phương pháp dạy đòa lí như trên, đối với trường
THCS Tân Thắng là một ngôi trường còn có rất nhiều khó khăn khi thực hiện phương
pháp dạy học đổi mới do cơ sở vật chất cũng như các thiết bò dạy học còn thiếu thốn,
đặc biệt đội ngũ giáo viên trong tổ dạy môn đòa lí có nhiều giáo viên mới ra trường
chưa có nhiều kinh nghiệm trong sử dụng phương pháp dạy học. Trước đặc thù của
nhà trường và đội ngũ giáo viên như vậy, đòi hỏi mỗi giáo viên phải biết khắc phục
những khó khăn, phải biết vận dụng phương pháp dạy học sao cho đúng nhất để làm
sao kết quả dạy học tốt nhất cho học sinh thân yêu của mình.
Chính vì những điều kiên trên nên hôm nay tôi viết chuyên đề này, xin trình
bày một số kinh nghiệm khi chọn phương pháp thích hợp trong một bài học với mong
muốn trao đổi, góp phần nhỏ vào việc đònh hướng cho các giáo viên mới về trường
thực hiện các phương pháp trong dạy học môn đòa lí 6 có hiệu quả tốt nhất.
II. NHỮNG ĐIỀU KIỆN ĐỂ THỰC HIỆN CHUYÊN ĐỀ NÀY :
1. Đối với giáo viên:
- GV phải có tri thức đòa lí sâu rộng, nắm bắt kòp thời những thông tin để phục vụ cho
quá trình giảng dạy.
- GV phải nhiệt tình với công việc thực hiện giảng dạy theo phương pháp mới của
ngành giáo dục để thích ứng với những nhiệm vụ đa dạng và phức tạp. Sử dụng tối đa
các đồ dùng, thiết bò dạy học mà nhà trường có, làm sao để giúp học sinh thực hiện
các thao tác đôc lập hoặc các hoạt động nhóm. Đặc trưng của bộ môn đòa lí là phải sử
dụng tối đa các bản đồ, biểu đồ, tranh ảnh … để khai thác kiến thức.

- Trong quá trình dạy học giáo viên phải tạo ra các hoạt động học tập theo hướng tích
cực: Tổ chức nhóm, cặp, giảm bớt các câu hỏi tái hiện, tăng cường các loại câu hỏi tự
luận, giảm bớt các kết luận áp đặt , tăng cường các câu hỏi gợi mở để học sinh tự
nghiên cứu phát hiện ra nội dung bài học.
- Khuyến khích học sinh vận dụng linh hoạt các kiến thức đòa lí trong lí thuyết đang
học với kiến thức thực tế cuộc sống hàng ngày. Như giải thích được các hiện tượng
như tại sao có mưa, sấm chớp, tại sao có gió, tại sao có hiện tượng nhật, nguyệt thực …
một vấn đề nữa là đối với giáo viên là qua các bài học phải giáo dục cho các em giữ
gìn vệ sinh, bảo vệ môi trường xung quanh mình.
Trang 3
Chuyên đề số 1 - 2007 GV: Trần Văn Trung
2. Đối với học sinh:
- Tự giác trong học tập, có ý thức trách nhiệm về kết quả học tập của mình, tự nghiên
cứu sácg trước khi đến lớp học và tích cực, tranh thủ học, đặc biệt trong sinh hoạt
nhóm học sinh phải hoạt động nhiều hơn … bằng cách học sinh phải tự tìm tòi, tham
khảo các kiến thức có liên quan đến bài học… chính nhờ các cách học như vậy các em
nhanh chống nắm vững kiến thức của môn đòa lí 6.
III. BIỆN PHÁP THỰC HIỆN :
1. Dùng phương pháp trực quan để khai thác kiến thức:
Đối với môn đòa lí nói chung và môn đòa lí 6 nói riêng, các biểu đồ, bản đồ, bảng
biểu, sơ đồ mô hình, thông tin cập nhật là phương pháp sử dụng đặc trưng không thể
thiếu của bộ môn này. Nó là loại thiết bò mà chúng ta đã sử dụng trong quá trình dạy
học từ lâu nhưng chỉ có tính minh hoạ cho bài giảng của mình. Hiện nay để đáp ứng
nhu cầu “ tích cực hoá” hoạt động dạy và học của giáo viên và học sinh phải đưa ra
một số hình ảnh trực quan có liên quan chặt chẻ tới nội dung bài học để làm sao học
sinh tự tìm ra kiến thức mới của bài học dưới sự hướng dẫn của người giáo viên thông
qua các hình thức thảo luận, trao đổi.
* Ví dụ: Bài 18: Thời tiết, khí hậu và nhiệt độ không khí.
Dạy mục 3: Sự thay đổi nhiệt độ trong không khí.
Nhiệt độ không khí thay đổi theo độ cao, vó độ, vò trí gần hay xa biển.

+ Đầu tiên giáo viên cho học sinh xem bảng số liệu hình 48, 49 SGK.
+ GV chia nhóm và trao nhiệm vụ cho từng nhóm, hướng dẫn học sinh thảo luận.
+ Tùy thuộc vào khả năng nhận thức của học sinh để giáo viên dùng câu hỏi gợi mở.
+ Học sinh thảo luận và báo cáo kết quả.
+ Giáo viên tổng kết thảo luận, vừa giải thích thêm từng điều kiện làm cho nhiệt độ
không khí thay đổi theo: độ cao, vó độ, vò trí gần hay xa biển.
* Ví dụ: Bài 20: Hơi nước trong không khí và mưa.
Dạy phần I: Hơi nước và độ ẩm không khí.
Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu vì sao trong không khí có hơi nước? Và nhận
xét khả năng chứa hơi nước của không khí?
+ Đầu tiên giáo viên yêu cầu học sinh tập trung vào kênh chữ trong sách giáo khoa và
bảng lượng hơi nước tối đa trong không khí.
+ GV chia nhóm và trao nhiệm vụ cho từng nhóm, hướng dẫn học sinh thảo luận.
+ Tùy thuộc vào khả năng nhận thức của học sinh để giáo viên dùng câu hỏi gợi mở.
+ Học sinh thảo luận và báo cáo kết quả.
+ Giáo viên tổng kết thảo luận.
Trang 4
Chuyên đề số 1 - 2007 GV: Trần Văn Trung
Do trường chúng ta không có đèn chiếu, để khắc phục khó khăn đó chúng ta
cần làm các bảng phụ để thay thế đền chiếu, từ đó chúng ta chuẩn bò các nội dung có
thể thể hiện được lên bảng phụ để tiết kiệm bớt thời gian.
2. Phương pháp thảo luận:
Đây là phương pháp dạy học được chúng ta đang sử dụng trong những năm gần đây,
chính nhờ phương pháp này chúng ta đã lấy học sinh làm trung tâm. Kết quả bất kỳ
của cuộc thảo nào phải dẫn đến một kết luận có tác dụng tích cực trong quá trình dạy
và học.
* Đối với học sinh:
- Mở rộng, đào sâu những vấn đề học tập.
- Giúp học sinh phát triển kó năng nói, tranh luận, tự tin trước đám đông …
* Đối với giáo viên:

- Tạo mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh.
- Giúp giáo viên nắm được khả năng nhận thức của học sinh của mình, để từ đó thảo
luận có kết quả tốt nhất. Trong quá trình thảo luận giáo viên cần quan tâm các khâu
quan trọng sau:
+ Chuẩn bò nội dung thảo luận.
+ Tiến hành hướng dẫn học sinh thảo luận.
+ Tổng kết thảo luận.
Vấn đề 1: Chuẩn bò nội dung thảo luận:
Trước hết giáo viên phải chọn những nội dung thích hợp, những bài học học sinh thảo
luận thường không khó về nội dung nhưng có nhiều cách giải quyết khác nhau.
Ví dụ: Bài 18: Thời tiết, khí hậu và nhiệt độ không khí.
Mục 2: Nhiệt độ không khí, cách tính nhiệt độ không khí.
- Phương pháp tiến hành: trực quan – thảo luận.
a. Ở Hà Nội người ta đo nhiệt độ lúc 5h: 20
0
C, 13h: 24
0
C và 21h: 22
0
C, hỏi nhiệt độ
trung bình ngày hôm đó là bao nhiêu? Hãy nêu cách tính?
b. Tại sao khi đó người ta đo nhiệt độ không khí phải để trong bóng râm và đặt cách
mặt đất 2m?
- GV: chia lớp thành 4 nhóm: Nhóm 1, 2: câu a. Nhóm: 3, 4: câu b.
- Học sinh thảo luận và báo cáo kết quả.
- Học sinh nhóm khác nhận xét.
- Giáo viên tổng kết thảo luận và mở rộng, giải thích thêm về câu a.
Vấn đề 2: Tiến hành thảo luận:
- Mở rộng thảo luận: Giáo viên nên thông báo vấn đề cần thảo luận , quy trình và thủ
tục thảo luận:

+ Nên tiếp xúc với học sinh với một cử chỉ thân mật, tôn trọng và phấn khởi khi học
sinh đang trả lời.
Trang 5

×