Tải bản đầy đủ (.docx) (109 trang)

Phân tích ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới đến thị trường chứng khoán Việt Nam từ năm 2009 tới nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.03 MB, 109 trang )

LỜI CẢM ƠN
Khóa luận là kết quả của quá trình em học tập và nghiên cứu tại Trường Đại học
Ngoại thương với sự chỉ bảo, giúp đỡ tận tình của các cán bộ, giảng viên và các bạn
sinh viên Đại học Ngoại thương.
Em đặc biệt gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy PGS,TS. Nguyễn Đình Thọ, người đã
tận tình hướng dẫn và giúp em sửa đổi nhiều thiếu sót trong bài Khóa luận.
Em xin cảm ơn các anh chị công tác tại Thư viện trường, các anh chị, cô chú
công tác tại Viện Kinh tế Việt Nam, Viện Kinh tế Thế giới, Thư viện Quốc gia Việt
Nam cùng các anh chị và các bạn công tác tại Công ty Cổ phần Chứng khoán FPT,
Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt
Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình tìm kiếm tài liệu phục vụ
nghiên cứu.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các bạn và gia đình, những người đã giúp đỡ em
rất nhiều về kiến thức và chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống, tạo điều kiện để
em có thể hoàn thành tốt nhất Khóa luận này.
Sinh viên
Phạm Văn Tuấn
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU – ĐỒ THỊ
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BĐS Bất động sản
CP Cổ phiếu
DN Doanh nghiệp
EU Liên minh Châu Âu
IMF Quỹ Tiền tệ Quốc tế
FED Cục Dự trữ Liên bang Mỹ
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTW Ngân hàng Trung Ương
SGDCK Sở giao dịch chứng khoán


TTCK Thị trường chứng khoán
TTGDCK Trung tâm giao dịch chứng khoán
UBCKNN Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
DANH MỤC BẢNG BIỂU – ĐỒ THỊ
DANH MỤC BẢNG
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết thiết của đề tài
Thị trường chứng khoán (TTCK) là một kênh dẫn vốn quan trọng đồng thời đóng
vai trò là thước đo đánh giá hoạt động của nền kinh tế, nơi Chính phủ thi hành nhiều
biện pháp quản lý đối với cả nền kinh tế. TTCK Việt Nam đã bước sang năm hoạt
động thứ 11, tuy nhiên, tương tự tình hình kinh tế vĩ mô Việt Nam, TTCK còn tồn tại
nhiều vấn đề bất cập và dễ bị ảnh hưởng bởi những biến động kinh tế thế giới và
những thông tin vĩ mô, thông tin về chính sách của Nhà nước. Trong giai đoạn suy
thoái kinh tế toàn cầu 2008 – 2009 (có nguồn gốc từ khủng hoảng tài chính Mỹ), thị
trường tài chính nói chung và TTCK nói riêng của nhiều quốc gia bị ảnh hưởng nặng
nề, gây nhiều thiệt hại cho nền kinh tế quốc gia.
Giai đoạn đầu năm 2009 đã có một số nghiên cứu về tác động của khủng hoảng
tài chính Mỹ tới TTCK Việt Nam nhưng những nghiên cứu này chủ yếu mang tính
chất thời điểm, chưa chỉ ra được những tác động khái quát trong cả thời kỳ. Bên cạnh
đó, từ năm 2009, kinh tế thế giới đã có nhiều biến động: sự phục hồi của các nền kinh
tế, khủng hoảng nợ châu Âu (bắt nguồn từ Hy Lạp). Do đó, việc nghiên cứu đề tài
"Phân tích ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới đến thị trường chứng khoán
Việt Nam từ năm 2009 tới nay" là một vấn đề cấp thiết hiện nay.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu một số vấn đề về lý luận, lý thuyết cơ bản thị trường chứng khoán,
suy thoái kinh tế và ảnh hưởng của suy thoái kinh tế đến thị trường chứng khoán.
Từ những lý thuyết chung, Khóa luận đưa ra những phân tích về tác động của suy
thoái kinh tế tới nền kinh tế vĩ mô Việt Nam nói chung và TTCK nói riêng, chỉ ra
những mặt hạn chế và bất cập trong nội tại TTCK và chính sách vĩ mô Việt Nam.
Trên cơ sở những tác động của suy thoái kinh tế tới TTCK, Khóa luận đề xuất 1

số giải pháp để hạn chế những tác động đó, đồng thời đẩy mạnh sự phát triển và hoàn
thiện TTCK trong tương lai.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- 5 -
Khóa luận tập trung nghiên cứu tác động của suy thoái kinh tế và khủng hoảng tài
chính Mỹ tới TTCK Việt Nam thông qua những biểu hiện cụ thể về biến động giá và
chỉ số giá, khối lượng và giá trị giao dịch và tác động qua tâm lý các nhà đầu tư.
Khóa luận chủ yếu nghiên cứu các chứng khoán niêm yết trên hai sàn HoSE và
HaSTC trong thời gian từ đầu năm 2009 đến nay, những đánh giá về các thời kỳ
trước đó chỉ nhằm mục tiêu làm rõ những biến động của TTCK trong giai đoạn từ
năm 2009 tới nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện dựa trên phương pháp phân tích, tổng hợp thông tin
từ các báo cáo của các tổ chức nghiên cứu kinh tế, các công ty chứng khoán Việt Nam
và thế giới về tình hình kinh tế và TTCK, từ đó đưa ra những nhận xét và đánh giá về
tác động trong cả thời kỳ và đề xuất giải pháp nhằm hạn chế những tác động bất lợi
đó.
5. Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Khóa luận bao gồm ba chương:
Chương I: Khái quát về ảnh hưởng của suy thoái kinh tế tới thị trường chứng
khoán.
Chương II: Phân tích tác động của suy thoái kinh tế đến thị trường chứng khoán
Việt Nam.
Chương III: Định hướng phát triển thị trường và các giải pháp đề xuất nhằm
hạn chế tác động của suy thoái đối với thị trường chứng khoán
Do tác giả còn hạn chế về hiểu biết và thời gian nghiên cứu nên Khóa luận có thể
còn nhiều thiếu sót, tác giả rất mong nhận được sự phê bình góp ý từ các thầy cô và
các bạn để có thể hoàn thiện Khóa luận tốt hơn.
Tác giả xin chân thành cảm ơn!
- 6 -

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA SUY THOÁI
KINH TẾ TỚI THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1. Giới thiệu tổng quan về thị trường chứng khoán
1.1. Khái niệm chứng khoán và thị trường chứng khoán
1.1.1. Định nghĩa
Có nhiều khái niệm khác nhau về thị trường chứng khoán (TTCK), nhưng nhìn
chung có thể dẫn ra một khái niệm có tính phổ biến: Thị trường chứng khoán là một
thị trường mà ở nơi đó người ta mua bán, chuyển nhượng, trao đổi chứng khoán
nhằm mục đích kiếm lời.
1
Như vậy, xét về mặt hình thức, TTCK là nơi diễn ra các
hoạt động làm thay đổi chủ thể nắm giữ chứng khoán.
Theo quan điểm tài chính, thị trường chứng khoán hay thị trường tài chính trực
tiếp là kênh dẫn vốn trong đó vốn được dẫn trực tiếp từ người sở hữu vốn sang người
sử dụng vốn, ở đó các chứng khoán (trái phiếu và cổ phiếu) trung và dài hạn (từ 1
năm trở lên) được mua bán.
2
Khái niệm "Thị trường tài chính" được hiểu theo nghĩa
chung nhất trong theo Frederic S.Mishkin (2007, tr.3) là "...financial markets, markets
in which funds are transfered from people who have an excess of available funds who
have a shortage". Trên thị trường chứng khoán thì người thiếu hụt vốn, người huy
động vốn thường là các công ty, Chính phủ và các quỹ đầu tư còn người dư thừa vốn
hay các nhà đầu tư thường là các cá nhân, hộ gia đình, các công ty khác, Chính phủ
hay các tổ chức và cá nhân nước ngoài.
Qua hai khái niệm trên ta thấy, bản chất của thị trường chứng khoán là nơi diễn ra
sự luân chuyển vốn (tiền) trực tiếp từ người dư thừa vốn đến người thiếu hụt vốn
(không qua các trung gian tài chính) thông qua các công cụ tài chính, cụ thể là các
loại chứng khoán trung và dài hạn. Trong đó, chứng khoán - hàng hóa của thị trường
chứng khoán
3

- được hiểu là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của
1 Đinh Xuân Trình (2008), Giáo trình Thị trường chứng khoán, Nhà xuất bản Giáo dục, tr.8
2 Nguyễn Văn Tiến (2009), Giáo trình Tài chính – Tiền tệ – Ngân hàng, Nhà xuất bản thống kê, tr.121
3 Sđd, tr.121
- 7 -
người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành, là công cụ dẫn
xuất khác hình thành trên cơ sở những công cụ đã có. Chứng khoán được thể hiện
dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm: (i) Cổ phiếu,
trái phiếu, chứng chỉ quỹ; (ii) Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua,
quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán.
Trong điều kiện hàng hóa của TTCK ngày càng phong phú, đa dạng, người ta
phân chia chứng khoán thành 5 nhóm chính: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu
tư, các công cụ chuyển đổi và các công cụ phái sinh.
4

Sơ đồ 1.1: Các nhóm hàng hóa trên TTCK
Nguồn: Tổng hợp từ Giáo trình Tài chính – Tiền tệ – Ngân hàng
1.1.2. Phân loại
Có nhiều cách phân loại TTCK, phụ thuộc vào căn cứ phân loại. Những căn cứ
phân loại phổ biến đối với TTCK được thể hiện trong bảng dưới đây.
Bảng 1.1 : Phân loại thị trường chứng khoán theo một số căn cứ chủ yếu.
Căn cứ Phân loại
Thị trường sơ cấp Thị trường thứ cấp
Khái
niệm
Là thị trường mua bán các chứng
khoán mới phát hành.
Là nơi giao dịch các chứng khoán
đã phát hành.
Vai trò

- Tạo vốn cho nhà phát hành, tăng
vốn cho nền kinh tế;
- Tạo hàng hóa cho TTCK.
- Đảm bảo tính thanh khoản cho
chứng khoán
Đặc điểm - Nơi duy nhất đem lại vốn cho - Vốn luân chuyển giữa các nhà
4 Ủy ban Chứng khoán nhà nước (2009), Giáo trình những vấn đề cơ bản về chứng khoán và thị trường
chứng khoán, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, tr.55
- 8 -
Sự luân chuyển nguồn vốn
nhà phát hành;
- Giá chứng khoán do tổ chức phát
hành quy định;
- Chỉ tổ chức một lần.
đầu tư;
- Giá do thị trường quy định;
- Thị trường cạnh tranh tự do và
hoạt động liên tục.
Phương thức hoạt động
Thị trường tập trung Thị trường phi tập trung
Khái
niệm
Là thị trường giao dịnh chứng
khoán được thực hiện tại một
điểm tập trung là sàn giao dịch
Là thị trường không có trung tâm
giao dịch tập trung
Đặc điểm
- Thông qua trung gian
- Công khai tài chính

- Niêm yết chứng khoán
- Giao dịch theo nguyên tắc đấu
giá
- Giao nhận và thanh toán bù trừ
- Lưu ký tại sàn giao dịch
- Giao dịch trực tiếp hoặc thông
qua trung gian
- Chứng khoán không niêm yết
- Giá cả thỏa thuận
- Giao nhận và thanh toán theo
thỏa thuận
- Lưu ký tự do
Hàng hóa
Thị trường
Cổ phiếu
Thị trường
Trái phiếu
Thị trường các Công
cụ phái sinh
Hàng hóa
- Cổ phiếu thường
- Cổ phiếu ưu đãi
- Trái phiếu công ty
- Trái phiếu Chính phủ
-Trái phiểu đô thị
- Quyền mua cổ phần
- Chứng quyền
- Hợp đồng quyền
chọn
Nguồn: Tổng hợp từ Ủy ban chứng khoán Nhà nước

1.2. Một số đặc điểm cơ bản của thị trường chứng khoán
1.2.1. Bản chất
- TTCK là nơi tập trung và phân phối các nguồn vốn tiết kiệm
5
, chuyển vốn từ tư bản
sở hữu sang tư bản sản xuất, kinh doanh. Các nguồn vốn tiết kiệm được tập trung từ
những nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội để phân phối lại cho những chủ thể muốn sử
dụng nguồn tiết kiệm này theo giá mà người sử dụng sẵn sàng trả và theo những dự
đoán của thị trường về khả năng sinh lời cũng như mức độ rủi ro của các dự án sử
dụng nguồn tiết kiệm đó.
5 Ủy ban Chứng khoán nhà nước (2009), Giáo trình những vấn đề cơ bản về chứng khoán và thị trường
chứng khoán, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, tr.33
- 9 -
- TTCK là định chế tài chính trực tiếp nơi mà cả chủ thể cung và cầu vốn đều tham gia
thị trường trực tiếp theo nguyên tắc đầu tư, không thông qua các trung gian tài chính,
do đó quyền sử dụng và quyền sở hữu nguồn vốn gắn chặt với nhau hơn, nâng cao
khả năng theo dõi và quản lý nguồn vốn.
Dòng vốn từ tiết kiệm đến đầu tư và mối quan hệ giữa các trung gian tài chính và
nội bộ thị trường tài chính có thể được tóm lược qua sơ đồ sau:
Các trung gian tài chính
THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
Thị trường vốn
cổ phần
Thị trường nợ
Thị trường hối đoái
Thị trường chứng khoán phái sinh
TIẾT KIỆM
ĐẦU TƯ
Sơ đồ 1.2: Quá trình lưu chuyển vốn trong nền kinh tế và mối quan hệ giữa
trung gian tài chính và các bộ phận của thị trường tài chính

Nguồn: Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
Tóm lại, có thể nói TTCK thực chất là quá trình vận động của tư bản tiền tệ, nơi
mà các chứng khoán có thể mang lại thu nhập cho người nắm giữ nó sau một thời
gian nhất định. Các chứng khoán này được lưu thông trên TTCK theo giá thị trường
- 10 -
và có bề ngoài tương tự tư bản hàng hóa. Tuy nhiên, không giống các thị trường hàng
hóa khác, chứng khoán là quyền sở hữu về hàng hóa nên ta có thể nhận định TTCK là
hình thức phát triển bậc cao của nền sản xuất và lưu thông hàng hóa.
6

1.2.2. Chức năng
Dựa trên bản chất, TTCK có các chức năng chủ yếu như sau:
- Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế: đây là kênh huy động vốn quan trọng đối với
mỗi nền kinh tế, nhất là đối với các nền kinh tế phát triển – nơi mà vốn đòi hỏi phải
được luân chuyển tự do trong cả nền kinh tế;
- Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng: TTCK là một kênh đầu tư quan trọng ,
giúp đa số công chúng có thể sử dụng vốn nhàn rỗi một cách hiệu quả, thông qua việc
đầu tư vào TTCK hoặc đầu tư gián tiếp qua các định chế tài chính;
- Tạo tính thanh khoản cho chứng khoán: đảm bảo cho TTCK hoạt động một cách năng
động và hiệu quả
7
;
- Đánh giá giá trị doanh nghiệp và tình hình của nền kinh tế: TTCK được coi là "phong
vũ biểu" của nền kinh tế, thường thể hiện một cách chính xác và nhạy bén tình hình
các công ty nói riêng và cả thị trường nói chung;
- Giúp chính phủ thực hiện chính sách vĩ mô: Chính phủ có thể huy động vốn nhằm bù
đắp thiếu hụt ngân sách, đồng thời các chính sách, quy định của Chính phủ có thể tác
động tới nền kinh tế thông qua TTCK;
- Hội nhập kinh tế thế giới: Thông qua TTCK, các nhà đầu tư có thể đầu tư vào hoạt
động sản xuất kinh doanh của các Công ty nước ngoài hay mua Trái phiếu do Chính

phủ các nước phát hành, từ đó tạo điều kiện cho mỗi quốc gia hội nhập kinh tế thế
giới sâu rộng hơn.
1.2.3. Nguyên tắc hoạt động
Ngoài nguyên tắc Cạnh tranh tự do, Công bằng là nguyên tắc cơ bản của nền kinh
tế thị trường nói chung, TTCK hoạt động dựa trên 3 nhóm nguyên tắc cơ bản:
- Công khai: do đặc tính là hàng hóa trừu tượng nên TTCK đòi hỏi phải có hệ thống cơ
sở thông tin tốt đảm bảo: Chính xác, Kịp thời và Dễ tiếp cận.
6 Đào Lê Minh (2002), Giáo trình những vấn đề cơ bản về chứng khoán và thị trường chứng khoán, Nhà xuất
bản chính trị Quốc gia, tr.46
7 Bạch Đức Hiển (2007), Giáo trình Thị trường chứng khoán, Nhà xuất bản Tài chính, tr.13-14
- 11 -
- Trung gian: các nhà đầu tư thường không mua trực tiếp từ các nhà phát hành mà mua
từ các nhà bảo lãnh phát hành.
8

- Đấu giá: Bao gồm 3 hình thức đấu giá dựa trên mối quan hệ cung cầu trên thị trường:
+ Đấu giá trực tiếp: các nhà môi giới gặp nhau trực tiếp thông qua một chuyên gia
chứng khoán làm trung gian tại quấy giao dịch để thương lượng.
+ Đấu giá gián tiếp: các nhà môi giới thương lượng thông qua hệ thống điện thoại
và mạng máy tính.
+ Đấu giá tự động: đấu giá qua máy chủ của sở giao dịch với hệ thống máy của
các công ty chứng khoán thành viên, các lệnh mua – bán được khớp tự động khi
có lệnh phù hợp. Hiện tại, đây là hình thức giao dịch chủ yếu trên thế giới.
1.2.4. Chủ thể
Các chủ thể tham gia vào TTCK được chia thành 4 nhóm lớn:
(i) Nhà phát hành: là những người huy động vốn – cung cấp hàng hóa cho
TTCK.
- Chính phủ, chính quyền địa phương phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu
địa phương, tín phiếu.;
- Công ty là nhà phát hành cổ phiếu và trái phiếu công ty;

- Các tổ chức tài chính phát hành nhiều loại công cụ tài chính tùy thuộc vào mục
đích hoạt động của họ.
(ii)Nhà đầu tư: những người thực sự mua và bán chứng khoán trên thị trường, bao gồm
cả nhà đầu tư cá nhân và các nhà đầu tư có tổ chức – các định chế đầu tư như các
công ty tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư, quỹ lương hưu và các quỹ bảo
hiểm xã hội khác. Các tổ chức đầu tư tận dụng kinh nghiệm và sự đa dạng hóa
danh mục đầu tư để giảm rủi ro.
(iii) Các tổ chức kinh doanh: bao gồm các Công ty chứng khoán với nghiệp vụ tự
doanh, bảo lãnh phát hành, môi giới, quản lý danh mục đầu tư, tư vấn đầu tư và
các Ngân hàng thương mại đầu tư vào TTCK nhằm tăng lợi nhuận và giảm rủi ro
trên cơ sở đa dạng hóa danh mục đầu tư.
Tại Việt Nam, các công ty chứng khoán phải có số vốn nhất định và đảm bảo thực
hiện những quy định cụ thể khi thực hiện mỗi nghiệp vụ kể trên còn các Ngân
hàng thường thành lập công ty chứng khoán là công ty con để đầu tư và bảo lãnh
phát hành chứng khoán.
8 Đào Lê Minh (2002), Giáo trình những vấn đề cơ bản về chứng khoán và thị trường chứng khoán, Nhà xuất
bản chính trị Quốc gia, tr.58
- 12 -
(iv) Các tổ chức có liên quan: bao gồm các Cơ quan quản lý (thường là các Ủy ban
chứng khoán Nhà nước), Sở giao dịch, Tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ,
Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm, Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán và
Tổ chức tài trợ chứng khoán.
1.3. Các tiêu chí chủ yếu đánh giá hoạt động của thị trường chứng khoán
1.3.1. Giá và chỉ số giá
- Giá chứng khoán ở đây được hiểu là giá đóng cửa của mỗi mã chứng khoán
được niêm yết và giao dịch tại các trung tâm giao dịch chứng khoán. Giá chứng
khoán phản ánh giá trị thị trường của mỗi loại chứng khoán, đồng thời xu hướng tăng
giảm của giá chứng khoán phản ánh sự phát triển và đánh giá của thị trường nói
chung về công ty niêm yết.
- Về chỉ số giá, theo đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ: "Cơ sở khoa học và thực

tiễn xây dựng chỉ số giá chứng khoán và một số gợi ý cho Việt Nam" (UBCKNN,
1999), mục tiêu cơ bản của việc xây dựng chỉ số giá nói chung và chỉ số giá chứng
khoán nói riêng là xây dựng hệ thống chỉ tiêu phản ánh sự biến động của giá theo thời
gian. Hiện nay, các nước trên thế giới dùng 5 phương pháp tính chỉ số giá sau:
(i) Chỉ số giá Passcher: là chỉ số giá bình quân gia quyền giá trị với quyền số là
số lượng chứng khoán niêm yết thời kỳ tính toán. Đây là loại chỉ số giá chứng khoán
thông dụng nhất, các chỉ số KOSPI (Hàn quốc); S&P500 (Mỹ); FT-SE 100 (Anh);
TOPIX (Nhật); CAC (Pháp); TSE (Đài loan); Hangseng (Hồng Kông); các chỉ số của
Thuỵ Sỹ và Việt Nam đều áp dụng phương pháp này.
(ii) Chỉ số giá Laspeyres: là chỉ số giá bình quân gia quyền giá trị, lấy quyền số
là số cổ phiếu niêm yết thời kỳ gốc. Có rất ít nước áp dụng phương pháp này, tiêu
biểu là chỉ số FAZ, DAX của Đức.
(iii) Chỉ số giá bình quân Fisher: là chỉ số giá bình quân nhân giữa chỉ số giá
Passcher và chỉ số giá Laspayres. Phương pháp này khắc phục được yếu điểm của hai
phương pháp trên, tức là giá trị chỉ số tính toán ra phụ thuộc vào quyền số của cả 2
thời kỳ: Kỳ gốc và kỳ tính toán.
- 13 -
(iv) Chỉ số giá bình quân giản đơn: áp dụng khi mức giá của các cổ phiếu tham
gia niêm yết khá đồng đều tức là độ lệch chuẩn thấp. Các chỉ số Dow Jone (Mỹ);
Nikkei 225 (Nhật); MBI (Italia) áp dụng phương pháp này.
(v) Chỉ số giá bình quân nhân giản đơn: áp dụng khi độ lệch chuẩn và phương
sai khá cao. Các chỉ số: Value line (Mỹ); FT-30 (Anh) được tính theo phương pháp
này.
Quyền số thường được dùng trong tính toán chỉ số giá cổ phiếu là số chứng
khoán niêm yết. Riêng ở Đài Loan thì họ dùng số chứng khoán trong lưu thông làm
quyền số, bởi vì tỷ lệ đầu tư của công chúng rất cao ở đây (80 - 90%).
Ngoài ra, khi tính chỉ số giá cần quan tâm tới hai yếu tố:
- Chọn rổ đại diện: Ba tiêu thức quan trọng để xác định sự tiêu biểu của cổ phiếu
để chọn vào rổ đại diện là số lượng cổ phiếu niêm yết, giá trị niêm yết và tỷ lệ giao
dịch, mua bán chứng khoán đó trên thị trường (khối lượng và giá trị giao dịch).

Sở giao dịch chứng khoán New York có trên 3000 cổ phiếu niêm yết, nhưng chỉ
số tổng hợp Dow Jones chỉ bao gồm 65 cổ phiếu mà vẫn phản ánh được xu thế, động
thái của quá trình vận động của giá cả (trong đó, chỉ số Dow Jones công nghiệp -
DJIA gồm 30 cổ phiếu, Dow Jones vận tải – DJTA bao gồm 20 cổ phiếu và Dow
Jones dịch vụ - DJUA gồm 15 cổ phiếu). Những cổ phiếu trong rổ đại diện này không
còn tiêu biểu bị thay thế bởi cổ phiếu tiêu biểu hơn (tháng 11/1999, sàn New York đã
thay 4 cổ phiếu trong rổ đại diện).
Đối với Việt Nam – một TTCK mới ra đời, do số lượng các cổ phiếu niêm yết
chưa nhiều nên rổ đại diện nên bao gồm tất cả các cổ phiếu. Tuy nhiên cũng nên chú
ý đến khối lượng và giá trị giao dịch. Nếu một cổ phiếu nào đó trong một thời gian
dài không có giao dịch hoặc giao dịch không đáng kể thì nên tạm loại khỏi phạm vi
tính toán.
- Tìm biện pháp trừ khử các yếu tố về giá trị: Các yếu tố như thêm, bớt hay thay
đổi thành phần trong rổ đại diện; nhập, tách cổ phiếu; thưởng cổ phần... sẽ làm cho
chỉ số giá không phản ánh chính xác sự biến động của riêng giá. Để trừ khử ảnh
- 14 -
Chứng khoán
Chứng khoán
Cổ phiếu
Cổ phiếu
hưởng của các yếu tổ thay đổi về khối lượng và giá trị trong quá trình tính toán chỉ số
giá cổ phiếu, người ta dùng kỹ thuật điều chỉnh hệ số chia. Đây là một đặc thù riêng
của việc xây dựng chỉ số giá chứng khoán.
1.3.2. Khối lượng giao dịch
Khối lượng giao dịch được hiểu là số lượng đơn vị được giao dịch trong khoảng
thời gian nhất định, thông thường là trong một ngày. Đó là khối lượng của các chứng
khoán được giao dịch mỗi ngày trên TTCK.
Trong cách tiếp cận hai hướng để phân tích TTCK: bao gồm việc nghiên cứu về
giá và khối lượng thì giá quan trọng hơn nhưng khối lượng cung cấp sự xác nhận thứ
cấp quan trọng cho diễn biến về giá trên đồ thị và thường gia tăng thêm những cảnh

báo cho sự thay đổi sắp xảy đến trong xu hướng hiện tại. Khối lượng giao dịch là chỉ
tiêu quan trọng phản ánh mức độ hoạt động và tính thanh khoản của TTCK, cung cấp
sự xác nhận thứ cấp quan trọng cho diễn biến về giá trên đồ thị và thường gia tăng
thêm những cảnh báo cho sự thay đổi sắp xảy đến trong xu hướng hiện tại.
Khối lượng thường được sử dụng kết hợp với diễn biến giá, cho biết xu hướng
hiện tại của giá mạnh hay yếu và đo lường được áp lực mua bán thực sự của TTCK
mà sự di chuyển của giá không đánh giá được. Khối lượng tăng thường xuất hiện
cùng với xu hướng giá tăng. Khi xu hướng tăng xảy ra, những phiên có khối lượng
giao dịch ảm đạm thì có thể là những phiên xảy ra sự củng cố xu hướng, với những
phiên mà khối lượng giao dịch có chiều hướng tăng cao nhưng lại giảm dần sau đó
thì nó lại báo hiệu sự thay đổi chiều hướng tăng giá trong tương lai. Trong xu hướng
giảm giá, những phiên có khối lượng giao dịch ảm đạm thường xảy ra khi thị trường
bán tháo và giá thường tăng bất thường tại những thời điểm khối lượng giao dịch
tăng mạnh.
Đối với việc phân tích trong phạm vi dài hạn hơn, ta có thể theo dõi khối lượng
kết hợp với giá theo mốc thời gian là hàng tuần hoặc hàng tháng.
- 15 -
Chứng khoán
Chứng khoán
Cổ phiếu
1.3.3. Giá trị giao dịch
Giá trị giaodịch=

(Khối lượng giaodịch) x(Giá giaodịch)
Đây là chỉ tiêu kết hợp, biểu thị tổng giá trị của tất cả các cổ phiếu được giao dịch
trên TTCK trong một ngày. Giá trị giao dịch thường được dùng để đánh giá mức độ
hoạt động của thị trường nói chung đặc biệt là khi hầu hết các mã chứng khoán biến
đổi theo cùng xu hướng tăng hoặc giảm, thể hiện xu thế chung của cả thị trường.
1.3.4. Giao dịch của khối đầu tư nước ngoài
Giao dịch của khối đầu tư nước ngoài là những giao dịch (mua hoặc bán) chứng

khoán của các nhà đầu tư nước ngoài trên TTCK của một quốc gia. Những giao dịch
này thể hiện sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài đối với TTCK một nước và
sức hút đầu tư hiện tại của thị trường.
Khi các nhà đầu tư kỳ vọng cao từ TTCK nước sở tại, họ sẽ mua nhiều hơn bán,
khiến cho ròng vốn đầu tư chảy vào nước đó và ngược lại, khi nhận thấy những dấu
hiệu rủi ro, các nhà đầu tư nước ngoài có tâm lý thu hồi vốn và hiện tượng khối ngoại
bán ròng sẽ diễn ra. Việc khối ngoại bán ra, có thể là đảo danh mục đầu tư hoặc là
thoái vốn, làm cho TTCK thiếu hụt vốn đầu tư nước ngoài.
2. Suy thoái kinh tế và ảnh hưởng của suy thoái kinh tế tới thị trường chứng
khoán
2.1. Một số vấn đề lý thuyết về khủng hoảng và suy thoái kinh tế
2.1.1. Khái niệm suy thoái kinh tế
Khái niệm suy thoái, khủng hoảng kinh tế và chu kỳ được nhiều nhà kinh tế học
đề cấp trong các nghiên cứu của mình như việc chính phủ có nên can thiệp để điều
hòa kinh tế (học thuyết kinh tế vĩ mô của Keynes), khuyếch đại chu kỳ kinh tế (lý
thuyết chu kỳ kinh tế thực), hoặc thậm chí là tạo ra chu kỳ kinh tế (chủ nghĩa tiền tệ).
Trong số đó, những nghiên cứu của John Maynard Keynes (1883 –1946), một kinh tế
học người Anh cùng với tác phẩm Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ
(1936) là một trong những lý thuyết kinh tế có ảnh hưởng lớn nhất tới kinh tế học thế
- 16 -
giới, đặc biệt là những vấn đề liên quan tới sự can thiệp của nhà nước và khủng
hoảng – suy thoái kinh tế sau khi cuộc đại khủng hoảng 1929 – 1933 chứng tỏ rằng
những học thuyết "tự điều tiết" kinh tế như lý thuyết "Bàn tay vô hình" (Adam Smith)
hay học thuyết "Cân bằng tổng quát" (Léon Walras) thiếu tính chất xác đáng.
Khái niệm "Suy thoái kinh tế" (recession/economic downturn) được định nghĩa
trong Kinh tế học vĩ mô là sự suy giảm của Tổng sản phẩm quốc nội thực trong thời
gian hai hoặc hơn hai quý liên tiếp (tốc độ tăng trưởng kinh tế âm liên tục trong hai
quý). Tuy nhiên, định nghĩa này không được chấp nhận rộng rãi. Cơ quan Nghiên cứu
Kinh tế Quốc gia (NBER) của Hoa Kỳ đưa ra định nghĩa suy thoái kinh “là sự tụt
giảm hoạt động kinh tế trên cả nước, kéo dài nhiều tháng”. Suy thoái kinh tế có thể

liên quan tới sự suy giảm đồng thời nhiều chỉ số kinh tế như việc làm, đầu tư, và lợi
nhuận doanh nghiệp và có thể đi liền với hạ giá cả (giảm phát), hoặc ngược lại tăng
nhanh giá cả (lạm phát). Một sự suy thoái trầm trọng và lâu dài được gọi là khủng
hoảng kinh tế.
Các nền kinh tế theo định hướng thị trường có đặc điểm là tăng giảm theo chu kỳ
kinh tế. Khái niệm chu kỳ kinh tế được định nghĩa "Chu kỳ kinh doanh là một loại
biến động xuất hiện trong các hoạt động kinh tế tổng hợp của các quốc gia mà tổ
chức hoạt động của họ chủ yếu diễn ra trong các doanh nghiệp kinh doanh: một chu
kỳ bao gồm sự mở rộng diễn ra tại cùng một thời điểm trong nhiều hoạt động kinh tế,
theo sau bởi suy thoái chung tương tự, những đợt thắt chặt, và những sự phục hồi mà
hợp nhất vào giai đoạn mở rộng của chu kỳ tiếp theo, điều này tạo ra chuỗi những
thay đổi thường xuyên nhưng không định kỳ, trong thời gian chu kỳ kinh doanh khác
nhau từ hơn một năm đến mười hay mười hai năm...".
9
Theo đó, sự suy thoái kinh tế
được hiểu là thời kỳ nền kinh tế đi xuống đáy của chu kỳ kinh tế, nhưng sự suy giảm
thực tế (suy giảm các hoạt động kinh tế) không thường xảy ra.
Bảng 1.2: Thời gian trung bình đối với các chu kỳ kinh doanh của Hoa Kỳ
Giai đoạn
Số tháng
Thu hẹp Mở rộng Chu kỳ
9 Geoffrey H. Moore (1983), Business Cycles, Inflation, and Forecasting, 2nd ed, Ballinger, tr.4
- 17 -
Đỉnh tới
đáy
Đáy trước
tới đỉnh
hiện tại
Đáy trước
tới đáy hiện

tại
Đỉnh trước
tới đỉnh
hiện tại
1854-2009 (33 chu kỳ) 16 42 56 55*
1854-1919 (16 chu kỳ) 22 27 48 49**
1919-1945 (6 chu kỳ) 18 35 53 53
1945-2009 (11 chu kỳ) 11 59 73 66
* 32 chu kỳ; ** 15 chu kỳ
Nguồn: Cơ quan Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia (NBER) Hoa Kỳ
2.1.2. Nguyên nhân của suy thoái kinh tế
Đa số các nhà kinh tế và các nhà hoạch định chính sách đều cho rằng nguyên
nhân của suy thoái kinh tế là sự kết hợp của các yếu tố bên trong (nội sinh) theo chu
kỳ như lạm phát bởi cung tiền (trường phái kinh tế học Áo), quản lý tiền tệ yếu kém
(nguyên nhân chủ yếu của suy thoái ở Mỹ) và các cú sốc từ bên ngoài (ngoại sinh)
như giá dầu, thời tiết, chiến tranh.
Trường phái Keynes giải thích nguyên nhân của suy thoái kinh tế như sau:
+ Khi kinh tế trong thời kỳ ổn định, việc làm và tiêu dùng đều ở mức cao do sự
hiện diện của một quá trình tuần hoàn của tiền tệ trong nền kinh tế.
+ Khi có một lý do nào đó làm cho người tiêu dùng mất đi sự tin tưởng trên thị
trường kinh tế, lo sợ bất ổn kinh tế, họ sẽ cố gắng giảm bớt mọi khoản chi tiêu. Tình
trạng "vòng tròn luẩn quẩn" sẽ diễn ra khiến cho cả nền kinh tế giảm chi tiêu và sản
xuất.
Giải pháp: Keynes nêu ra giải pháp để giải quyết cho tình trạng khó khăn trên là
ngân hàng nhà nước cần phải đẩy mạnh cung ứng tiền tệ (cung tiền tệ). Việc hỗ trợ
thêm tiền cho chi tiêu sẽ giúp người tiêu dùng không phải giảm tiêu dùng hay thậm
chí còn tăng tiêu dùng và như vậy sẽ tạo ra hiệu ứng lan tỏa, kích thích doanh nghiệp
trở lại sản xuất. Đây là cơ sở cho các gói kích cầu mà nhiều Chính phủ đã thực hiện
để vượt qua suy thoái 2008 – 2009.
2.2. Ảnh hưởng của suy thoái kinh tế đến thị trường chứng khoán

- 18 -
Đối với những quốc gia lâm vào suy thoái kinh tế, TTCK phải gánh chịu những
tác động trực tiếp từ sự thu hẹp sản xuất và tín dụng, giảm tiêu dùng và đầu tư, do đó
TTCK thường ảm đạm và bất ổn, nhiều mã chứng khoán mất giá hoặc bị suy giảm
tính thanh khoản trên thị trường, thậm chí có thể có những công ty đang niêm yết trên
thị trường bị phá sản hay sáp nhập.
Với những quốc gia có TTCK phát triển, hội nhập sâu rộng vào TTCK thế giới,
khi các cường quốc kinh tế lâm vào suy thoái, TTCK của những nước này thường bị
ảnh hưởng trực tiếp do bị các nhà đầu tư nước ngoài rút vốn hoặc các nhà đầu tư
trong nước bị thua lỗ trên TTCK nước ngoài. Bên cạnh đó, TTCK còn chịu những tác
động gián tiếp thông qua thị trường tài chính và những khó khăn trong thương mại
quốc tế do suy thoái gây ra. Kết quả là nhóm nước này thường có xu thế giảm tăng
trưởng hoặc cũng lâm vào suy thoái, TTCK giảm điểm và tính thanh khoản.
Đối với nhóm nước đang phát triển và có TTCK non trẻ như Việt Nam, suy thoái
kinh tế thường ít ảnh hưởng trực tiếp do liên kết với TTCK thế giới còn yếu. Đối với
nhóm nước này, tác động của suy thoái thường thể hiện chủ yếu thông qua thị trường
tài chính và thương mại quốc tế, đặc biệt đối với các quốc gia phụ thuộc nhiều vào
hoạt động xuất nhập khẩu. Thị trường tài chính các nước đang phát triển có thể gặp
khó khăn do các tổ chức tài chính thu hồi vốn hoặc lãi suất, tỷ giá biến động bất
thường. Nhóm nước này thường có thị trường xuất khẩu chủ yếu là các quốc gia phát
triển, do đó, khi suy thoái sảy ra, các thị trường nhập khẩu hạn chế chi tiêu làm kim
ngạch xuất khẩu của các nước này giảm mạnh, có thể gây ra nhập siêu trầm trọng hay
thâm hụt cán cân thanh toán. Bên cạnh đó, suy thoái còn tác động tới TTCK của
nhóm nước này qua sự thu hẹp dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, nguồn tài trợ
(đối với các quốc gia phụ thuộc nhiều vào dòng vốn ODA) hay sự biến động giá
nguyên nhiên vật liệu như dầu thô, sắt, thép, xi măng.
3. Phân tích ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ 2007 – 2008 tới
nền kinh tế thế giới
3.1. Khủng hoảng tài chính Mỹ 2007 – 2008 và nền kinh tế Mỹ sau khủng
hoảng

3.1.1. Nền kinh tế Mỹ trước khủng hoảng tài chính
- 19 -
Nước Mỹ bước vào thế kỷ XXI với một nền kinh tế lớn hơn bao giờ hết và chiếm
tới hơn 25% GDP toàn cầu. Bảng dưới đây có thấy kinh tế Mỹ tăng trưởng khá đều
đặn từ năm 2000 cho tới năm 2006 và tụt dốc thê thảm vào năm 2007. Tuy nhiên, sự
tăng trưởng của Mỹ vào những năm đầu của thế kỷ XXI có thể nói là một sự tăng
trưởng quá nóng khi mà tỷ lệ lạm phát thực tế thường xuyên ở mức trên dưới 3%,
trong khi đó ở các nước phát triển, lạm phát hơn 2% đã được coi là dấu hiệu nguy
hiểm. Với tốc độ lạm phát cao, đồng USD bắt đầu mất giá so với Euro từ cuối năm
2006. Để kiềm chế lạm phát, FED liên tục tăng lãi suất từ năm 2003 lên tới đỉnh điểm
là 5,25% vào nửa cuối năm 2006. Nhưng do thị trường tín dụng đầy khó khăn, FED
đã mở đợt cắt giảm lãi suất vào 18/09/2007 và chính sự cắt giảm lãi suất này cùng sự
thâm hụt thương mại Mỹ đã khiến đồng USD trở nên kém hấp dẫn với các nhà đầu
tư.
Cuối cùng, với sự tăng trưởng quá nóng của nền kinh tế Mỹ những năm đầu tiên
của thế kỷ XXI đã lại châm ngòi cho một cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ năm
2008.
Bảng 1.3: Tình hình kinh tế Mỹ thời kỳ trước khủng hoảng 2000 - 2007
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
GDP
(nghìn tỷ
USD)
11.35 11.55 11.84 12.26 12.64 12.98 13.23 2.01
Tỷ lệ lạm
phát (%)
3.37 2.82 1.60 2.30 2.67 3.37 3.22 2.87
Tỷ lệ thất
nghiệp (%)
3.97 4.74 5.78 5.99 5.54 5.08 4.61 4.61
Nợ ròng

chính phủ
(nghìn tỷ
USD)
3.54 3.58 3.98 4.53 5.01 5.39 5.61 5.96
- 20 -
Tài khoản
vãng lai (tỷ
USD)
-416.38 -397.15 -458.07 -520.68 -630.49 -747.59 -802.64 -718.09
Nguồn: IMF, World Economic Outlook Database, October 2010
3.1.2. Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ 2007
Nguồn gốc của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ được đa số các nhà phân tích nêu
ra là từ năm 2000, khi chính quyền Tổng thống Bill Clinton đưa ra chương trình về
nhà ở xã hội cho người nghèo cùng với việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) hạ lãi
suất xuống còn 1% vào năm 2003 – 2004 đã tạo ra một xu hướng đầu cơ bất động sản
(BĐS) mạnh mẽ trên thị trường Mỹ.
Các ngân hàng đầu tư Mỹ (không chịu sự kiểm soát và giám sát thường xuyên
của FED) cùng với các NHTM Mỹ đã tận dụng nguồn tín dụng lãi suất thấp kể trên
vào việc mở rộng cho vay dưới chuẩn, chuyển những khoản nợ này thành chứng
khoán CMOs – trái phiếu nợ được đảm bảo bằng BĐS (Colloateralized Mortgage
Obligations) và bán chúng trên TTCK. Các tiêu chuẩn cho vay được hạ thấp khiến
cho thị trường BĐS Mỹ phát triển nóng và các tổ chức này cũng chứng kiến sự tăng
trưởng tín dụng mạnh mẽ trong giai đoạn này (xem biểu đồ).
Biểu đồ 1.1: Tiêu chuẩn Cho vay và Nhu cầu đối với Tín dụng Ngân hàng
Hoa Kỳ
Nhật Bản
Khu vực Euro
Vay thương mại và Công nghiệp
Vay tiêu dùng
Vay bất động sản

Tiêu chuẩn Tín dụng
1
Nhu cầu Tín dụng
2
- 21 -
(1) Phần trăm số phản hồi cho rằng các tiêu chuẩn tín dụng được thắt chặt "đáng kể" hoặc "khá" trừ đi số
phản hồi cho rằng các tiêu chuẩn này được nới lỏng "đáng kể" hoặc "khá" trong ba tháng trước đó.
(2) Phần trăm số phản hồi cho rằng nhu cầu vay vốn mạnh hơn "đáng kể" hoặc "vừa phải" trừ đi số phản hồi
cho rằng những nhu cầu này yếu hơn "đáng kể" hoặc "vừa phải" so với ba tháng trước đó.
Nguồn: IMF, World Economic Outlook (WEO), Tháng 04/2008, trang 14
Những chứng khoán phái sinh CMOs này có lợi suất cao nên nhanh chóng trở
thành một phần lớn trong các danh mục đầu tư của các công ty tài chính, quỹ đầu tư
và các quỹ mạo hiểm. Việc chứng khoán hóa các khoản nợ này đã tạo ra một nguồn
vốn lớn cho nền kinh tế. Tuy nhiên, do các khoản đầu tư không được đảm bảo bằng
các nguồn thu mà chỉ là nợ quay vòng giữa các tổ chức nên chúng tạo ra một tình
trạng không thực trên thị trường được các nhà kinh tế gọi là bong bóng trên thị
trường BĐS. Bong bóng tài chính này càng phình to khi thu hút được sự tham gia của
các nhà đầu tư nước ngoài: trực tiếp thông qua việc mua bán CMOs hay gián tiếp đầu
tư qua các tổ chức tài chính Mỹ. Hoạt động đầu tư nước ngoài này khiến bong bóng
- 22 -
tài chính có khả năng lan rộng tới cả các định chế tài chính ngoài nước Mỹ, ảnh
hưởng đến các thị trường khác một cách nhanh chóng.
Từ năm 2005, Chính phủ Mỹ tăng lãi suất trở lại để đối phó với lạm phát sau
chiến tranh Irac, các ngân hàng siết chặt tín dụng khiến nhiều người vay tiền mua
BĐS rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán, thị trường BĐS Mỹ có nhiều dấu
hiệu đổ vỡ.
Biểu đồ 1.2: Chỉ số giá hàng hóa cơ bản và giá dầu trên thị trường thế giới
qua các năm
* Chỉ số giá, năm 2005 = 100
** Chỉ số giá hàng hóa bao gồm cả giá dầu; Chỉ số giá đầu vào công nghiệp bao gồm cả giá

nguyên liệu nông nghiệp và kim loại
Nguồn: IMF, World Economic Outlook Database, October 2010
Các ngân hàng không thu hồi được nợ nên cũng rơi vào tình trạng thanh khoản
thấp, giảm lợi nhuận và nhiều ngân hàng đứng trên bờ vực phá sản. Tới tháng
08/2007, nhiều ngân hàng Mỹ buộc phải tuyên bố phá sản, cuộc khủng hoảng tín
dụng BĐS dưới chuẩn – sub-prime crisis chính thức bùng nổ, kéo theo các thị trường
tài chính Mỹ, Anh, EU, Trung Quốc, Nhật Bản đều bị biến động mạnh, giá dầu và giá
vàng tăng vọt trong khi đồng USD liên tục mất giá.
Biểu đồ 1.2 cho thấy từ năm 2004, giá dầu và các chỉ số giá chủ yếu liên tục tăng,
đạt đỉnh vào cuối năm 2007 hoặc đầu năm 2008. Sự biến động giá liên tục cùng với
việc nguồn tín dụng bị thu hẹp khiến cho các nhà đầu tư tỏ ra thận trọng hơn với các
sản phẩm phái sinh, đặc biệt là CMOs. Nguồn vốn đầu tư vào BĐS liên tục giảm sút,
kéo giá nhà đất đi xuống và TTCK Mỹ bị suy giảm mạnh.
Biểu đồ 1.3: Chỉ số Trung bình Công nghiệp Dow Jones giai đoạn 01/2006 –
03/2011
- 23 -
Nguồn: Tổng hợp từ Dữ liệu trực tuyến New York Stock Exchange
10
Biểu đồ về chỉ số Dow Jones cho thấy từ quý III/2007 khi thị trường tín dụng
BĐS Mỹ lâm vào khủng hoảng, chứng khoán Mỹ có xu hướng suy giảm liên tục xen
kẽ một số đợt tăng nhẹ, từ đỉnh 14.164 điểm (giá đóng cửa tuần 09/10/2007) giảm tới
đáy 6.626 điểm vào tuần 06/03/2009.
Những biến động lớn của nền kinh tế thế giới bắt đầu xảy ra từ quý III/2007 khi
thị trường tín dụng BĐS Mỹ lâm vào khủng hoảng. Hiện tượng vỡ nợ do dùng nhà
đất làm tài sản thế chấp xẩy ra từ giữa năm 2007 đã trở nên nghiêm trọng hơn, những
cố gắng không thành của Lehman Brothers và sự cứu viện của chính phủ dành cho
AIG tháng 9 năm 2008 đã châm ngòi cho một sự khủng hoảng trong “hệ thống ngân
hàng thứ cấp”
11
. Sự khủng hoảng trong hệ thống ngân hàng thương mại đã dẫn đến

hiện tượng mất tính thanh khoản ồ ạt, làm đóng băng hoạt động tín dụng liên ngân
hàng và các thị trường repo (xem biểu đồ dưới đây). Đây là nguyên nhân thứ hai
được nhiều chuyên gia phân tích đưa ra để giải thích cho nguồn gốc của khủng hoảng
tài chính Mỹ sau những biến động trên thị trường thế chấp cho vay dưới chuẩn.
USD
EUR
Yen
Hoa Kỳ
Khu vực đồng Euro
Chênh lệch tỷ giá liên ngân hàng
1
(điểm cơ bản)
Chênh lệch CDS ngân hàng
2
(mười năm, tính bằng điểm cơ bản)
Biểu đồ 1.4: Các chỉ số tăng lãi suất tín dụng ở Mỹ và Châu Âu
10 9h45 19/04/2011
11 Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc ở Việt Nam (2008), Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và những
tác động dài hạn của nó đối với Việt Nam, tr.10
- 24 -
Ghi chú: (1) LIBOR thời hạn 3 tháng trừ lãi suất hối phiếu chính phủ kỳ hạn 3 tháng
(2) CDS-Hoán đổi vỡ nợ tín dụng
Nguồn: World Economic Outlook (WEO), Tháng 4/2009, trang 2
Ngày 14/09/2008, các tập đoàn tài chính toàn cầu báo lỗ và thâm hụt 510 tỷ USD
do khủng hoảng tín dụng. Ngay sau đó, các tổ chức quốc tế còn đưa ra những con số
lớn hơn nhiều (IMF đưa ra con số lỗ của các tập đoàn tài chính là 1.500 tỷ USD, và
Ngân hàng Trung Ương Anh – BOE đưa ra con số 2.800 tỷ USD).
Hệ thống ngân hàng là kênh tín dụng quan trọng nhất cung cấp vốn cho nền kinh
tế, khi hệ thống này ngừng hoạt động thì toàn bộ nền kinh tế sẽ bị rối loạn và khủng
hoảng tài chính sẽ trở thành khủng hoảng kinh tế. Khi các nền kinh tế hội nhập sâu

sắc hơn thông qua hoạt động thương mại quốc tế và các dòng vốn thì một cuộc khủng
hoảng kinh tế tại một quốc gia hay tại một khu vực có quy mô lớn như Mỹ hay Liên
minh Châu Âu trở thành một cuộc khủng hoảng toàn cầu là điều khó có thể tránh
khỏi.
3.1.3. Tình hình kinh tế Mỹ từ khủng hoảng kinh tế đến nay
Tại đáy khủng hoảng vào tháng 02/2009, chỉ số niềm tin của người tiêu dùng Mỹ
chỉ là 25,3 thì tới tháng 04-05/2009 TTCK Mỹ chứng kiến nhiều thông tin kinh tế
công bố mang tính tích cực, đem lại tâm lý lạc quan cho cả các TTCK trên thế giới,
chỉ số niềm tin của người tiêu dùng Mỹ đã tăng trong tháng thứ ba liên tiếp (đạt 40,8
trong tháng 4 và 54,9 trong tháng 5). Kèm theo những dấu hiệu lạc quan từ phía
người tiêu dùng là tỷ lệ thất nghiệp giảm. Mặc dù trong 5 tháng đầu năm 2009 tại Mỹ
có tới 2,9 triệu người mất việc làm và tỷ lệ thất nghiệp tại Mỹ đã đạt mức 9,4%, mức
cao nhất trong hơn 25 năm qua nhưng tổng số người mất việc làm đã có xu hướng
giảm trong giai đoạn này (tháng 05/2009 giảm 32% so với tháng 04).
- 25 -

×