Tải bản đầy đủ (.docx) (18 trang)

THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUÂN ĐỘI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (122.22 KB, 18 trang )

THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUÂN ĐỘI
2.1 KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI:
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của NH TMCP Quân Đội
Ngân hàng TMCP QĐ được thành lập năm 1994 và chính thức đi vào hoạt
động ngày 4/11/1994 theo giấy phép số 0054/NH-GP của NHNN VN với số vốn
điều lệ là 20 tỷ đồng. Thị trường truyền thống của NH là các doanh nghiệp (DN)
vừa và nhỏ trong đó chủ yếu là các DN Quân Đội. Cùng với quá trình phát triển
kinh tế của đất nước, với đường lối chính sách đúng đắn, NH TMCP QĐ đã gặt hái
được nhiều thành công, không chỉ đáp ứng nhu cầu của thị trường truyền thống mà
còn phục vụ có hiệu quả tất cả các thành phần kinh tế. Qua 10 năm phát triển NH
TMCP QĐ đã đạt được nhiều bước tiến vượt bậc trên tất cả các lĩnh vực và là ngân
hàng luôn được NHNN xếp hạng A với số điểm từ 92-98 điểm/100 điểm.
Mức vốn điều lệ ban đầu là 20 tỷ đồng, đến 30/10/2004 NH đã tăng vốn điều
lệ lên 330 tỷ và vốn chủ sở hữu là 398,4 tỷ, tăng 19,9 lần so với năm 1994 góp
phần tăng năng lực tài chính và khả năng cạnh tranh của ngân hàng.
Với các hình thức sản phẩm dịch vụ huy động vốn đa dạng phong phú, đáp
ứng tốt nhu cầu khách hàng, lượng huy động vốn từ dân cư của NH ngày càng
tăng, lượng huy động vốn trên thị trường liên NH ngày càng giảm. Cơ cấu và loại
hình cho vay của NH cũng ngày càng đa dạng. Lợi nhuận trước thuế (đã trích lập
rủi ro) năm 2003 của NH TMCP QĐ là 72,46 tỷ, tăng 17,15% so với năm 2002.
Riêng 10 tháng đầu năm 2004, mức lợi nhuận trước thuế của NH là 91,208 tỷ,
hoàn thành xuất sắc (vượt gần 10%) kế hoạch đã được Đại hội đồng cổ đông thông
qua. Dự kiến cuối năm 2004 lợi nhuận trước thuế của NH là 103 tỷ, tăng 42,14%
so với năm 2003.
Với định hướng không chỉ khai thác thị trường truyền thống mà còn mở
rộng ra một số thị trường trọng điểm khác, từ chỗ chỉ có một trụ sở chính khi thành
lập tính đến ngày 1/11/2004 mạng lưới của NH TMCP Quân Đội đã phát triển lên
15 chi nhánh và phòng giao dịch, 2 công ty trực thuộc là Công ty chứng khoán
Thăng Long (TSC) và Công ty quản lý nợ & khai thác tài sản (MBAMC). Mạng
lưới các Ngân hàng đại lý cũng được NH mở rộng ra trên khắp châu lục với hơn


300 ngân hàng trên 70 quốc gia.
Ngoài việc mở rộng mạng lưới hoạt động, NH TMCP QĐ còn tham gia góp
vốn vào nhiều công ty, đồng thời tích cực xây dựng mối quan hệ với các đối tác
chiến lược. Số cổ đông của NH từ chỗ chỉ có 4 cổ đông khi thành lập tính đến
31/10/1004 tổng số cổ đông là 674 cổ đông, trong đó cổ đông thể nhân nắm giữ
47,15% vốn điều lệ, cổ đông pháp nhân nắm giữ 52,85%, cổ tức bình quân của các
cổ đông đạt 15-20%/năm.
Về phát triển nguồn nhân lực: khi thành lập số cán bộ nhân viên của ngân
hàng chỉ 25 người thì tính đến 1/11/2004 số đó đã tăng 12 lần, với tổng số là 302
người. Trong đó 80% tốt nghiệp các trường đại học trong và ngoài nước thuộc
nhiều chuyên ngành, được đào tạo cơ bản về nghiệp vụ, ngoại ngữ và vi tính đóng
góp một phần quan trọng trong sự phát triển của NH TMCP Quân Đội.
2.1.2 Các hoạt động của ngân hàng TMCP Quân Đội
Với phương châm luôn mang lại những sản phẩm dịch vụ tiện ích đáp ứng
tốt nhất nhu cầu khách hàng, NH Quân Đội đã không ngừng nâng cao chất lượng
những sản phẩm dịch vụ hiện có cũng như nghiên cứu và phát triển các sản phẩm
dịch vụ mới. Một số hoạt động của NH bao gồm:
- Huy động vốn từ các doanh nghiệp, các tổ chức và dân cư: các sản phẩm
huy động vốn của ngân hàng rất đa dạng gồm tiết kiệm và tài khoản tiền gửi cá
nhân và doanh nghiệp. Ngoài ra NH QĐ còn nhận vốn ủy thác đầu tư của các tổ
chức và cá nhân trong và ngoài nước.
- Họat động tín dụng- bảo lãnh: NH cung cấp cho khách hàng một dòng sản
phẩm tín dụng rất đa dạng và phong phú bao gồm: cho vay vốn ngắn hạn, trung
hạn và dài hạn bằng đồng VN và ngoại tệ phục vụ sản xuất kinh doanh, dịch vụ tài
trợ, đồng tài trợ cho các dự án,... Dịch vụ bảo lãnh của ngân hàng gồm bảo lãnh
vay vốn, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh dự thầu,...
- Thanh toán quốc tế, tài trợ xuất nhập khẩu: với mạng lưới gần 300 ngân
hàng đại lý ở gần 70 nước trên toàn thế giới, NH TMCP QĐ cung cấp một cách
nhanh chóng và an toàn cho các khách hàng những sản phẩm dịch vụ theo tiêu
chuẩn quốc tế.

- Thẻ ngân hàng: nhằm nâng cao hơn nữa dịch vụ tiện ích cho khách hàng,
năm 2004 ngân hàng đã triển khai dịch vụ thẻ ATM Active plus cho khách hàng.
Thẻ mang lại cho khách hàng những tính năng ưu việt hơn hẳn những sản phẩm thẻ
của các ngân hàng khác như cung cấp cho chủ thẻ dịch vụ bảo hiểm cá nhân, khách
hàng có thể thực hiện giao dịch tại tất cả những điểm chấp nhận thẻ củaNH QĐ và
hệ thống ATM của VCB trên toàn quốc.
- Kinh doanh mua bán ngoại tệ: là lĩnh vực khá mạnh của NH. Với đội ngũ
cán bộ chuyên nghiệp và hệ thống hỗ trợ hiện đại, NH TMCP QĐ có thể đáp ứng
tốt nhu cầu ngoại tệ của khách hàng với mức giá cả cạnh tranh hợp lý, với thủ tục
nhanh chóng thuận tiện. Ngoài ra, NH còn có thể tư vấn cho khách hàng để quản
lý, phòng ngừa rủi ro và các hình thức kinh doanh phù hợp có lợi.
- Các dịch vụ khác: ngoài các sản phẩm trên, NH Quân Đội còn cung cấp
cho khách hàng nhiều dịch vụ khác như: dịch vụ tư vấn tài chính, dịch vụ ngân
quỹ, chi trả lương hộ doanh nghiệp, chuyển tiền nhanh trong nước,...
2.2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG Ở NGÂN HÀNG TMCP
QUÂN ĐỘI
2.2.1 Hoạt động tín dụng của NH TMCP Quân Đội
2.2.1.1 Tình hình huy động vốn
Ngân hàng thương mại là mộ doanh nghiệp đặc biệt, hoạt động trên lĩnh vực
kinh doanh tiền tệ. Trong các hoạt động thì công tác tín dụng là một mảng chủ yếu
của ngân hàng, trong đó có cả hoạt động huy động vốn. Có thể nói, quán triệt tư
tưởng huy động vốn của Đảng và Nhà nước để phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế
của đất nước, ngân hàng đã huy động vốn bằng nhiều hình thức khác nhau như:
tiền gửi của dân cư, tiền gửi của các tổ chức kinh tế quốc doanh và ngoài quốc
doanh, tập thể. Ngân hàng đã đưa ra các cách thức khác nhau như đa dạng các thời
hạn và khung lãi suất với mục đích thu hút được nhiều nguồn tiền nhàn rỗi trong
dân cư và các tổ chức kinh tế. Với tinh thần, thái độ tận tụy phục vụ khách hàng,
đảm bảo vui lòng khách đến vừa lòng khách đi, giải quyết thủ tục thuận lợi nhanh
chóng, khách hàng gửi tiền vào và rút ra dễ dàng, hạn chế tối đa những sai sót
nhầm lẫn về mặt nghiệp vụ để đảm bảo ngày càng có tín nhiệm với khách hàng từ

đó ngân hàng đã tạo thế chủ động đi vay và cho vay. Vì vậy trong những năm qua,
công tác huy động vốn đã đạt được những kết quả khả quan:
Bảng 1: Cơ cấu vốn huy động tại Ngân hàng Quân Đội:
Đơn vị: Tỷ đồng
Chỉ tiêu 2001 2002 2003
- Vốn huy động 2548,97 3118,81 3485
+ Từ tổ chức kinh tế 1682,32 2089,6 2439,5
+ Từ dân cư 866,65 1029,21 1045,5
- Tốc độ tăng trưởng vốn huy
động
115% 122% 112%
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo kiểm toán của NH TMCP Quân Đội
qua các năm)
Kết quả nêu trên cho thấy hoạt động kinh doanh của NH đã có bước tăng
trưởng ổn định, hoàn thành tốt kế hoạch hàng năm và đang có những biến chuyển
mạnh mẽ, đặc biệt năm 2003. Cụ thể:
Bình quân huy động vốn năm 2002 tăng so với năm 2001 và năm 2003 tăng
so với năm 2002. Tỷ trọng vốn huy động của ngân hàng từ các tổ chức kinh tế cao
hơn tiền gửi dân cư. Tuy nhiên, bằng cách nâng cao chất lượng dịch vụ, tăng cường
chính sách khách hàng, tình hình tài chính lành mạnh cùng với uy tín ngày càng
tăng nên lượng vốn huy động từ dân cư của NH Quân Đội trong những năm gần
đây tăng nhanh mặc dù lãi suất huy động vốn không phải ở mức cao nhất trong các
ngân hàng cổ phần. Đây là một trong những nguồn vốn rẻ, giúp ngân hàng giảm
được chi phí huy động, có điều kiện cạnh tranh về mặt lãi suất cho vay với các
ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng quốc doanh. Bên cạnh việc huy động vốn rẻ,
ngân hàng còn chú trọng nguồn vốn có thời hạn dài bằng cách huy động với lãi
suất linh hoạt và có nhiều kỳ hạn hợp lý để ngân hàng có nguồn vốn ổn định phục
vụ khách hàng, đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển của khách hàng.
2.2.1.2 Tình hình sử dụng vốn
Hiện nay, nghiệp vụ tín dụng vẫn là nghiệp vụ sinh lời chủ yếu của các

NHTM Việt Nam nói chung, và của NH Quân Đội nói riêng. Doanh thu và lợi
nhuận từ họat động này mang lại luôn chiếm tỷ lệ cao, trên 80%. Đây sẽ là mảng
họat động rất được ngân hàng chú trọng đầu tư cả về thị trường sản phẩm và chất
lượng kinh doanh, ngân hàng luôn thực hiện cho vay với 3 mục tiêu cơ bản: hiệu
quả, an toàn và phát triển.
Nhờ làm tốt công tác huy động vốn, ngân hàng đã tích cực nhanh chóng đa
dạng hóa các mặt nghiệp vụ kinh doanh dịch vụ ngân hàng trong đó trọng tâm là
công tác tín dụng. Với mục tiêu nâng cao chất lượng tín dụng, thủ tục nhanh gọn,
thẩm định đúng quy trình tín dụng của ngân hàng, đáp ứng vốn kịp thời cho nhu
cầu sản xuất kinh doanh, dịch vụ đời sống, đầu tư và phát triển. Chấp hành nghiêm
túc cơ chế tín dụng trong đó coi trọng chất lượng tín dụng là nhiệm vụ hàng đầu.
Vì vậy, mặc dù tốc độ tăng trưởng dư nợ hàng năm của NH Quân Đội không cao
nhưng nhờ có chất lượng tín dụng tốt, quy trình quy chế chặt chẽ, nên tỷ lệ nợ quá
hạn luôn ở mức thấp, đảm bảo tỷ suất lợi nhuận và hiệu quả kinh doanh.
Tình hình tín dụng của ngân hàng Quân Đội từ năm 2001 đến năm 2003
(31/12) được thể hiện qua số liệu sau:
Bảng 2: Kết quả họat động tín dụng của ngân hàng Quân Đội qua các năm
Đơn vị : Tỷ đồng
Chỉ tiêu
2001 2002 2003
1.Tổng dư nợ:
- Cho vay ngắn hạn
- Cho vay trung & dài hạn
1.743,77
1.384,83
358,94
2.071,07
1.463,63
607,44
2.951

2.006,68
994,32
2. Vốn tự có 250,91 278,88 340
3.Tỷ lệ tổng dư nợ trên vốn tự có 14,4% 17,92% 11,52%
4.Tỷ lệ nợ quá hạn 0,99% 1,62% 0,79%
4.Tăng trưởng tín dụng 32,1% 18,77% 42,49%
5.Hiệu suất Tổng dư nợ
sử dụng = 100%
vốn TD NV huy động
68,41% 66,41% 84,68%
(Nguồn: báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo kiểm toán, báo cáo thường
niên của Ngân hàng TMCP Quân Đội qua các năm)
Qua số liệu trên ta thấy dư nợ tín dụng của ngân hàng Quân Đội tăng trưởng
liên tục qua từng năm. Trong đó năm 2001 tăng 32.1% năm, năm 2002 tăng
18.77% năm, năm 2003 tăng 42.49% năm. Điều này cho thấy hoạt động tín dụng
của ngân hàng đã đạt được những kết quả quan trọng và đang có những bước
chuyển biến mạnh mẽ, đặc biệt là trong năm 2003. Tuy nhiên kết quả trên cũng cho
ta thấy sự tăng trưởng không ổn định về dư nợ ở ngân hàng trong thời gian qua.

×