Tải bản đầy đủ (.pdf) (117 trang)

Áp dụng pháp luật trong hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án hình sự, qua thực tiễn Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hải Phòng : Luận văn ThS. Luật: 60 38 01 01

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.14 MB, 117 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

LÊ THỊ BÍCH THỦY

¸P DôNG PH¸P LUËT TRONG
HO¹T §éNG KIÓM S¸T §IÒU TRA C¸C Vô ¸N H×NH Sù,
QUA THùC TIÔN VIÖN KIÓM S¸T NH¢N D¢N THµNH PHè H¶I PHßNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2015


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

Lấ TH BCH THY

áP DụNG PHáP LUậT TRONG
HOạT ĐộNG KIểM SáT ĐIềU TRA CáC Vụ áN HìNH Sự,
QUA THựC TIễN VIệN KIểM SáT NHÂN DÂN THàNH PHố HảI PHòNG
Chuyờn ngnh: Lý lun v lch s Nh nc v Phỏp lut
Mó s: 60 38 01 01

LUN VN THC S LUT HC

Ngi hng dn khoa hc: GS. TS. HONG TH KIM QU

H NI - 2015



LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công
trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo
tính chính xác, tin cậy và trung thực.
Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các
nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi
có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin trân trọng cám ơn!
NGƢỜI CAM ĐOAN

LÊ THỊ BÍCH THỦY


MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG
HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ
CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN ........................................................7
1.1.

Áp dụng pháp luật - khái niệm, đặc điểm cơ bản ....................................7


1.1.1.

Áp dụng pháp luật – một trong những hình thức thực hiện pháp luật ..........7

1.1.2.

Đặc điểm cơ bản của áp dụng pháp luật ......................................................13

1.2.

Nhận thức chung về hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án hình
sự của Viện kiểm sát nhân dân ................................................................17

1.2.1.

Khái niệm, bản chất pháp lý của điều tra vụ án hình sự .............................17

1.2.2.

Khái niệm, bản chất pháp lý của kiểm sát điều tra các vụ án hình sự.........20

1.3.

Áp dụng pháp luật trong hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án
hình sự của Viện kiểm sát nhân dân ........................................................26

1.3.1.

Khái niệm áp dụng pháp luật trong hoạt động kiểm sát điều tra các
vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân ..................................................26


1.3.2.

Đặc điểm của áp dụng pháp luật trong hoạt động kiểm sát điều tra
các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân............................................27

1.4.

Các giai đoạn và nội dung áp dụng pháp luật trong hoạt động
kiểm sát điều tra các vụ án hình sự .........................................................32

1.4.1.

Các giai đoạn của quy trình áp dụng pháp luật trong hoạt động kiểm
sát điều tra các vụ án hình sự ......................................................................32

1.4.2.

Nội dung áp dụng pháp luật trong hoạt động kiểm sát điều tra các vụ
án hình sự ....................................................................................................36

1.5.

Các yếu tố tác động đến và đảm bảo áp dụng pháp luật trong
hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án hình sự .......................................42


1.5.1.

Khái quát chung về các yếu tố tác động đến và đảm bảo áp dụng

pháp luật trong hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án hình sự của
Viện kiểm sát nhân dân ...............................................................................42

1.5.2.

Một số yếu tố tác động, đảm bảo áp dụng pháp luật trong hoạt động
kiểm sát điều tra các vụ án hình sự .............................................................43

KẾT LUẬN CHƢƠNG 1..........................................................................................48
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG HOẠT
ĐỘNG KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG ..............49
2.1.

Đặc điểm về chính trị, kinh tế, xã hội và công tác xây dựng đội
ngũ cán bộ, kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân thành phố
Hải phòng ...................................................................................................49

2.2.

Tình hình tội phạm những năm gần đây ở thành phố Hải Phòng ........53

2.3.

Kết quả áp dụng pháp luật trong hoạt động kiểm sát điều tra các
vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng .......58

2.3.1.

Kết quả áp dụng pháp luật trong hoạt động kiểm sát việc khởi tố ..............58


2.3.2.

Kết quả áp dụng pháp luật trong hoạt động kiểm sát việc giải quyết tố
giác, tin báo tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải phòng ........67

2.3.3.

Kết quả áp dụng pháp luật đối với các biện pháp ngăn chặn của Viện
kiểm sát nhân dân thành phố Hải phòng .....................................................69

2.4.

Đánh giá những ƣu điểm và hạn chế chủ yếu và nguyên nhân của
chúng về áp dụng pháp luật trong hoạt động kiểm sát điều tra các
vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng ...........71

2.4.1.

Đánh giá những ƣu điểm và nguyên nhân chủ yếu của ƣu điểm về áp
dụng pháp luật trong hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án hình sự ..........71

2.4.2.

Đánh giá hạn chế và nguyên nhân của hạn chế về về áp dụng pháp
luật trong hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án hình sự của Viện
kiểm sát nhân ...............................................................................................74

KẾT LUẬN CHƢƠNG 2..........................................................................................76
Chƣơng 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO CHẤT LƢỢNG

ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT
ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ ........................................................77


3.1.

Quan điểm đảm bảo chất lƣợng áp dụng pháp luật trong hoạt
động kiểm sát điều tra các vụ án hình sự ................................................77

3.1.1.

Áp dụng pháp luật trong hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án hình
sự đáp ứng yêu cầu thực hiện Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức
Viện kiểm sát nhân dân, chiến lƣợc cải cách tƣ pháp, bảo vệ quyền
con ngƣời, quyền công dân .........................................................................77

3.1.2.

Áp dụng pháp luật trong hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án hình
sự nhằm kịp thời phát hiện các vi phạm pháp luật trong hoạt động tƣ
pháp, ban hành nhiều kiến nghị, kháng nghị, yêu cầu các cơ quan
khắc phục, sửa chữa ....................................................................................79

3.1.3.

Áp dụng pháp luật trong hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án hình
sự phải đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc tƣ pháp dân chủ, pháp
quyền đã đƣợc Hiến pháp quy định, bảo đảm mọi quyết định của các
cơ quan tố tụng có căn cứ và đúng pháp luật ..............................................79


3.1.4.

Áp dụng pháp luật trong hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án hình
sự phải đảm bảo yêu cầu đấu tranh phòng, chống tham nhũng ..................79

3.2.

Giải pháp đảm bảo chất lƣợng áp dụng pháp luật trong hoạt động
kiểm sát điều tra các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân ............80

3.2.1.

Nhóm giải pháp về hoàn thiện pháp luật hình sự ........................................81

3.2.2.

Nhóm giải pháp về đào tạo, bồi dƣỡng kiến thức chuyên môn, kỹ
năng nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ ngành kiểm sát ................................94

3.2.3.

Nhóm giải pháp về giáo dục đạo đức, giáo dục quyền con ngƣời cho
đội ngũ kiểm sát viên, xây dựng văn hóa pháp luật kiểm sát viên ..............97

3.2.4.

Nhóm giải pháp về tăng cƣờng trách nhiệm lãnh đạo của các tổ chức
đảng, giám sát nhà nƣớc và xã hội đối với hoạt động áp dụng pháp
luật của viện kiểm sát về kiểm sát điều tra các vụ án hình sự...................100


3.2.5.

Nhóm giải pháp về xây dựng và thực hiện chính sách, chế độ tuyển
dụng, sử dụng, quản lý, khen thƣởng, kỷ luật, đảm bảo cơ sở vật
chất, kỹ thuật cho hoạt động của viện kiểm sát.........................................101

KẾT LUẬN CHƢƠNG 3........................................................................................105
KẾT LUẬN LUẬN VĂN ......................................................................................106
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................107


DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ADPL:

Áp dụng pháp luật

BLHS:

Bộ luật hình sự

BLTTHS:

Bộ luật tố tụng hình sự

KSĐTR:

Kiểm sát điều tra

TAND:


Toà án nhân dân

VKSND:

Viện kiểm sát nhân dân


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Viện kiểm sát nhân dân có vị trí, vai trò và trách nhiệm đặc biệt quan trọng
trong cơ cấu tổ chức quyền lực nhà nƣớc cũng nhƣ trong tất cả các giai đoạn tố tụng
hình sự nói riêng. Điều 107 Hiến pháp năm 2013 đã quy định: “Viện kiểm sát nhân
dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp”. Kiểm sát điều tra là
hoạt động thuộc chức năng hiến định của VKSND, vừa có đặc điểm chung nhƣ các
hình thức giám sát khác của nhà nƣớc, vừa lại có những đặc thù riêng.
Áp dụng pháp luật trong hoạt động KSĐT các vụ án hình sự là một trong
những hình thức thực hiện pháp luật nói chung và trong lĩnh vực tƣ pháp hình sự
nói riêng. ADPL trong hoạt động kiểm sát điều tra là một trong những phƣơng thức
giám sát quyền lực nhà nƣớc để đảm bảo sự nghiêm minh, công bằng của pháp luật,
bảo vệ quyền con ngƣời, quyền công dân, trật tự, an toàn xã hội.
ADPL trong hoạt động kiểm sát điều tra không chỉ có mục đích phát hiện vi
phạm pháp luật, mà còn có mục đích quan trọng hơn là qua đó xác định những
nguyên nhân, điều kiện dẫn đến vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra các vụ
án hình sự.
Năm 2014 là năm đầu tiên thi hành Hiến pháp năm 2013 đã đƣợc Quốc hội
thông qua và có hiệu lực. Trong Hiến pháp có nhiều nội dung mới và có những nguyên
tắc về tƣ pháp rất tiến bộ, rất mới. Hiến pháp cũng quy định phải kiểm sát chặt chẽ hơn
những biện pháp cƣỡng chế tố tụng liên quan đến việc hạn chế quyền con ngƣời theo
tinh thần đảm bảo tôn trọng và bảo vệ quyền con ngƣời, quyền công dân.

VKSND bằng hoạt động kiểm sát các hoạt động tƣ pháp nhằm bảo đảm mọi
hành vi tội phạm đều phải đƣợc xử lý kịp thời, việc điều tra, truy tố, xét xử và thi
hành án hình sự đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và
ngƣời phạm tội, không làm oan ngƣời vô tội, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp
của công dân nói chung và của bị can, bị cáo nói riêng đƣợc tôn trọng ở tất cả các
giai đoạn tố tụng hình sự.

1


Trong thời gian, hoạt động áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ
án hình sự của ngành kiểm sát ở cả nƣớc nói chung và ở thành phố Hải phòng nói
riêng đã đạt nhiều thành tích, ƣu điểm quan trọng, góp phần đặc lực vào công cuộc
cải cách tƣ pháp, xây dựng nền tƣ pháp vững mạnh, dân chủ, bảo vệ công lý.
Bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt đƣợc, trong hoạt động kiểm sát điều
tra các vụ án hình sự nói riêng vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập so với yêu cầu của
thực tiễn cuộc sống và để thi hành hiến pháp năm 2013. Nhất là trong bối cảnh nhà
nƣớc ta đang triển khai việc sửa đổi, bổ sung vào các bộ luật lớn nhƣ bộ luật hình
sự, bộ luật tố tụng hình sự và tiến hành công tác tổ chức ngành kiểm sát theo Luật tổ
chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014.
Đề tài áp dụng pháp luật trong hoạt động KSĐT các vụ án hình sự tuy đã
đƣợc quan tâm nghiên cứu về lý luận song cũng còn nhiều vấn đề đặt ra nhất là
trong điều kiện Hiến pháp năm 2013 cũng nhƣ yêu cầu cải cách tƣ pháp. Do vậy cần
tiếp tục nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn để tím ra những giải pháp nhằm
đảm bảo chất lƣợng hoạt động này.
Là một cán bộ công tác trong ngành kiểm sát ở thành phố Hải phòng, tôi mạnh
dạn lựa chọn đề tài luận văn thạc sỹ của mình là "Áp dụng pháp luật trong hoạt
động kiểm sát điều tra các vụ án hình sự, qua thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân
thành phố Hải phòng “với mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào việc nghiên cứu
lý luận và thực tiễn, đề xuất quan điểm giải pháp đảm bảo chất lƣợng áp dụng pháp luật

trong hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án hình sự trên phạm vi cả nƣớc nói chung, ở
Hải phòng nói riêng.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Về lý luận, đã có nhiều công trình khoa học liên quan đến chức năng của
VKSND nói chung và về chức năng kiểm sát hoạt động tƣ pháp, hoạt động kiểm
sát điều tra các vụ án hình sự nói riêng dƣới các hình thức nhƣ bài báo khoa học,
giáo trình, tài liệu tham khảo vv….
Có thể nêu một số công trình nhƣ sau:

2


+ Các công trình về thực hiện pháp luật, áp dụng pháp luật, có các công
trình khoa học của các tác giả sau đây:
GS. TSKH. Đào Trí Úc, Thực hiện pháp luật và cơ chế thực hiện pháp luật ở
Việt Nam, Tạp chí Nhà nƣớc và Pháp luật, 7, 2011
GS. TS. Hoàng Thị Kim Quế (chủ biên), Giáo trình Lý luận chung về nhà
nước và pháp luật, Nxb. Đại học quốc gia Hà nội, 2005
GS. TS. Hoàng Thị Kim Quế, Thực hiện pháp luật của cá nhân, công dân
trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay, Tạp chí Luật
học, số /2015;
PGS. TS. Nguyễn Minh Đoan, Thực hiện pháp luật và áp dụng pháp luật ở
Việt nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội, 2009
+ Các công trình khoa học về áp dụng pháp luật trong hoạt động kiểm sát
điều tra các vụ án hình sự
- Đề tài cấp Bộ: Cơ sở lý luận và thực tiễn của thu thập, đánh giá chứng cứ
trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, Phó viện trƣởng Viện Khoa học kiểm sát
làm chủ biên, 2005.
- Bùi Mạnh Cƣờng: Áp dụng pháp luật trong giai đoạn điều tra các vụ án ma
túy ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, 2006.

- Vũ Viết Tuấn: Nâng cao Chất lượng áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều
tra các vụ án hình sự của VKSND tỉnh Bắc Ninh, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học
viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2006.
- Lê Minh Tuấn: Quyền và trách nhiệm của kiểm sát viên trong hoạt động kiểm
sát việc khám nghiệm hiện trường, Tạp chí Kiểm sát, tháng 10/2007.
- Nguyễn Văn Chiến: Áp dụng căn cứ không khởi tố vụ án hình sự và phạm vi
áp dụng quyết định không khởi tố vụ án hình sự, Tạp chí Kiểm sát, tháng 12/2002.
- Nguyễn Duy Giảng: Thủ tục rút gọn trong các giai đoạn tố tụng, Tạp chí
Kiểm sát, tháng 9/2003.
- Nguyễn Văn Nhật: Khám nghiệm hiện trường trong hoạt động điều tra
hình sự, Tạp chí Kiểm sát, tháng 4/2005.

3


- Nguyễn Văn Thƣợng: Quy định tách vụ án trong pháp luật tố tụng hình sự
và thực tiễn áp dụng, Tạp chí Kiểm sát, tháng 6/2005.
- Nguyễn Thái Phúc: Viện Kiểm sát hay Viện Công tố?, Tạp chí KHPL số 2
(39)/2007.
- Phạm Thanh Bình- Nguyễn Văn Yên: Những điều cần hiểu về bắt người,
tạm giữ, tạm giam… đúng pháp luật, Nxb Pháp lý, Hà Nội, 1990.
- Phạm Mạnh Hùng: Hoàn thiện một số quy định của pháp luật có liên quan
tới phân loại tội phạm, Tạp chí Kiểm sát, tháng 12/2002.
- Trần Văn Thuận: Nhiệm vụ quyền hạn của các cơ quan khác được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Tạp chí Kiểm sát, tháng 9/2003.
- Trần Quang Tiệp: Một số vấn đề lý luận về biện pháp ngăn chặn trong tố
tụng hình sự, Tạp chí Kiểm sát, tháng 4/2005.
- Vũ Gia Lâm: Bắt người trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ
luật học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2000.
Các công trình khoa học nêu trên là nguồn tài liệu quý để tác giả luận văn

tham khảo, kế thừa. Riêng về nghiên cứu chuyên sâu đề tài áp dụng pháp luật trong
hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án hình sự từ cách tiếp cận của chuyên ngành Lý
luận và lịch sử nhà nƣớc và pháp luật, liên hệ vào thực tiễn VKSND thành phố Hải
phòng đặt trong bối cảnh thi hành Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi bổ sung bộ luật
tố tụng hình sự thì đến nay chƣa có công trình ở cấp độ luận văn, luận án luật học.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Luận văn có mục đích chính là lý giải đề xuất các quan điểm, giải pháp đảm
bảo chất lƣợng áp dụng pháp luật trong hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án hình
sự. nghiên cứu làm rõ những đặc điểm cơ bản và yêu cầu đặt ra đối với việc xây
dựng đội ngũ kiểm sát viên chuyên nghiệp, có phẩm chất đạo đức nhân văn, bảo vệ
quyền lợi ích của các cá nhân tổ chức.
3.2. Nhiệm vụ
- Phân tích cơ sở lý luận của áp dụng pháp luật nói chung và áp dn có mục tiêu trang bị kiến
thức, kỹ năng nghề nghiệp; rèn luyện phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, bản
lĩnh nghề nghiệp cho học viên để hình thành năng lực tƣơng ứng với yêu cầu nghề
nghiệp Kiểm sát viên, góp phần tiêu chuẩn hóa nghề nghiệp Kiểm sát viên đáp ứng
yêu cầu cải cách tƣ pháp và hội nhập quốc tế, thực hiện nguyên tắc bảo đảm tranh
tụng trong xét xử, đảm bảo thực thi công lý và quyền con ngƣời.
Chƣơng trình, nội dung, phƣơng pháp đào tạo cán bộ ngành kiểm sát cần
đƣợc hoàn thiện để góp phần xây dựng nguồn nhân lực có chất lƣợng cao đáp ứng

94


yêu cầu cải cách tƣ pháp, xây dựng đội ngũ cán bộ ngành kiểm sát vững về chính
trị, giỏi nghiệp vụ, có phẩm chất đạo đức, tôn trọng, bảo vệ quyền con ngƣời, quyền
công dân, bản lĩnh nghề nghiệp, tôn trọng và tuân thủ pháp luật.
Theo chủ trƣơng của ngành kiểm sát, đào tạo cán bộ ngành kiểm sát đƣợc
thực hiện theo các hình thức chủ yếu là:

+ Đào tạo đại học kiểm sát, ngành luật, hệ chính quy để tạo nguồn tuyển
dụng công chức nghiệp vụ kiểm sát cho Viện kiểm sát nhân dân địa phƣơng, đơn vị
trong những năm sau này;
+ Tăng cƣờng đào tạo nghiệp vụ kiểm sát cho công chức

, viên chức đã có

bằng cử nhân luâ ̣t , nhất là cho Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh, thành phố phía
Nam; tiếp tục triển khai thực hiện việc liên kết đào tạo cử nhân luật (văn bằ ng hai )
cho công chƣ́c tố t nghiê ̣p đa ̣i ho ̣c khác đã đƣợc tuyển dụng vào Ngành để làm
nghiệp vụ kiểm sát; bồi dƣỡng kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ cho Kiểm sát viên,
Kiểm tra viên…
- Triển khai thực hiện mô hình đào tạo nghề nghiệp kiểm sát chuyên sâu kết
hợp với đào tạo chung nghiệp vụ xét xử, nghiệp vụ kiểm sát, nghề luật sư.
Bên cạnh việc đào tạo riêng từng chức danh Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật
sƣ, Chính phủ đã giao cho Bộ Tƣ pháp xây dựng Dự án Pháp lệnh đào tạo một số
chức danh tƣ pháp, đề xuất mô hình đào tạo chung ba chức danh này cho một đối
tƣợng ngƣời học.
Về mô hình đào tạo theo quy định của Pháp lệnh (Điều 5) gồm 02 (hai) mô
hình: (1) Đào tạo riêng nghiệp vụ xét xử, nghiệp vụ kiểm sát, nghề luật sƣ (đào tạo
riêng từng chức danh Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sƣ); (2) Đào tạo chung nghiệp
vụ xét xử, nghiệp vụ kiểm sát, nghề luật sƣ (là hoạt động đào tạo chung ba chức danh
Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sƣ cho một đối tƣợng ngƣời học). Trong đó, đào tạo
chung nghiệp vụ xét xử, nghiệp vụ kiểm sát, nghề luật sƣ là mô hình đào tạo mới, có
tính chất đột phá trong hoạt động đào tạo nguồn nhân lực tƣ pháp ở nƣớc ta, nhằm
nâng cao chất lƣợng đào tạo nghiệp vụ xét xử, nghiệp vụ kiểm sát, nghề luật sƣ phục
vụ Chiến lƣợc cải cách tƣ pháp và triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013.

95



Thời gian vừa qua, trong quá trình giải quyết một số vụ án, đặc biệt là tại các
phiên tòa, do Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sƣ không hiểu đƣợc vị trí, vai trò
nghề nghiệp của nhau, không có mặt bằng chung về kiến thức pháp luật nên đã hạn
chế tính chất “tranh tụng”, ảnh hƣởng tới chất lƣợng, hiệu quả giải quyết vụ án.
Nghiên cứu kinh nghiệm của các nƣớc cho thấy nhiều nƣớc đang áp dụng mô hình
đào tạo chung nghiệp vụ xét xử, nghiệp vụ kiểm sát, nghề luật sƣ, tiêu biểu là các
quốc gia tiên tiến trong hệ thống pháp luật châu âu lục địa nhƣ Công hòa Liên Bang
Đức, Cộng hòa Pháp, Nhật Bản.
3.2.2.2. Đảm bảo chất lượng công tác bồi dưỡng, tập huấn về nghiệp vụ, kỹ
năng áp dụng pháp luật trong hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án hình sự
Tổ chức có chất lƣợng các đợt tập huấn, bồi dƣỡng nghiệp vụ kiểm sát điều
tra các vụ án hình sự, các chuyên đề cập nhật kiến thức pháp luật, chủ trƣơng,
nhiệm vụ của ngành kiểm sát
Đây là hoạt động phải đƣợc tổ chức định kỳ cũng nhƣ đột xuất theo chuyên
đề và yêu cầu công tác của ngành kiểm sát.
Cho dù hệ thống pháp luật có hoàn thiện đến đâu nhƣng nếu thiếu công tác tổ
chức bồi dƣỡng, tập huấn về nghiệp vụ, kỹ năng thực hành cho đội ngũ kiểm sát
viên thì cũng chƣa thể đảm bảo chất lƣợng của áp dụng về kiểm sát điều tra vụ án
hình sự và thực hành quyền công tố. Bởi vì từ những quy định pháp luật trên văn
bản đến những tác nghiệp hàng ngày trong các vụ án cụ thể, phải liên quan đến
nhiều mối quan hệ, áp lực công tác, đòi hỏi ở ngƣời cán bộ kiểm sát sự nhận thức
đúng đắn, đầy đủ các điều luật cần áp dụng và các kỹ năng cần thiết đối với từng
loại công việc cần áp dụng pháp luật để thực hiện chức năng kiểm sát.
Công việc áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án hình sự mà
ngƣời kiểm sát viên phải thi hành rất phức tạp, khó khăn cho nên phải đặc biệt quan
tâm đến trình độ, năng lực và ký năng nghề nghiệp, chất lƣợng cán bộ phải tốt hơn và
phải đƣợc đào tạo, bồi dƣỡng thƣờng xuyên, cập nhật kiến thức, đề cao kỷ cƣơng, kỷ
luật công vụ, đúc rút kinh nghiệm, khắc phục sai sót trong hoạt động nghiệp vụ. Bởi
lẽ, mỗi một sai sót của ngƣời kiểm sát viên đều dẫn đến tác đông tiêu cực, ảnh hƣởng

đến quyền, lợi ích, danh dự của con ngƣời, uy tín của nền tƣ pháp.

96


VKS các cấp định kỳ tổ chức kiểm tra, đánh giá, thu thập ý kiến, chia sẻ kinh
nghiệm áp dụng pháp luật của kiểm sát viên về kiểm sát điều tra các vụ án hình sự
Chú trọng bồi dƣỡng nghiệp vụ, đặc biệt là các kỹ năng của kiểm sát viên
nhƣ: kỹ năng kiểm sát điều tra vụ án hình sự, kỹ năng viết báo cáo án; kỹ năng xét
hỏi, luận tội; kỹ năng đối đáp, tranh luận tại phiên tòa.
Lãnh đạo VKS cần quan tâm đến việc bồi dƣỡng nâng cao trình độ chuyên
môn, kỹ năng nghề nghiệp, tháo gỡ những vƣớng mắc trong công việc của kiểm sát
viên, phân công việc phù hợp năng lực cán bộ và tính chất đặc điểm của các trƣờng
hợp cụ thể.
Việc nắm vững, nhận thức đầy đủ, đúng đắn các quy định pháp luật cần áp
dụng trong hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án hình sự không những cần thiết cho
công việc nghiệp vụ trong từng vụ án cụ thể mà còn góp phần hoàn thiện các quy
định pháp luật về nội dung và về thủ tục tố tụng hình sự. Thực tiễn áp dụng pháp
luật của các kiểm sát viên trong kiểm sát điều tra các vụ án hình sự cũng chính là
một nguồn thực tiễn quan trọng để cho các nhà lập pháp xem xét, sửa đổi, bổ sung,
hoàn thiện pháp luật hình sự. Hoạt động KSĐT các vụ án hình sự là một giai đoạn
quan trọng và cũng rất khó khăn, phức tạp. Điều đó đòi hỏi ngƣời cán bộ, kiểm sát
viên phải có chuyên môn nghiệp vụ vững vàng để có thể đề xuất, quyết định, áp
dụng pháp luật đúng đắn, chủ động, linh hoạt, sáng tạo.
3.2.3. Nhóm giải pháp về giáo dục đạo đức, giáo dục quyền con người cho
đội ngũ kiểm sát viên, xây dựng văn hóa pháp luật kiểm sát viên
3.2.3.1. Giáo dục đạo đức, xây dựng bản lĩnh đạo đức nghề nghiệp của đội
ngũ kiểm sát viên
Để cho việc áp dụng pháp luật có chất lƣợng, đúng pháp luật, bảo vệ đƣợc
quyền con ngƣời, không bỏ lọt tội phạm và không làm oan, sai cho con ngƣời thì một

điều kiện cần thiết cùng với điều kiện về trình độ, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ
đó là phẩm chất đạo đức nhân văn của ngƣời kiểm sát viên. Do vậy, công tác giáo dục
đạo đức, xây dựng bản lĩnh nghề nghiệp và văn hóa pháp luật của đội ngũ kiểm sát
viên có tầm quan trọng đặc biệt, vừa cấp bách vừa là nhiệm vụ thƣờng xuyên.

97


Đạo đức nghề nghiệp của kiểm sát viên là một loại hình đạo đức đƣợc hình
thành và phát triển gắn liền với hoạt động nghề nghiệp của kiểm sát viên, vừa hội tụ
những phẩm chất đạo đức của con ngƣời, của ngƣời cán bộ nhà nƣớc nói chung và
đạo đức nghề nghiệp của ngƣời kiểm sát viên. Nghĩa là ngƣời kiểm sát viên không
chỉ tự mình tu dƣỡng đạo đức, giữa vững đạo đức của con ngƣời mà còn phải biết
vận dụng các phạm trù đạo đức vào trong việc áp dụng pháp luật về kiểm sát điều
tra các vụ án hình sự. Biểu hiện tập trung, sâu sắc và đầy đủ nhất của phẩm chất đạo
đức của kiểm sát viên là ở phƣơng châm của ngƣời cán bộ ngành kiểm sát mà Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn ngƣời cán bộ ngành kiểm sát: “Công minh, chính trực,
khách quan, thận trọng, khiêm tốn”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: "cán bộ là cái gốc của mọi công việc", "công
việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém". Ngƣời cán bộ kiểm sát
phải có cái tâm trong sáng, tinh thông nghiệp vụ, nhìn nhận, đánh giá sự việc một
cách chính xác, khách quan; phải rèn cho mình phƣơng pháp làm việc khoa học, cẩn
trọng, khiêm tốn vì mỗi một quyết định của họ đều có liên quan đến quyền, lợi ích
của con ngƣời, của nhà nƣớc và xã hội.
- Giáo dục, rèn luyện bản lĩnh chính trị của ngƣời kiểm sát viên trong việc
đấu tranh phòng chống tham nhũng
Vừa qua, Quốc hội quyết định giao cho Cơ quan điều tra của ngành kiểm sát
nhân dân chuyên trách điều tra tội phạm tham nhũng trong lĩnh vực tƣ pháp. Ðây là
một nhiệm vụ quan trọng và cũng là thách thức rất lớn đối với ngành kiểm sát, bởi
lẽ ngƣời phạm tội trong lĩnh vực này thƣờng đã từng là cán bộ tƣ pháp, đƣợc đào

tạo bài bản về pháp luật nên rất biết cách che giấu tội phạm. Ngành kiểm sát phải
khẩn trƣơng chuẩn bị mọi điều kiện về tổ chức bộ máy, cán bộ, bảo đảm để thực
hiện tốt nhiệm vụ quan trọng này.
Nghề nghiệp kiểm sát viên là một trong những loại hình của nghề luật đòi
hỏi phải đáp ứng những yêu cầu, tiêu chuẩn nhất định theo quy định pháp luật và
đạo đức nghề nghiệp nhằm thực hiện tốt các chức năng hiến định – thực hành quyền
công tố và kiểm sát các hoạt động tƣ pháp.

98


3.2.3.2. Giáo dục quyền con người cho đội ngũ kiểm sát viên, xây dựng văn
hóa pháp luật kiểm sát viên
- Giáo dục quyền con ngƣời cho đội ngũ kiểm sát viên – điều kiện góp
phần đảm bảo chất lƣợng áp dụng pháp luật trong hoạt động kiểm sát điều tra các
vụ án hình sự.
Do tính chất, yêu cầu của công việc của kiểm sát viên về áp dụng pháp luật
trong hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án hình sự có liên quan đến bảo vệ quyền
con ngƣời, quyền công dân cho nên họ cần có hiểu biết cơ bản về quyền con ngƣời và
những yêu cầu, kỹ năng tác nghiệp để bảo vệ quyền con ngƣời. Do vậy hiệu quả giáo
dục đạo đức, bồi dƣỡng nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn nghiệp vụ chỉ thực
sự đảm bảo khi kết hợp với công tác giáo dục quyền con ngƣời cho kiểm sát viên.
Mục đích quan trọng nhất của giáo dục quyền con ngƣời là trang bị những
kiến thức cơ bản, xây dựng ý thức tôn trọng, bảo vệ và những kỹ năng sử dụng
quyền con ngƣời của bản thân mỗi ngƣời và của những ngƣời khác.
Con ngƣời càng hiểu biết nhiều về các quyền của chính mình thì
càng tôn trọng các quyền của những ngƣời khác và nhƣ vậy càng có cơ
hội chung sống hoà bình. Chỉ khi nào ngƣời dân đƣợc giáo dục về quyền
con ngƣời thì lúc đó chúng ta mới có thể hy vọng ngăn chặn những hành
vi vi phạm quyền con ngƣời cũng nhƣ ngăn chặn xung đột.

- Xây dựng văn hóa pháp luật của kiểm sát viên
Văn hoá pháp luật là hệ thống các yếu tố, các giá trị vật chất và tinh thần
thuộc lĩnh vực tác động của pháp luật đƣợc thể hiện trong ý thức và hành vi của con
ngƣời. Văn hóa pháp luật của kiểm sát viên thể hiện ở sự tôn trọng, tuân thủ pháp
luật, tôn trọng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con ngƣời, sự công tâm, thái
độ đúng mực, lịch sự, ý thức trách nhiệm, chia sẻ trong giải quyết công việc. Văn
hóa pháp luật của kiểm sát viên.
Cần xây dựng quy tắc ứng xử nghề nghiệp của kiểm sát viên, giữa kiểm sát
viên và điều tra viên. Theo pháp luật, điều tra viên là đối tƣợng phải chấp hành các
yêu cầu điều tra của kiểm sát viên. Kiểm sát viên cần có thái độ đúng mực, có bản

99


lĩnh đồng thời có ứng xử lịch sự, thân thiện, trao đổi với điều tra viên về những
vấn đề mà mình yêu cầu, trƣờng hợp những vấn đề mà kiểm sát viên yêu cầu điều
tra nhƣng điều tra viên không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện đƣợc
thì kiểm sát viên và điều tra viên cần phối hợp để cân nhắc kỹ. Trƣờng hợp cả hai
không thể thống nhất đƣợc thì báo lên cấp trên để xem xét xử lý.
3.2.4. Nhóm giải pháp về tăng cường trách nhiệm lãnh đạo của các tổ
chức đảng, giám sát nhà nước và xã hội đối với hoạt động áp dụng pháp luật của
viện kiểm sát về kiểm sát điều tra các vụ án hình sự
3.2.4.1. Tăng cường trách nhiệm lãnh đạo của các tổ chức đảng đối với hoạt
động áp dụng pháp luật về kiểm sát điều tra các vụ án hình sự của viện kiểm sát
nhân dân
Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng là một trong những nguyên tắc cơ bản trong
tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nƣớc nói chung, đối với ngành kiểm sát nói
riêng. Hiến pháp đã xác định nguyên tắc, vai trò và trách nhiệm lãnh đạo của Đảng.
Liên hệ vào áp dụng pháp luật của viện kiểm sát trong hoạt động áp dụng
pháp luật của viện kiểm sát về kiểm sát điều tra các vụ án hình sự, cần xác định

đúng trách nhiệm của các cấp ủy đảng và mỗi cán bộ đảng viên về đảm bảo chất
lƣợng ADPL, đúng pháp luật, đúng ngƣời, đúng tội.
3.2.4.2. Kiểm tra, giám sát của các cơ quan Nhà nước và các tổ chức xã hội
đối với hoạt động áp dụng pháp luật về kiểm sát điều tra các vụ án hình sự của viện
kiểm sát nhân dân
Tăng cƣờng vai trò kiểm tra, giám sát của các cơ quan dân chủ, Mặt trận Tổ
quốc Việt nam và các tổ chức chính trị xã hội và của nhân dân đối với đối với hoạt
động của VKS và của các kiểm sát viên.
Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 đã quy định cơ chế kiểm soát
trở lại của cơ quan điều tra, tòa án, cơ quan thi hành án và các cơ quan khác có thẩm
quyền trong hoạt động tƣ pháp đối với việc thực hiện chức năng thực hành quyền
công tố, kiểm sát hoạt động tƣ pháp của VKSND. Đây là việc thể chế hóa tƣ tƣởng
kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp năm 2013, quy định rõ các thiết chế giám sát

100


bằng hình thức dân chủ đại diện gồm có Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đại
biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân
dân; quy định cơ chế giám sát thông qua dân chủ trực tiếp và các tổ chức chính trị xã hội. Thông qua các phƣơng thức kiểm tra, giám sát nhà nƣớc và xã hội đối với
hoạt động của VKS nói chung, áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra vụ án hình
sự nói riêng để đảm bảo tính có căn cứ, tính hợp pháp của hoạt động này, phòng
ngừa sai sót và mọi hành vi vi phạm pháp luật, góp phần xây dựng nền tƣ pháp
nƣớc ta thực sự trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý,
phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
3.2.5. Nhóm giải pháp về xây dựng và thực hiện chính sách, chế độ tuyển
dụng, sử dụng, quản lý, khen thưởng, kỷ luật, đảm bảo cơ sở vật chất, kỹ thuật
cho hoạt động của viện kiểm sát
3.2.5.1. Xây dựng và thực hiện chính sách, chế độ tuyển dụng, sử dụng, quản
lý, khen thưởng, kỷ luật

Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/ 6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lƣợc
cải cách tƣ pháp đến năm 2020 và Kế hoạch số 05-KH/CCTP của Ban chỉ đạo cải cách
tƣ pháp trung ƣơng về triển khai thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW đã chỉ rõ
nhiệm vụ chính của VKSND từ nay đến năm 2020 là tập trung làm tốt chức năng
công tố và kiểm sát các hoạt động tƣ pháp, tiếp tục hoàn thành các nhiệm vụ mà
Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị đề ra là: VKS các cấp thực hiện tốt chức
năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động
tƣ pháp. Hoạt động công tố phải đƣợc thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong
suốt quá trình tố tụng nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và ngƣời phạm tội,
không làm oan ngƣời vô tội. Nâng cao chất lƣợng công tố của kiểm sát viên tại
phiên tòa, bảo đảm tranh tụng với luật sƣ, ngƣời bào chữa và những ngƣời tham gia
tố tụng khác. Để thực hiện nhiệm vụ này, từ nay đến năm 2020, VKSND các cấp
phải tiếp tục đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ của VKSND các cấp theo lộ
trình cải cách tƣ pháp. Các nội dung cụ thể là:
Kiện toàn tổ chức bộ máy các đơn vị thực hành quyền công tố và kiểm sát

101


hoạt động tƣ pháp ở VKSND các cấp, đảm bảo thống nhất, đồng bộ và hiệu quả
trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ. Theo đó, thành lập mới một số đơn vị
chức năng cấp vụ trực thuộc VKSND tối cao, đó là:
Thành lập mới Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án tham
nhũng theo quy định của Luật phòng, chống tham nhũng: Việc thành lập đơn vị này
là nhằm đáp ứng yêu cầu công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng hiện nay.
Mặt khác, đảm bảo sự đồng bộ với tổ chức của các cơ quan khác đƣợc giao nhiệm vụ
đấu tranh phòng chống tham nhũng ở nƣớc ta hiện nay.
Thành lập mới Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án ma túy
trên cơ sở tách ra từ Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án an
ninh, ma túy. Việc thành lập đơn vị này là nhằm phù hợp với yêu cầu đấu tranh

phòng, chống tội phạm ma túy và đảm bảo sự đồng bộ với tổ chức CQĐT của Bộ
Công an theo quy định của Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004.
Thành lập mới Vụ hợp tác quốc tế. Việc thành lập đơn vị này xuất phát từ
tình hình thực tiễn là năng lực tham gia giải quyết các vụ án có yếu tố nƣớc ngoài
của các cơ quan tƣ pháp nói chung và của VKSND nói riêng còn rất hạn chế, nhất là
trong điều kiện giao lƣu quốc tế của nƣớc ta hiện nay và những năm tiếp theo. Đơn
vị này ngoài việc thực hiện chức năng tham mƣu, quản lý về hoạt động đối ngoại và
hợp tác quốc tế của ngành Kiểm sát nhân dân thì còn có nhiệm vụ nghiên cứu, tham
mƣu để cùng với các đơn vị chức năng của Việt Nam nhƣ Bộ Công an, Tòa án nhân
dân tối cao, Bộ Tƣ pháp, Bộ Ngoại giao và phối hợp với cơ quan tƣ pháp của nƣớc
ngoài trong việc tăng cƣờng năng lực giải quyết các vụ án có yếu tố nƣớc ngoài
trong điều kiện đất nƣớc mở rộng giao lƣu và hội nhập quốc tế.
Thành lập mới Vụ thi đua khen thƣởng của ngành Kiểm sát nhân dân. Đơn vị
này có chức năng tham mƣu, quản lý về công tác thi đua khen thƣởng trong ngành
Kiểm sát nhân dân. Việc tăng cƣờng công tác thi đua khen thƣởng trong giai đoạn
hiện nay là cần thiết nhằm động viên cán bộ, công chức trong ngành thực hiện tốt
công tác chuyên môn nghiệp vụ nhất là trong điều kiện cải cách tƣ pháp hiện nay.
Trên cơ sở thành lập mới một số đơn vị trực thuộc VKSND tối cao, cũng cần

102


xem xét, lựa chọn để triển khai thành lập đơn vị tƣơng ứng ở cấp dƣới của VKSND
các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng. Theo đó, ở VKSND cấp tỉnh có thể thành
lập thêm hai phòng nghiệp vụ là: Phòng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử
sơ thẩm án tham nhũng và Phòng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ
thẩm án ma túy.
Tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm sát trong sạch, vững mạnh. Nâng cao
chất lƣợng công tác tuyển chọn, qui hoạch, đào tạo, bồi dƣỡng chuyên môn, nghiệp
vụ cho đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu cải cách tƣ pháp. Tiếp tục thực hiện công

tác luân chuyển, điều động cán bộ theo chủ trƣơng của Đảng, tăng cƣờng kiểm sát
viên có năng lực cho VKSND các địa phƣơng. Đồng thời, tiếp tục nghiên cứu, hoàn
thiện phƣơng án thi tuyển để chọn ngƣời bổ nhiệm vào chức danh kiểm sát viên;
nghiên cứu phƣơng án tăng thời hạn bổ nhiệm hoặc bổ nhiệm không thời hạn đối
với chức danh kiểm sát viên, điều tra viên của VKSND; nghiên cứu đề án đổi mới
chính sách tiền lƣơng, chế độ đãi ngộ đối với cán bộ ngành Kiểm sát nhân dân theo
lộ trình chung.
Đổi mới chƣơng trình đào tạo, bồi dƣỡng công tố viên đáp ứng yêu cầu thực
hiện chức năng, nhiệm vụ của Viện công tố trong tiến trình cải cách tƣ pháp và hội
nhập quốc tế. Đào tạo, bồi dƣỡng kiến thức và nâng cao năng lực điều tra, kỹ năng
công tố, trình độ ngoại ngữ và tin học. Công tố viên trong thời gian tới phải đƣợc
đào tạo và bồi dƣỡng chuyên sâu về nghiệp vụ điều tra tội phạm mới có thể hoàn
thành nhiệm vụ công tố chỉ đạo điều tra, tăng cƣờng tranh tụng tại phiên tòa.
Nghiên cứu đổi mới các cơ sở đào tạo, bồi dƣỡng công tố viên đủ năng lực
để giảng dạy và nghiên cứu về kỹ năng công tố, phƣơng pháp điều tra tội hạm,
thống kê hình sự và nghiên cứu tội phạm học.
Nghiên cứu đổi mới chính sách tiền lƣơng và chế độ đãi ngộ cho ngũ cán bộ,
công tố viên. Lƣơng và chế độ đãi ngộ phải phù hợp với đặc thù của hoạt động công
tố và trong bối cảnh chung của sự phát triển kinh tế, có tính đến khả năng phát triển
kinh tế của từng địa phƣơng. Nghiên cứu cơ chế khen thƣởng bổ nhiệm trƣớc thời
hạn đối với công tố viên có sáng kiến, có thành tích xuất sắc trong công tác.

103


3.2.5.2. Đảm bảo cơ sở vật chất, kỹ thuật cho hoạt động của viện kiểm sát
Tiếp tục, tăng cƣờng cơ sở vật chất, kinh phí, phƣơng tiện, kỹ thuật cho VKS
trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm hình sự. Nhƣ: về trụ sở làm việc; Về
kinh phí đấu tranh phòng chống tội phạm là loại kinh phí đặc thù, cần đƣợc nghiên
cứu bổ sung nhằm có đủ kinh phí để bảo đảm vừa đấu tranh vừa phòng chống tội

phạm có hiệu quả; Về phƣơng tiện, trang thiết bị phục vụ cho công tác phát hiện,
điều tra, xử lý, phòng ngừa tội phạm phải bảo đảm đồng bộ, văn minh, hiện đại để
đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới.

104


KẾT LUẬN CHƢƠNG 3
Nội dung chƣơng 3 tập trung phân tích các quan điểm cơ bản và giải pháp
đảm bảo chất lƣợng áp dụng pháp luật trong hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án
hình sự của các VKSND cả nƣớc nói chung, ở thành phố Hải phòng nói riêng.
Cách tiếp cận của tác giả là đặt vấn đề áp dụng pháp luật trong hoạt động
kiểm sát điều tra các vụ án hình sự trong điều kiện triển khai thi hành Hiến pháp
2013, tiếp tục cải cách tƣ pháp, sửa đổi bổ sung BLHS, BLTTHS. Từ đó tác giả lý
giải về các quan điểm, giải pháp đƣợc đề xuất. Tiêu biểu là các quan điểm, giải
pháp cơ bản sau:
Áp dụng pháp luật trong hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án hình sự đáp
ứng yêu cầu thực hiện Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân,
chiến lƣợc cải cách tƣ pháp, bảo vệ quyền con ngƣời, quyền công dân; đảm bảo
tuân thủ các nguyên tắc tƣ pháp dân chủ, pháp quyền đã đƣợc Hiến pháp quy định,
bảo đảm mọi quyết định của các cơ quan tố tụng có căn cứ và đúng pháp luật.
Tiêu biểu về các giải pháp cơ bản: về hoàn thiện pháp luật hình sự, Sửa đổi,
bổ sung Bộ luật tố tụng hình sự; giải pháp về đào tạo, bồi dƣỡng kiến thức chuyên
môn, kỹ năng nghề nghiệp cho đội ngũ kiểm sát viên về áp dụng pháp luật trong
hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án hình sự.

105


KẾT LUẬN LUẬN VĂN

Trên cơ sở tham khảo các nguồn tƣ liệu khoa học, thực tiễn và với kinh
nghiệm công tác của bản thân, tác giả luận văn đã nghiên cứu đề tài “Áp dụng pháp
luật trong hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án hình sự, qua thực tiễn của Viện
kiểm sát nhân dân thành phố Hải phòng”.
Từ góc độ của chuyên ngành đào tạo thạc sỹ luật học Lý luận và lịch sử nhà
nƣớc và pháp luật, tác giả đã phân tích cơ sở lý luận của áp dụng pháp luật trong
hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án hình sự, thực trạng ở VKSND thành phố Hải
phòng về các kết quả, ƣu điểm cùng một số hạn chế.
Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn địa phƣơng cũng nhƣ thực tiễn
của ngành kiểm sát ở một số địa phƣơng khác của đất nƣớc, tác giả đã đề xuất có lý
giải cơ sở về các quan điểm, giải pháp cơ bản đảm bảo chất lƣợng áp dụng pháp luật
trong hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án hình sự của VKSND ở nƣớc ta nói
chung, đối với ngành kiểm sát thành phố Hải phòng nói riêng.
Theo đó, tác giả đã phân tích nội dung các quan điểm, giải pháp để đáp ứng
yêu cầu thực tiễn: triển khai thi hành Hiến pháp 2013, tiếp tục cải cách tƣ pháp, sửa
đổi bổ sung BLHS, BLTTHS, xây dựng nền tƣ pháp dân chủ, pháp quyền, bảo vệ
quyền con ngƣời, quyền công dân.
Luận văn có giá trị tham khảo trong nghiên cứu lý luận và hoạt động thực
tiễn. Xin đƣợc trân trọng giới thiệu luận văn với tất cả sự khiêm tốn, cầu thị, học
hỏi, chia sẻ kinh nghiệm và góp ý để hoàn thiện.

106


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.

Lê Cảm (2001), “Nhƣ̃ng vấ n đề lý luâ ̣n về chế đinh
̣ quyề n công tố ” Báo cáo ta ̣i

hô ̣i nghi ̣khoa ho ̣c “Tổ chức và hoạt động của Viê ̣n kiể m sáttrong tình hình mới”
do Ủy ban pháp luâ ̣t của Quố c hô ̣i tổ chƣ́c(T.p Hồ Chí Minh, ngày 2/4/2001).

2.

Lê Cảm (2004), “Một số vấn đề lý luận chung về các giai đoạn tố tụng”, Tạp chí, (2).

3.

Nguyễn Ngọc Chí (2011), “Cơ chế kiểm tra, giám sát trong hoạt động tố tụng
hình sự Việt nam – thực trạng và phƣơng hƣớng hoàn thiện”, Tạp chí Khoa
học, Đại học Quốc gia Hà nội, Chuyên san, Luật học, tập 27, (2), tr.114.

4.

Nguyễn Ngọc Chí (chủ biên) (2014), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt nam,
Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

5.

Nguyễn Sỹ Dũng (2010), “Việc tổ chức thực hiện pháp luật trong bối cảnh xây
dựng nhà nƣớc pháp quyền ở nƣớc ta”, Nghiên cứu lập pháp, (10).

6.

Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của
Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội.

7.


Trần Văn Độ (1999), "Một số vấn đề về quyền công tố", Kỷ yếu đề tài cấp bộ:
Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực tiễn hoạt động công tố ở Việt
Nam từ 1945 đến nay, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội.

8.

Nguyễn Minh Đoan (2009), Thực hiện pháp luật và áp dụng pháp luật ở Việt
Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

9.

Đỗ Văn Đƣơng (1999), "Khái niệm, đối tƣợng, phạm vi, nội dung quyền công
tố", Kỷ yếu đề tài cấp bộ: Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực tiễn
hoạt động công tố ở Việt Nam từ 1945 đến nay, Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, Hà Nội.

10. Đỗ Văn Đƣơng (2013), “Một số ý kiến về tổ chức và hoạt động điều tra ở Việt
Nam”, Tạp chí Kiểm sát, (13), tr. 25.
11. Phạm Hồng Hải (1999), "Bàn về quyền công tố", Kỷ yếu đề tài cấp bộ: Những
vấn đề lý luận về quyền công tố và thực tiễn hoạt động công tố ở Việt Nam từ
1945 đến nay, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội.

107


12. Lê Thị Tuyết Hoa (2014), “Thực trạng và một số kiến nghị nhắm tăng cƣờng
trách nhiệm công tố trong hoạt động kiểm sát điều tra, gắn công tố với hoạt
động điều tra”, Tạp chí kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
13. Nguyễn Viết Hoạt (2007), “Bản chất của hoạt động điều tra trong tố tụng hình
sự”, Tạp chí Khoa học pháp lý, (3).

14. Học viện An ninh nhân dân (1999), Giáo trình Điều tra hình sự, Nxb Công an
nhân dân, Hà Nội.
15. Khoa học pháp lý, Bộ Tƣ pháp (2008), “Vai trò của thực tiễn xét xử trong việc
hoàn thiện và áp dụng thống nhất pháp luật”, Chuyên đề, (8), tr.58- 59.
16. Nguyễn Văn Mạnh (chủ biên) (2009), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về
thực hiện pháp luật, tr. 8 – 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
17. Trần Công Phàn (2011), “Công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt
động tƣ pháp của Viện kiểm sát nhân dân trong tình hình mới và một số vấn đề
về tăng cƣờng sự Lãnh đạo của Đảng đối với công tác đấu tranh phòng chống
tội phạm”, Tạp chí Kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
18. Nguyễn Thái Phúc (2012), “Chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân
và những vấn đề đặt ra đối với việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992”,
Tạp chí Kiểm sát, (13).
19. Nguyễn Văn Quảng (2014), “Nâng cao chất lƣợng công tác quản lý chỉ đạo
điều hành, công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra”, Tạp chí
kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
20. Hoàng Thị Kim Quế (2015), “Thực hiện pháp luật của cá nhân, công dân trong
bối cảnh xây dựng nhà nƣớc pháp quyền ở nƣớc ta hiện nay”, Tạp chí Luật
học, tr.44.
21. Hoàng Thị Kim Quế (chủ biên) (2005), Giáo trình Lý luận chung về nhà nước
và pháp luật, tr.493, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội.
22. Quốc hội (2003), Bộ luật tố tụng hình sự, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
23. Quốc hội (2014), Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật số 63/2014/QH
13, ngày 24,tháng 11 năm 2014, Hà Nội.

108


×