Tải bản đầy đủ (.docx) (32 trang)

PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP Ở CÔNG TY TU TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NHÀ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (209.95 KB, 32 trang )

Luận văn tốt nghiệp
phơng hớng hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm xây lắp ở Công ty
Tu tạo và phát triển nhà
3.1. Tính tất yếu của việc hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm trong các Doanh nghiệp xây lắp.
3.1.1. Vị trí vai trò của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
trong các Doanh nghiệp xây lắp.
Từ ngày chuyển sang nền kinh tế thị trờng, cơ chế quản lý kinh tế tài chính có
nhiều chuyển biến đòi hỏi các công cụ quản lý kinh tế nói chung và kế toán nói riêng
phải cải tiến để đáp ứng đợc yêu cầu của cơ chế mới.
Tổ chức kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp giữ một vị trí quan
trọng trong công tác kế toán ở các Doanh nghiệp xây lắp. Nó cung cấp tài liệu chi phí
kinh doanh và giá thành sản phẩm để tiến hành phân tích, đánh giá tình hình thực hiện
các định mức vật t, lao động, tình hình thực hiện các dự toán chi phí. Từ đó tăng cờng
các biện pháp kiểm tra, quản lý chặt chẽ các chi phí xây lắp một cách kịp thời, nhằm
nâng cao hiệu quả kinh doanh. Vì vậy, tổ chức kế toán chi phí và tính giá thành sản
phẩm xây lắp luôn là mục tiêu của nhà quản lý kinh tế.
Hơn thế nữa, việc tính đúng, tính đủ chi phí sản xuất vào giá thành có nghĩa là
thực hiện tốt công tác hạch toán chi phí và tính giá thành sản phẩm khi đó công cụ kế
toán mới phát huy tác dụng đối với sản xuất kinh doanh của các Doanh nghiệp.
Riêng đối với ngành xây dựng cơ bản thì việc hạch toán đúng và đủ chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm càng trở nên quan trọng và có tính quyết định bởi sự
tác động của những đặc điểm khác nhau của công tác xây dựng, của nhu cầu xây
dựng... Thông qua công tác xây lắp ta có thể xác định hiệu quả của quá trình sản xuất
kinh doanh, thúc đẩy sự sáng tạo tìm tòi của các nhà quản lý để tìm ra các phơng án
giải quyết có hiệu quả . Việc phấn đấu hạ giá thành sản phẩm là một nhiệm vụ quan
trọng trong công tác xây lắp nhằm tăng mức lãi, giải quyết tốt mối quan hệ ba lợi ích:
Nhà nớc, Doanh nghiệp và ngời lao động. Bên cạnh đó, giá thành công tác xây lắp
phản ánh mặt chất lợng xây dựng của Doanh nghiệp nhờ trình độ kỹ thuật thi công,
trình độ tổ chức sản xuất thi công, tình hình sử dụng lao động, vật liệu thiết bị, khả


năng sử dụng vốn đợc đầu t trong công tác xây lắp, kiểm tra việc chấp hành chế độ
chính sách của Nhà nớc tại Doanh nghiệp. Từ đó có thể đổi mới chế độ chính sách của
nhà nớc cho phù hợp. Do đó, việc tổ chức đúng đắn quá trình kế toán chi phí và tính
giá thành sản phẩm xây lắp trong các doanh nghiệp xây lắp là một yêu cầu bức xúc
hiện nay.
1
1
Luận văn tốt nghiệp
3.1.2. Sự cần thiết và yêu cầu của việc hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm trong các Doanh nghiệp xây lắp.
3.1.2.1. Sự cần thiết của sự hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm trong các Doanh nghiệp xây lắp.
Để tồn tại lâu dài, Doanh nghiệp luôn tìm mọi biện pháp để khẳng định vị trí
của mình trong nền kinh tế. Đây là vấn đề bao trùm và xuyên suốt mọi hoạt động sản
xuất kinh doanh của Doanh nghiệp. Giải quyết vấn đề trên phụ thuộc rất nhiều vào
hiệu quả sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp. Vấn đề hiệu quả ở đây đợc hiểu là
với một lợng đầu vào cố định Doanh nghiệp phải tạo đợc kết quả đầu ra có lợi nhuận
tối đa. Để thực hiện đợc mục tiêu này, ngoài việc tiết kiệm chi phí, Doanh nghiệp phải
tổ chức phối hợp chúng với nhau một cách khoa học. Đó là biện pháp tối u nhất để
các Doanh nghiệp đạt đợc mục tiêu cơ bản của mình là lợi nhuận, vị thế và uy tín khi
tham gia vào thị trờng.
Tuy nhiên, để quá trình sản xuất diễn ra một cách thuận lợi từ khâu lập dự toán
đến việc tổ chức thực hiện quản trị Doanh nghiệp, Doanh nghiệp luôn phải thu thập
những thông tin về tình hình chi phí cùng với kết quả của hoạt động sản xuất kinh
doanh. Từ đó đề ra biện pháp không ngừng giảm bớt những khoản chi phí không cần
thiết, khai thác tiềm năng vốn có của Doanh nghiệp mình. Những thông tin kinh tế đó
không chỉ đợc xác định bằng phơng pháp trực quan căn cứ vào hình thái vật chất của
nó, mà còn bằng phơng pháp ghi chép tính toán dựa trên sự phản ánh chi phí thực tế
trên sổ sách. Xét trên góc độ này, kế toán nói chung và kế toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm với chức năng cơ bản là cung cấp thông tin cho quản lý đã

khẳng định vai trò không thể thiếu đối với việc tăng cờng quản trị Doanh nghiệp.
Nh vậy, có thể khẳng định rằng chất lợng của thông tin kế toán có ảnh hởng
không nhỏ đến tính chính xác của những phản ứng của các nhà quản trị với những
thông tin này. Hơn thế nữa, trên thực tế, công tác hạch toán kế toán ở các Doanh
nghiệp luôn tồn tại những điểm không phù hợp gây khó khăn cho công tác quản lý
của các Doanh nghiệp nói riêng và các cơ quan chức năng nhà nớc nói chung.
Vì vậy, vấn đề hoàn thiện hệ thống kế toán nói chung và hoàn thiện kế toán chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nói riêng là yêu cầu, nhiệm vụ khách quan và
có ý nghĩa chiến lợc trong sự phát triển của Doanh nghiệp.
3.1.2.2. Yêu cầu của việc hoàn thiện.
Hạch toán kế toán với bản chất là một hệ thống thông tin và kiểm tra tình hình
tài sản và sự biến động của tài sản trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, là
công cụ quản lý kinh tế quan trọng của Nhà nớc và Doanh nghiệp. Cùng với sự đổi cơ
chế quản lý, việc cải tiến hoàn thiện công tác kế toán là nhu cầu tất yếu khách quan.
Nó phải đợc tiến hành thờng xuyên cùng với sự phát triển của sản xuất và sự quản lý
kinh tế. Việc hoàn thiện công tác kế toán phải đợc tiến hành cả tầm vĩ mô và vi mô
tức là phải đảm bảo các yêu cầu sau:
-Hoàn thiện kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp trên cơ sở tuân
thủ chế độ tài chính và vận dụng hợp lý hệ thống kế toán hiện hành.
2
2
Luận văn tốt nghiệp
Doanh nghiệp xây lắp là cơ sở kinh tế chịu sự quản lý vĩ mô của nhà nớc, các
chính sách chế độ tài chính kế toán đợc nhà nớc ban hành thống nhất trong toàn quốc.
Vì vậy, việc hoàn thiện kế toán nói chung, kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm xây lắp nói riêng phải dựa trên cơ sở tuân thủ chế độ tài chính kế toán. Có
nh vậy mới đảm bảo sự quản lý thống nhất của Nhà nớc. Đặc biệt, trong kế toán tài
chính, các tài khoản kế toán cấp 1 và một số tài khoản cấp 2, các nội dung chi phí và
cấu thành giá thành sản phẩm phải đảm bảo theo đúng hớng dẫn của chế độ kế toán.
Riêng về kế toán quản trị Doanh nghiệp có thể lựa chọn cho mình một mô hình hợp

lý, phù hợp với đặc điểm kinh doanh và yêu cầu quản lý cụ thể. Điều đó có nghĩa là,
về kế toán tài chính phải vận dụng hợp lý các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán đợc thừa
nhận.
-Hoàn thiện kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp phải phù với
đặc điểm và yêu cầu quản lý kinh doanh của ngành và Doanh nghiệp xây lắp.
Mỗi ngành, mỗi Doanh nghiệp xây lắp có một đặc điểm về tính chất kinh
doanh, yêu cầu quản lý, mô hình và quy trình công nghệ sản xuất kinh doanh. Để đáp
ứng yêu cầu quản lý cụ thể của từng ngành, từng Doanh nghiệp thì trong công tác tổ
chức kế toán nói chung và tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
xây lắp nói riêng cần phải có sự phù hợp với đặc điểm riêng nhất là về kế toán quản trị
chi phí và tính giá thành sản phẩm. Kế toán phải căn cứ vào tính chất của ngành kinh
doanh để xác định tính chất, nội dung chi phí phù hợp. Căn cứ vào nội dung, tính chất
chi phí và tính chất của sản phẩm cũng dựa vào quy trình sản xuất kinh doanh để xác
định đúng đắn đối tợng tập hợp chi phí, đối tợng tính giá thành và sử dụng các tài
khoản kế toán tổng hợp, tài khoản kế toán chi phí phù hợp.
-Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp phải
đáp ứng việc cung cấp thông tin về hoạt động kinh tế tài chính một cách đầy đủ, chính
xác, kịp thời.
Kế toán với chức năng phản ánh, giám đốc và tổ chức hệ thống thông tin về
hoạt động kinh tế tài chính của Doanh nghiệp giúp cho việc điều hành và quản lý
Doanh nghiệp đạt hiệu quả cao. Vì vậy, mục tiêu của việc hoàn thiện phải đáp ứng đ-
ợc yêu cầu trên. Đối với kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp,
phải căn cứ vào đặc điểm và yêu cầu quản lý cụ thể của Doanh nghiệp để xác định các
chỉ tiêu cơ bản cần quản lý. Việc mở các sổ kế toán và ghi chép hàng ngày về tình
hình chi phí phải dựa trên cơ sở khoa học, nhằm đảm bảo tập hợp và phân bố những
khoản chi phí liên quan đến từng đối tợng chịu chi phí một cách chính xác và kịp thời.
- Hoàn thiện kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp phải đáp ứng
đợc yêu cầu hiệu quả và có tính khả thi .
Bất kỳ một phơng án sản xuất kinh doanh hoặc phơng án tổ chức quản lý nào,
ngời ta đều phải tính toán đến hiệu quả và tính khả thi của nó. Vì vậy, việc hoàn thiện

kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp cần chú ý đến việc tiết kiệm chi
phí, nâng cao hiệu quả và khả năng áp dụng trong Doanh nghiệp. Để thực hiện yêu
cầu này, phơng án hoàn thiện kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp phải
đợc tính toán tỉ mỉ, thận trọng và có cơ sở khoa học, thử nghiệm thông qua các số liệu
thu thập đợc ở các Doanh nghiệp để rút đợc phơng án tối u nhất.
3
3
Luận văn tốt nghiệp
3.2. Đánh giá thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm xây lắp ở Công ty Tu tạo và Phát triển nhà
3.2.1. Ưu điểm:
Trải qua hơn 40 năm xây dựng và trởng thành, Công ty Tu tạo và Phát triển
nhà không ngừng lớn mạnh về qui mô, cơ cấu, chất lợng sản phẩm, mà cả về chiều
rộng lẫn chiều sâu. Cùng với sự nỗ lực phấn đấu cao của ban lãnh đạo và đội ngũ cán
bộ công nhân viên, Công ty đã đạt đợc nhiều thành tựu đáng khích lệ. Với hoạt động
chủ yếu là đầu t kin doanh bất động sản và xây dựng, Công ty đã tạo đợc chỗ đứng
vững chắc trên thị trờng, tạo nhiều công ăn việc làm cho nhiều lao động và đóng góp
một phần không nhỏ vào ngân sách Nhà nớc. Trên cơ sở mở rộng sản xuất bằng cách
tìm kiếm thêm nhiều đối tác, các công trình dân dụng và thực hiện nhiều loại hình
kinh doanh khác nh: kinh doanh nhà, kinh doanh các dịch vụ khách sạn, nhà đất, nhận
uỷ thác vốn thực hiện các dự án đầu t xây dựng , nhận uỷ thác quản trị kinh doanh tài
sản, cơ sở sản xuất . . . ngoài phần kế hoạch chính hàng quý, hàng năm Tổng Công ty
giao cho Công ty; khuyến khích các phòng ban, các đơn vị trực thuộc tìm thêm công
trình ngoài kế hoạch theo chức năng hành nghề trong giấy kinh doanh theo quy định.
Để có thể ký kết nhận thầu công trình Công ty thực hiện theo cơ chế đấu thầu xây lắp
ban hành theo quy định số 60-BXD/VKT ngày 30/3/1994 của Bộ trởng bộ xây dựng.
Tuỳ theo quy mô, tính chất của từng loại công trình và những điều kiện cụ thể
của từng công trình đó đối với mỗi dự án, Công ty đều lập hồ sơ dự thầu, lập ra các dự
án tối u để giành thầu công trình. Có đợc những thành tựu nh vậy là do những đóng
góp không nhỏ của hạch toán kế toán trên những khía cạnh sau:

-Về bộ máy kế toán: Là một Doanh nghiệp Nhà nớc, Công ty Tu tạo và Phát
triển nhà đợc đặt dới sự chỉ đạo của Nhà nớc và Tổng Công ty đầu t và Phát triển nhà
nhng Công ty đã chủ động xây dựng đợc một mô hình quản lý, hạch toán khoa học,
hợp lý phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trờng. Với bộ máy quản lý phù hợp,
các phòng ban chức năng của Công ty cũng nh của các Xí nghiệp trực thuộc đã phối
hợp chặt chẽ với nhau nhằm phục vụ có hiệu quả cho lãnh đạo Công ty trong việc
giám sát quá trình thi công, quản lý kinh tế.
Bộ máy kế toán đợc tổ chức tơng đối hoàn chỉnh, chặt chẽ tạo nên một hệ
thống thống nhất liên kết chặt chẽ với nhau đã góp phần đắc lực vào công tác quản lý,
giám sát tài chính của Công ty. Với đội ngũ nhân viên có trình độ kế toán cao, nhiệt
tình trong công việc lại đợc bố trí phù hợp với trình độ khả năng của mỗi ngời, tạo
điều kiện nâng cao trách nhiệm công việc đợc giao. Và một điều không thể không nói
đến là Công ty đã giao cho các Xí nghiệp trực thuộc hạch toán độc lập, điều này đã
tạo đợc tính chủ động và tinh thần trách nhiệm, đẩy nhanh tiến độ thi công công trình.
Nhờ vậy mọi chi phí phát sinh đợc tính toán, phân tích phục vụ cho công tác tính giá
thành kịp thời nhằm cung cấp thông tin cho quản lý. Bên cạnh đó kế toán Công ty đã
biết vận dụng mọi lý luận vào thực tế của Công ty một cách phù hợp.
-Về tổ chức công tác kế toán: Để bắt kịp xu thế của thời đại, với yêu cầu của
nền kinh tế thị trờng đòi hỏi kế toán phải thu nhận, xử lý, cung cấp các thông tin kinh
tế, tài chính một cách nhanh chóng, kịp thời chính xác. Trên cơ sở đó, Công ty Tu tạo
và Phát triển nhà cùng với các Xí nghiệp trực thuộc đã ứng dụng máy vi tính vào công
4
4
Luận văn tốt nghiệp
tác hạch toán kế toán. Các nhân viên sử dụng nghiệp vụ chuyên môn và kỹ thuật sử
dụng máy vi tính , sau khi nhập chứng từ ban đầu, máy vi tính sẽ đợc tự động làm việc
theo chơng trình đã đợc xây dựng trên cơ sở hạch toán và trình tự các phơng pháp kế
toán cơ bản để thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin. Với những u điểm của kỹ thuật
tin học, thực hiện kế toán trên máy vi tính đã giúp Công ty giảm đợc khối lợng công
việc ghi chép số liệu của nhân viên kế toán, đẩy nhanh đợc quá trình tính toán, xử lý

thông tin và lập các báo cáo. Đồng thời việc lu giữ, bảo quản số liệu, tài liệu kế toán
an toàn, nâng cao đợc năng suất, chất lợng công tác kế toán, giảm đợc chi phí hạch
toán.
Với đặc trng của Doanh nghiệp xây lắp, quy mô sản xuất kinh doanh lớn, Công
ty đã áp dụng loại hình kế toán phân tán phù hợp với cơ cấu tổ chức của Công ty là:có
các Xí nghiệp thành viên. Kết hợp với hình thức kế toán Nhật ký chứng từ phù hợp
với đặc thù của công tác xây lắp là: nghiệp vụ kinh tế phát sinh nhiều, sử dụng nhiều
tài khoản đã tạo nên tính đồng bộ thống nhất chặt chẽ trong tổng thể toàn Công ty.
-Về công tác hạch toán ban đầu: Từ công việc hạch toán ban đầu đến việc kiểm
tra tính hợp lý, hợp lệ của các chứng từ đợc Công ty tiến hành một cách khá cẩn thận,
đảm bảo cho số liệu hạch toán có căn cứ pháp lý, đầy đủ, chính xác theo đúng yêu cầu
của Bộ xây dựng.
-Về máy thi công: ở mỗi đơn vị trực thuộc Công ty đều cho phép tổ chức đội
máy thi công riêng đồng thời Công ty cũng cho phép các đơn vị chủ động trong việc
thuê máy thi công trong trờng hợp cần thiết. Điều này góp phần đẩy nhanh tiến độ thi
công, hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Công ty giao cho các đơn vị trực thuộc.
-Về phơng pháp tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm đợc xác
định phù hợp với đặc điểm xây lắp của Công ty. ở một chừng mực nhất định, nhìn
chung công tác tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm ở Công ty đáp ứng đợc yêu
cầu quản lý mà Công ty đã đặt ra, đảm bảo đợc sự thống nhất về phạm vi và phơng
pháp tính toán.
Công ty cho phép các Xí nghiệp tự ký kết hợp đồng kinh tế với các chủ đầu t,
tự tổ chức thi công và hạch toán, tự lo vốn... còn Công ty chỉ đóng vai trò chủ đạo,
giám sát. Điều này cũng là một u điểm giúp cho việc nâng cao tính độc lập, tự chủ và
tinh thần trách nhiệm của các chi nhánh cao hơn nhằm thu đợc hiệu quả cao trong sản
xuất kinh doanh.
Công ty chấp hành đầy đủ các chế độ chính sách do Nhà nớc quy định, ghi
chép đầy đủ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trên hệ thống sổ sách. Nhờ đó, công tác
hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Công ty đã góp phần không
nhỏ trong việc đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế cao.

Trong kinh doanh, hình thức trả lơng theo thời gian không còn phù hợp nữa do
đó Công ty đã áp dụng hình thức khoán sản phẩm. Đây là một hình thức quản lý hợp
lý tạo điều kiên đẩy nhanh tiến độ thi công công trình, tăng năng xuất lao động, tiết
kiệm vật t, tiền vốn, có tác động tích cực đến việc tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản
phẩm. Phơng pháp khoán sản phẩm trong xây dựng cơ bản tạo điều kiện gắn liền với
lợi ích vật chất của ngời lao động, với chất lợng và tiến độ thi công, xác định rõ trách
nhiệm vật chất với từng tổ, đội thi công trên cơ sở phát huy tính chủ động sáng tạo và
khả năng hiện có của Công ty.
5
5
Luận văn tốt nghiệp
Phơng thức khoán của Công ty là khoán quản tức là hình thức khoán có sự
quản lý chặt chẽ của các phòng ban từ trên xuống: Phòng kinh tế kỹ thuật, Phòng kế
hoạch, Phòng tổ chức chịu trách nhiệm quản lý về tiến độ thi công, khối lợng và chất
lơng công trình. Phòng kế toán tài vụ giám sát về mặt tài chính phối hợp với Phòng kế
hoạch lập thủ tục thanh toán với bên chủ đầu t. Các đội, tổ thi công nhận khoán gọn
chịu trách nhiệm ràng buộc trớc các cấp quản lý về chất lợng và tiến độ công trình,
đảm bảo quản lý chế độ, chính sách, thủ tục hoàn tất hồ sơ, dự toán thi công, quyết
toán công trình với Công ty và bên chủ đầu t.
Về vật t, Công ty cũng nh Xí nghiệp giao quyền chủ động cho các chủ nhiệm
công trình chịu trách nhiệm mua sắm những vật t còn thiếu khi cần thiết phải sử dụng
ngay.Vật t phải đảm bảo đúng chất lợng, đúng thủ tục hiện hành(đủ hoá đơn tài chính
và thủ tục nhập, xuất hoặc chuyển thẳng đến công trình , các hoá đơn này sẽ phải
chuyển về Xí nghiệp để kiểm tra đơn giá kê khai có đúng với giá thực tế hay không và
thực hiện việc hạch toán vật t.
Về công tác hạch toán tiền lơng, kế toán lập Bảng thanh toán tiền lơng cho
từng tổ, đội căn cứ vào Bảng khối lợng công việc và Bảng chấm công hay hợp đồng
làm khoán sau đó đến cuối tháng lên Bảng tổng hợp lơng cho từng Đội. Điều này đã
thể hiện tính khoa học và hợp lý trong công tác hạch toán chi phí nhân công của Công
ty, đảm bảo tính chính xác trong việc tính giá thành sản phẩm. Hình thức lơng khoán

sản phẩm này góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm và tăng cờng quản trị của Công
ty. Đi đôi với công tác khuyến khích tăng năng xuất lao động qua hình thức khoán
Công ty còn chú trọng đến chế độ khen thởng kịp thời nhằm động viên tinh thần lao
động của cán bộ công nhân viên, giải quyết tốt mối quan hệ giữa Công ty với ngời lao
động.
Sự phối hợp trên đây giữa các phòng ban Công ty với đội thi công luôn đảm
bảo cho việc tính giá thành đầy đủ, chính xác, đảm bảo lợi ích cho Doanh nghiệp, chủ
đầu t, Nhà nớc và ngời lao động.
Có những u điểm nh vậy là do kết quả công sức lao động của toàn thể ban
giám đóc và cán bộ công nhân viên toàn Công ty cùng với là sự cố gắng nỗ lực của hệ
thống kế toán tài vụ từ trên Công ty đến các Xí nghiệp trực thuộc đã thực hiện vai trò
hạch toán quản lý tài chính của mình.
3.2.2.Nhợc điểm.
Bên cạnh những u điểm trong công tác quản lý và hạch toán chi phí, tính giá
thành sản phẩm, ở Công ty Tu tạo và Phát triển nhà vẫn còn một số hạn chế gây ảnh
hởng không nhỏ đến giá thành sản phẩm của Doanh nghiệp nói riêng và công tác
kiểm toán của các cơ quan Nhà nớc nói chung.
- Trong kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán tính trị giá vật liệu
xuất kho theo giá thực tế đích danh. Nhng riêng đối với vật liệu mua về không nhập
kho mà chuyển thẳng đến công trình thì trị giá vật liệu tính vào chi phí nguyên vật
liệu trực tiếp chỉ là giá ghi trên hoá đơn GTGT, còn chi phí thu mua vận chuyển bốc
dỡ lại tính vào chi phí sản xuất chung (TK6277). Mặc dù chi phí này chiếm tỉ trọng
không lớn lắm trong tổng chi phí nhng dù chỉ một sự chênh lệch nhỏ thôi cũng làm
ảnh hởng đến giá thành sản phẩm, gây khó khăn cho Doanh nghiệp khi cạnh tranh
trên thơng trờng.
6
6
Luận văn tốt nghiệp
- Về chi phí nhân công, Công ty trả lơng cho các chủ nhiệm công trình theo một tỷ lệ %
theo giá nhận thầu. Thực hiện nh vậy, chất lợng công trình luôn đợc bảo đảm chất l-

ợng cao, tuy nhiên thực hiện nh vậy thờng dẫn đến lãng phí nguyên vật liệu, nhân
công..
- Khi sử dụng máy thi công thuê ngoài Công ty không hạch toán vào chi phí sử dụng
máy thi công mua ngoài mà hạch toán vào chi phí sản xuất chung.
3.2.3. Một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm xây lắp ở Công ty Tu tạo và phát triển nhà
Chức năng, nhiệm vụ của kế toán muốn thực hiện tốt thì công tác hạch toán kế
toán nói chung và công tác hạch toán chi phí và tính giá thành sản phẩm nói riêng
phải đợc hoàn thiện trên cơ sở tuân thủ chế độ kế toán hiện hành.
Do đặc điểm phần hành hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
theo chế độ kế toán mới đợc xây dựng trên mô hình công nghiệp, chịu sự chi phối của
đặc điểm sản xuất công nghiệp nên vận dụng vào Doanh nghiệp xây lắp vốn có đặc
thù riêng là không tránh khỏi những khó khăn phức tạp. Tuy nhiên, để nâng cao hiệu
quả quản lý của mình, Công ty cần tiếp tục phát huy những u điểm và tìm giải pháp
khắc phục những hạn chế nh đã nêu ở trên.
Xuất phát từ những tồn tại về kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm ở
Công ty với sự cấp thiết và những yêu cầu của việc hoàn thiện kế toán, vấn đề đặt ra
đối với Công ty là phải khắc phục những tồn tại từng bớc hoàn thiện công tác kế toán
để phù hợp với hệ thống kế toán xây lắpvà tạo điều kiện thuận lợi cho công tác kế
toán, thực hiện nhiệm vụ hạ giá thành sản phẩm. Qua thời gian thực tập tại Công ty Tu
tạo và phát triển nhà đợc sự giúp đỡ tận tình của tập thể cô, chú Phòng kế toán của
Công ty và Xí nghiệp cùng với sự hớng dẫn nhiệt tình của cô giáo Nguyễn Thị Đông
em đã đợc nghiên cứu sâu hơn về công tác kế toán nói chung và công tác tập hợp chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp nói riêng. Dới góc độ là một Sinh viên
thực tập, em mạnh dạn đa ra một số đề xuất với hy vọng trong một chừng mực nào
đó, góp phần hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm
xây lắp ở Công ty Tu tạo và phát triển nhà.
3.2.3.1.Thứ nhất:
Xác định đúng đắn giá trị thực tế của nguyên vật liệu chuyển thẳng đến công
trình, nhằm phản ánh đúng chi phí nguyên vật liệu trong sản xuất xây lắp.Vì khi chủ

nhiệm công trình cử nhân viên mua nguyên vật liệu có thể ở nhiều cửa hàng khác
nhau, điều này sẽ tạo kẽ hở cho việc tăng giá vật liệu hoặc mua vật liệu có chất lợng
kém. Do đó Xí nghiệp nên chỉ định mua tại một số cửa hàng mà đã đợc ngời trong Xí
nghiệp khảo sát giá và chất lợng nguyên vật liệu. Điều này sẽ giảm bớt chi phí sản
xuất và hạ giá thành sản phẩm.
Khi hạch toán chi phí nguyên vật liệu, đối với nguyên vật liệu mua vào chuyển
thẳng đến công trình, kế toán tính trị giá thực tế nguyên vật liệu dùng vào thi công
theo giá mua ghi trên hoá đơn còn các chi phí ở khâu mua nh vận chuyển, bốc dỡ,
Công ty hạch toán vào chi phí sản xuất chung- TK6277. Việc làm này, theo Công ty là
sẽ tiện lợi và đơn giản trong việc ghi chép tính toán của kế toán nhng nó không phản
ánh đúng trị giá thực tế nguyên vật liệu sử dụng, đồng thời không tuân thủ đúng chế
7
7
Trị giá thực tế vật tư chuyển thẳng đến công trình
Giá mua chưa có thuế GTGTChi phí vận chuyển bốc dỡ chưa có thuế GTGT
=
+
Luận văn tốt nghiệp
độ kế toán mà Bộ tài chính đã ban hành. Bởi vậy, Luận văn đề xuất Công ty tính và
phản ánh trị giá thực tế của nguyên vật liệu mua vào đúng theo chế độ kế toán hiện
hành.

VD: Theo hoá đơn GTGT số 35 ngày 04/03/2001, mua chuyển thẳng về công
trình, thanh toán bằng tiền mặt
Trị giá vật liệu cha có thuế GTGT là 5.000.000đ
Thuế GTGT 10% là 500.000đ
Chi phí vận chuyển là 220.000đ (gồm thuế GTGT 10% là 20.000đ)
Nợ TK621: 5.200.000đ
Nợ TK133: 520.000đ
Có TK111: 5.720.000đ

3.2.3.2.Thứ hai: Hoàn thiện kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
Tiết kiệm chi phí không có nghĩa là phải bớt xén nguyên vật liệu mà là giảm
bớt hao hụt và lãng phí trong sản xuất.
Trong các Doanh nghiệp xây lắp, chi phí nguyên vật liệu chiếm tỉ trọng rất lớn
trong giá thành sản phẩm xây lắp(khoảng 70-75% trị giá công trình). Tổ chức hạch
toán đúng đắn chi phí nguyên vật liệu trực tiếp sẽ đảm bảo góp phần quan trọng vào
việc tính đúng, tính đủ giá thành sản phẩm xây lắp.
- Sử dụng vật t sản xuất trong nớc thay thế vật t ngoại nhập
- Sử dụng vật t hợp lý với yêu cầu kỹ thuật.
- Xí nghiệp nên dự trữ một số vật t chứ không nên tiến hành mua vật t theo tiến độ thi
công vì điều này có nghĩa là Xí nghiệp luôn phải chấp nhận sự biến động của giá cả
vật t trên thị trờng(nhất là đối với những vật t mua bằng ngoại tệ của công ty nớc
ngoài hoặc liên doanh).Điều này có nghĩa là, Xí nghiệp sẽ phải chịu những khoản chi
phí cao hơn nhiều so với dự toán. Vì vậy khi sử dụng vật liệu trong kho cho thi công,
Xí nghiệp sẽ thực hiện thi công công trình đúng với giá thành dự toán.xác định giá dự
phải chịu những khoản chi phí cao hơn nhiều so với dự toán.
3.2.3.3.Thứ ba: Giảm bớt chi phí nhân công trực tiếp
Nh em đã trình bày ở trên, số nhân công thực hiện thi công 100% là thuê ngoài
do chủ công trình tuyển chọn do đó nhiều khi những công nhân không có tay nghề
trong xây dựng vẫn đợc lựa chọn và mức tiền công là sự thoả thuận giữa chủ nhiệm
công trình. Tuy nhiên, mức tiền công đó phải đợc sự chấp nhận của công ty. Thực hiện
nh vậy thờng dẫn đến những thoả thuận ngầm giữa chủ nhiệm công trình với công
nhân không có tay nghề tốt. Những điều trên sẽ dẫn đến chi phí nhân công bị lãng phí.
8
8
Luận văn tốt nghiệp
Do đó, Xí nghiệp nên trực tiếp đứng ra lựa chọn công nhân thuê ngoài để đảm
bảo mức tiền công của công nhân đợc trả đúng giá trị. Hơn thế nữa, Xí nghiệp sẽ lựa
chọn đợc công nhân có tay nghề đúng yêu cầu.
3.2.3.4.Thứ t: Cần phản ánh các khoản mục chi phí vào đúng tài khoản có liên

quan theo quy định.
Qua thực trạng kế toán chi phí sản xuất xây lắp của công ty Tu tạo và phát triển
nhà, em thấy rằng, có khoản chi phí hạch toán cha đúng nội dung theo quy định nh
chi phí sản xuất chung.
Các Xí nghiệp khi sử dụng máy thi công thuê ngoài, Xí nghiệp thờng hạch toán
vào TK627, nh vậy, chi phí sản xuất chung thờng bị đội lên cao hơn so với dự toán.
Do đó, các Xí nghiệp nên mở riêng tài khoản chi phí sử dụng máy thi công thuê ngoài
qua TK623để giảm bớt chi phí sản xuất chung. Nh vậy khi hạch toán chi phí sử dụng
máy thi công thuê ngoài kế toán nên định khoản nh sau:
Căn cứ vào hợp đồng thuê máy thi công và số tiền phải trả, kế toán ghi:
Nợ TK623: chi phí sử dụng máy thi công
Nợ TK133: Thuế GTGT đầu vào đợc khấu trừ
Có TK111, TK112, TK331: Tổng giá thanh toán.
3.2.3.5.Thứ năm:
Khi phản ảnh số tiền phải trả về mua nguyên vật liệu và thuê máy thi công ủa
Công ty, kế toán các Xí nghiệp đều phản ánh trên tài khoản 131. Việc vận dụng
TK131 là không phù hợp với nội dung kinh tế của tài khoản, vi phạm nguyên tắc kế
toán, không phản ánh đúng mối quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp, gây khó khăn cho
các cơ quan chức năng trong việc kiểm tra, kiểm toán. Do vậy kế toán nên dùng tài
khoản 336 để phản ánh nội dung thanh toán này. Kế toán ghi:
Nợ TK621: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
Nợ TK627(6277): Chi phí máy thi công.
Có TK336: Phải trả nội bộ.
Hạch toán nh vậy là không đúng nội dung kinh tế của chi phí và sai với chế độ
kế toán. Đồng thời do đặc điểm của sản phẩm xây lắp là chi phí để sản xuất ra sản
phẩm rất cao, việc hạch toán nh vậy sẽ làm chi phí sản xuất chung tăng lên khá nhiều
làm ảnh hởng không nhỏ đến giá thành sản phẩm và làm mất tính chính xác, đầy đủ
cũng nh nhiệm vụ hạ giá thành sản phẩm .
3.2.3.6. Thứ sáu: Đề xuất tính và hạch toán chi phí bảo hành sản phẩm xây
lắp.

Ngày nay, cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp không còn tồn tại nữa. Cả
nớc đang cuốn vào dòng xoáy của cơ chế thị trờng với sự cạnh tranh khốc liệt, ngành
xây dựng lại là ngành có thị trờng rộng lớn nên mức độ cạnh tranh trong đấu thầu
ngày càng cao. Để giành đợc hợp đồng kinh tế, đòi hỏi Công ty phải có chỗ đứng
9
9
Luận văn tốt nghiệp
vững chắc trên thị trờng, chất lợng công trình tốt, tạo đợc uy tín đối với khách hàng.
Chi phí bảo hành sản phẩm xây lắp là một trong yếu tố chi phí giúp Doanh nghiệp tạo
đợc uy tín với khách hàng, đảm bảo quyền lợi cho chủ đầu t, nâng cao tinh thần trách
nhiệm của đơn vị nhận thầu. Bởi vậy, Công ty đã hạch toán chi phí bảo hành trích trớc
sản phẩm xây lắp nhằm tạo sự yên tâm cho khách hàng và kế toán hạch toán chi phí
này vào chi phí bán hàng. Tuy nhiên Xí nghiệp lại hạch toán mh sau:
Nợ TK 154: 4.950.000
Có TK335: 4.950.000
Xí nghiệp nên hạch toán theo kế toán ngành xây lắp khi trích trớc chi phí bảo
hành công trình xây lắp, kế toán ghi:
Nợ TK641:4.950.000
Có TK335: 4.950.000
Hết thời hạn bảo hành, nếu công trình an toàn, không phát sinh chi phí
bảo hành, kết chuyển khoản trích chi phí bảo hành vào thu nhập bất thờng:
Nợ TK335.
Có TK721.
3.2.3.7. Thứ bảy: Hoàn thiện phơng pháp đánh giá chi phí sản xuất xây lắp dở
dang.
Việc tính giá thành sản phẩm dở dang trong Công ty phụ thuộc vào phơng thức
thanh toán khối lợng hoàn thành giữa bên A và Công ty. Nếu quy định sản phẩm xây
lắp thanh toán sau khi hoàn thành toàn bộ thì giá thành là tổng chi phí phát sinh từ khi
khởi công đến khi hoàn thành bàn giao. Nếu đến cuối kỳ cha hoàn thành thì giá trị sản
phẩm dở dang là toàn bộ chi phí từ khi khởi công đến cuối kỳ. Nếu thanh toán theo

điểm dừng kỹ thuật hợp lý( căn cứ vào giá dự toán) thì sản phẩm dở dang là khối lợng
xây lắp cha đạt đến điểm dừng kỹ thuật hợp lý. Công ty nên thay đổi phơng thức
thanh toán khối lợng xây lắp hoàn thành: Tăng số lợng công trình thanh toán theo
điểm dừng kỹ thuật hợp lý để tránh tình trạng ứ đọng vốn, tăng nhanh vòng quay của
vốn, hạ giá thành sản phẩm .
Nh vậy, có thể thấy rằng để nâng cao hiệu quả công tác hạch toán chi phí xây
lắp và tính giá thành sản phẩm xây lắp nói riêng và nâng cao hiệu quả toàn bộ hoạt
động của Công ty nói chung, Công ty có rất nhiều biện pháp để thực hiện. Tuy nhiên,
để sự thay đổi đem lại tác dụng lớn, Công ty cần thực hiện tốt và đồng bộ các biện
pháp sao cho biện pháp này có tác động tích cực đến biện pháp kia. Có nh vậy, Công
ty mới khẳng định chỗ đứng của mình trên thị trờng, thực hiện tốt mục tiêu tăng trởng
và tạo thu nhập chho ngời lao động. Đây cũng chính là nguyên tắc chung cho tất cả
các đơn vị kinh tế tham gia sản xuất kinh doanh trên thị trờng.
3.2.3.8. Thứ tám: Hoàn thiện hệ thống sổ sách kế toán :
Mặc dù Xí nghiệp áp dụng theo hình thức Nhật ký chứng từ nhng Xí nghiệp
hoàn toàn không dùng các nhật ký chứng từ cũng nh các bảng kê mà chỉ sử dụng các
10
10
Luận văn tốt nghiệp
bảng chi tiết để hạch toán cho từng công trình, sau đố lên bảng tổng hợp, sổ cái...Tất
cả các Xí nghiệp của Công ty hiện nay đều áp dụng kế toán máy trong công việc kế
toán, tuy nhiên không vì vậy mà không sử dụng rất nhiều loại giấy tờ sổ sách của
hình thức sổ kế toán Công ty đã chọn. Công ty nên sử dụng thêm các loại chứng từ
theo quy định của Bộ tài chính. Sau đây là một số mẫu:
11
11
Luận văn tốt nghiệp
kết luận
Trong cơ chế thị trờng cạnh tranh vô cùng gay gắt, hạch toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm ngày càng trở nên quan trọng đối với tất cả các Doanh

nghiệp. Nó quyết định sự tồn tại và phát triển của Doanh nghiệp trên thơng trờng.
Việc tập hợp chi phí sản xuất một cách chính xác, tính đúng, tính đủ giá thành sản
phẩm không những góp phần tạo điều kiện cho các Nhà quản trị doanh nghiệp đa ra
các quyết định đúng đắn, chính xác về giá bán nhằm thu đợc lợi nhuận tối đa mà còn
đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý và sử dụng vốn - một vấn đề nan giải đối
với sự tăng trởng của nền kinh tế nớc ta hiện nay.Bên cạnh đó, Doanh nghiệp luôn
phải quan tâm đến việc đổi mới hình dáng, mẫu mã sản phẩm với độ thẩm mỹ ngày
càng cao và chất lợng sản phẩm đảm bảo. Đây là một yếu tố quyết định cho Doanh
nghiệp cạnh tranh đợc với các Doanh nghiệp cùng ngành. Doanh nghiệp hoạt động
trong lĩnh vực xây dựng cơ bản cũng không nằm ngoài quy luật đó. Không những thế
yêu cầu đối với chất lợng và độ thẩm mỹ của sản phẩm xây dựng còn khắt khe hơn.
Để có đợc những thông tin cần thiết cho các quyết định đầu t, chủ doanh nghiệp phải
căn cứ vào công tác hạch toán chi phí và tính giá thành sản phẩm.
Một thực trạng đặt ra là công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm cần đợc không ngừng hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu của quá trình đổi mới đất
nớc hiện nay.
Qua thời gian thực tập, em đã cố gắng tìm hiểu thực trạng công tác hạch toán tập
hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Công ty. Kết hợp với những lý luận
tiếp thu ở nhà trờng, em đã mạnh dạn trình bày một số ý kiến nhỏ với nguyện vọng
hoàn thiện hơn nữa công tác kế toán nói chung, kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm nói riêng ở Công ty. Song, do trình độ có hạn, thời gian thực tập ngắn
cộng với sự eo hẹp của nguồn tài liệu tham khảo, bài viết này của em chỉ đề cập đến
những vấn đề có tính chất cơ bản nhất cũng nh chỉ mới đa những ý kiến bớc đầu chắc
hẳn không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong đợc sự quan tâm góp ý kiến và
chỉ bảo cuả các thầy cô giáo cùng các cô chú cán bộ phòng Tài chính kế toán Công ty
Tu tạo và Phát triển nhà để Luận văn của em đợc hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn cô PGS.TS. Nguyễn Thị Đông, giáo viên hớng dẫn
luận văn và các thầy cô trong khoa kế toán cùng các cô chú trong phòng tài vụ Công
ty Tu tạo và Phát triển nhà đã giúp em hoàn thành bản luận văn với đề tài: Hoàn
thiện công tác hạch toán kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây

lắp tại Công ty Tu tạo và Phát triển nhà .
Hà nội, ngày 03 tháng 11 năm 2001
Sinh viên: Nguyễn Thị Anh Thơ
12
12
Luận văn tốt nghiệp
tài liệu tham khảo
1. Hạch toán kế toán trong các Doanh nghiệp thơng mại - NXB Tài chính năm
2002.
2. Kế toán, kiểm toán và phân tích tài chính DN- NXB Tài chính 1995.
3. Kế toán chi phí, giá thành và kết quả KD dịch vụ - NXB Thống kê 1998.
4. Kế toán DN trong kinh tế thị trờng - NXB Thống kê 1997.
5. Hệ thống kế toán Doanh nghiệp - NXB Tài chính năm 1995
(Hớng dẫn về chứng từ kế toán và hớng dẫn về sổ kế toán)
6. Cẩm nang kinh tế xây dựng - NXB xây dựng
7. Định mức và đơn giá xây dựng cơ bản lập dự toán công trình xây dựng -
NXB xây dựng
8. Lý thuyết kế toán - NXB Thống kê 1997.
9. Lý thuyết hạch toán kế toán - NXB Tài chính 1997.
10. Kế toán DNSX - NXB Tài chính 1996.
11. điều lệ tổ chức kế toán Nhà nớc - Bộ Tài chính - NXB Thống kê 1991.
12. Hệ thống tài khoản áp dụng cho DN - Bộ Tài chính - NXB Tài chính 1998.

13
13

×