Tải bản đầy đủ (.docx) (25 trang)

ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG NGÀNH DỆT MAY

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (199.69 KB, 25 trang )

ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG NGÀNH DỆT
MAY
I. VAI TRÒ VÀ VỊ TRÍ CỦA NGÀNH DỆT MAY TRONG QUÁ TRÌNH
PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI
1. Vai trò của ngành Dệt May
Dệt May là một ngành sản xuất vật chất thuộc nhóm ngành công nghiệp nhẹ
sản xuất các sản phẩm đáp ứng nhu cầu may mặc của con người như sợi, vải,
quần áo. Ngành Dệt May gắn liền với nhu cầu thiết yếu của mỗi người. Vì thế,
ngành này đã hình thành và đi lên cùng với sự phát triển ban đầu của chủ nghĩa
tư bản. Đây cũng là ngành yêu cầu vốn đầu tư không lớn, thu hút nhiều lao động
với kỹ năng trung bình và có điều kiện mở rộng thương mại quốc tế…Do vậy,
trong quá trình công nghiệp hoá các nước tư bản đầu tiên như Anh, Pháp,
Italia…đến các nước Nics (Hàn Quốc, Đài Loan…) ngành Dệt may đều có vị trí
quan trọng. Năm 1994, tổng kim ngạch xuất khẩu ngành Dệt May thế giới đạt
250 tỷ USD và trong 10 năm tới sẽ tăng 60% đối với may mặc và 34% đối với
hàng dệt (theo dự báo của WTO), trong đó châu Á chiếm khoảng 40% giá trị
xuất khẩu. Ngành Dệt May đã và đang đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế
của nhiều nước, đặc biệt là các nước đang phát triển. Song hiện nay, do nhiều
yếu tố như thiếu lao động, tiền công cao…dẫn đến hiệu quả sản xuất thấp ở các
nước phát triển nên các nước này đã và đang chuyển ngành công nghiệp Dệt
May sang các nước đang phát triển.
Đối với một nước đang phát triển như Việt Nam, ngành Dệt May giữ một
vai trò then chốt trong nền kinh tế.
Thứ nhất, ngành Dệt May khai thác những lợi thế vốn có của Vịêt Nam.
Truyền thống sản xuất hàng dệt may lâu đời trải qua nhiều thế hệ đã đúc rút cho
người lao động Việt Nam nhiều kinh nghiệm quý báu trong quá trình tạo ra một
sản phẩm dệt may. Nguồn lao động rẻ, dồi dào cộng với bản chất bền bỉ, cần cù,
cẩn thẩn rất phù hợp với đặc trưng của ngành dệt may.
Thứ hai, ngành Dệt May tạo ra một khối lượng lớn công ăn việc làm cho
người lao động, chủ yếu là lao động phổ thông. Nó góp phần thu hút một số
lượng lao động dư thừa trong nền kinh tế (chủ yếu là lao động ở nông thôn), giải


quyết phần nào nạn thất nghiệp mà kéo theo đó là các tệ nạn xã hội, những bất
ổn về an ninh trật tự. Ngày nay, hầu hết các nước phát triển nắm giữ những
khâu quan trọng đòi hỏi trình độ công nghệ cao trong ngành công nghiệp dệt
may. Theo sự phân công lao động quốc tế, các nước đang phát triển đảm nhiệm
phần gia công, ráp nối nguyên phụ liệu, những công việc không đòi hỏi trình độ
kỹ thuật cao nhưng cần một lượng lao động lớn. Tính đến năm 2000, hơn
100.000 doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đang hoạt động trong lĩnh
vực Dệt May Việt Nam đang tạo việc làm cho gần 2 triệu lao động và năm 2005
là gần 5 triệu lao động. Tương lai, ngành Dệt sẽ thu hút đầu tư, tạo thêm nhiều
công ăn việc làm cho người lao động, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống
nhân dân và tăng thu nhập quốc dân.
Thứ ba, ngành Dệt May hiện là thị trường tiêu thụ vải và phụ liệu rất lớn
cho ngành Dệt Việt Nam với nhu cầu khoảng trên 500 triệu mét vải mỗi năm.
Trong khi đó sản xuất vải nội địa chưa đáp ứng được yêu cầu về chất lượng và
chủng loại mẫu mã nên phải nhập khẩu từ bên ngoài.
Thứ tư, Dệt May là ngành có đóng góp lớn vào việc tăng kim ngạch xuất
khẩu, thu hút ngoại tệ cho đất nước. Từ năm 1992 đến nay, kim ngạch xuất
khẩu của ngành Dệt may liên tục tăng với tốc độ cao và là một trong 10 mặt
hàng xuất khẩu chủ lực của cả nước và đứng thứ hai về giá trị sau dầu thô. Năm
1995 kim ngạch xuất khẩu hàng Dệt May Việt Nam mới đạt 800 triệu USD, đến
2001 con số này tăng lên gần 2 tỷ USD (chiếm 24% tổng kim ngạch xuất khẩu
của cả nước), năm 2002 xuất khẩu đạt trên 2,7 tỷ USD.
Thứ năm, ngành dệt may góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Dệt May là
một ngành, một bộ phận cấu thành của nền công nghiệp Việt Nam. Sự phát triển
của công nghiệp Dệt May có tác động tích cực đến sự chuyển dịch cơ cấu
ngành, cơ cấu vùng kinh tế Việt Nam. Ngành Dệt May phát triển kéo theo sự
phát triển của nhiều ngành kinh tế khác. Trước tiên là việc chuyển đổi cơ cấu
giống cây trồng ở một số vùng trồng nguyên liệu phục vụ cho dệt may như đay,
bông, dâu, tằm…Do đó, nó đòi hỏi ngành nông nghiệp phát triển theo chiều
hướng phá vỡ thế độc canh, chỉ trồng cây lương thực, hoa màu. Sau đó là tác

động đến việc phát triển những ngành sản xuất nguyên phụ liệu cho ngành may,
và ngành cơ khí cung cấp máy móc thiết bị cho ngành Dệt May. Từ đó góp phần
chuyển dịch cơ cấu kinh tế các vùng. Vùng có ngành sản xuất Dệt May phát
triển sẽ kéo theo sự phát triển của các ngành sản xuất phụ trợ cho ngành Dệt
May và cả những ngành sử dụng sản phẩm của ngành Dệt May như giày da, nội
thất, xây dựng…từ đó tăng tỷ trọng công nghiệp trong cơ cấu nền kinh tế.
Thứ sáu, với kim ngạch xuất khẩu hàng Dệt May năm 2002 đạt trên 2,7 tỷ
USD, ngành Dệt May Việt Nam đang góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế của Việt Nam.
Có thể khẳng định: Với lợi thế sử dụng được nhiều lao động, giải quyết
công ăn việc làm cho người lao động, khả năng đóng góp lớn vào xuất khẩu, tạo
điều kiện quân bình cán cân thu chi ngoại tệ theo hướng tích cực, ngành Dệt
May đã giữ một vai trò then chốt, chẳng những trong nền kinh tế các nước đang
phát triển mà vẫn tiếp tục giữ vai trò quan trọng cả trong những nước phát triển.
Đặc biệt góp phần chuyển dịch cơ cấu và tăng trưởng kinh tế ổn định kinh tế,
chính trị, xã hội.
2. Vị trí của ngành Dệt May
Trong đường lối phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam, Công nghiệp Dệt
May luôn được Đảng và Nhà nước Việt Nam quan tâm và đặt vào vị trí quan
trọng trong các chính sách phát triển chung của công nghiệp sản xuất hàng tiêu
dùng.
Trước hết Dệt May Việt Nam được khẳng định là ngành giữ vị trí hàng đầu,
một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn của nước ta trong quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Để đạt được mục tiêu đưa nước ta trở thành
một nước công nghiệp vào năm 2020 cần phải có tỷ lệ tích luỹ lớn, tạo điều kiện
cho quá trình đổi mới công nghệ. Và Dệt May là một trong những ngành mang
trọng trách đáp ứng yêu cầu đó. Lịch sử quá trình công nghiệp hoá của các nước
trên thế giới đã cho thấy rõ vị trí quan trọng của ngành Dệt May trong thời kỳ
đầu của quá trình công nghiệp hoá, bắt đầu từ công nghiệp Dệt May nước Anh.
Các nước công nghiệp lớn đều dùng lợi thế sử dụng nhiều lao động của ngành

Dệt May làm bàn đạp phát triển công nghiệp. Việt Nam sẽ không phải là một
ngoại lệ. Tính chất mũi nhọn của ngành Dệt May được luận giải ở hai tiêu
chuẩn chính là năng lực tạo công ăn việc làm cao và khả năng mang lại nguồn
thu ngoại tệ lớn. Bên cạnh đó, việc ưu tiên phát triển ngành này còn phù hợp với
xu hướng chuyển dịch cơ cấu đang diễn ra trong khu vực. Hiện nay, một số
cường quốc xuất khẩu hàng may mặc trong khu vực cũng như trên thế giới như
Thái Lan đang từng bước nhường thị trường cạnh tranh này vì chi phí lao động
tăng lên. Việt Nam có điều kiện để trở thành cường quốc mới trong lĩnh vực này
do chi phí lao động thấp và các cơ sở thị trường đã được chuẩn bị và tiếp cận.
Việc lực chọn may gia công xuất khẩu trong bối cảnh đó cho phép thu hút mạnh
mẽ nguồn vốn và kỹ thuật của các nước đang có nhu cầu chuyển giao cơ cấu.
Ngoài ra ngành Dệt May được coi là ngành giữ vị trí nòng cốt trong chiến
lược sản xuất hàng xuất khẩu của Việt Nam. Từ năm 1991 đến nay, kim ngạch
xuất khẩu hàng Dệt may không ngừng tăng lên. Tốc độ tăng trưởng bình quân
giá trị sản lượng hàng dệt may giai đoạn 1992-1998 là 43,5%/năm. Tỷ trọng
hàng dệt may xuất khẩu trong tổng kim ngạch xuất khẩu của nước ta luôn tăng
từ 7,6% năm 1991 đến 15% năm 98. Trước tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
không ngừng được nâng cao và mở rộng, đặc biệt trong thời kỳ sắp tới, ngành
Dệt May Việt Nam ngày càng khẳng định vai trò là ngành công nghiệp trọng
điểm, mũi nhọn về xuất khẩu, góp phần tăng trưởng kinh tế, thực hiện công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

II. ĐẶC ĐIỂM NGÀNH DỆT MAY
1. Đặc điểm về sản phẩm
Sản phẩm của ngành dệt may không chỉ là quần áo, vải vóc và các vật dụng
quen thuộc như khăn bàn, khăn tắm, chăn mền, nệm, rèm, thảm, đệm ghế, ô dù,
mũ nón v.v. mà còn cần thiết cho hầu hết các ngành nghề và sinh hoạt: lều,
buồm, lưới cá, cần câu, các loại dây nhợ, dây thừng, dây chão, các thiết bị bên
trong xe hơi, xe lửa, máy bay, tàu bè (một chiếc xe hơi trung bình dùng đến 17
kí sợi vải), vòng đai cua-roa, vỏ săm lốp, ống dẫn, bao bì, và nói chung mọi vật

liệu dùng để đóng gói, bao bọc, để lót, để lọc, để cách nhiệt, cách âm, cách điện,
cách thuỷ, và cả những dụng cụ y khoa như chỉ khâu và bông băng. Có thể hiểu
tại sao ngành dệt may đã đi liền với sự phát triển của các nước công nghiệp,
cùng với sắt thép là hai ngành vừa được ưu tiên thừa hưởng những phát minh kỹ
thuật vừa là động cơ chuyển biến cả nền kinh tế từ thủ công sang công nghiệp
trong thời kỳ cách mạng kỹ nghệ. Điều này cũng giải thích tại sao các nước
công nghiệp vẫn quyết tâm bảo vệ ngành dệt may nội địa trước sự cạnh tranh
của các nước nghèo, từ thập niên 1970 trở đi, khi các nước này tập trung xây
dựng ngành này thành trọng điểm của chiến lược phát triển. Và tại sao đó cũng
là một trong những mối tranh chấp căng thẳng từ nhiều năm trong quan hệ
thương mại giữa các nước giàu và nghèo.
2. Đặc điểm về kỹ thuật sản xuất
Dệt may là một trong những hoạt động có từ xưa nhất của con người. Sau
thời kỳ ăn lông ở lỗ, lấy da thú che thân, từ khi biết canh tác, loài người đã bắt
chước thiên nhiên, đan lát các thứ cỏ cây làm thành nguyên liệu. Trải qua 5
nghìn năm hình thành và phát triển, các kỹ thuật may dệt đã mau chóng đạt mức
độ tinh vi, có khi thành cả nghệ thuật. Nguyên liệu của ngành dệt may chủ yếu
bắt nguồn từ thiên nhiên, lấy từ cây cỏ như các sợi bông, sợi đay (jute), sợi gai
dầu (hemp), sợi lanh, hay từ thực vật như da, sợi len, tơ tằm…Ngày nay, với
khoa học kỹ thuật hiện đại, con người đã sáng tạo ra nhiều loại sợi nhân tạo, sợi
tổng hợp với ưu điểm là có thể sản xuất hàng loạt với giá rẻ. Tuy nhiên vì dầu
hoả là nguyên liệu chính của sợi hoá học và do giá dầu hoả ngày càng tăng nên
khuynh hướng thay thế các sợi tự nhiên bằng sợi hoá học cũng chậm lại và ngày
nay sợi tự nhiên, chủ yếu là bông, vẫn tồn tại trên thị trường, và sợi hóa học chỉ
chiếm đa số với khoảng 60% .
Công nghiệp dệt may so với các ngành công nghiệp khác, đặc biệt công
nghiệp nặng có suất đầu tư thấp hơn nhiều lần, chỉ bằng 1/10 so với ngành điện,
1/15 so với ngành cơ khí và 1/20 so với ngành luyện kim. So sánh ngay trong
ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, để tạo ra một chỗ làm việc mới
ngành công nghiệp dệt may chỉ cần đầu tư khoảng 1000 USD, trong khi đó suất

đầu tư của ngành giấy là gần 3.000 USD. Bên cạnh đó, do đặc thù sản xuất và
tiêu thụ sản phẩm trong thời gian ngắn nên thời hạn thu hồi vốn đối với ngành
Dệt là 12-15 năm, ngành May là 5-7 năm, trong khi đó đối với các ngành công
nghiệp khác, thời gian thu hồi vốn là 15 năm, thậm chí hàng chục năm như công
nghiệp thép chẳng hạn. Do đặc điểm về công nghệ sản xuất không quá phức tạp,
lao động của ngành Dệt May lại dễ đào tạo nên việc tổ chức sản xuất các doanh
nghiệp vừa và nhỏ rất phù hợp với điều kiện địa lý, kinh tế và xã hội của các
quốc gia nhỏ bé như Việt Nam.
Đối với ngành Dệt May Việt Nam, truyền thống làng nghề, truyền thống văn
hóa là một yếu tố tác động khá lớn đến đặc điểm kỹ thuật sản xuất của ngành.
Lịch sử cho thấy, người dân Việt Nam có truyền thống lâu đời về Dệt May. Từ
thời phong kiến đã hình thành nên các làng nghề thủ công và các tổ chức công
nghiệp. Các làng Dệt ở ven Hồ Tây ngày nay như Trích Sài, Yên Thái, Nghĩa
Đô đã nổi tiếng ngay từ triều Lý Công Uẩn (năm 1010). Các vùng nuôi tằm tại
Hưng Yên, Thái Bình…; trồng bông tại các vùng cao nguyên miền núi phía Bắc
Việt Nam và một số tỉnh như Ninh Thuận, Đồng Nai.. cũng được hình thành từ
rất sớm. Năm 1989 đánh dấu sự phát triển chính thức của ngành công nghiệp
Dệt tại Việt Nam kể từ khi người Pháp tiến hành xây dựng Khu công nghiệp dệt
tại Nam Định.
Hiện nay song song với sự phát triển của các công ty dệt may trong nước,
các làng nghề Dệt May truyền thống của Việt Nam vẫn không ngừng được bảo
tồn và phát triển. Nghề dệt vải không ngừng được cải tiến và phát triển mạnh
mẽ. Từ những sản phẩm lụa mộc mạc ban đầu ngày nay đã có những mặt hàng
độc đáo, cao cấp như gấm, lụa, the, lĩnh…mịn, óng, mềm mại, với màu sắc và
hoa văn sinh động, tinh tế… Mặt hàng vải thổ cẩm dệt thủ công, vải tơ lụa cũng
không ngừng được nâng cao về chất lượng, phong phú về chủng loại, màu sắc
và hoa văn…được các bạn hàng trong nước cũng như quốc tế ưa thích.
III. ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG NGÀNH DMVN
1. Khái niệm về chất lượng tăng trưởng
Tăng trưởng hiện nay là một trong những mục tiêu hàng đầu của mọi nền

kinh tế cũng như của các ngành bộ phận. Tăng trưởng là sự gia tăng về thu nhập
của nền kinh tế hay của một bộ phận trong nền kinh tế ấy trong một thời kỳ nhất
định, thường là một năm. Tuy nhiên ngày nay người ta nhìn nhận khái niệm
tăng trưởng kinh tế không chỉ ở mặt định lượng được biểu hiện ở quy mô, tốc
độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển, mà còn nhấn mạnh bản chất của
tăng trưởng kinh tế thông qua khái niệm “Chất lượng tăng trưởng”.
Hiện nay chưa có một khái niệm chính thống nào về chất lượng tăng trưởng
và khái niệm này vẫn gây nhiều tranh cãi. Mặc dù người ta nhắc đến khái niệm
chất lượng tăng trưởng ngày một thường xuyên hơn nhưng chưa ai định nghĩa
một cách chính xác và cụ thể chất lượng tăng trưởng là gì, cũng như thước đo
chất lượng tăng trưởng. Có nhiều cách hiểu chất lượng tăng trưởng khác nhau.
Nhiều người muốn dùng đến chỉ số ICOR (hệ số mức gia tăng của đầu vào so
với đầu ra) để làm thước đo, tuy nhiên chỉ số này chỉ phản ánh một phần chất
lượng tăng trưởng thông qua hiệu quả của đầu tư mà thôi. Ở một thái cực khác,
có người nói đến chất lượng tăng trưởng đồng nghĩa với tăng trưởng bền vững
bao gồm sự bền vững về xã hội, về kinh tế, về môi trường v.v…Ngoài ra còn có
quan điểm cho rằng xem xét chất lượng tăng trưởng phải dựa trên chỉ số phát
triển con người (HDI) hay nói đến các vấn đề xã hội kèm theo. Có quan điểm
nói chất lượng là phải giữ được bản sắc. Báo cáo chất lượng tăng trưởng năm
1997 của Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) còn kèm theo vấn đề
về tạo việc làm cho người dân.
Luận văn xin đưa ra một cách nhìn khác về khái niệm chất lượng tăng
trưởng. Chất lượng tăng trưởng được hiểu theo hai nghĩa, nghĩa rộng và nghĩa
hẹp.
Chất lượng tăng trưởng theo nghĩa hẹp phản ánh sự biến động về cơ cấu bên
trong tạo thành bản chất của sự tăng trưởng và thể hiện được hiệu quả trong sự
vận động của quá trình tăng trưởng đó trong một hoàn cảnh, giai đoạn nhất
định. Thông qua khái niệm theo nghĩa hẹp này có thể thấy, giống như bao hiện
tượng khác, tăng trưởng cũng có mặt lượng và mặt chất. Mặt lượng thể hiện ở
tốc độ tăng trưởng trong từng thời kỳ, còn mặt chất thể hiện tính hiệu quả, tính

hiện đại, tính bền vững, và tính cân đối bên trong quá trình tăng trưởng.
Chất lượng tăng trưởng theo nghĩa rộng hơn còn thể hiện mối liên hệ qua lại
giữa ba lĩnh vực: quá trình tăng trưởng về mặt kinh tế, các vấn đề về xã hội và
môi trường. Đây chính là cách hiểu chất lượng tăng trưởng đồng nghĩa với tăng
trưởng bền vững. Lâu nay ta vẫn nói tốc độ tăng trưởng cao. Nhưng vấn đề đặt
ra là duy trì tốc độ này được bao lâu, nguồn tăng trưởng ấy do đâu mà có và suy
cho đến cùng, liệu tốc độ tăng trưởng cao có đảm bảo một cuộc sống no đủ cho
người dân.
Từ cách hiểu chất lượng tăng trưởng theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp, có thể
thu hẹp lại khái niệm chất lượng tăng trưởng trong phạm vi từng ngành. Đối với
ngành Dệt May, khi xem xét quá trình tăng trưởng, người ta không chỉ quan tâm
tới tốc độ tăng của sản lượng, của giá trị sản xuất hay giá trị xuất khẩu; mà còn
quan tâm nhiều đến chất lượng tăng trưởng ngành dệt may, tức xem xét sự vận
động của các yếu tố nội tại bên trong như tỷ trọng chi phí trung gian trong giá
trị sản xuất, việc sử dụng lao động hay nguồn vốn đầu tư, tương quan giữa hai
ngành Dệt và May; hay theo nghĩa rộng là tác động của quá trình tăng trưởng
tới môi trường và tới cuộc sống của người lao động.
2. Một số tiêu chí đánh giá chất lượng tăng trưởng ngành Dệt May
2.1 Hiệu quả trong sử dụng chi phí trung gian
Chi phí trung gian là một bộ phận cấu thành của giá trị sản xuất bao gồm
toàn bộ chi phí thường xuyên về vật chất (nguyên vật liệu, nhiên liệu, động lực,
chi phí vật chất khác) và dịch vụ (công tác phí, chi phí bưu điện, chi phí vận tải
thuê ngoài, thuê quảng cáo, phòng cháy chữa cháy, chi trả dịch vụ pháp lý; chi
phí dịch vụ ngân hàng, tín dụng, chi thuê phương tiện máy móc, nhà cửa…)
được sử dụng trong quá trình sản xuất tạo ra giá trị sản xuất ngành công nghiệp.
a. Chi phí về nguyên nhiên phụ liệu
Chi phí nguyên nhiên phụ liệu chiếm một tỷ trọng rất lớn trong giá thành của
sản phẩm dệt may. Hầu hết trong thời kỳ đầu phát triển ngành công nghiệp dệt
may, các nước trên thế giới đều không đáp ứng được nguồn nguyên phụ liệu
trong nước mà phải nhập khẩu. Rất nhiều quốc gia tỷ lệ nội địa hoá của sản

phẩm dệt may chiếm chưa đến 30% (trong đó có Việt Nam). Như vậy các quốc
gia này đơn thuần chỉ là nơi gia công sản phẩm, nhập nguyên liệu về, chế biến
rồi lại xuất khẩu, vì vậy không tạo ra nhiều giá trị gia tăng, lợi nhuận có được
rất thấp.
b. Chi phí dịch vụ
- Xuất phát từ các đặc thù riêng có, ngành công nghiệp Dệt May có thêm nhiều
loại chi phí khác cũng đóng một vai trò vô cùng quan trọng không kém chi phí
dành cho nguyên phụ liệu. Cũng như nhiều ngành sản xuất hàng tiêu dùng khác,
ngành công nghiệp dệt may phải tính thêm chi phí vận chuyển vào trong giá
thành sản phẩm. Chi phí này cao hay thấp phụ thuộc vào cả yếu tố chủ quan như
phương tiện hay vị trí của doanh nghiệp sản xuất, mà còn phụ thuộc vào cả yếu
tố khách quan như chất lượng cơ sở hạ tầng (đường xá, bến cảng…).
- Bên cạnh đó riêng đối với ngành dệt may còn xuất hiện thêm nhiều loại chi
phí khác như chi phí về công đoàn (khá đáng kể do ngành này sử dụng nhiều lao
động), chi phí dành cho công tác quảng cáo, tiếp thị…
c. Các chi phí khác
Khác với nhiều quốc gia khác trên thế giới, ngành công nghiệp Dệt May Việt
Nam còn chịu thêm một khoản chi phí khác: chi phí về hạn ngạch. Đây là một
khoản chi phí không chính thức nhưng lại có giá trị không nhỏ chút nào, đặc
biệt đối với những nước xuất khẩu hàng dệt may mà chưa phải là thành viên của
WTO như Việt Nam. Chi phí này phát sinh do các doanh nghiệp phải bỏ ra để
có thêm được một phần hạn ngạch khi xuất khẩu ra thị trường thế giới. Thông
thường các chi phí này không được công khai và hạch toán cụ thể nên khó có
thể kiểm soát được. Chi phí này chỉ có thể được loại bỏ khi nước xuất khẩu trở
thành thành viên WTO, mọi doanh nghiệp sẽ được cạnh tranh một cách bình
đẳng và tránh phải tiêu tốn vào những khoản chi phí lớn nhưng không đem lại
giá trị nào cho sản phẩm.
Có thể thấy, chi phí đóng vai trò quyết định đối với sự thành công của doanh
nghiệp. Sản lượng làm ra dù có nhiều, kim ngạch xuất khẩu dù có lớn nhưng chi
phí lại chiếm tỷ trọng khá lớn trong giá thành sản phẩm thì lợi nhuận tạo ra sẽ

rất thấp, ngành công nghiệp dệt may nội địa sẽ mãi chỉ là nơi gia công sản phẩm
cho thị trường nước ngoài mà thôi.
2.2 Hiệu quả trong sử dụng lao động
Lao động là một yếu tố vô cùng quan trọng đối với một ngành công nghiệp
sử dụng nhiều lao động như ngành dệt may. Lao động trong ngành Dệt May có
thể chia ra làm 2 loại chủ yếu dựa trên tính chất công việc của họ, đó là lao
động gián tiếp và công nhân lao động trực tiếp tạo ra sản phẩm.
Những lao động gián tiếp tạo ra sản phẩm là các cán bộ khoa học kỹ thuật,
những người làm công tác quản lý và nhân viên kinh doanh. Đây là nhóm lao
động trực tiếp tiếp xúc với khách hàng, vì vậy sử dụng những lao động này có
hiệu quả sẽ góp phần phát triển doanh nghiệp. Trung Quốc là một cường quốc
xuất khẩu hàng dệt may của thế giới. Sản phẩm dệt may của Trung Quốc có thể
len lỏi mọi nơi trên thế giới ngoài nguyên nhân giá cả thấp còn xuất phát từ việc
họ biết khai thác triệt để đội ngũ cán bộ quản lý, nhân viên kinh doanh có trình
độ tốt cả về chuyên môn và ngoại ngữ. Đội ngũ cán bộ, nhân viên này với trình
độ của mình dễ dàng thâm nhập, điều tra, nghiên cứu và khái thác thị trường

×