Tải bản đầy đủ (.doc) (20 trang)

skkn 09-10 cuong k4

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (161.99 KB, 20 trang )

Tên đề tài
Dạy tiết toán nhẹ nhàng và hiệu quả
(Về hình chữ nhật và hình vuông)
I.Đặt vấn đề:
- Ta biết rằng , quá trình dạy học gồm việc dạy của thầy và việc học của trò .
Mỗi quá trình dạy học được xác định bởi ba thành tố cơ bản của nó là : Mục
đích dạy học , nội dung dạy học và phương pháp dạy học. Hiện nay, công cuộc
đổi mới của đất nước ta đang diễn ra từng ngày, từng giờ. Nó đòi hỏi phải có
lớp người có năng lực, chủ động, sáng tạo để thích ứng với đời sống xã hội. Vì
vậy, giáo dục tiểu học của chúng ta đang đổi mới phương pháp dạy học nhằm
phát huy tính chủ động, tích cực của học sinh . Nghĩa là chuyển từ hình thức “
Thầy giảng- Trò nghe” sang “ Thầy tổ chức- Trò hoạt động”.
-Tổ chức một tiết dạy như thế nào để học sinh nắm được kiến thức trọng tâm
của bài một cách nhẹ nhàng, không gò bó là vấn đề mỗi giáo viên tiểu học cần
quan tâm, đặc biệt là môn Toán , môn mà kiến thức trong sách vở được vận
dụng rất nhiều và thực tế cuộc sống, nhất là các bài toán có yếu tố hình học .
Chính vì vậy mà tôi đã chọn đề tài:
“ Dạy tiết Toán nhẹ nhàng - hiệu quả”
( Về hình chữ nhật và hình vuông)
II. Cơ sở lí luận:
-Là giáo viên lớp 4, tôi thấy các yếu tố hình học ở chương trình Toán 4 gồm
có:
1. Đoạn thẳng, đường thẳng, tia. Đường thẳng song song, đường thẳng vuông
góc. Vẽ đường thẳng vuông góc, đường thẳng song song.
- Góc vuông, góc nhọn, góc tù, góc bẹt.
2. Hình chữ nhật và hình vuông:
- Đặc điểm về cạnh và góc.
-Vẽ hình với kích thước cho trước.
- Tính chu vi, diện tích.
3. Biểu đồ hình đoạn thẳng và hình cột.
4. Tỷ lệ xích- Đo và vẽ đoạn thẳng trên mặt đất.


Trọng tâm các yếu tố hình họcổơ lớp 4 là phần hình chữ nhật và hình vuông với
các vấn đề:
- Tính chất( hay còn gọi là đặc điểm) của hình chữ nhật và hình vuông.
- Chu vi, diện tích hình chữ nhật và hình vuông.
Việc nắm chắc các khái niệm , quy tắc của các yếu tố hình học giúp học sinh
phát triển được nhiều năng lực trí tuệ, rèn luyện được nhiều đức tính và phẩm
1
chất tốt như: cẩn thận , cần cù, chu đáo, khéo léo, ưa thích sự chính xác, làm việc
có kế hoạch...
-Nhờ đó mà học sinh có thêm tiền đề để học các môn khác ở tiểu học được
tốt như: Tập viết, chính tả, ,mỹ thuật.
III. Cơ sở thực tiễn:
- Thực tế giảng dạy tôi thấy học sinh dễ dàng nắm được tính chất của hình chữ
nhật và hình vuông nhưng khi thực hành vào các bài tập cụ thể để nhận biết hình
lại lúng túng( nhiều khi sai)
-Ví dụ: Bài toán nói rằng: Một hình tứ giác có 4 cạnh bằng nhau thì đó là hình
vuông. Điều đó đúng hay sai? Nhiều học sinh đã vội vàng trả lời là đúng.
-Công thức tính chu vi, diện tích của hình chữ nhật , hình vuông nắm chắc chắn
nhưng khi giải các bài toán đố ghi tên đơn vị đo diện tích (m
2
) học sinh lại viết là
(m) . Nguyên nhân do chưa hiểu kĩ về đơn vị đo độ dài và đơn vị đo diện tích .
Vì vậy, việc hình thành khái niệm sao cho hấp dẫn thu hút học sinh tránh những
sai lầm là việc làm quan trọng.
-Trong bài viết này, tôi xin trình bày cụ thể phương pháp giảng dạy mới của
một số tiết dạy ( về hình chữ nhật và hình vuông) mà tôi cho là hiệu quả với học
sinh-tránh được những sai lầm nêu trên.
IV. Nội dung nghiên cứu :
Các tiết dạy về hình chữ nhật và hình vuông ở lớp 4 được sắp xếp như sau:
- Hình chữ nhật: tiết 59

- Hình vuông : tiết 60
- Chu vi : tiết 70
- Chu vi hình chữ nhật : tiết 71
- Chu vi hình vuông : tiết 72
- Diện tích của một hình : tiết 101
- Diện tích hình chữ nhật : tiết 104
- Diện tích hình vuông : 105
-Phương pháp giảng dạy là thông qua các hoạt động thực hành : ( như đo , vẽ ,
cắt , gấp,xếp, .....hình ) để giúp học sinh nắm được kiến thức trọng tâm của từng
tiết học và mối quan hệ hình học giữa các hình . Vì vậy , trong mỗi tiết dạy tôi đã
cố gắng tổ chức các hoạt động thực hành , đảm bảo 100 % học sinh tham gia .
1 . Dạy bài : HÌnh chữ nhật : Hình chữ nhật học sinh đã được làm quen ở lớp 2,
lớp 3 . Yêu cầu của tiết học là học sinh nắm được các đặc điểm về cạnh và góc
của hình . Để giúp học sinh nắm được “ Hình chữ nhật có hai chiều dài bằng
nhau , hai chiều rộng bằng nhau và có bốn góc vuông” tôi đã chuẩn bị các hình
chữ nhật có kích thước khác nhau đưa cho mỗi nhóm ( 4 học sinh) với yêu cầu :
- Đo các cạnh của hình chữ nhật – ghi số liệu cụ thể .
Qua đó học sinh rút được đặc điểm về cạnh .
- Đo các góc của hình chữ nhật – dùng ê ke đo .
2
Qua đó học sinh rút được đặc điểm về góc .
*Việc nắm các đặc điểm về cạnh và góc của hình chữ nhật với học rất dễ dàng
nhưng để vận dụng và nhận biết một hình có đúng là hình chữ nhật không thì
nhiều học còn phán đoán chậm , có khi sai . Biết được điều này nên sau khi
học sinh rút ra được các đặc điểm của hình chữ nhật , tôi đã nhấn mạnh : “ Đặc
điểm của hình chữ nhật cũng là căn cứ ( điều kiện) để xét xem một hình có
đúng là hình chữ nhật không”
* Dựa vào đặc điểm tâm lí của học sinh “ Vốn ham hiểu biết , ưa hoạt động”
nên tôi kích thích sự tìm tòi của các em bằng cách đưa ra các bài tập dưới dạng
câu đố để thu hút sự suy nghĩ , tìm ra lời giải đáp đúng . Các bài luyện được

làm theo mức độ từ dễ đến khó.
Cụ thể :
-Bài 1: Giao cho các nhóm những hình sau : ( được cắt từ giấy đề can màu sắc
đẹp).

-Yêu cầu:
+ Hãy kiểm tra xem trong các hình đó đâu là hình chữ nhật?
+ Hãy giơ hình chữ nhật của nhóm mình ?( gắn vào bảng gài trước khi giơ)
Bài tập này mỗi học sinh trong nhóm phải tự do một mình để kiểm tra .
-Bài tập 2: Hình thức câu đố ( chép trên bảng)
- Nói rằng: Một hình chữ nhật có 4 cạnh với độ dài là 5 cm , 1/ 5 dm , 1/2 dm ,
2cm . Điều đó đúng hay sai ? Vì sao ?
+ Học sinh trong nhóm cùng thảo luận để giải câu đố .
+ Đáp : Hình đó đúng là hình chữ nhật vì một hình chữ nhật có hai chiều dài
bằng nhau , hai chiều rộng bằng nhau .
1/2 dm = 5 cm , 1/5 dm = 2cm
+ Giáo viên nhấn mạnh : Hình này đã là hình chữ nhật , thầy muốn kiểm tra kỹ
năng đổi của các em.
- Bài tập 3 : Củng tiến hành dưới hình thức câu đố
Nói rằng : Một hình tứ giác có hai cạnh dài bằng nhau và hai cạnh ngắn bằng
nhau thì đó là hình chữ nhật . Điều đó đúng hay sai ? Vì sao ?
+Học sinh thảo luận nhóm để giải câu đố .
+ Đáp : Hình đó không phải là hình chữ nhật vì thiếu điều kiện về góc( 4 góc
chưa chắc đã là góc vuông )
3
+ Giáo viên yêu cầu tiếp : Tìm trong các bài tập 1 , hình nào giống như hình ở
câu đố này ? 9 học sinh sẽ tìm ra hình 1 và gắn vào bảng gài) .
Qua bài này tôi nhấn mạnh : Một hình chữ nhật thì phải có hai cạnh dài bằng
nhau, hai cạnh ngắn bằng nhau m Nhưng một tứ giác có hai cạnh dài bằng nhau ,
hai cạnh ngắn bằng nhau thì chưa chắc đã là hình chữ nhật .

*Như ở bài tập 1 , học sinh chỉ cần đo kiểm tra về góc và cạnh để tìm đúng hình
ở bài tập 2 , 3 đòi hỏi khả năng tư duy , học sinh muốn giải đúng câu đố cần phải
đổi đúng , suy luận đúng .
2 . Dạy bài hình vuông:
* Để giúp học sinh nắm được đặc điểm của hình vuông “ có 4 góc vuông và 4
cạnh bằng nhau” tôi cũng tiến hành tương tự như dạy bài hình chữ nhật .
* Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các em học chu vi , diện tích của hình chữ
nhật và hình vuông sau này tôi đã cho học sinh so sánh hình vuông – hình chữ
nhật để thấy chúng đều có 4 góc vuông , nhưng 4 cạnh của hình vuông thì bằng
nhau còn các cạnh của hình chữ nhật bằng nhau từng đôi một ( hai cạnh đối ) . Vì
vậy , có thể nói : “ Hình vuông là trường hợp đặc biệt của hình chữ nhật khi
chiều dài và chiều rộng bằng nhau”.
* Phần luyện tập: Tôi phát cho mỗi nhóm các hình sau:
Yêu cầu:
- Bài tập 1: Thực hành đo chỉ ra đâu là hình vuông .
- Bài tập 2 : Nói rằng : “ Một hình vuông có 4 cạnh với độ dài là 5dm , 1/2m ,
50cm , 500mm” . Điều đó đúng hay sai ? Vì sao ?
( Diiêù này đúng vì hình vuông có 4 cạnh bằng nhau là :
1/2m = 5dm , 50cm = 5dm , 500mm = 5dm ).
- Bài tập 3 : Nói rằng : “ Một hình tứ giác có 4 góc vuông là hình
vuông” . Điều đó đúng hay sai ? Vì sao ?
- ( Điều đó sai vì thiếu điều kiện về góc . Đó là hình thứ nhất) .
- Bài tập 4 : Nói rằng : “ Một hình tứ giác có 4 cạnh bằng nhau là hình
vuông” . Điều đó đúng hay sai ? Vì sao ?
( Điều đó sai vì thiếu điều kiện về góc . Đó là hình thứ ba )
Ở bài này , tôi nhấn mạnh : Một hình vuông thì phải có 4 cạnh bằng nhau .
Nhưng một hình tứ giác có 4 cạnh bằng nhau thì chưa chắc chắn đã là hình
vuông .

4


1

2
3
Như vậy , dạy bài hình chữ nhật và hình vuông thay vào việc làm các bài tập
ởbài tập toán ( in) , học sinh thực hành đo các hình khác nhau , được luyện dưới
hình thức câu đố nên giờ học diễn ra nhẹ nhàng , thu hút học sinh mà học sinh lại
nắm chắc trọng tâm kiến thức của bài . Đồng thời ở mỗi bài dạy , tôi cũng cho
học sinh liên hệ thực tế tìm những vật xung quanh có dạng hình chữ nhật , hình
vuông để ứng dụng tốt trong cuộc sống.
3. Dạy bài: Chu vi.
*Chuẩn bị:
- Nhóm học sinh: thước dây dài 1m.
- Giáo viên: 12 sợi dây đồng nhỏ kích thước từ 80cm đến 100cm.
Sau khi học sinh hiểu được khái niệm: “Chu vi là tổng độ dài của các
cạnh trong một hình” (trừ hình tròn) và luyện tập trong vở bài tập toán (in) để
học sinh hiểu được sự khác nhau giữa chu vi và diện tích của các hình phẳng (sẽ
học ở những tiết sau), tôi cho học sinh chơi trò chơi với tên gọi “Tạo hình
nhanh – tính chính xác”.
* Tôi đưa cho mỗi nhóm một sợi dây đồng với yêu cầu:
a. Uốn sợi dây đồng của nhóm thành một hình tam giác, một hình tứ giác
hoặc một hình ngũ giác.
b. Tính chu vi của hình được tạo thành.
* Sau thời gian 3 phút, tôi yêu cầu các nhóm báo cáo kết quả.
- Với yêu cầu a, các nhóm đều làm tốt. Các hình tạo được của các em rất
phong phú về kích thước và kiểu dáng. Cụ thể các hình đó là:

Yêu cầu b có nhóm báo cáo được kết quả, có nhóm chưa đo xong.
* Tôi đặt câu hỏi:

- Nhóm em chưa đo xong, vì sao vậy? (có cạnh số đo lẻ nên chưa cộng được).
- Nhóm em đo như thế nào? (biết được chu vi là tổng độ dài của các cạnh nên
đo trước khi uốn thành hình).
5
* Rõ ràng qua trò chơi này chẳng những học sinh đã khắc sâu hơn khái niệm về
chu vi mà còn phát huy được óc sáng tạo, linh hoạt trong tình huống thực hành
cụ thể.
4. Dạy bài: Chu vi hình vuông.
Học sinh học theo nhóm, tự lập công thức. Cụ thể, tôi gợi ý các em có thể
tính theo:
a. Công thức tính chu vi của hình chữ nhật.
P = (a + b) x 2
(với P là chu vi; a là chiều rộng; b là chiều dài).
b. Số đo cạnh hình vuông.
* Sau thời gian 5 phút, tôi hỏi công thức tính của các nhóm. Các em đều
nêu được: P = a x 4 (với P là chu vi; a là số đo một cạnh hình vuông).
* Yêu cầu đại diện nhóm trình bày cách tính, tôi ghi bảng.
Cách1:

P = a + a + a + a = a x 4
Cách 2: P = (a + b) x 2
Vì hình vuông là trường hợp đặc biệt của hình chữ nhật khi a = b nên:
P = (a + a) x 2
= a x 2 + a x 2
= a x (2 + 2)
= a x 4
Cả hai cách lập đều đúng, ở cách 2, học sinh phải vận dụng cả kiến thức
về số học, như vậy, cách lập này phù hợp với những học sinh có tư duy tốt, từ đó
phát triển khả năng suy luận của các em.
Mục đích của bài học là học sinh biết cách tính chu vi nên ở phần luyện

tập, tôi đã thay nội dung bài tập: “Viên gạch bông hình vuông có cạnh 20cm.
Tính chu vi” bằng yêu cầu sau: “Ra một câu đố tính chu vi của một hình vuông
có trong thực tế”. Lần lượt học sinh nêu:
- Viên gạch bông hình vuông có cạnh 30cm. Tính chu vi viên gạch.
- Khăn quàng cổ hình vuông có cạnh 6dm. Tính chu vi khăn quàng.
- Một mặt ghế hình vuông có cạnh 40cm. Tính chu vi mặt ghế.
Học sinh háo hức giơ tay để được đố và giải câu đố, không khí lớp học sôi nổi
mà học sinh lại khắc sâu bài. Vận dụng tốt tính chu vi hình vuông ở bài này, học
sinh sẽ làm tốt bài luyện số 2, số 4 ở vở Bài tập toán (in)
6
a
Vận dụng quy tắc một số nhân một tổng
5. Dạy bài: Diện tích của một hình.
* Sau khi hình thành biểu tượng về diện tích của môt hình, học sinh luyện
tập 3 bài tính diện tích của hình bằng cách đếm số ô vuông ở các hình.



Ví dụ :
Hình chữ nhật ABCD gồm:….ô vuông.
Hình vuông MNPQ gồm…..ô vuông.
Hình…… có diện tích lớn hơn hình….
Vì các bài đã được in sẵn trong vở Bài tập toán (in), học sinh chỉ việc
điền số hoặc tên hình vào chỗ chấm nên hoàn thành bài nhanh.
* Tôi đặt câu hỏi ở phần củng cố bài: “Em hiểu diện tích của một hình là
như thế nào?”. Học sinh phát biểu, tôi chốt lại: Diện tích chính là số chỉ toàn
bộ bề mặt của một hình nào đó bằng bao nhiêu hình vuông đơn vị.
* Thời gian còn lại cho học sinh chơi trò: “Tập so sánh”.
Ví dụ: tôi chọn quyển sổ điểm yêu cầu đại diện mỗi tổ lên bảng thi tìm các vật
xung quanh có diện tích lớn hơn quyển sổ điểm. Sau 3 phút tổ nào tìm được

nhiều hơn sẽ thắng. Bạn ở dưới có quyền lên “tiếp sức” cho bạn trên bảng. Học
sinh tìm được: Mặt bảng đen, mặt bảng thi đua của lớp, mặt bàn, mặt ghế, tấm
kính cửa sổ, mặt cánh cửa sổ, mặt cánh cửa ra vào…
* Như vậy, qua việc chơi này mà tất cả học sinh đều phải suy nghĩ để
tham gia, qua đó được củng cố, khắc sâu bài hơn.
6. Dạy bài: Diện tích hình chữ nhật.
a. Hình thành công thức:
Học sinh làm việc theo nhóm. Yêu cầu:
- Vẽ hình chữ nhật có chiều dài 4cm, chiều rộng 3cm ra giấy rồi kẻ thành các ô
vuông 1cm
2
.
- Tính diện tích hình chữ nhật này.
Trong khi học sinh làm việc, tôi vẽ hình lên bảng.
Kích thước: 4cm vẽ 4dm
7
M
N
B
C
P
Q
D
A
3cm vẽ 3dm

1 cm
2




Sau thời gian 5 phút, tôi hỏi: “Nhóm em tính diện tích như thế nào?”. Học
sinh nêu, tôi ghi bảng:
- Cách 1:
+ Đếm số ô vuông ở mỗi hàng : 4 ô vuông.
+ Đếm số hàng : 3 hàng
Nhân nhẩm : 4 x 3 = 12 (ô vuông).
Mỗi ô vuông có diện tích 1cm
2
nên hình chữ nhật có diện tích 12cm
2
.
Vậy diện tích là:
4 x 3 = 12 (cm
2
).
- Cách 2:
+ Đếm số ô vuông ở mỗi cột : 3 ô vuông
+ Đếm số cột : 4 cột
Nhân nhẩm : 3 x 4 = 12 (ô vuông)
Mỗi ô vuông có diện tích 1cm
2
nên hình chữ nhật có diện tích 12cm
2
.
Vậy diện tích là:
4 x 3 = 12 (cm
2
).
b. Giới thiệu công thức tính diện tích hình chữ nhật:

* Theo cách tính của các nhóm, ta có:
4 x 3 = 12 hoặc 3 x 4 = 12
¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯
Chiều
dài
Chiều
rộng
Diện
tích
Chiều
rộng
Chiều
dài
Diện tích

* Học sinh tự nhìn vào các kết quả trên để phát biểu quy tắc tính diện tích
hình chữ nhật.
* Nêu công thức: gọi S là diện tích ; a là chiều dài ; b là chiều rộng thì S = a x b
-Với cách học này, các em sẽ khắc sâu công thức tính diện tích của hình chữ
nhật.
8
4 cm
3 cm

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×