Tải bản đầy đủ (.docx) (5 trang)

Lý Luận Về Ba Giai Cấp Và Ba Loại Thu Nhập Của Adam Smith

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (59.17 KB, 5 trang )

Lý Luận Về Ba Giai Cấp Và Ba Loại Thu Nhập Của Adam Smith
Lý luân về cơ cấu giai cấp và thu nhập cơ bản của các giai cấp trong xã hội tư bản
chủ nghĩa mà Adam Smith nêu ra trong cuốn “Sự giàu có của các quốc gia”. Ông
phân chia xã hội tư bản chủ nghĩa thành ba giai cấp cơ bản: Giai cấp công nhân,
giai cấp tư sản và giai cấp chiếm hữa ruộng đất. Đồng thời ông cũng phân chia ba
loại thu nhập tương ứng với ba giai cấp đó là tiền lương lợi nhuận và địa tô. Lý
luận về ba giai cấp và ba loại thu nhập của ông đã phân tích và nghiên cứu sự liên
hệ bên trong của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, từ các phạm trù kinh tế là tiền
lương, lợi nhuận và địa tô. Lý lụân này là hạt nhân cho toàn bộ học thuyết kinh tế
của ông.
Ông cho rằng, lợi ích của ba giai cấp cơ bản trong xã hội tư bản chủ nghĩa: Giai
cấp công nhân, giai cấp tư bản và giai cấp chiếm hữu ruộng đất là “có liên quan tới
lợi ích chung của xã hội”, tăng tiến theo sự phát triển của xã hội. Theo sự tăng
trưởng của cải quốc dân và tích lũy tư bản, không những lợi nhụân và địa tô sẽ tăng
thêm, mà tiền lương cũng sẽ nâng cao. Không những thế, do phương pháp nghiên
cứu hai mặt và lý luận giá trị hai mặt làm cho có hai haợc trên hai cách giải thích
về tiền lương, lợi nhụân và địa tô, gây ra nhiều sự hỗn loạn về mặt lý luận.
Sự phân tích của ông về ba giai cấp và ba loại thu nhập bắt đầu từ tiền lương. Ông
cho rằng, trong xã hội tư bản chủ nghĩa chỉ có tiền lương là thu nhập của lao động,
“sản phẩm lao động tạo thành thù lao tự nhiên của lao động hoặc tiền lương tự
nhiên”. Đấy là loại lý luận thứ nhất về tiền lương của ông. Quan điểm này thống
nhất với lý luận giá trị lao động. Tuy nhiên, ông đã coi nhẹ tính chất xã hội và tính
chất lịch sử của tiền lương, thường coi tiền lương - phạm trù kinh tế của xã hội tư
bản chủ nghĩa là một loại phạm trù tự nhiên, thậm chí coi sản phẩm lao động của
người lao động trong xã hội nguyên thủy cũng là tiền lương. Do chỗ coi nhẹ bản
chất của tiền lương, cho nên trong khi phân tích về tiền lương ông chỉ coi trọng
mặt số lượng.
Ông cho rằng, trong xã hội nguyên thủy khi tích lũy tư bản và tư hữu ruộng đất
chưa nảy sinh, thì tiền lương bằng toàn bộ sản phẩm mà những người lao động làm
ra. Còn khi nảy sinh xã hội tư bản chủ nghĩa, sau khi xuất hiện hiện tượng tích lũy
tư bản và tư hữu ruộng đất thì tiền lương chỉ chiếm một phần trong sản phẩm lao


động.
Bởi vì lúc này, người lao động phải phân chia sản phẩm lao động cùng với nhà tư
bản và địa chủ, tức là bộ phận dôi ra ngoài lương phải trở thành lợi nhuận và địa tô
bị nhà tư sản và địa chủ chiếm hữu. Vậy thì mức lương trong sản phẩm lao động
được xác định như thế nào?
Ông cho rằng tiền lương chính là “giá cả lao động”, giá cả thị trường của nó cũng
giống như giá cả thị trường của các loại hàng hóa khác, là do tình trạng cạnh tranh
và cung cầu của hai bên mua và bán quyết định. Đó là loại lý lụân thứ ba về tiền
lương của ông. Lý luận về tiền lương này thống nhất với lý lụân về ba loại thu
nhập quyết định giá trị của ông. Đây là một lý lụân sai lầm. Nó đã che lấp sự bóc
lột của nhà tư sản đối với công nhân . Song, khi nghiên cứu giá cả thị trường, giá
cả tự nhiên của tiền lương của người lao động và quan hệ của chúng, ông đã thuyết
minh rõ là tiền lương của người lao động quyết định bởi giá trị tư liệu sinh hoạt
cần để duy trì cuộc sống của bản thân người lao động và gia đình họ. Khi phân tích
thu nhập lợi nhuận của giai cấp các nhà tư sản, ông cho rằng, sau khi tư bản được
tích lũy vào trong tay cá nhân, giá trị lao động được chia thành hai bộ phận: tiền
lương và lợi nhuận. Lợi nhuân là mức dư của giá trị mới do lao động sáng tạo ra
trừ đi tiền lương.
Ông còn chia thời gian lao động làm hai bộ phận: thời gian lao động sáng tạo ra
lương chi trả cho người lao động (thời gian lao động cần thiết) và thời gian lao
động sáng tạo ra lợi nhuân của chủ thuê mướn (thời gian lao động thặng dư). Như
vậy là ông đã coi lợi nhuận là phậm trù lịch sử xuất hiện cùng với tư bản là một bộ
phận thành quả của người lao động bị nhà tư bản chiếm hữu. Vì thế, trên thực tế
ông đã nhận thức được tiền đề của sản xuất tư bản chủ nghĩa và bản chất của lợi
nhuận. Sự phân chia thời gian lao động của ông có ý nghĩa quan trọng, ông gần
như đã tiến sát tới việc vạch ra nguồn gốc của giá trị thặng dư. Đây là lý lụân về lợi
nhuận của ông. Lý lụân đó thống nhất với lý lụân về giá trị lao động. Song ông lại
quả quyết rằng lợi nhuận là “thù lao tự nhiên” của tư bản ứng trước mà nhà tư bản
đã chi trả cho sản xuất, là một trong những nguồn gốc tạo nên hàng hóa. Ông nhấn
mạnh rằng lợi nhuận là thu nhập cần thiết để nhà tư bản duy trì cuộc sống, lợi

nhuận cần giữ một tỷ lệ thích đng trong tư bản. Ông ra sức chứng minh tính chất
hợp lý vè sự tồn tại của lợi nhụân, đồng thời giải thích lợi nhụân là sản phẩm của
bản thân tư bản, không có liên quan gì đến lao động thặng dư. Đây là lý lụân thứ
hai về lợi nhụân. Lý lụân này thống nhất với lý lụân về ba loại thu nhập quýết định
giá trị của ông. Vì vậy là sai lầm. Ông còn nhận thức rằng, trong quá trình phát
triển kinh tế, do sự phát triển cạnh tranh của công thương nghiệp, việc tăng thêm tư
bản mà tỷ suất lợi nhụân có xu hướng giảm xuống. Ông cũng cho rằng “lợi nhụân
của tư bản và cái gọi là số lượng, cường độ kỹ thụât, giám sát loại lao động này
không thành một tỷ lệ với kỹ xảo”. Những quan điểm này lại là đúng đắn.
Adam Smith là nhà kinh tế học đầu tiên đã nghiên cứu một cách có hệ thống lý
lụân về địa tô. Ông cho rằng địa tô là phậm trù kinh tế xuất hịên sau khi nảy sinh
quyền sở hữu ruộng đất, là thu nhập của giai cấp địa chủ trong xã hội tư bản chủ
nghĩa. Vì thế địa tô mà ông nghiên cứu là địa tô tư bản chủ nghĩa. Ông cho rằng,
địa tô ra đời cùng với quyền tư hữu ruộng đất, là giá cả chi trả cho việc sử dụng
ruộng đất là việc giai cấp địa chủ dựa vào quyền tư hữu ruộng đất mà chiếm không
một bộ phận thành quả lao động, là thu nhập không phải lao động mà có. Điều này
đã định nghĩa địa tô một cách chính xác, và đã vạch trần bản chất của địa tô ở một
mức độ nhất định. Đồng thời, ông còn liên hệ giữa địa tô với sự độc quyền của
quyền sở hữu ruộng đất, coi địa tô là một loại giá cả độc quyền, từ đó trên thực tế
đã đi gần tới chỗ đề ra được lý luận địa tô tuyệt đối. Đó là lý lụân thứ nhất của ông
về địa tô, nhưng ông lại cho rằng, địa tô là sản phẩm của sức tự nhiên, là một bộ
phận chi phí sản xuất. Sự sản sinh địa tô là kết quả của sức tự nhiên tham gia vào
sản xuất nông nghiệp, nó là thù lao mà người sở hữu ruộng đất thu được nhờ việc
nhà tư bản nông nghiệp sử dụng sức tự nhiên. Ông còn cho rằng, địa tô là một
trong những nguồn gốc của giá trị. Đó là lý luận thứ hai của ông về địa tô. Lý lụân
này thống nhất với lý lụân về ba lọai thu nhập quýết định giá trị của ông. Loại lý
lụân này của ông đã che đậy bản chất bóc lột của địa tô tư bản chủ nghĩa. Ông cho
rằng địa tô là một loại giá cả độc quyền, nhưng ông coi loại giá cả độc quyền này
là kết quả của giá cả sản xuất cao hơn chi phí sản xuất được sinh ra trong quá trình
lưu thông. Ngoài ra ông coi địa tô và lợi nhuận là như nhau. Tóm lại, lý lụận về ba

giai cấp và ba loại thu nhập của ông có vị trí rất quan trọng trong lý luận kinh tế
của ông và lịch sử học thuyết kinh tế. Lý luận của ông vừa có những nội dung khoa
học vừa có những yếu tố sai lầm. Kết quả nghiên cứu của ông về ba giai cấp và ba
loại thu nhập trong xã hội tư bản chủ nghĩa đã nói rõ cơ cấu kinh tế của xã hội tư
bản chủ nghĩa, đã mô tả quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, đóng góp quan trọng
vào sự phát triển khoa học kinh tế.

×