Tải bản đầy đủ (.doc) (5 trang)

Sáng kiến kinh nghiêm rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 3

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (69.25 KB, 5 trang )

I.1. Lí do chọn đề tài
Như chúng ta đã biết phần lớn những tri thức, kinh nghiệm của đời sống những
thành tựu văn hố khoa học, tư tưởng, tình cảm của các thế hệ trước và của cả
những người đương thời phần lớn đã được ghi lại bằng chữ viết. Nếu khơng biết
đọc thì con người khơng thể tiếp thu được nền văn minh của lồi người. Khơng
thể sống một cuộc sống bình thường, khơng thể làm chủ trong xã hội hiện đại.
Ngược lại, biết đọc con người có thể dễ dàng tiếp thu nền văn minh của nhân loại.
Vì thế, học có những hiểu biết, có khả năng chế ngự một phương tiện văn học cơ
bản giúp cho họ giao tiếp với thế giới bên trong của người khác, đặc biệt khi đọc
bài( Tập đọc, học thuộc lòng). Con người khơng chỉ thức tỉnh về nhận thức, mà
cịn rung động tình cảm nảy nở những ước mơ cao đẹp. Đọc khơi dậy tiềm lực
hành động, sức sáng tạo, cũng như được bồi dưỡng tâm hồn. Không biết đọc, con
người sẽ khơng có điều kiện giáo dục mà xã hội dành cho họ. Họ chỉ hình thành
một nhân cách tồn diện. Đặc biệt trong thời buổi bùng nổ thông tin, biết đọc ngày
càng quan trọng vì nó sẽ giúp con người ta sử dụng các nguồn thơng tin. Đọc
chính là học nữa, học mãi đọc để tự học, học cả đời.
Chính vì vậy Tập đọc là một phân mơn có ý nghĩa to lớn ở tiểu học. Nó trở
thành một đòi hỏi cơ bản, đầu tiên đối với mỗi người đi học. Đầu tiên trẻ phải học
đọc sau đó đọc để học. Đọc giúp trẻ chiếm lĩnh được ngôn ngữ trong giao tiếp và
học tập nó cũng là một cơng cụ để học các mơn học khác nó tạo ra hứng thú và
động cơ học tập. Đồng thời nó tạo điều kiện để học sinh có khả năng tự học. Tập
đọc là khả năng không thể thiếu của con người trong thời đại văn minh. Biết đọc
sẽ giúp các em hiểu biết nhiều hơn, hướng các em tới cái thiện, cái đẹp, dạy cho
học sinh biết cách suy nghĩ lô gíc, tư duy có hình ảnh.
Như vậy việc dạy đọc có một ý nghĩa vơ cùng quan trọng. Vì nó bao gồm
nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển.
Trong trường tiểu học thì phân mơn tập đọc là một phân mơn có vị trí quan trọng
hàng đầu trong chương trình Tiếng Việt ở tiểu học. Dạy tốt phân mơn Tập đọc
không những rèn luyện cho học sinh kĩ năng đọc mà còn phát triển cho các em
vốn từ ngữ phong phú tạo điều kiện để các em học tốt các phân môn khác.
b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp.


Dựa trên cơ sở lí luận của việc dạy học nói chung và dạy mơn Tập đọc nói
riêng. Tơi nhận thấy thực tiễn dạy học chưa đáp ứng được yêu cầu dạy học ở tiểu
học. Để khắc phục những hạn chế, phát huy những ưu điểm có trong thực tế, tơi
xin đưa ra một số biện pháp mà tơi áp dụng có hiệu quả để rèn kĩ năng đọc cho
học sinh lớp 3 như sau:
+ Đọc mẫu:
Đây là hoạt động không thể thiếu trong tiết dạy tập đọc của giáo viên. Được
nghe giáo viên đọc mẫu học sinh sẽ nắm được cách phát âm những tiếng khó
trong bài. Học sinh biết ngắt nghỉ đúng dấu cậu, biết nhấn mạnh giọng điệu của
từng nhân vật. Đồng thời biết thể hiện đúng ngữ điệu lên giọng, xuống giọng,
nhấn giọng, chuyển giọng, ngắt hơi, cường độ và cả trường độ của giọng đọc...
Như vậy các em sẽ hiểu đúng về ý nghĩa, nội dung của từ, câu, đoạn... đúng phong
1


cách và chức năng của văn bản các em đọc thế nào để người nghe thấy được cái
hay, cái đẹp của nội dung và nghệ thuật của bài đọc.
Khi đọc mẫu giáo viên phải kết hợp các thao tác đọc mẫu các cụm từ, câu,
đoạn khi học sinh mắc lỗi mà khó sửa và có thể đọc mẫu cả bài trước khi cho học
sinh luyện đọc diễn cảm nhằm tạo hứng thú, thu hút sự chú ý của học sinh hoặc
đọc khi củng cố bài học ở cuối giờ
Thực tế dạy học cho thấy khả năng đọc mẫu của giáo viên trong khối chưa
đồng đều. Sự thành công khi đọc mẫu của giáo viên thường dựa vào giọng đọc
trời phú nhiều hơn là tìm được cách đọc phù hợp trên cơ sở cảm thụ, tiếp nhận văn
bản một cách thấu đáo. Thơng thường lúc gặp khó khăn, giáo viên sẽ dựa vào sách
giáo viên. Nhưng sách giáo viên không thể và khơng bao giờ là tất cả, bởi vì theo
quan diểm biên soạn sách các tác giả bao giờ cũng tạo điều kiện để giáo viên tự
chứng tỏ khả năng sư phạm của mình. Do vậy, việc tiếp thu, vận dụng có sáng tạo
những gợi ý của sách giáo viên khi đọc mẫu và hướng dẫn học sinh đọc là điều
ln phải đặt ra vì bài đọc mẫu của giáo viên chính là kĩ năng đọc mà học sinh cần

đạt được. Do đó, yêu cầu đọc mẫu của giáo viên phải đảm bảo chất lượng đọc
chuẩn, đọc đúng, rõ ràng, rành mạch, trôi chảy, đọc đủ lớn, nhanh vừa phải và
diễn cảm. Muốn vậy thì giáo viên cần đọc đi đọc lại nhiều lần bài tập đọc, tìm
hiểu kĩ nội dung cảm thụ sâu sắc nhất, tinh tế nhất của bài văn, bài thơ để tìm
được giọng đọc đúng, đọc hay , đồng thời tìm ra câu (đoạn) mà học sinh có thể
đọc hay bị vấp, chứ khơng đơn thuần tìm ra những từ khó, dễ lẫn. Trước khi đọc
mẫu giáo viên cần tạo cho học sinh tâm thế nghe đọc, hứng thú nghe đọc và yêu
cầu học sinh đọc thầm theo. Khi đọc giáo viên đứng ở vị trí bao quát cả lớp không
nên đi lại trong khi đọc và thỉnh thoảng mắt phải dừng sách nhìn lên học sinh
nhưng khơng làm cho bài đọc bị gián đoạn. Có như vậy thì bước đọc mẫu của giáo
viên mới hấp dẫn được học sinh.
Để làm tốt việc này thì giáo viên phải có sự chuẩn bị bài thật tốt. Giọng đọc
phải trong, rõ, không bị ảnh hưởng của từ địa phương. Vì vậy khâu đọc mẫu là rất
quan trọng, nó giúp học sinh bước đầu thâm nhập vào văn bản, làm việc với văn
bản.
+ Chia đoạn trong bài tập đọc.
Nhờ chia đoạn mà học sinh sẽ nắm đực kĩ năng đọc của từng đoạn. Các em
sẽ nắm được bố cục của bài văn hoặc bài thơ cũng như nội dung của từng đoạn mà
có cách đọc đúng và đọc hay. Nhờ chia đoạn giáo viên sẽ cho nhiều học sinh được
luyện đọc hơn từ đó giáo viên biết được khả năng đọc của từng học sinh mà giáo
viên sẽ có những phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh. Khi
hướng dẫn học sinh tìm hiểu các đoạn tôi tiến hành cho học sinh đọc ngay, điều
này có tác dụng hình thành cách đọc sát với nội dung bài vừa đề cập. Với những
câu đoạn khó, giáo viên cần gợi ý cho học sinh xác định đọc câu, đoạn văn đó và
u cầu học sinh đọc .
Ví dụ: Dùng một gạch xiên ( / ) đánh dấu ngắt; hai gạch xiên ( // )đánh dấu
chỗ nghỉ và gạch chân từ ngữ cần nhấn giọng ở đoạn văn sau:

2



Ví dụ: Bé treo nón, mặt tỉnh khơ, bẻ một nhánh trâm bầu làm thước .ấy đứa em
chống hai tay ngồi nhìn chị. Làm như cơ giáo , Bé đưa mắt nhìn đám học trị , tay
cầm nhánh trâm bầu nhịp nhịp trên tấm bảng.
(Cơ giáo tí hon - Tiếng Việt 3- tập 1 trang 17)
Với những câu có nhiều cách đọc, giáo viên nêu vấn đề cho nhiều em nêu ra
cách đọc và giúp các em nhận ra cách đọc đúng.
Cuối cùng là đọc toàn bài. Đây là bước thực hiện sau khi học sinh đã đọc theo
từng đoạn. Đọc toàn bài giúp học sinh cảm thụ một cách tổng thể sắc thái của nội
dung tác phẩm. ở bước này giáo viên cần động viên khuyến khích cách đọc biểu lộ
tình cảm riêng, tích cực trong đổi mới phương pháp giáo dục dạy học.
+ Đọc đúng dấu thanh.
Để hướng dẫn học sinh đọc đúng các dấu thanh. Trước hết giáo viên phải
hiểu đúng quy tắc đọc dấu thanh, phát âm phải chuẩn, không bị ảnh hưởng của từ
địa phương. Có như thế khi giáo viên đọc mẫu học sinh mới phát âm theo một
cách chính xác được. Học sinh tiểu học vẫn cịn có em chưa phát âm đúng, đọc
đúng dấu thanh do nhiều yếu tố mang lại. Trong đó có yếu tố do đặc điểm khu vực
vùng miền mà các em sinh sống. Các em còn phát âm sai ở dấu thanh như thanh
ngã (~) phát thành thanh sắc (') như tiếng “mỡ” thành “mớ”... là sai nghĩa của câu.
+ Đọc nối tiếp.
Giáo viên có thể cho học sinh đọc nối tiếp từng câu hoặc từng đoạn đối với học
sinh khá, giỏi. Đọc nối tiếp sẽ tạo điều kiện cho nhiều học sinh được tham gia vào
hoạt động đọc. Tất cả các đối tượng học sinh từ giỏ, khá, trung bình và yếu đều
được đọc. Từ đó khi theo dõi học sinh đọc mà giáo viên có những điều chỉnh, uốn
nắn đối với từng đối tượng học sinh. Yêu cầu, đặc trưng của phân môn này đối với
các em là: đọc to, rõ ràng, rành mạch. Đầu năm giáo viên gọi từng em lên đọc bài,
nắm được những mặt mạnh, mặt yếu của học sinh để phân nhóm đối tượng học
sinh đồng thời ghi vào sổ tay mỗi em một trang theo dõi quá trình học tập của các
em qua các đợt kiểm tra.
+ Ngắt nhịp khi đọc.

Qua thực tế giảng dạy tôi thấy ở học sinh lớp 3 do tơi phụ trách nói chung
chưa biết cách đọc ngắt nhịp. Để học sinh biết ngắt nhip trong khi đọc, trước hết
phải hướng dẫn các em đọc đúng. Từ việc đọc đúng đó sẽ hướng dẫn các em đọc
đúng cách ngắt nhịp. Muốn đạt được điều đó cần phải dựa vào nghĩa và quan hệ
ngữ pháp giữa các tiếng, từ để ngắt hơi cho đúng. Khi đọc tuyệt đối không được
tách từ ra làm hai, không tách từ chỉ loại với danh từ nó đi kèm theo. Khơng tách
giới từ với danh từ đi sau nó, khơng tách quan hệ từ là với danh từ đi sau nó.
Ví dụ: Khơng được đọc ngắt nhịp:
Tiếng chị / Cị Bợ :
Ru hỡi ! / Ru hời !
Hỡi bé / tôi ơi
Ngủ cho / ngon giấc/
- Mà phải đọc:
Tiếng chị Cò Bợ ://
3


Ru hỡi ! // Ru hời !//
Hỡi bé tôi ơi,/
Ngủ cho ngon giấc//
Khi đọc các bài văn xuôi cũng vậy, việc ngắt giọng phải phù hợp với dấu câu.
Nghỉ ít ở dấu phẩy, nghỉ lâu hơn ở dấu chấm, trùng hợp với danh giới ngữ
đoạn.Trên thực tế học sinh thường mắc lỗi ngắt giọng ở những câu văn dài có cấu
trúc phức tạp hoặc mắc lỗi ngay ở câu ngắn. Nhưng các em chưa nắm được quan
hệ ngữ pháp giữa các từ.
Ví dụ: - Bấy giờ, ở huyện Mê Linh có hai / người con gái tài giỏi là Trưng
Trắc và Trưng Nhị
- Lượm bước tới / gần đống lửa . Giọng em rung / lên :
Vì vậy trước khi giảng một bài cụ thể giáo viên cần dự tính những chỗ học sinh
hay ngắt giọng sai để xác định điểm cần luyện ngắt giọng.

Ví dụ: Bài: Chương trình xiếc đặc sắc
Xiếc thú vui nhộn , / dí dỏm .//
Ảo thuật biến hóa bất ngờ / thú vị .//
Xiếc nhào lộn khéo léo/dẻo dai .//
Phải lưu ý về cách ngắt nhịp vì theo dự tính học sinh sẽ ngắt
Xiếc thú vui / nhộn , dí dỏm .
Ảo thuật biến hóa/ bất ngờ thú vị .
Xiếc nhào lộn khéo / léo dẻo dai .
+ Kĩ năng vấn đáp, trả lời câu hỏi.
Kĩ năng này phù hợp với tâm lí chung của học sinh tiểu học. Các em thích
hoạt động ( hoạt động lời nói) giáo viên đưa ra một hệ thống câu hỏi tìm hiểu bài
để học sinh trả lời tìm ra cái hay của bài tập đọc. Muốn đọc ngắt giọng, nhấn
giọng dẫn đến đọc diễn cảm trước tiên phải đọc tốt( đọc lưu loát, rõ ràng) và cảm
thụ tốt bài văn bằng những câu hỏi vấn đáp để hiểu phương pháp luyện đọc.
Phương pháp này đựợc dùng chủ yếu trong giờ Tập đọc dưới sự chỉ đạo của giáo
viên, học sinh luyện đọc nhiều lần.
Ví dụ: Bài: Cuộc họp của chữ viết ( Tiếng Việt 3 tập 1 trang 44)
Các chữ cái và dấu câu họp bàn việc gì ?
Cuộc họp đề ra cách gì để giúp bạn Hồng ?
Với những câu hỏi trên cùng với những câu hỏi gợi ý nội dung bài học sinh sẽ
tìm ra cách đọc thích hợp để diễn tả được cái khơng khí tưng bừng của của cuộc
họp . Bên cạnh đó một trong những biện pháp để bồi dưỡng học sinh cảm thụ văn
học là làm bài tập có hiệu quả . Để hướng tới đọc diễn cảm có sáng tạo, khi giảng
bài trên lớp giáo viên cần hướng dẫn luyện đọc diễn cảm. Tuy nhiên chính nội
dung này đã quy định ngữ điệu của nó, nên khơng thể áp đặt sẵn giọng đọc của
bài. Ngược lại điều này phải kết hợp luôn tự nhiên của học sinh đưa ra sau khi
hiểu sâu sắc và biết diễn đạt dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Để hình thành kĩ
năng đọc diễn cảm học sinh sau này.
+ Rèn kĩ năng đọc diễn cảm.
4



Đây là yêu cầu cao đối với kĩ năng đọc của học sinh vì khơng phải học sinh
nào cũng đọc diễn cảm được. Chính vì thế mà giáo viên nên đưa ra những yêu cầu
sao cho phù hợp vưới từng đối tượng học sinh. Mỗi đối tượng học sinh sẽ có một
u cầu cụ thể phù hợp. Nếu hình thành được kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh
các em sẽ biết biểu lộ cảm xúc, tình cảm của mình đối với nội dung bài đọc. Biết
thể hiện ngữ điệu phù hợp với tình huống miêu tả trong đoạn văn hoặc đoạn thơ.
Biết đọc giọng phân biệt lời kể của tác giả và lời nhân vật. Biết đọc phân biệt lời
của các nhân vật thể hiện được tình cảm, thái độ, đặc điểm của nhân vật hay tình
cảm, thái độ của tác giả đối với nhân vật và nội dung miêu tả trong văn bản. Qua
đọc diễn cảm các em biết nhấn mạnh các từ quan trọng trong câu. Giáo viên phải
lưu ý. Nếu bài học là một đoạn văn bản nghệ thuật thì có thể tổ chức cho HS luyện
tập theo từng đoạn, cuối cùng đọc diễn cảm toàn bài. Về hình thức, có thể cho HS
làm việc cá nhân, theo cặp, theo nhóm, thảo luận tự do… Nhìn chung GV nên căn
cứ vào từng trường hợp cụ thể mà lựa chọn cho phù hợp.
III.1. Kết luận.
Phân môn Tập đọc nói riêng mơn Tiếng Việt nói chung đóng vai trị quan
trọng giúp học sinh học tốt các mơn khác, đồng thời giúp học sinh yêu thích Tiếng
Việt hơn. Muốn dạy tốt phân môn Tập đọc, mỗi giáo viên cần phải không ngừng
học hỏi, nghiên cứu tài liệu hướng dẫn thực hiện .Với một số biện pháp giúp dạy
tốt phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 3. Bên cạnh đó để học sinh có khả năng
đọc đúng, hay, diễn cảm thì người giáo viên phải dạy cho học sinh đọc đúng, đọc
diễn cảm ngay từ những lớp đầu cấp. Nhưng không phải bằng cách tăng thời gian
luyện đọc mà coi trọng chất lượng đọc, mà phải xác định nội dung đọc, hiểu như
nhau. Xác định được ngữ liệu nội dung từng đoạn của bài để xác định các yếu tố
nghệ thuật và giá trị của chúng trong diễn đạt nội dung. Giáo viên phải là người
đọc mẫu chuẩn, hay. Dạy phải tỉ mỉ, kiên trì, nhẹ nhàng. Việc đưa ra hệ thống
phiếu bài tập phải đảm bảo các yêu cầu, phải thực hiện được mục đích, học sinh
phải chiếm lĩnh được một ngôn ngữ để dùng trong giao tiếp và trong học tập. Khi

giảng dạy cần chú ý đến nội dung bài tập đọc. Những bài có yếu tố văn cần có
những bài tập giúp học sinh phát hiện ra những giá trị tác dụng của chúng trong
tác phẩm.

5



×