Tải bản đầy đủ (.docx) (19 trang)

ĐẶC ĐIỂM TÀI CHÍNH CỦA HỢP TÁC XÃ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (170.79 KB, 19 trang )

ĐẶC ĐIỂM TÀI CHÍNH CỦA HỢP TÁC XÃ THƯƠNG MẠI
VIỆT NAM
1.1 Tổng quan về HTX thương mại Việt Nam :
1.1.1 Lịch sử hình thành HTX thương mại Việt Nam:

Khái niệm về hợp tác xã:
Theo luật HTX năm 2003, Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể do các cá
nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích
chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật này để phát huy
sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có
hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh
thần, góp phần phát triển kinh tế- xã hội của đất nước. Hợp tác xã hoạt động như
một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về
các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích luỹ và các nguồn vốn
khác của hợp tác xã theo quy định của pháp luật
[1]
.

Lịch sử hình thành HTX thương mại tại Việt Nam:
Thị trường trong nước luôn luôn được coi là cơ sở, nhân tố thúc đẩy hoạt
động xuất nhập khẩu, góp phần tăng GDP trong mọi quốc gia. Ở Việt Nam trong
công cuộc đổi mới quản lý kinh tế, Đảng và Nhà nước ta đã xác định: “Hướng về
xuất khẩu là đúng, phải khuyến khích mạnh xuất khẩu. Không xuất khẩu được thì
không lấy gì để nhập khẩu…, không được coi nhẹ sản xuất trong nước và không
được coi nhẹ thị trường trong nước”. Để phát triển kinh tế thị trường trong nước đòi
hỏi phải thực hiện nhiều biện pháp với sự đóng góp của nhiều tham số kinh tế,
chính trị, xã hội khác nhau, trong đó HTX thương mại (HTX TM) có vai trò rất
quan trọng trong phát triển thị trường nội địa. HTX thương mại (hợp tác xã mua bán
trước đây) ra đời ngày 15/03/1955 tại Thanh Ba, Phú Thọ, nhằm giảm bớt tình trạng
mua rẻ bán đắt để thúc đẩy sự trao đổi hàng hóa giữa nông thôn và thành thị, lợi cho
việc khôi phục kinh tế và phát triển sản xuất và hướng nông dân theo lối tương trợ


hợp tác có tổ chức, có kế hoạch đồng thời giúp đỡ công nhân cải thiện đời sống”.
Từ khi thành lập đến nay, HTX thương mại đã trải qua các giai đoạn lịch sử với
nhiều biến cố kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước, nhưng luôn luôn được Đảng và
Nhà nước ta chú trọng củng cố và phát triển. Trong thời kỳ nhân dân ta thực hiện
hai chiến lược cách mạng (1955-1975), HTX thương mại luôn được tăng cường
theo hướng mở rộng thị trường nội địa mà trước hết là thị trường nông thôn, nông
nghiệp.
Từ năm 1986 đến nay, công cuộc đổi mới quản lý kinh tế do Đảng ta khởi
xướng và thực hiện đã tạo cơ hội cho HTX thương mại được lựa chọn: lĩnh vực
kinh doanh thương mại và dịch vụ thương mại mà pháp luật không cấm, như vậy
HTX thương mại đã trở thành: chủ thể kinh doanh, hạch toán kinh tế độc lập, bình
đẳng trước pháp luật với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác.
Trong cơ chế kinh tế mới, sự vận động của các tổ chức kinh tế cơ bản nhằm tìm
kiếm lợi nhuận và nó cũng đã được đặt ra trực tiếp, sự cạnh tranh nhằm đạt hiệu quả
kinh doanh thực sự trở thành vấn đề thường trực trong mỗi HTX thương mại. Vì thế
đã có nhiều đơn vị kinh tế tập thể trong ngành thương mại không trụ được nên đã
phải tự giải thể. Do vậy, số lượng HTX thương mại từ năm 1986-1996 giảm nhanh.
Năm 1994 cả nước còn 403 đơn vị và giảm thấp hơn vào năm 1996. Năm 1996 khi
cả nước còn 359 HTX thương mại, thì cũng là năm nhà nước ta ban hành luật HTX,
có hiệu lực từ ngày 01/01/1997. Sau khi luật HTX ra đời, kinh tế tập thể nói chung
và HTX thương mại nói riêng từng bước có những chuyển động mới, ngày càng đa
dạng, phong phú và có những chuyển biến về chất. Năm 2001, Liên minh HTX Việt
Nam cho biết cả nước có 373 HTX thương mại, đặc biệt trong đó có 162 HTX
thương mại mới thành lập. Từ năm 1996 đến nay, quá trình chuyển đổi, lập mới của
HTX thương mại đã được diễn ra trên khắp cả nước, số lượng HTX thương mại
tăng lên. Điều đáng lưu ý là chức năng mua, bán để phục vụ nhà nông, kinh tế nông
nghiệp, mở rộng thị trường nội của HTX thương mại vẫn được thực hiện với quy
mô ngày càng lớn.
Hiện nay, HTX thương mại kinh doanh đa dạng, linh hoạt, đây là một trong
những nét đặc biệt cần chú ý từ góc nhìn mở rộng thị trường nội địa của HTX

thương mại. Theo Bộ Thương Mại (07/2001) cho biết: “bên cạnh các HTX thương
mại với hoạt động chủ yếu là mua, bán đã có 15,48% HTX kinh doanh dịch vụ,
16,77% HTX kết hợp mua bán và dịch vụ, 7,75% HTX kết hợp thương mại với sản
xuất, chế biến, có 7,1% HTX kinh doanh đa ngành”
[2]
.
1.1.2 Các loại hình hoạt động của HTX tại Việt Nam- điển hình tại TP.HCM:
Tính đến tháng 06/2007, cả nước có 17.599 HTX, 39 Liên hiệp HTX trong
đó có 8.535 HTX nông nghiệp, 2.354 HTX tiểu thủ công nghiệp, 1.107 HTX giao
thông vận tải, 470 HTX thủy sản, 668 HTX xây dựng, 651 HTX thương mại- dịch
vụ, 942 quỹ tín dụng nhân dân, 2.678 HTX dịch vụ điện, 76 HTX môi trường và
118 các loại hình khác
[12]
. Đến nay, các HTX cũ cơ bản đã được chuyển đổi theo các
quy định của luật HTX. Các HTX yếu kém tồn tại hình thức, nhiều năm không hoạt
động, không có khả năng củng cố được giải thể, nhiều HTX mới được thành lập.
Điều tra 1.244 HTX (cuối năm 2006) thuộc tất cả các ngành nghề cho thấy 87,1% có
lãi. Theo kế hoạch phát triển kinh tế tập thể từ 2006 đến 2010 mà Chính phủ vừa
phê duyệt, Nhà nước sẽ tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho mô hình kinh tế này
phát triển có hiệu quả, mở rộng quy mô, thành lập Liên Hiệp hợp tác xã, nâng cao
chất lượng và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Việc đổi mới và phát triển
các loại hình kinh tế tập thể sẽ tuân theo quy định của pháp luật về hợp tác xã. Từ
nay đến năm 2010, số lượng hợp tác xã sẽ tăng bình quân 7,2% mỗi năm, số lượng
xã viên tăng khoảng 7,3%. Tỷ trọng tổng sản phẩm của khu vực kinh tế tập thể
chiếm khoảng 14% GDP cả nước. Một mục tiêu phấn đấu khác là thu nhập bình
quân của lao động trong kinh tế tập thể, của xã viên hợp tác xã trong 5 năm tới sẽ
tăng gấp đôi so với năm 2005. Chính phủ cũng tạo điều kiện để mô hình kinh tế tập
thể được phát triển trên mọi lĩnh vực như nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng,
thương mại, giao thông vận tải, tín dụng,…
Theo Liên minh HTX TP. Hồ Chí Minh, hiện nay tại TP.HCM có các loại

hình HTX như sau :

Khối HTX thương mại dịch vụ:
Hơn hai thập kỷ qua, hoạt động của hệ thống HTX thương mại- dịch vụ
luôn được phát triển củng cố, chấn chỉnh và đổi mới. Toàn thành phố hiện có 88
HTX và Liên hiệp HTX. Không chỉ bán lẻ, phục vụ trực tiếp người tiêu dùng, Liên
hiệp HTX và các HTX thương mại - dịch vụ còn trở thành tổng đại lý của nhiều
công ty, nhiều hãng trong và ngoài nước, tổ chức bán sĩ cho các cửa hàng, điểm bán,
hộ tiêu dùng, hộ tiểu thương. Hàng hóa- dịch vụ của các siêu thị, cửa hàng của các
Liên hiệp HTX và các HTX thương mại- dịch vụ luôn luôn đảm bảo số lượng, chất
lượng, uy tín với giá cả hợp lý
[10]
.

Khối HTX tiểu thủ công nghiệp- thủ công mỹ nghệ- xây dựng:
Sau khi luật HTX được ban hành, tổ chức HTX đã được đổi mới. Hiện nay
toàn thành phố có 112 HTX công nghiệp và xây dựng và 431 tổ hợp tác. Trong đó
có các ngành nghề sau: Chế biến thực phẩm; dệt và trang phục; chế biến gỗ, mây,
tre lá; giấy; nhựa, cao su; kim loại và sản phẩm kim loại; chế tạo động cơ thiết bị,
phương tiện vận tải; đồ gỗ gia dụng; xây dựng
[10]
.

Khối HTX vận tải- bốc xếp:
Ngày nay, ngành vận tải của thành phố phát triển lớn mạnh và hiện đại, trở
thành trung tâm huyết mạch lưu thông hàng hóa- hành khách của khu vực phía
Nam, của cả nước, khu vực Đông Nam Á và thế giới. Hiện nay, ngành vận tải- bốc
xếp toàn thành phố có 171 HTX vận tải với trên 25.000 xã viên và gần 26.000 đầu
xe. Riêng khối khối vận tải hành khách bằng xe buýt có 29 HTX với hơn 1.300
xe

[10]
.

Khối HTX Nông nghiệp:
Hiện nay, vùng nông nghiệp và nông thôn TP có 39 HTX. Các HTX vừa làm
nhiệm vụ sản xuất, vừa phát triển mạnh chức năng dịch vụ, hỗ trợ cho xã viên và
nông dân về vốn, vật tư, kỹ thuật, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Ngoài ra, còn có
hơn 1.031 tổ hợp tác, đa số là tổ hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp. Các HTX và
các trang trại đang đẩy mạnh sản xuất rau sạch và sữa tươi để cung cấp cho thị
trường
[10]
.

Khối HTX quỹ tín dụng:
Quỹ tín dụng nhân dân hoạt động trên địa bàn TPHCM theo Luật HTX được
đánh giá là một loại hình HTX hoạt động có hiệu quả, phù hợp yêu cầu phát triển
kinh tế của nhân dân lao động nghèo, góp phần phát triển sản xuất, xóa đói giảm
nghèo, nâng cao đời sống của nhân dân. Hiện nay trên địa bàn TPHCM đã thành lập
9 quỹ tín dụng nhân dân cơ sở với 12.270 thành viên và 4.691.000.000 đồng vốn
điều lệ, lãi 1.463.000.000 đồng. Quỹ tín dụng nhân dân là chỗ dựa đáng tin cậy của
nhân dân lao động nghèo và các HTX, đáp ứng nhu cầu nguồn vốn cho sản xuất
kinh doanh của thành viên. Quỹ tín dụng nhân dân sẽ tiếp tục mở rộng và phát triển
mạnh mẽ. Ngoài quỹ tín dụng nhân dân, còn có “quỹ trợ vốn xã viên- HTX
TPHCM” trực thuộc Liên minh HTX TP.HCM được UBND TP.HCM cấp giấy phép
thành lập ngày 13/06/2002 với nguồn vốn hoạt động là 100 tỉ đồng, đây là một loại
hình tín dụng nội bộ, đối tượng thụ hưởng là xã viên, tổ hợp tác, HTX, Liên hiệp
HTX và người lao động là thành viên của quỹ. Quỹ trợ vốn xã viên HTX- TP.HCM
sẽ là người bạn đồng hành, là đơn vị uỷ thác đối với các quỹ tín dụng nhân dân góp
phần thực hiện mục tiêu: “đưa kinh tế tập thể thoát khỏi những yếu kém, phấn đấu
đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn, tiến tới có tỷ trọng ngày càng lớn trong GDP của

nền kinh tế” (Nghị quyết số 13 Ban chấp hành Trung Ương Đảng Cộng sản Việt
Nam khóa IX)
[10]
.
1.1.3 Khung pháp lý chi phối hoạt động của HTX: luật HTX
Luật HTX nước Việt Nam ra đời đầu tiên vào tháng 01/1997 và hiện nay các
HTX hoạt động theo Luật HTX năm 2003, Luật này đã được Quốc hội nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa IX, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26/11/2003
(Luật HTX 2003), Luật này gồm 10 Chương và 52 Điều
[1]
.
1.1.4 Nguồn vốn của HTX: bao gồm
[1]
 Vốn góp của xã viên
 Vốn vay
 Vốn công trợ của nhà nước
 Vốn không chia (vốn tích lũy nội bộ)
 Vốn hợp tác phát triển, liên doanh liên kết
 Vốn từ các chương trình phát triển của nhà nước
 Vốn từ nguồn tiết kiệm
1.1.5 Những hạn chế của các doanh nghiệp HTX:

Nguồn vốn:
Phần lớn HTX có nguồn vốn nhỏ, khả năng tiếp cận thị trường vốn hạn chế,
không thể tiếp cận với các kênh huy động vốn hiện đại như thị trường chứng khoán
do luật không cho phép, không được cấp vốn, khả năng tích luỹ vốn yếu. Theo các
nhà bán lẻ Việt Nam, phần lớn nhà bán lẻ trong nước là doanh nghiệp vừa và nhỏ,
vốn ít và kinh nghiệm kinh doanh hạn chế. Nhiều vị chủ nhiệm HTX tại TP.HCM tỏ
ra rất lo lắng trước tình hình hoạt động của đơn vị mình, bởi vì theo Luật HTX hiện
hành, doanh nghiệp không được huy động vốn dưới hình thức phát hành trái phiếu

hoặc thực hiện cổ phần hoá như loại hình doanh nghiệp nhà nước để huy động thêm
vốn đầu tư từ xã hội mà chỉ huy động vốn từ các HTX thành viên. Đại diện chuỗi
siêu thị bán lẻ Co.opMart, bà Nguyễn Thị Nghĩa (Chủ tịch Hội đồng quản trị Saigon
Co-op) cho rằng vấn đề vốn là một bài toán nan giải, bởi theo bà khi đầu tư vào một
siêu thị phải sử dụng rất nhiều vốn (chí ít cũng phải đầu tư từ 50-60 tỷ đồng/siêu
thị) và thời gian hoàn vốn kéo dài hàng chục năm. Điều này góp phần tạo ra sức ép
cho Saigon Co.op nói riêng và ngành thương mại bán lẻ trong nước nói chung khi
nghĩ đến chiến lược phát triển dài hạn. Cũng theo bà Nghĩa, Saigon Co.op dự kiến
nhu cầu vốn để xây dựng 35 siêu thị Co.opMart và 3 Trung tâm thương mại cao cấp
tại khu vực Hồ Con Rùa, khu Nam Sài Gòn và số 168 Nguyễn Đình Chiểu
(Co.opMart Nguyễn Đình Chiểu) đến năm 2010 là 2.000 tỷ đồng. Vì thế, để giải bài
toán này, Saigon Co.op xin vay vốn kích cầu đầu tư của TP.HCM, đồng thời xin
thành lập công ty cổ phần đầu tư và kinh doanh siêu thị Co.opMart để huy động vốn
từ nhà đầu tư bên ngoài và chính thức ra mắt ngày 25/04/2007 Cty Cổ Phần Đầu Tư
Phát triển SaiGon Co-op (SCID)
[11]
.

Trình độ quản lý lạc hậu, chậm đổi mới, khả năng tiếp cận khoa học kỹ
thuật tiên tiến chậm:
Theo ông Nguyễn Ngọc Hòa, Tổng giám đốc chuổi siêu thị Saigon Co.op,
cái khó nhất hiện nay là đầu tư công nghệ thông tin (IT) cho toàn bộ hệ thống
CoopMart. Nhiều năm trước chúng tôi cũng đã đi tham khảo các siêu thị lớn của
nước ngoài và thấy rằng họ làm công tác IT rất tuyệt. Biết là cần thiết, nhưng
Saigon Co.op cũng phải đến năm 2005 mới có thể đầu tư 1,5 triệu USD để thiết lập
hệ thống phần mềm cho toàn bộ chuỗi siêu thị nhưng chỉ ở giai đoạn 1, mở rộng
kho, xây dựng trung tâm phân phối hiện đại
[11]
. Hiện nay, các nhà bán lẻ muốn đầu
tư công nghệ phải sử dụng khoản chi bằng 1% doanh thu. Nhưng để có được 1%

này là không đơn giản, bởi lãi gộp không nhiều. Thiếu lực và vốn để đầu tư là tình
hình chung của nhiều nhà bán lẻ hiện nay. Nhiều doanh nghiệp phải huy động vốn
theo hình thức công ty cổ phần, phát hành cổ phiếu, chuyển nhượng một phần vốn..,
riêng Saigon Co.op hoạt động theo cơ chế HTX nên chưa nghĩ đến cách huy động
này. Theo Liên minh HTX Thành Phố, về mặt bằng thông tin, ngoài Saigon Co.op
đã trang bị khá tốt và hoạt động có hiệu quả (chiếm hơn 40% thị phần hàng hoá
trong hệ thống bán lẻ siêu thị toàn thành phố) và HTX vận tải (50-80% khối lượng
vận tải hành khách), thì hầu hết các HTX còn lại đều chưa có sự chuẩn bị hoặc mới
ở trình độ sơ khai về thông tin mạng. Về chi phí kết nối Internet, hiện nay, có lẻ rất
ít các HTX tự mình bỏ ra một khoảng tiền từ 500 đến 700 triệu đồng để có 1
website riêng, trong khi nhờ hệ thống này, các thành viên chỉ phải tốn chừng 30-50
triệu đồng là đã có thể nối mạng. Khi website chính thức hoạt động sẽ có thêm
nhiều mảng đào tạo, tuyên truyền
[10]
.
Về nhân sự, khó khăn lớn nhất của các DN bán lẻ hiện nay chính là nguồn
nhân lực ở cấp quản lý. Trong mục tiêu mở rộng quy mô của mình, Saigon Co-op
dự kiến mỗi năm sẽ mở thêm 10 siêu thị nhưng nếu trước đây mặt bằng là khó
khăn nhất thì hiện nay nguồn nhân lực trở thành nỗi lo đầu tiên. Sự xuất hiện dồn
dập của các đại gia phân phối trên thế giới tại thị trường nội địa đã chính thức
châm ngòi cho cuộc cạnh tranh vô cùng quyết liệt tại thị trường nội địa.
1.1.6 Những ưu điểm của mô hình hợp tác xã so với mô hình các doanh nghiệp
khác:
 Xã viên HTX vừa là người góp vốn, vừa góp sức nên mọi hoạt động đều
hướng đến lợi ích của tập thể, tinh thần đoàn kết cao.
 Nhà nước có nhiều chính sách hỗ trợ cho mô hình HTX như: hỗ trợ về tài
chính, tín dụng, nguồn nhân lực, các chính sách ưu đãi về thuế,…
1.2 Mô hình kinh tế HTX của một số nước Châu Á:
Kinh tế tập thể, trong đó kinh tế HTX đóng vai trò nòng cốt trong phát triển
kinh tế của mỗi quốc gia. Đặc biệt hiện nay, mô hình HTX đã trở thành lực lượng

vững mạnh ở một số nước Châu Á. Tạp chí Công nghiệp giới thiệu một số mô hình
phát triển HTX ở các nước này như sau
[9]
:

Tại Ấn Độ:
Ở Ấn Độ, tổ chức HTX được ra đời từ lâu và chiếm vị trí quan trọng trong
nền kinh tế của nước này, trong đó Liên minh HTX quốc gia Ấn Độ (NCUI) là tổ
chức cao nhất, đại diện cho toàn bộ HTX ở Ấn Độ. Mục tiêu chính của NCUI là hỗ
trợ và phát triển phong trào HTX ở Ấn Độ, giáo dục và hướng dẫn nông dân cùng
nhau xây dựng và phát triển HTX. Nhiệm vụ quan trọng của NCUI là công tác đào

×