Tải bản đầy đủ (.docx) (20 trang)

NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUỒN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC (ODA) VÀ TỔ CHỨC NGÂN HÀNG THẾ GIỚI (WB)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (255.5 KB, 20 trang )

NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUỒN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN
CHÍNH THỨC (ODA) VÀ TỔ CHỨC NGÂN HÀNG THẾ GIỚI (WB)
I. Lý luận chung về ODA
1. Nguồn gốc lịch sử của ODA
Sau chiến tranh thế giới thứ II, nguồn hỗ trợ phát triển chính thức ra đời
cùng với kế hoạch Marshall để giúp các nước châu âu phục hồi các ngành công
nghiệp bị chiến tranh tàn phá. Để tiếp nhận nguồn viện trợ của kế hoạch này,
các nước châu âu đã đưa ra một chương trình phục hồi kinh tế và thành lập tổ
chức hợp tác kinh tế châu âu nay là OFCD
1
. Trong khuôn khổ hợp tác phát triển
các nước thành viên OECD đã lập ra các uỷ ban chuyên môn trong đó có uỷ ban
viện trợ phát triển (DAC) để giúp các nước đang phát triển, phát triển kinh tế và
nâng cao hiệu quả đầu tư. Các nước trong uỷ ban này vào thường kỳ thông báo
các khoản đóng góp của họ cho các chương trình viện trợ phát triển để DAC
biết và trao đổi các vấn đề liên quan với chính sách viện trợ phát triển.
Vào năm 1970 lần đầu tiên đại hội đồng liên hợp quốc đã chính thức
thông qua chỉ tiêu ODA bằng 0,7% GNP của các nước phát triển và các nước
này cần đạt chỉ tiêu trên vào năm 1985 hoặc muộn nhất vào cuôí thập kỷ 80 và
ODA bằng 1% GNP
4
sớm nhất vào năm 2000.
2. Khái niệm về ODA
Theo OECD thì ODA được coi là nguồn tài chính so các cơ quan chính
thức (chính quyền nhà nước hay địa phương) của một nước viện trợ cho các
nước đang phát triển và các tổ chức nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế và phúc lợi
của các nước này.
1
1
OECD được ký v o 14/12/1960 có hià ệu lực từ 1961 lúc đầu bao gồm 20 nước sau có thêm 4 nước l à
Nhật, Niudilân, Phần Lan, Australia


4
4
Những điều cần biết về viện trợ phát triển chính thức - NXB xây dựng - 1993 - trang 7
Theo ngân hàng thế giới thì hỗ trợ phát triển chính thức là tập con của tài
chính phát triển chính thức (ODF)
5
và bao gồm khoản vay ưu đãi trong đó có ít
nhất 25% yếu tố cho không.
Tại điều 1 của quy chế quản lý và sử dụng hỗ trợ phát triển chính thức ban
hành kèm theo nghị định 87/CP của chính phủ ngày 05-8-1997 quy định Hỗ trợ
phát triển chính thức (gọi tắt là ODA) nói trong quy chế này được hiểu là sự
hợp tác phát triển giữa nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với một hay
nhiều quốc gia tổ chức quốc tế (sau đây gọi tắt là bên nước ngoài) bao gồm các
hình thức cụ thể sau đây:
1. Hỗ trợ cán cân thanh toán
2. Hỗ trợ theo chương trình
3. Hỗ trợ theo dự án
4. Hỗ trợ kỹ thuật.
OFCD đưa ra khái niệm ODA dưới góc độ của các nhà tài trợ, hỗ trợ các
nước đang phát triển bằng nguồn tài chính của mình nhằm giúp các nước này
phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên khái niệm này chỉ mới đưa ra nguồn tài trợ
song phương mà chưa đề cập đến nguồn tài trọ đa phương. Đây cũng là điểm
hạn chế của khái niệm do tổ chức OFCD mà cụ thể là DAC là cơ quan chủ trì
của viện trợ song phương.
WB đưa ra khái niệm ODA nhấn mạnh nhiều đến khía cạnh tài
chính và đặc điểm của ODA từ cả hai nguồn song phương và đa phương
cho các nước đang phát triển. Tuy nhiên chưa đề cập đến mục đích của
hỗ trợ phát triển chính thức, khái niệm ODA do Việt Nam đưa ra
nghiêng nhiều về phía nước nhận tài trợ, sự hợp tác phát triển quốc gia
với các nhà tài trợ song phương và đa phương theo các hình thức hỗ trợ

chủ yếu.
5
5
ODF nội dung của viện trợ nước ngo i l các nguà à ồn t i chính tà ừ chính phủ các nước phát triển v các tà ổ
chức đa phương đến các nước đang phát triển trong đó có khi lãi suất gần với lãi suất thương mại.
Như vậy ở các giác độ khác nhau, thì khái niệm ODA được đưa ra có
những điểm khác nhau tuy nhiên có thể hiểu chung nhất là ODA là nguồn hỗ trợ
của các nước phát triển, các tổ chức quốc tế giành cho các nước đang phát triển
nhằm giúp các nước này tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững.
3. Các hình thức chủ yếu của hỗ trợ phát triển chính thức:
ODA được thể hiện dưới dạng viện trợ không hoàn lại về cho vay ưu đãi.
Viện trợ không hoàn lại hay còn gọi là viện trợ cho không.
Cho vay ưu đãi tức là cho vay với lãi suất thấp hơn nhiều so với lãi suất
vay thương mại và thời hạn vay dài khoảng từ 10 đến 40 năm.
Hỗ trợ phát triển chính thức 4 loại hình chủ yếu là:
- Hỗ trợ cán cân thanh toán
- Hỗ trợ theo chương trình
- Hỗ trợ kỹ thuật
- Hỗ trợ theo dự án.
* Loại hình hỗ trợ cán cân thanh toán thường có nghĩa là viện trợ tài chính
trực tiếp thông qua chuyển giao tiền hoặc hiện vật, hoặc hỗ trợ nhập khẩu.
* Hỗ trợ theo chương trình là viện trợ theo khuôn khổ đạt được bằng hiệp
định với các nhà tài trợ nhằm cung cấp một khối lượng ODA trong một khoảng
thời gian mà không phải xác định trước một cách chính xác nó sẽ được sử dụng
như thế nào ví dụ viện trợ cho phát triển chung của giáo dục tiểu học, viện trợ
ngân sách cho Bộ giáo dục và đào tạo, viện trợ phát triển hoà nhập cộng đồng ở
các địa phương nhiều người di tản.
* Hỗ trợ theo dự án. trước khi nhận được khoản viện trợ, nước nhận viện
trợ phải chuẩn bị chi tiết dự án. Loại hình viện trợ này thường chủ yếu là để xây
dựng cơ sở hạ tầng như đường xá, cầu cống, đê đập, trường học... các dự án này

thường có kèm theo một bộ phận của viện trợ kỹ thuật dưới dạng các chuyên
gia nước ngoài đến kiểm tra những hoạt động nhất định nào đó để soạn thảo,
xác nhận các báo cáo cho các nhà viện trợ...
* Hỗ trợ kỹ thuật thường tập trung chủ yếu vào chuyển giao tri thức hoặc
vào tăng cường cơ sở, lập kế hoạch cố vấn, nghiên cứu tình hình cơ sở, nghiên
cứu tiền khả thi...
4. Nguồn và đối tượng của hỗ trợ phát triển chính thức
4.1. Nguồn của ODA
ODA được cung cấp trên cơ sở song phương và đa phương và nguồn phi
chính phủ:
4.1.1. Nguồn hỗ trợ song phương
Nguồn hỗ trợ này xuất phát từ chính phủ này cho chính phủ khác, không
thông qua tổ chức thứ ba. Hỗ trợ song phương bao gồm cả viện trợ cho không,
hợp tác kỹ thuật và cho vay không lãi hoặc lãi suất thấp, được thể hiện dưới
nhiều loại hình như hỗ trợ nhập khẩu, hỗ trợ chương trình, hỗ trợ dự án.
Đối với các nước viện trợ nguồn hỗ trợ song phương đem lại cho họ những
điều kiện có lợi về kinh tế và chính trị như việc vươn ra để chiếm lĩnh và mở
rộng thị trường, khai thác tài nguyên phong phú và nhân lực rồi rào từ nước
nhận viện trợ, tiêu thụ được hàng hoá thông qua các điều kiện ràng buộc như
buộc các nước nhận viện trợ phải mua hàng, thiết bị, công nghệ... có khi với giá
cao hơn so với giá trên thị trường thế giới, ràng buộc về tỷ lệ tham gia trị giá
hợp đồng... Ví dụ như Nhật bản một đối tác song phương lớn nhất thế giới về
ODA, thì 1/2 kim ngạch ngoại thương năm 1997 là buôn bán với các nước đang
phát triển
(6)
khi nền kinh tế các nước này phát triển thì việc buôn bán với Nhật
cũng tăng lên.
Đối với nước nhận nguồn hỗ trợ song phương có điều kiện giúp cho tăng
trưởng và phát triển kinh tế từ các chương trình cải cách cơ cấu kinh tế , đầu tư
(6)

(6)
tạp chí TTTC 2-3/1997 - trang 48 b i: vià ện trợ phát triển chính thức ODA có lợi cho nước chủ nh .à
cho y tế, giáo dục, phát triển cơ sở hạ tầng, đầu tư phát triển nguồn nhân lực
nông thôn, môi trường... Tuy nhiên họ cũng phải chấp nhận các điều kiện ràng
buộc rất chặt chẽ từ phía các nước bằng đồng Yen Nhật. Có thể thấy rằng các
nước nhận viện trợ sẽ có lợi hơn nếu được viện trợ bằng đồng USD hay một loại
ngoại tệ mạnh nào khác có giá trị hơn so với đồng Yên. cũng như rất khó trong
việc dự báo tỷ giá của đồng Yên so với đôla.
4.1.2. Viện trợ đa phương
Nguồn viện trợ này được xuất phát từ các tổ chức đa phương như WB,
ADB, IMF cho các nước đang phát triển là hội viên hoặc thành viên chính thức
của các tổ chức đa phương. Các nước này phải tuân thủ các thủ tục, thể lệ quy
định chặt chẽ từ các tổ chức trên như việc đóng góp cổ phần, thu nhập bình
quân đầu người, các chỉ tiêu về GDP .v.v.. liên quan đến chính sách tài trợ trong
từng thời kỳ nhất định. Các tổ chức đa phương cũng xem xét rất kỹ về mức độ
tin cậy về khả năng trả nợ, tính ổn định về kinh tế - chính trị, uy tín cũng như
những tiến bộ của nước được nhận viện trợ. Ví dụ như ngân hàng thế giới để
đánh giá kết quả sử dụng ODA của nước nhận viện trợ có chỉ tiêu"Các chỉ báo
tiến bộ"
(7)
. Các nước nhận viện trợ nếu muốn tiếp tục được tiếp nhận viện trợ
phải có cơ chế quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả nguồn viện trợ, cũng
như cam kết trả nợ đúng hạn. So với nguồn viện trợ song phương, nước nhận
viện trợ đa phương có thể tránh được các điều kiện ràng buộc quá chặt chẽ
nhiều khi gây khó khăn, thêm vào đó là bất lợi do những lệ thuộc về kinh tế,
chính trị hỗ trợ đa phương có tính ổn định hơn khi xảy ra những biến động lớn
như khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng dầu lửa, chiến tranh thế giới... bởi vì nó
được đảm bảo bằng sức mạnh tổng hợp của nhiều quốc gia có vị trí địa lý và
điều kiện tụ nhiên, kinh tế - chính trị, xã hội khác nhau. Một ví dụ là lần đầu
tiên sau nhiều năm Nhật bản - nước có nguồn ODA lớn nhất giành cho các nước

châu á đã cắt giảm nguồn viện trợ này trong năm taì chính 1998, giảm 10,4% so
(7)
(7)
Việt nam - chiến lược hỗ trợ quốc gia của nhóm ngân h ng thà ế giới giai đoạn 1999-2002- 1998 t i lià ệu
của WB - VN - CP - 52074.
với năm 1997 do những khó khăn về kinh tế khi xảy ra khủng hoảng tài chính
tiền tệ
(8)
. Trong khi các nguồn đa phương như WB, ADB... hầu như không có
thay đổi gì đáng chú ý. Tuy nhiên các nước nhận viện trợ đa phương cũng phải
đối mặt với cuộc cạnh tranh để thu hút nguồn ODA cho nước mình từ các tổ chức
đa phương, bên cạnh đó là việc hoàn tất các thủ tục để được rút vốn nhanh chóng
cũng là một khó khăn không nhỏ.
4.1.3. Viện trợ phi chính phủ:
Nguồn viện trợ này là của các tổ chức phi chính phủ thường được chuyển
giao trực tiếp từ các tổ chức này cho các tổ chức và các địa phương trong nước
nhận viện trợ. Nguồn viện trợ này thường không quy định các điều kiện ràng
buộc chặt chẽ nhưng lại có nhiều loaị hình vì phức tạp. Bên cạnh mục đích hỗ
trợ phát triển các khoản viện trợ còn mang tính chất chính trị của các tổ chức
này. Do vậy cần phải có sự thận trọng quy chế quản lý chặt chẽ đối với nguồn
hỗ trợ này.
4.2. Đối tượng của ODA
Nguồn ODA của các tổ chức và các nước trên thế giới chỉ tập trung dành
cho những nước có thu nhập bình quân đầu người thấp, đặc biệt là ở mức dưới
220USD/người, năm
(9)
.
Để được tiếp nhận nguồn vốn ODA các nước phải tuân thủ các điều kiện
ràng buộc khác nhau tuỳ theo từng nguồn hỗ trợ.
Đối vơí các khoản tiền theo chương trình điều chỉnh cơ cấu (SAC), chương

trình nông nghiệp chương trình tài chính thì các khoản vay được rút vốn theo
từng đợt sau khi bên rút vốn chứng minh đầy đủ rằng đã thực hiện các biện pháp
cải cách chính sách vĩ mô đã cam kết với tổ chức cho vay. Nếu vay theo dự án
thì bên vay phải tiến hành các thủ tục để chuẩn bị dự án như xây dựng nghiên
cứu khả thi, kế hoạch vốn đối ứng, kế hoạch giải phóng mặt bằng.... tiếp đó là
(8)
(8)
Báo quân đội nhân dân ng y 1/11/1998 - trang 3.à
(9)
(9)
Báo h nà ội mới - 2-8-1998 b i: à Để thu hút được vốn ODA của Phạm Hải Bình.
các công việc thuê tư vấn, thiết kế sơ bộ, thiết kế chi tiết đặc biệt là công tác đấu
thầu sao cho phù hợp với yêu cầu của bên cho vay cũng như thông lệ quốc tế.
Cuối cùng là thực hiện các thủ tục để rút vốn. Để đẩy nhanh tốc độ rút vốn và
sử dụng vốn bên vay cần chuẩn bị và triển khai dự án kịp thời theo đúng tiến độ
đã cam kết có cơ chế quản lý, sử dụng hiệu quả nguồn vốn vay, từ đó đặt ra yêu
cầu về nhân lực của mối nhận viện trợ cần phải có trình độ, đủ khả năng đáp
ứng được yêu cầu đặt ra trong quá trình sử dụng cũng như quản lý sử dụng
nguồn vốn ODA.
Một yêu cầu nữa đặt ra là uy tín của nước tiếp nhận viện trợ và những tiến
bộ đạt được thông qua quá trình sử dụng vốn viện trợ của các nước này. Đây là
tiền đề quan trọng tạo thuận lợi cho nước nhận ODA có được sự tin tưởng từ
phía các nhà tài trợ qua đó tiếp tục và nhận được nhiều hơn sự ủng hộ từ phía
họ.
Như vậy về phía các nước tiếp nhận nguồn vốn ODA cần phải tuân thủ các
điều kiện, yêu cầu từ phía khách quan và chủ yếu, không ngừng nâng cao uy tín
với các tài trợ để đẩy mạnh thu hút nguồn vốn ODA bởi vai trò quan trọng của
nguồn vốn này cho tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội ở các quốc gia đang
phát triển.
5. Vai trò của ODA đối với phát triển kinh tế - xã hội :

Để phát triển kinh tế - xã hội của một nước thì nhu cầu về vốn là không thể
thiếu được. Đặc biệt là đối với các nước đang phát triển với cơ sở hạ tầng kinh
tế - xã hội còn ở mức rất thấp, tăng trưởng kinh tế chưa cao thì một nguồn vốn
lớn đề tập trung giải quyết những vấn đề trên là hết suức cần thiết. Nâng cao
được cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mới có thể giúp
các nước này thoát khỏi tình trạng nghèo đói tiến tới phát triển bền vững kinh tế
- xã hội. Đáp ứng được những yêu cầu trên, nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính
thức với đặc thù lãi suất vay thấp, thời hạn dài (thường từ 15 - 40 năm) , vốn
đầu tư tập trung lớn có thể lên tới hàng trăm triệu USD cho một dự án. Bên cạnh
đó nguồn vốn này cũng có mục đích nhằm hỗ trợ các nước nghèo giải quyết các
vấn đề trên. Điều này thường không tìm thấy trong các nguồn tư bản tự nhiên
(đầu tư trực tiếp) . Để thấy rõ hơn ta xét quan hệ giữa vốn và tăng trưởng trong
mô hình Harro - Domar thể hiện như sau:
s
g=-----------
(10)
ICOR
Trong đó:
g: tốc độ tăng trưởng
s: tiết kiệm
ICOR: hệ số phản ánh trình độ sản xuất
Có thể thấy vai trò của vốn đối với tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên nếu xét
về mối quan hệ giữa nguồn vốn ODA với tăng trưởng thì không hoàn toàn chặt
chẽ tức là cứ khi viện trợ cho một nước tăng lên thì tăng trưởng của nước này
cũng tăng lên. Một ví dụ minh hoạ là nước Zămbia nhận được số lượng lớn của
viện trợ nhưng tăng trưởng chậm trong khi một số nước khác như Botsnanca.
Ghana cũng nhận được nhièu viện trợ và tăng trưởng nhanh
(11)
. Mối quan hệ trên
còn phụ thuộc nhiều vào khả năng quản lý tốt của nước nhận viện trợ. Trong

điều kiện quản lý tốt thêm 1% viện trợ trong GDP thì tăng trưởng tăng thêm là
0,5%.
Còn đối với phát triển kinh tế, ODA giúp tăng thu nhập bình quân đầu
người dẫn đến tăng phúc lợi và mức sống cho người dân từ đó thúc đẩy phát
triển. Năm 1966 và Thái lan nước nghèo với mức thu nhập dưới 1 USD một
ngày (theo giá năm 1985) , tuy nhiên nước này đã có những biến đổi đến năm
1966. Năm 1967 cứ 1000 đầu sơ sinh đã có 84 trẻ không tiếp tục tồn tại thì vào
(10)
(10)
Công thức trên l kà ết quả nghiên cứu độc lập của hai nh kinh tà ế học Domar người Anh v Harrod ngà ươì
Mỹ.
(11)
(11)
Viện trợ v tà ăng trưởng ở các nước đang phát triển - giai đoạn 1970-1993. assessing Aid What worko,
what dô , and why - trang 31.

×